CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HIỆN PHÂN HẠNG VÀ XẾP LOẠI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP, CÁC VẤN
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HIỆN
PHÂN HẠNG VÀ XẾP LOẠI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP, CÁC VẤN
ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP
25
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa 25
2.2 Quy hoạch phát triển đô thị, kinh tế và công nghiệp 29
2.2.2 Quy hoạch phát triển kinh tế và công nghiệp 31
2.3.1 Các văn bản pháp luật về môi trường của riêng tỉnh Khánh Hòa 33 2.3.2 Hiện trạng môi trường tỉnh Khánh Hòa năm 2008 và diễn biến
chất lượng môi trường tỉnh Khánh hòa trong 5 năm (2003 – 2007) 33 2.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ PHÂN HẠNG VÀ XẾP
3.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hệ thống tiêu chí 71
3.1.2 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về phân hạng và xếp loại doanh
3.1.3 Tình hình thực tế tại các doanh nghiệp Khánh Hòa 76
3.2 Xây dựng tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối
3.2.1 Hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với 79
Trang 2các doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa 3.2.2 Nguyên tắc đề xuất và sắp xếp thứ tự của các tiêu chí 80
4.1 Quy trình phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường 90 4.1.1 Hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường 90 4.1.2 Quy trình phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường 92 4.2 Đánh giá khả năng áp dụng và tính bền vững của hệ thống tiêu chí 107 4.3 Các rào cản, khó khăn trong việc thực hiện và hướng khắc phục 108 4.4 Áp dụng tiêu chí đánh giá cho một số doanh nghiệp 111 4.4.1 Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 111 4.4.2 Các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp 113
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN
Những năm gần đây, cùng với sự khởi sắc chung của nền kinh tế của cả nước, kinh tế tỉnh Khánh Hòa cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Khánh Hòa đang là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao trong cả nước và là một trong 10 tỉnh dẫn đầu của Việt Nam về tốc độ phát triển
Khánh Hòa biết tận dụng những ưu thế sẵn có của địa phương về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và truyền thống văn hóa, lịch sử để phát triển toàn diện các ngành kinh tế, trong đó
có các ngành kinh tế biển mũi nhọn như xây dựng cảng và kinh doanh dịch vụ hàng hải;
đóng mới và sửa chữa tàu thuyền; nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản; du lịch;
Trong quy hoạch phát triển, Khánh Hòa đã và đang hình thành 3 khu vực kinh tế trọng điểm bao gồm phía Nam là Cam Ranh, Thành phố Nha Trang và phía Bắc là vịnh Vân Phong Để đạt được những thành tựu đó, Khánh Hòa đã có sự định hướng đúng đắn cho quá trình phát triển của mình Mặt khác, trong những năm qua, Khánh Hòa đã tập trung đầu tư hệ thống hạ tầng cơ sở tương đối đồng bộ, nhiều khu công nghiệp đã được quy hoạch và xây dựng đáp ứng nhu cầu của các dự án đầu tư Các địa phương như Cam Ranh, Nha Trang, Vân Phong đang đẩy mạnh phát triển cả du lịch và công nghiệp Trong thời gian tới, Khánh Hòa sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ, du lịch – công nghiệp – nông nghiệp, phấn đấu xây dựng Khánh Hòa thành trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực Nam Trung Bộ vào năm 2010
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng chưa thật
sự gắn kết với công tác bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững Nhiều vấn
đề ô nhiễm môi trường công nghiệp vẫn chưa được giải quyết triệt để Phổ biến nhất hiện nay là việc tuân thủ các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường của các cơ sở công nghiệp vẫn mang tính hình thức và đối phó Phần lớn các doanh nghiệp quan tâm đến lợi nhuận mà ít chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường Trong khi đó, Khánh Hòa là trọng điểm du lịch của cả nước, là nơi đón tiếp nhiều khách du dịch và là nơi tổ chức các hội thi lớn nên vấn đề bảo vệ môi trường càng trở nên cấp bách Vì vậy, việc nâng cao công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp nói riêng và toàn tỉnh Khánh Hòa nói chung
là rất cần thiết
Để nâng cao công tác bảo vệ môi trường, nhiều địa phương đã xây dựng chương trình phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp, sau đó công khai hóa thông tin này cho cộng đồng nhằm tạo áp lực để các doanh nghiệp tích cực cải thiện môi trường Biện pháp quản lý môi trường dựa vào sự tham gia của cộng đồng đã được nhiều quốc gia áp dụng và hoàn toàn có tính khả thi khi triển khai ở nước ta Đánh vào tâm lý của các nhà đầu tư luôn quan tâm đến việc tìm kiếm khách hàng và nâng cao hình ảnh, uy tín doanh nghiệp đối với cộng đồng, việc công khai hóa các thông tin về thực trạng môi trường tại các cơ sở công nghiệp là một biện pháp quản lý hữu hiệu Phản ứng của cộng đồng là một động lực bắt buộc các doanh nghiệp gây ô nhiễm phải chủ động cải thiện
Trang 4điều kiện môi trường nhằm tránh sự phiền hà và để tăng sự cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước và vươn ra thị trường thế giới
Bên cạnh đó, phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với công tác bảo vệ môi trường là mục tiêu phấn đấu của tỉnh Khánh Hòa Trong khi đó, việc công khai hoá các thông tin về thực trạng môi trường tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ thông qua việc nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí để phân hạng chất lượng quản lý môi trường các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết nhằm góp phần hỗ trợ công tác quản lý môi trường, khuyến khích và cổ vũ các doanh nghiệp nâng cao ý thức và trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường Vì vậy, đề án “Xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo
vệ môi trường đối với các doanh nghiệp Khánh Hòa” là một công cụ hữu hiệu, là công tác hết sức quan trọng và cấp bách trong thời điểm hiện nay để giúp cho tỉnh Khánh Hòa phát triển bền vững và có định hướng
- Tạo ra công cụ hỗ trợ và phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường tại tỉnh Khánh Hòa
3 NỘI DUNG THỰC HIỆN
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, đề án tập trung vào các nội dung thực hiện chính như sau:
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng và hệ thống
quản lý nhà nước về công tác phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp;
- Thu thập thông tin về hiện trạng môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Khánh Hòa;
- Đánh giá tổng hợp về hiện trạng môi trường tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Khánh Hòa bằng việc thông tin thu thập từ các doanh nghiệp điều tra qua đường bưu điện và các doanh nghiệp khảo sát, lấy mẫu trực tiếp;
- Xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với các
doanh nghiệp tại Khánh Hòa;
- Dựa vào hệ thống tiêu chí, thực hiện phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với
doanh nghiệp;
- Đánh giá khả năng áp dụng và tính bền vững của hệ thống tiêu chí;
- Hội thảo thảo luận về các đề xuất.
Trang 54 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp Khánh Hòa” được thực hiện dựa trên những phương pháp sau:
4.1 Phương pháp lý thuyết
4.1.1 Thu thập thông tin
Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng và hệ thống quản lý nhà nước về công tác phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp Các thông tin cần thu thập bao gồm:
- Vị trí địa lý, ranh giới hành chính;
- Điều kiện tự nhiên: đất đai, địa hình, sông ngòi, khí hậu,…;
- Cơ sở hạ tầng và quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất;
- Kinh tế: các ngành kinh tế, chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh cũng
như từng ngành;
- Văn bản pháp lý: các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường, cụ thể về quản lý
công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm, quy chế hoạt động của các doanh nghiệp và quản lý chất thải rắn của quốc gia và của tỉnh;
- Các nghiên cứu về phân hạng doanh nghiệp trong và ngoài nước;
- Các văn bản pháp lý về môi trường của tỉnh;
- Loại hình công nghiệp, các cơ sở sản xuất trong và ngoài khu công nghiệp, định
hướng phát triển công nghiệp của tỉnh
4.1.2 Xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường
Việc xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp Khánh Hòa được xây dựng dựa trên những cơ sở sau:
- Thông tư 07/2007/TT – BTNMT ngày 03/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
về việc hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần xử lý;
- Cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường;
- Kinh nghiệm trong và ngoài nước về phân hạng và xếp loại doanh nghiệp về bảo vệ môi trường;
- Trình độ công nghệ hiện hữu tại các doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa;
- Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp, môi trường tỉnh Khánh Hòa;
- Ý kiến của chuyên gia
Trang 6Bảng 1 Các ngành nghề được điều tra, khảo sát
- Nhóm chăn nuôi tập trung
- Nhóm giết mổ gia súc, gia cầm
- Nhóm chế biến thức ăn chăn nuôi
- Nhóm sản xuất gỗ, mây tre
- Nhóm xử lý nước thải công nghiệp tập trung
- Nhóm nuôi trồng thủy sản
7 Giao thông vận tải - Nhóm sửa chữa, đóng mới tàu thủy, vệ sinh súc rửa tàu
8 Du lịch - Nhóm khu du lịch, nhà hàng, khách sạn
Nội dung điều tra
Các thông tin điều tra doanh nghiệp bao gồm:
Trang 7- Các thông tin tổng quát về đơn vị (tên, địa chỉ, ngành nghề, công suất,….);
- Quy mô và công nghệ sản xuất (dây chuyền công nghệ, nguyên liệu, sản phẩm, nguồn
thải,…);
- Tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn Việt Nam và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường của các doanh nghiệp;
- Các giấy phép về môi trường của doanh nghiệp;
- Giám sát chất lượng môi trường định kỳ (kiểm soát ô nhiễm);
- Cảnh quan môi trường;
- Giải pháp kiểm soát và giảm thiểu nguồn ô nhiễm:
+ Tình hình quản lý và xử lý chất thải
+ Tình hình áp dụng phân loại, tái chế và tái sử dụng chất thải
+ Tình hình áp dụng công nghệ sạch và giải pháp sản xuất sạch hơn
+ Tình hình thực hiện ISO 9001, ISO 14001 và các tiêu chuẩn khác
Hình thức điều tra
Điều tra bằng phiếu thu thập thông tin qua đường bưu điện
Để thu thập thông tin từ các doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tiêu chí phân hạng bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa đã gởi phiếu thu thập thông tin đến 157 doanh nghiệp thuộc 8 nhóm ngành nghề tại các địa phương khác nhau của tỉnh Tuy nhiên, việc thu hồi phiếu khó khăn và tỷ
lệ thu hồi chỉ đạt 50% số phiếu
Khảo sát trực tiếp các doanh nghiệp
Trung tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường phối hợp với Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa tiến hành khảo sát thực tế đối với 42 doanh nghiệp 42 doanh nghiệp này vừa được gởi phiếu điều tra thông tin vừa được khảo sát, lấy mẫu thực tế Các phiếu điều tra sẽ được lập phù hợp đối với từng nhóm đối tượng khác nhau bao gồm nhóm ngành công nghiệp và vật liệu xây dựng; nhóm dệt may; nhóm nông nghiệp; nhóm nhà máy xử
lý nước thải công nghiệp tập trung; nhóm xử lý nước cấp; nhóm thủy sản; ngành y tế - bệnh viện, trung tâm y tế; ngành giao thông vận tải – sửa chữa, đóng tàu và ngành du lịch
- khu du lịch, nhà hàng, khách sạn Đối với việc điều tra trực tiếp, ngoài việc thu thập thông tin từ phiếu, cán bộ nghiên cứu còn xuống trực tiếp doanh nghiệp để khảo sát, đánh giá hiện trạng sản xuất, hiện trạng quản lý môi trường và lấy mẫu tại hiện trường
Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
Các thông số ô nhiễm được phân tích căn cứ vào đặc trưng ngành nghề của các cơ sở và được quy định trong thông tư 07/2007/TT – BTNMT ngày 03/7/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần xử lý Tại mỗi doanh nghiệp trung bình 1 mẫu khí và 1 mẫu nước thải được lấy và phân tích để đánh giá hiện trạng môi trường không khí và nước thải sau xử
lý Tuy nhiên, tùy theo tình hình sản xuất và mức độ phát sinh ô nhiễm cũng như để đánh
Trang 8giá chính xác, có doanh nghiệp phải lấy mẫu tại 2 – 3 vị trí Bên cạnh đó, các thông số ô nhiễm được phân tích cũng linh động theo tình hình sản xuất tại các doanh nghiệp
Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng nước
Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng môi trường nước được tiến hành theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5999-1995 và Standard Methods for The Examination of Water and Wastewater (APHA – American Public Health Association, 2005) được trình bày trong Bảng 2
Bảng 2 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích thành phần nước thải
TCVN 5988 - 1995
10 Nitơ tổng P, G APHA 4500-N (2005) TCVN 6638 - 2000
11 Phospho tổng G(A) APHA 4500-P.D (2005) () TCVN 4567 - 1998
12 H2S P, G H2S Test Kit, Hach, Mỹ TCVN 4567 - 1998
13 Fe tổng P (A), G (A) APHA 3120-Fe.B (2005) TCVN 6177 - 1996
14 As P (A), G (A) APHA 3120-As B (2005) TCVN 6626:2000
15 Hg P (A), G (A) APHA 3120-Hg B (2005) TCVN 5991 - 1995
16 Pb P (A), G (A) APHA 3120-Pb.B (2005) TCVN 6193 - 1996
17 Cd P (A), G (A) APHA 3120-Cd.B (2005) TCVN6197 - 1996
20 Cr tổng P (A), G (A) APHA 3120-Cr.B (2005) TCVN 6222 - 1996
21 Cu P (A), G (A) APHA 3120-Cu.B (2005) TCVN 6193 - 1996
22 Zn P (A), G (A) APHA 3120-Zn.B (2005) TCVN 6193 - 1996
23 Ni P (A), G (A) APHA 3120-Ni B (2005) TCVN 6002 - 1995
24 Mn P (A), G (A) APHA 3111-Mn.B (2005) TCVN 6002 - 1995
25 Sn P (A), G (A) APHA 3111-Sn.B (2005)
26 CN- P, G APHA 4500-CN-.C&E TCVN 6181 - 1996
27 Dầu khoáng
G miệng rộng, không đầy chai
APHA 5520 F (2005)
Trang 9Stt Chỉ tiêu Loại bình chứa Phương pháp phân tích Phương phân tích theo
TCVN tương ứng
28 Phenol
P, G, chai PTFE
có nút đậy
Handbook, phương pháp so màu 8047
TCVN 6216 - 1996
Ghi chú: P: Chai nhựa (polyethylene hoặc loại đã trung hòa)
G: Chai thủy tinh
G (A) hay P (A): Chai nhựa hay chai thủy tinh; rửa sạch bằng 1 + 1 HNO 3
G (B): Chai thủy tinh, borosilicate
G (S): Chai thủy tinh, rửa sạch bằng dung môi hữu cơ hoặc soda
PTFE: Chai Polytetra Flouroethylene
Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng không khí
Phương pháp đo đạc và phân tích chất lượng môi trường không khí đượpc tiến hành theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN, Thường Quy Kỹ Thuật “Y học lao động và vệ sinh môi trường” của Bộ Y Tế - 1993 và Methods of Air Sampling and Analysis – third edition (APHA – American Public Health Association, Mỹ) được trình bày trong Bảng 3
Bảng 3 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích khí thải
5 Bụi (Khu vực sản xuất) TCVN 5067 - 1995
6 Bụi (Ống khói, ống thoát khí) TCVN 5977 – 1995
7 NOx (Ống khói, ống thoát khí) Máy Testo 350XL, Đức
8 NO2 (Khu vực sản xuất) TCVN 6137 – 1995
9 SO2 (Khu vực sản xuất) TCVN 5975 – 1995
10 SO2 (Ống khói, ống thoát khí) Máy Testo 350XL, Đức
11 CO (Khu vực sản xuất) Thường quy kỹ thuật
12 CO (Ống khói, ống thoát khí) Máy Testo 350XL, Đức
Trang 10Stt Chỉ tiêu Phương pháp phân tích
23 Methanol
24 Metyl Mercaptan
25 Polyester
26 Xylen
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và đánh giá
Toàn bộ số liệu thu thập trong quá trình điều tra khảo sát sẽ được xử lý thống kê bằng phần mềm excel và vẽ đồ thị Trên cơ sở các dữ liệu đã được xử lý, phân tích và đánh giá toàn cảnh hiện trạng về môi trường của các doanh nghiệp cũng như hiện trạng hệ thống quản lý môi trường địa phương
4.2.3 Đánh giá khả năng áp dụng và tính bền vững của hệ thống tiêu chí
Việc đánh giá khả năng áp dụng và tính bền vững của hệ thống tiêu chí căn cứ vào các nội dung sau:
Đánh giá mức độ tuân thủ luật pháp của hệ thống tiêu chí;
Đánh giá tính khả thi trong quá trình áp dụng và tính bền vững của hệ thống tiêu chí khi có sự thay đổi về yêu cầu tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng, thay đổi về quan điểm môi trường, …
Xác định những khó khăn và thuận lợi trong quá trình phân hạng, từ đó đề xuất các hướng khắc phục;
Áp dụng hệ thống tiêu chí đánh giá 42 doanh nghiệp đã khảo sát, lấy mẫu trực tiếp, từ
đó xem xét, rà soát lại các tiêu chí và phương pháp cho điểm một cách hợp lý
4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Đề án sử dụng phương pháp chuyên gia phân tích và tổng hợp các tài liệu khoa học và thông tin tư liệu để đánh giá tính khả thi, tính khoa học của đề án thông qua hình thức hội thảo
5 TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Đề án “Xây dựng tiêu chí phân hạng bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp” do Sở Tài nguyên và Môi trường - Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Khánh Hòa chủ trì thực hiện và đơn vị tư vấn - Trung Tâm Công Nghệ và Quản Lý Môi Trường
Trang 11Đơn vị tƣ vấn
- Tên đơn vị : Trung tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường – ETM Center
- Địa chỉ : C4/5-6 Đinh Bộ Lĩnh, P.26, Q.Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh
- Điện thoại : 08 898 1501/898 1504
- Fax : 08 898 1505
Tổ chức thành viên thực hiện
TS Huỳnh Ngọc Phương Mai TTCN&QLMT Giám đốc - Tiến sĩ môi trường
TS Trần Thị Mỹ Diệu ĐH Văn Lang Tiến sĩ môi trường – cố vấn ThS Nguyễn Kim Thanh ĐH Văn Lang Thạc sĩ môi trường – cố vấn ThS Đỗ Lâm Như Ý TTCN&QLMT Phân tích chất lượng môi trường
KS Võ Đình Ái Ngân -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Nguyễn Thị Tú Anh -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Nguyễn Thị Tường Hoanh -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Nguyễn Tấn Hải -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Đặng Xuân Vinh -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Phạm Thị Ánh Hồng -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Nguyễn Trí Nam -nt- Công nghệ và quản lý môi trường
KS Nguyễn Thị Bích Thủy -nt- Phân tích chất lượng môi trường
KS Phạm Quốc Lộc -nt- Phân tích chất lượng môi trường
KS Trần Trung Hiếu -nt- Phân tích chất lượng môi trường
Trang 12Tiêu chí và cách thức phân hạng cơ sở công nghiệp được thực hiện rất khác nhau ở các quốc gia khác nhau Một số nước đã tiến hành đánh giá cơ sở và phân hạng xanh như: Indonesia, Phillipin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam, Mehico Đồng thời trong những năm gần đây, sử dụng phương tiện thông tin để thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý môi trường nói chung và đặc biệt là trong công tác kiểm soát ô nhiễm công nghiệp đã xuất hiện ở nhiều nước như Pháp, Hà Lan, Canada, Mỹ, Colombia, Braxin, Indonesia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc Ở những nước này, các cơ quan quản lý môi trường đang áp dụng nhiều chương trình cải cách và đổi mới trong công tác quản lý môi trường và cưỡng chế tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường theo hướng sử dụng “phổ biến cho cộng đồng thông tin về hành vi môi trường” của các cơ sở sản xuất, kinh doanh hay các đối tượng mà hoạt động của chúng có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường Đây là một công cụ hữu hiệu nhằm giám sát việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường và tạo áp lực bắt buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh hành vi để đảm bảo tuân thủ pháp luật môi trường
Nhìn chung, cách thức áp dụng và triển khai các chương trình phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng ở các nước khác nhau cũng có những điểm khác nhau, song đều tập trung vào một mục tiêu chung là huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường
Hiện nay, trên thế giới một số nước đã tiến hành phân hạng doanh nghiệp như: Indonesia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, …
1
http://www.danang.gov.vn/home/view.asp?id=105&id_theloai=1055
Trang 131.1.2 Chương trình phân hạng tại các quốc gia
Chương trình PROPER ở Indonesia 2
Bắt đầu vào những năm 1980, nền công nghiệp ở Indonesia trên đà phát triển mạnh, đồng thời phát sinh nhiều vấn đề ô nhiễm do công nghiệp gây ra Indonesia là quốc gia tiên phong áp dụng phân hạng môi trường để quản lý môi trường đối với các cơ sở công nghiệp Chính phủ Indonesia đã giao trách nhiệm cho BAPEDAL - Cơ quan Kiểm soát ô nhiễm Quốc gia, cưỡng chế thi hành các tiêu chuẩn về phát thải của các cơ sở công nghiệp Tuy nhiên, hoạt động cưỡng chế còn yếu kém do kinh phí quản lý hạn chế và do tình trạng tham nhũng làm cản trở việc triển khai thực hiện Đến giữa năm 1990, Chính phủ đã phải thực sự đối đầu với những nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng do tình trạng ô nhiễm môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp
Cơ quan Kiểm soát ô nhiễm Quốc gia (BAPEDAL), quyết định khởi xướng Chương trình
“Xếp hạng và công khai hóa kết quả hoạt động bảo vệ môi trường của các nhà máy ở Indonesia (PROPER)” với một hy vọng là tạo nên động lực mới thúc đẩy việc tuân thủ về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở gây ô nhiễm Đồng thời, các nhà quản lý cũng đưa ra các cơ chế chính sách hỗ trợ, buộc các nhà doanh nghiệp phải chấp nhận những công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến nhằm cải thiện chất lượng môi trường công nghiệp
Chương trình này có tên là PROPER - kiểm soát, đánh giá và xếp hạng ô nhiễm các nhà máy công nghiệp Trong khuôn khổ của chương trình, BAPEDAL xếp hạng hoạt động
môi trường của từng cơ sở gây ô nhiễm Các nhà máy được xếp hạng “màu đen” là các
nhà máy không có bất kỳ cố gắng nào để kiểm soát ô nhiễm và gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng về môi trường “Màu đỏ” chỉ các nhà máy đã tổ chức một số hoạt động
kiểm soát ô nhiễm, song chưa đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn môi trường Các nhà máy tuân
thủ triệt để các tiêu chuẩn môi trường quốc gia được xếp hạng “màu xanh da trời” Các
nhà máy có những nỗ lực kiểm soát tác động môi trường và đạt được những kết quả tốt
hơn tiêu chuẩn quốc gia sẽ nhận được mức xếp hạng “màu xanh lá cây” Và theo thời
gian, những nhà máy này sẽ điều chỉnh để đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 Những cơ
sở thực hiện được các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, như ISO 14000, sẽ được xếp
hạng “màu vàng”
Trong giai đoạn thử nghiệm, Chương trình PROPER đã đánh giá được mức độ ô nhiễm của 187 nhà máy, có quy mô trung bình và lớn, nằm ở các lưu vực sông trên đảo Sumatra, Java và Kalimantan Chương trình PROPER chỉ tập trung vào việc đánh giá ô nhiễm nước thải bởi họ có đầy đủ các số liệu và kinh nghiệm trong lĩnh vực này
Kết quả phân hạng đã được BAPEDAL cân nhắc kỹ lưỡng về chiến lược trước khi phổ biến rộng rãi Kết quả của các cơ sở xếp hạng màu xanh đã được công bố công khai và Phó Tổng thống Indonesia đã trao giải thưởng cho các doanh nghiệp có thành tích bảo vệ môi trường Các cơ sở có mức xếp hạng màu đen chưa bị công bố ngay, BAPEDAL thông báo đến từng Doanh nghiệp về kết quả xếp hạng của họ, đồng thời yêu cầu thực hiện khắc phục trong thời hạn 6 tháng để cải thiện môi trường tại cơ sở trước khi công khai hóa thông tin cho cộng đồng
2
http://www.danang.gov.vn/home/view.asp?id=59&id_tin=9834&id_theloai=1055
Trang 14Nhận xét
Ưu điểm
Tháng 12/1995, BAPEDAL đã thực hiện cam kết của mình về công khai hoá hoàn toàn
So với tình hình quản lý trước đây ở Indonesia, kết quả thực hiện Chương trình PROPER cho thấy:
- Việc xếp hạng và phổ biến thông tin cho cộng đồng là công cụ mạnh để cải thiện các
điều kiện môi trường ở các nước đang phát triển
- Chương trình đã thật sự mang hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm, điển hình đã
làm giảm thiểu được 32% COD và BOD từ các doanh nghiệp tham gia chương trình Mặc dù chương trình Proper tiến hành trong thời gian khá ngắn và chỉ mới tập trung đánh giá ô nhiễm nước thải của một số ngành công nghiệp nhưng chương trình đã thật
sự mang lại hiệu quả trong việc công khai thông tin môi trường cho cộng đồng Bên cạnh đó, đối với các cơ sở gây ô nhiễm, chương trình chưa công bố ngay mà cho thời gian là 6 tháng để các cơ sở khắc phục ô nhiễm
- Chương trình này đã tạo lập được uy tín đối với doanh nghiệp và công chúng do đảm
bảo được tính kiên định và khách quan, nhờ đó được cộng đồng tiếp tục ủng hộ hệ
thống xếp hạng này cho dù sau đó đã xảy ra khủng hoảng về tài chính và chính trị ở Indonesia
Nhược điểm
3
Chương trình Proper ở Indonesia được phát động vào tháng 6/1995, kéo dài trong 3 năm
và kết thúc vào tháng 6/1998 vì thời điểm này Indonesia phải đối mặt với khủng hoảng
kinh tế và chính trị Chương trình chỉ tập trung đánh giá ô nhiễm nước thải của các
ngành cao su, gỗ, giấy – bột giấy và dệt vì họ chỉ có đầy đủ số liệu và kinh nghiệm trong lĩnh vực này Việc đánh giá và xếp hạng các doanh nghiệp căn cứ vào 2 thông số ô nhiễm
là BOD và COD
Chương trình Ecowatch ở Philippin 4
Bộ Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Phillipin (DENR) đã xây dựng được một Chương trình tương tự như Chương trình PROPER, gọi là Chương trình Giám sát Sinh Thái (Ecowatch)
Tháng 4/1997, Ecowatch đã công bố bản báo cáo đầu tiên của mình về 52 nhà máy hoạt động ở thủ đô Manila, trong đó có đến 92% nhà máy không tuân thủ Cũng như Indonesia, Chính phủ Phillipin đã theo đuổi chiến lược giống như BAPEDAL Tổng thống Fidel Ramos đã chúc mừng các nhà máy xếp hạng màu xanh da trời tại một buổi lễ công khai (không có nhà máy nào xếp hạng màu xanh lá cây và màu vàng) Các nhà máy đen và đỏ được thông báo riêng về mức xếp hạng cùng với thời hạn xử lý ô nhiễm Tháng 11/1998 việc phổ biến thông tin cho cộng đồng được thực hiện với sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 15“phân loại quốc tế”
Chương trình Greenwatch ở Trung Quốc 5
Tại Trung Quốc, một dự án kiểm soát ô nhiễm tiến bộ nhằm phân hạng các doanh nghiệp
về khía cạnh bảo vệ môi trường đã được thực hiện dựa trên chương trình PROPER của Indonesia Các doanh nghiệp được xếp loại theo mức độ tốt nhất đến xấu nhất dựa trên các màu sau: xanh lá cây, xanh da trời, vàng, đỏ và đen Việc phân hạng này được thông báo rộng rãi cho công chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Có hai chương trình thí điểm ở cấp độ địa phương đã được thực hiện với sự tài trợ của World Bank tại hai khu vực: Zhenjiang, tỉnh Jiangsu và Hohhot, ở Inner Mongolia vào năm
2000 Kết quả của hai chương trình này có tính tích cực và sau đó tỉnh Jiangsu quyết định
mở rộng chương trình cho toàn tỉnh vào năm 2001
Jiangsu là tỉnh có mức thu nhập cao với GDP trung bình của một người dân là 2.300 USD/năm (1999) trong khi Hohhot là khu vực có thu nhập trung bình tương đối thấp Chương trình phân hạng tại cả hai khu vực đã thực hiện đúng tiêu chí giống như chương trình đã thực hiện tại Indonesia và Phillipines Thứ nhất, hệ thống phân hạng đơn giản để các ứng dụng của nó dễ hiểu và dễ được chấp thuận bởi các doanh nghiệp và công chúng Thứ hai, nó xác định cả mặt tốt lẫn mặt xấu Cuối cùng, sử dụng màu sắc để phân hạng các doanh nghiệp để dễ dàng thông tin trên các phương tiện truyền thông
Màu đen và đỏ tượng trưng cho doanh nghiệp không đạt chất lượng về môi trường Màu vàng thể hiện doanh nghiệp đáp ứng được tối thiểu các luật lệ về phát thải nhưng thất bại trong việc tuân thủ các yêu cầu khắt khe hơn Màu xanh da trời và xanh lá cây thể hiện doanh nghiệp có biểu hiện tốt
Hệ thống phân hạng dựa trên 4 nguồn thông tin: (1) các báo cáo của từng doanh nghiệp
về phát thải ô nhiễm; (2) các báo cáo kiểm tra khảo sát về cách quản lý môi trường của các doanh nghiệp này; (3) các ghi nhận về than phiền của công chúng đối với nhà máy, các ghi nhận về chịu phạt; (4) các cuộc khảo sát các đặc tính của các doanh nghiệp liên quan đến việc phân hạng
Hệ thống phân hạng này bao gồm 6 nhân tố về môi trường: nước, khí, tiếng ồn, rác thải, bức xạ điện từ, ô nhiễm phóng xạ Nó bao gồm thông tin của 13 chất ô nhiễm không khí vào nước: COD, SS, dầu mỡ, các hợp chất hydrobenzen dễ bay hơi, Cr, CN-, Pb, As, Hg,
Cd, bụi từ ống khói, bụi công nghiệp và SO2 Sự phát thải được phân loại thông qua khối lượng và nồng độ Chất thải rắn được đánh giá trong 3 khía cạnh: phát sinh, tiêu hủy và tái sử dụng
5
Chương trình hội thảo phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường tại TP Hồ Chí Minh ngày 27/2/2008
Trang 16Các nỗ lực trong quản lý môi trường được xét đến gồm có: trả phí phát thải đúng thời hạn, thực hiện chương trình báo cáo và đăng kí phát thải chất ô nhiễm, thực hiện các phương thức chuẩn trong quản lý chất thải và thực hiện chương trình ba đồng bộ hóa, và các thông số liên quan đến quan trắc môi trường, huấn luyện nhân sự và chuẩn bị các tài liệu Ngoài ra, hệ thống phân hạng còn quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài nguyên của doanh nghiệp, mức độ kỹ thuật của nó (ví dụ như có thực hiện chương trình kiểm toán sản xuất sạch hơn), và chất lượng của hệ thống quản lý môi trường tại doanh nghiệp Tác động xã hội cũng được phân tích Ở đây quan tâm đến các ghi nhận về sự than phiền của công chúng, các sự cố ô nhiễm, sự gây ô nhiễm bất hợp pháp và các xử phạt hành chính mà các doanh nghiệp đã nhận
Chương trình thí điểm bắt đầu vào tháng 6 năm 1999, và đã phân hạng cho 101 doanh nghiệp từ một số ngành công nghiệp 10 doanh nghiệp bị loại bỏ khỏi danh sách trong giai đoạn đầu thẩm định vì các vấn đề về chất lượng dữ liệu, do đó chỉ có 91 doanh nghiệp được công bố phân hạng Các doanh nghiệp này chiếm 95% phát thải của khu vực
và 65% đầu ra về kinh tế Kết quả cho thấy 69% các doanh nghiệp được xếp màu vàng,
đỏ và đen trong khi 31% còn lại được xếp màu xanh Chỉ có một số ít đạt được màu xanh
lá cây Vào tháng 6 năm 2000, các công ty đã phân hạng được chính thức thông báo rộng rãi cho công chúng biết
Nhiều kết quả cho thấy nhiều doanh nghiệp đã chọn cách cải thiện tình hình bảo vệ môi trường của họ trong thời gian 1 năm giữa thời điểm các công ty đã được phân hạng được công bố nội bộ và công khai Do đó, số lượng doanh nghiệp được xếp hạng màu xanh đã tăng gấp đôi từ 31% đến 62%
Từ kết quả khả quan của chương trình phân hạng thí điểm tại hai khu vực, chương trình GreenWatch đã được mở rộng ra và kết quả là vào tháng 6 năm 2003, có khoảng 2.500 doanh nghiệp đã được phân hạng
Nhận xét
Chương trình Greenwatch cho thấy việc công bố danh sách phân hạng các doanh nghiệp
là một cách thức kiểm soát ô nhiễm môi trường mới mẻ và hiệu quả Việc ứng dụng chương trình này có vẻ khả thi tại hầu hết các khu vực bởi vì khía cạnh kỹ thuật và thiết
kế không quá phức tạp Một số bài học kinh nghiệm quan trọng được đúc kết như sau:
- Việc chọn lựa khía cạnh môi trường và thông số chất thải nào phụ thuộc vào trọng
tâm của khu vực trong quản lý ô nhiễm cũng như là khả năng của tổ chức thực hiện phân hạng;
- Việc chọn lựa các doanh nghiệp gây ô nhiễm phải có tiêu chí rõ ràng, có thể bắt đầu
từ các doanh nghiệp lớn nhưng sau đó cũng nên mở rộng ra để xem xét các doanh nghiệp nhỏ hơn;
- Phương thức phân hạng phải rõ ràng và dễ dàng thông báo cho công chúng nhằm tạo
áp lực liên tục lên các doanh nghiệp bắt buộc họ phải cải thiện chất lượng môi trường;
- Các thông số phân hạng phải càng khách quan càng tốt;
- Ngoài ra, điều quan trọng nhất là mức độ chính xác của các thông tin được thu thập
để phân hạng doanh nghiệp
Trang 17 Chương trình Environmental Truth tại Thái Lan (TET) 6
Chương trình TET được tiến hành tại Thái Lan đối với các ngành công nghiệp, khách sạn
và những cao ốc Cách đánh giá để phân hạng dựa vào sự tuân thủ tiêu chuẩn môi trường chủ yếu là các chỉ tiêu như BOD, TSS, các hoạt động cải thiện môi trường, các khiếu nại,
tố kiện của cộng đồng địa phương, sự tuân thủ theo luật lệ, chứng nhận ISO 14001
Chương trình phân hạng các cơ sở công nghiệp ở Ấn Độ 7
Chương trình thí điểm về phân hạng và công bố danh sách các cơ sở công nghiệp về bảo
vệ môi trường là một phần của dự án đa phần do World Bank tài trợ cho vùng Uttar Pradesh Chương trình thí điểm này tập trung phân hạng các cơ sở công nghiệp tại vùng Ghaziabad và Noida 60 công ty đã được chọn lựa dựa trên cường độ gây ô nhiễm của chúng và được phân hạng dựa trên các chỉ tiêu khoa học được thiết kế Dự án thí điểm đã được điều chỉnh để phù hợp với thực tế của nước Ấn Độ Dự án này đã cố gắng phân hạng các công ty ở các ngành khác nhau ở trong cùng một khu vực cố định, nó khác với việc phân hạng các công ty của cùng một ngành công nghiệp như đã từng được thực hiện trước đây Điều đặc biệt nữa là ngay từ lúc đầu, các công ty quy mô vừa và nhỏ cũng được chọn lựa và phân hạng Quy trình phân hạng và công khai hóa bao gồm 3 bước thực hiện chính yếu như sau:
- Thu thập thông tin từ các đơn vị công nghiệp và thẩm định lại các thông tin này;
- Phân tích dữ liệu và kiểm tra tại chỗ;
- Phân hạng và công khai hóa
Sự phân hạng được thực hiện qua một quy trình sàng lọc nghiêm ngặt, liên quan đến một ban chuyên trách nhiều thành viên từ các tổ chức NGO, các doanh nghiệp và các tổ chức chính phủ khác Việc thẩm định chi tiết các hoạt động bảo vệ môi trường dựa trên quy trình phân tích nhiều khía cạnh và dựa trên các dữ liệu về ô nhiễm Các công ty được phân hạng với 5 màu sắc thể hiện từ tốt nhất đến xấu nhất như sau: vàng, xanh lá cây, xanh da trời, đỏ và đen Việc phân hạng được công khai đến từng công ty và các công ty này được hướng dẫn kỹ thuật với khung thời gian để cải thiện tình hình Nếu cải thiện chất lượng môi trường tốt hơn, các công ty có thể đạt được cấp phân hạng cao hơn Sau các cuộc kiểm định tại chỗ, việc phân hạng được đi đến kết thúc và được công khai cho công chúng thông qua các phương tiện truyền thông
Nhìn chung, việc phân hạng các doanh nghiệp có yếu tố tích cực trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giúp tăng cường nhận thức về bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp Chương trình phân hạng tại các nước là bài học kinh nghiệm rất có giá trị cho các quốc gia khác học hỏi và áp dụng vào thực tế tại địa phương, trong đó có Việt Nam Những mặt tích cực cũng như hạn chế trong chương trình phân hạng tại các quốc gia là nền tảng quan trọng để các quốc gia khác học tập và tiếp tục phát triển chương trình Với những hiệu quả mà chương trình mang lại đối với môi trường, chương trình quản lý môi
Trang 18trường dựa vào cộng đồng thật sự là một biện pháp quản lý hữu hiệu mà nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang hướng đến
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HIỆN TRONG NƯỚC
1.2.1 Tổng quan
Với mục đích đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, các ngành công nghiệp đang ngày càng được mở rộng phát triển Cùng với sự phát triển nhanh chóng đó, ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành một thách thức lớn, đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc của các cấp quản lý cũng như các doanh nghiệp phát sinh ô nhiễm Nhiều chính sách và cách tiếp cận khác nhau đã được nghiên cứu, áp dụng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường được kiểm soát chủ yếu theo cách tiếp cận “mệnh lệnh và kiểm soát”, trong đó các doanh nghiệp có trách nhiệm phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
8Cùng với xu thế công khai hóa thông tin về hoạt động bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp đã triển khai tại các nước trên thế giới từ những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng tăng cường vai trò của cộng đồng vào quá trình đánh giá mức độ ô nhiễm đối với các doanh nghiệp Áp dụng mô hình từ các nước Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, Mehico, Việt Nam đã tiến hành phân loại đánh giá ô nhiễm công nghiệp và công khai hoá thông tin về các cơ sở sản xuất công nghiệp từ năm 1997 Việc thực hiện xây dựng tiêu chí phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp đã triển khai tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh Với cách tiếp cận này, một số thành phố ở nước ta như thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản 02 loại sách là
“SÁCH XANH” và “SÁCH ĐEN” từ năm 2001, ở Hà Nội và Hải Phòng đã xây dựng chương trình PHÂN HẠNG XANH và bước đầu đã có được những kết quả nhất định
1.2.2 Chương trình phân hạng tại một số tỉnh, thành trong cả nước 9
Hà Nội
Tháng 6/2000, Cục Môi trường trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trước đây (nay là Cục Bảo vệ Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã được Chính phủ giao chủ trì thực hiện dự án “Tăng cường năng lực thể chế quản lý thông tin môi trường” do Ngân hàng Thế giới tài trợ trong thời hạn 2 năm (Dự án SICEIM) Một trong những hoạt động chính của dự án này là xây dựng phương pháp luận và thử nghiệm
áp dụng cách tiếp cận mới trong quản lý môi trường với việc sử dụng phổ biến thông tin môi trường như một công cụ hỗ trợ cho kiểm soát ô nhiễm và quản lý bảo vệ môi trường Tại Hà Nội, Cục Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (trước đây) đã xây dựng và thực hiện Chương trình thử nghiệm đối với 50 nhà máy thuộc ngành công nghệ
Trang 19thực phẩm và dệt nhuộm, chỉ tập trung đánh giá ô nhiễm nước thải, bởi họ có số liệu đầy
đủ và kinh nghiệm trong lĩnh vực này
Mục đích của Chương trình này nhằm phân loại các nhà máy thuộc 02 ngành thực phẩm
và dệt nhuộm theo mức độ ô nhiễm nước và tuân thủ qui định môi trường Đồng thời dùng các biện pháp khác nhau để cùng nhà máy cải thiện môi trường Cách làm này được dựa trên kinh nghiệm của các nước như Indonesia, Philippin, Trung Quốc, Thái Lan , và được xem xét lựa chọn sao cho phù hợp với Hà Nội Sau đó lựa chọn thông số quan trắc cho tất cả các cơ sở
Các bước thực hiện phân hạng xanh ở Hà Nội được trình bày trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Quy trình phân hạng Sách Xanh ở Hà Nội
1 Chọn các nhà máy và các thông số quan trắc
2 Đo các thông số quan trắc (thời gian liên tục 3 tháng liền)
3 Phân loại các nhà máy dựa trên thông số quan trắc và việc thực hiện quy định về
môi trường (không tốt, chưa tốt, tốt, rất tốt và xuất sắc)
4 Đối với các nhà máy có kết quả không tốt và chưa tốt: thông báo cho các nhà
máy, chưa công bố kết quả rộng rãi, cùng nhà máy tìm cách cải thiện môi trường
5 Khảo sát lại các nhà máy để đánh giá lại và công bố kết quả (kể cả nhà máy chưa
tốt và không tốt)
6 Tổng kết, đánh giá
(Nguồn: Cục môi trường, 2001)
Sản phẩm của quá trình này là một bảng danh sách cơ sở được phân hạng Sau khi đánh giá sơ bộ, sắp xếp theo 5 mức từ “không tốt” đến “xuất sắc” Những cơ sở bị xếp hạng
“chưa tốt” và “không tốt” sẽ được thông báo riêng để có phương án cải thiện môi trường
và có quy định rõ về thời hạn thực hiện Trước khi công khai hóa toàn bộ thông tin, cơ quan quản lý sẽ đánh giá lại tất cả các cơ sở trong đó có những cơ sở “không tốt” và
“chưa tốt” sau khi đã cải thiện
Việc đánh giá các doanh nghiệp căn cứ vào 9 tiêu chí được trình bày ở Bảng 1.2
Bảng 1.2 Tiêu chí phân hạng doanh nghiệp ở Hà Nội
1 Sự tuân thủ tiêu chuẩn môi trường (TCVN)
2 Khiếu nại cộng đồng
3 Sự cố môi trường trong 6 tháng gần đây
4 Có hệ thống xử lý nước thải và đang vận hành tốt
5 Đo khối lượng nước sử dụng
6 Sự hợp tác của doanh nghiệp với cơ quan quản lý
7 Có môi trường cảnh quan sạch và đẹp
8 Có phương pháp quản lý tiến bộ
9 Lãnh đạo và công nhân của Doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm trong công
tác bảo vệ môi trường trong và ngoài Doanh nghiệp
(Nguồn: Cục môi trường, 2001)
Trang 20Nhận xét
Chương trình có giới hạn là chỉ tập trung phân hạng đối với 50 nhà máy thuộc 2 ngành
công nghiệp thực phẩm và dệt nhuộm nhưng nhìn chung đã góp phần nâng cao ý thức của
doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường
Chương trình chỉ có tác dụng trong một thời điểm nhất định vì chỉ được thực hiện trong vòng 2 năm, bắt đầu từ tháng 6/2000 dưới sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới và không được duy trì, cập nhật liên tục
Hải Phòng
Tại Hải Phòng, trong khuôn khổ Dự án “Cải thiện môi trường đô thị” (MEIP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ trong năm 2001 - 2002, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Hải Phòng đã xây dựng Chương trình thí điểm công khai hóa thông tin nhằm thực hiện Chiến lược Bảo vệ Môi trường thành phố đến năm 2010 Chương trình thí điểm này đã thực hiện cho các cơ sở thuộc các ngành chế biến thực phẩm, nước giải khát và dệt nhuộm Tiêu chí phân hạng cơ sở công nghiệp ở Hải Phòng được xác lập dựa trên các tiêu chí sau:
- Tuân thủ TCVN 5945-1995 (thông số chính: pH, COD, BOD, TSS)
- Khiếu nại cộng đồng
- Sự cố môi trường trong 6 tháng gần đây
- Vận hành tốt hệ thống xử lý nước thải
- Quan trắc môi trường và có hệ thống thông tin tốt
- Đo đạc khối lượng nước sử dụng
- Hợp tác của các doanh nghiệp với cơ quan quản lý
- Thực hiện sản xuất sạch hàng năm
Kết quả ban đầu gồm: thống kê sơ bộ trên 370 cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô vừa trở lên, xây dựng hồ sơ môi trường và phân loại ra 82 hồ sơ phục vụ công tác quản lý Tuy nhiên, do chưa có những hướng dẫn mang tính pháp lý nên việc phân loại và đánh giá còn chủ quan, mang tính chất thử nghiệm
Trên cơ sở các tiêu chí đã xây dựng, Các bước thực hiện Chương trình thí điểm công khai hóa thông tin và phân loại cơ sở công nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường tại Hải Phòng được trình bày ở Bảng 1.3
Bảng 1.3 Các bước thực hiện chương trình phân hạng tại Hải Phòng
1 Thống kê toàn bộ số lượng các nhà máy thuộc các ngành liên quan
2 Sàng lọc sơ bộ để chọn 30 cơ sở tham gia chương trình thí điểm
3 Xây dựng biểu mẫu (phiếu điều tra) và thiết kế hồ sơ quản lý về môi trường với
các tiêu chí theo Chương trình phần mềm về lưu trữ thông tin và phân loại cơ sở được tiếp nhận của Chương trình thí điểm cấp Quốc gia
4 Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin các cơ sở tham gia thí điểm Xây dựng quy
Trang 21Bước Nội dung
hoạch các điểm quan trắc môi trường nước thải của từng cơ sở
5 Tiến hành quan trắc môi trường
6 Thành lập thư viện thông tin môi trường về các cơ sở, trên cơ sở tiếp nhận phần
mềm chuyển giao của Chương trình thí điểm cấp Quốc gia Tiến hành phân loại cơ
sở theo chương trình phần mềm nêu trên
7 Xây dựng chiến lược công khai hoá thông tin về môi trường cho Hải Phòng trong
những năm tới, đề xuất kế hoạch mở rộng phân loại và công khai hoá thông tin đối với các ngành công nghiệp khác
8 Đề xuất xây dựng cơ chế để khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để cộng đồng
tham gia đóng góp với Chính phủ trong công tác quản lý ô nhiễm công nghiệp, xác định trách nhiệm của các cơ quan liên quan
Nhận xét
Cũng giống như chương trình phân hạng tại Hà Nội, chương trình phân hạng tại Hải Phòng cũng được tiến hành 2 năm (2001-2002) dưới sự tài trợ của Ngân hàng thế giới Tuy nhiên, so với tại Hà Nội, quy trình thực hiện phân hạng xanh ở Hải Phòng rất cụ thể,
tuy nhiên cũng tốn kém khá nhiều kinh phí cho quá trình quan trắc Các thông số quan
trắc lựa chọn là BOD, COD, TSS, pH và màu, tần suất quan trắc là 3 tuần/lần đối với một
cơ sở
Ngoài ra, chương trình chỉ mới đánh giá thí điểm cho 30 cơ sở Đây là con số quá nhỏ để đánh giá đúng hiện trạng môi trường của cả tỉnh Do đó, chương trình chỉ mang tính chất thử nghiệm và chưa thực sự quy mô cũng như không được duy trì và phổ biến rộng rãi
Đà Nẵng
UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp với Dự án môi trường Việt Nam - Canada (VCEP)
đã tổ chức công bố “Danh sách xanh” gồm các cơ sở công nghiệp của thành phố có thành tích trong hoạt động bảo vệ môi trường năm 2004 Các cơ quan chức năng đã tiến hành khảo sát và lượng hóa mức độ gây ô nhiễm trên 350 doanh nghiệp trên địa bàn với 8 tiêu chí
Theo đánh giá của cơ quan môi trường, hiện trên địa bàn thành phố chưa có doanh nghiệp nào đáp ứng được đủ 8 tiêu chí trên
Trong đợt đầu tiên này, thành phố đã chọn ra 4 doanh nghiệp tiêu biểu đưa vào “danh sách xanh” là Công ty May Hòa Thọ, Xí nghiệp Gạch men Cosevco, Nhà máy cán thép
Đà Nẵng và Công ty Chế biến và xuất khẩu thủy sản
Trang 22- Bước 2: Phân loại cơ sở
- Bước 3: Biên soạn sách
- Bước 4: Công bố sách
- Bước 5: Duy trì và hoàn thiện sách
Phương pháp thực hiện
- Điều tra, thu thập thông tin: Thu thập các số liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau hiện
có tại địa phương, sắp xếp, phân loại và xử lý các số liệu theo các yêu cầu phục vụ việc đánh giá các cơ sở công nghiệp theo các tiêu chí đã lựa chọn
- Xây dựng sách Phân Hạng Xanh được Hội thảo và chuyên gia thống nhất
- Quan trắc: Đo đạc các thông số môi trường cần thiết làm số liệu cho việc đánh giá cơ
sở
- Thống kê, xử lý số liệu: số liệu của các cơ sở được cập nhật và tính toán trên phần mềm Excel
Tiêu chí phân hạng cơ sở công nghiệp tại Đà Nẵng
- Tiêu chuẩn của Việt Nam về môi trường
- Khiếu nại cộng đồng
- Sự cố môi trường
- Hệ thống xử lý chất thải
- Quan trắc môi trường
- Hợp tác của các doanh nghiệp
- Giải pháp cải thiện môi trường
- Giấy phép về môi trường
Hệ thống màu phân hạng trên được xếp theo thứ tự từ mức cao nhất đến mức thấp nhất Danh sách các cơ sở theo từng ngành sẽ được phân hạng theo các mức trên và sẽ công khai hóa kết quả phân hạng cho các đối tượng liên quan Dự kiến sau khi ban hành sách Phân Hạng Xanh, cơ sở công nghiệp sẽ có những cải thiện tích cực hơn để đạt đến các mức cao hơn Sau mỗi năm dự kiến sẽ bổ sung thông tin về cơ sở và có đánh giá lại, đồng thời sẽ bổ sung thêm các ngành khác vào hệ thống phân hạng xanh của thành phố
Nhận xét
Chương trình đã tiến hành đánh giá 138 cơ sở công nghiệp thuộc 5 ngành ưu tiên, bao gồm chế biến thuỷ sản, cơ khí - cán thép, sản xuất giấy, vật liệu xây dựng và dệt Các cơ
sở công nghiệp trong chương trình thử nghiệm hầu hết là những cơ sở vừa và nhỏ, rất ít
cơ sở có quy mô lớn, tập trung rải rác trên toàn thành phố, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và kể cả những cơ sở xen kẽ trong khu dân cư
Thành Phố Hồ Chí Minh
Nhận thấy rằng việc công khai hoá các thông tin về môi trường là một trong những công
cụ quan trọng nhằm thúc đẩy các hành động bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành ban hành Sách Đen (đợt 1 năm 1994 và đợt 2 năm 1997) và Sách Xanh (năm 2001).Mục tiêu chính của việc xây dựng sách là nhằm nâng
Trang 23cao nhận thức bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp, cập nhật và quản lý cơ sở dữ liệu môi trường của các cơ sở công nghiệp, đồng thời huy động sự tham gia của cộng đồng vào quá trình đánh giá ô nhiễm và phân loại doanh nghiệp gây ô nhiễm Áp lực từ cộng đồng chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng nâng cao công tác bảo
vệ môi trường
Quy trình ban hành sách xanh
Quy trình xây dựng sách xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành theo các bước ở Bảng 1.4
Bảng 1.4 Quy trình xây dựng sách xanh ở thành phố Hồ Chí Minh
1 Thông báo và đăng ký: thông báo các tiêu chí, tiêu chuẩn và tổ chức đăng ký tham
gia sách xanh cho các doanh nghiệp
2 Thẩm định: kiểm tra hồ sơ và tình hình quản lý môi trường của các DN, tổ chức rà soát lại toàn bộ thông tin kê khai của DN, tình hình quản lý chất thải tại nguồn và xử
lý chất thải cuối nguồn, tiến hành quan trắc đánh giá tuân thủ môi trường
Để triển khai công tác thẩm định, Sở đã xây dựng thực hiện một đề tài cấp thành phố với sự tham gia của nhiều chuyên gia, các cơ quan quản lý có liên quan tại Thành
ký của các nhà máy tự khẳng định có đủ các tiêu chuẩn để tham gia Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành rà soát và thẩm định lại những thông tin của các nhà máy đăng ký, đồng thời phân loại đưa vào sách xanh
Thực chất sách xanh là một danh sách các nhà máy đạt tiêu chuẩn đối với các tiêu chí bảo
vệ môi trường trong một giai đoạn cụ thể Sách xanh đã ghi nhận đầy đủ các giải pháp mà các doanh nghiệp đã áp dụng trong quá trình đầu tư sản xuất - dịch vụ - kinh doanh phục
vụ yêu cầu phát triển của doanh nghiệp và chấp hành nghiêm túc các quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường
Nhận xét
- Tại thời điểm này, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, một Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường đã tiên phong mạnh dạn nghiên cứu và ban hành một vấn đề tế nhị liên quan đến ô nhiễm môi trường trong công nghiệp
- Việc ban hành sách xanh có tác dụng tuyên dương các công ty đã có những hành động cải thiện môi trường thành công Tuy nhiên, việc phổ biến sách xanh vẫn chưa được rộng rãi;
Trang 24- Sách xanh làm cho các công ty đầu tư và cải thiện các hành động bảo vệ môi trường
để được liệt kê vào sách xanh Cuốn sách này có thể là một công cụ tốt để cải thiện hành động bảo vệ môi trường của các công ty Tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được với điều kiện là cơ quan nhà nước phải có một quy định thưởng phạt hợp lý hoặc phạt nặng đối với nhà máy liệt kê trong sách đen;
- Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường không đặt ra các điều kiện và tiêu chí cho các công ty liệt kê trong sách xanh Họ chỉ dựa trên sự giới thiệu từ một số ít công ty dịch
vụ môi trường địa phương Điều này dẫn đến một số công ty đã thực hiện thành công các biện pháp cải thiện môi trường nhưng không liệt kê trong sách xanh;
- Sách xanh được Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành chưa trở thành một công cụ mạnh khiến cho các công ty phải đầu tư và cải thiện các hành động bảo vệ môi trường để được liệt kê trong sách này
Quy trình xây dựng sách đen
Quy trình xây dựng sách đen được thực hiện theo 4 bước ở Bảng 1.5
Bảng 1.5 Quy trình xây dựng sách đen ở thành phố Hồ Chí Minh
1 Dựa trên kết quả khảo sát, các điều kiện và tiêu chí nêu trên, liệt kê những công ty vi phạm về môi trường
2 Lập dự thảo báo cáo đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường cho từng nhà máy bị liệt
kê, trong đó thời hạn yêu cầu cải thiện cũng được nêu rõ
3 Gửi bản thảo báo cáo đánh giá đến từng công ty bị liệt kê để họ có ý kiến Thời hạn cho việc đóng góp ý kiến cũng được xác định rõ
4 Dựa trên những ý kiến phản hồi từ các công ty, Ủy ban Môi trường sẽ hiệu chỉnh và ban hành sách đen
(Nguồn: Sách Đen, TP HCM, 2002)
Danh sách các cơ sở được xếp hạng màu đen sẽ được đánh giá mức độ ô nhiễm và chuyển đến cơ sở liên quan để lấy ý kiến phản hồi về kết quả xếp hạng của họ trước khi ban hành Sách Đen
Nhận xét
Ưu điểm
- Làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp;
- Có tác dụng thúc đẩy việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp;
- Thay đổi nhận thức và thái độ của cộng đồng: theo dõi, giám sát và đấu tranh bảo vệ
quyền lợi chính đáng;
Khuyết điểm
- Qua kết quả triển khai và tiếp nhận thông tin phản hồi của chương trình, đánh giá trên
diện rộng còn nhiều mặt hạn chế, cụ thể là chưa có sự hợp tác tốt giữa các doanh nghiệp với các cơ quan khoa học và cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường;
Trang 25- Hầu hết các nhà máy cho rằng sách đen chỉ là một tài liệu để vận động nâng cao ý thức, nó chưa phải là một công cụ kinh tế để khuyến khích họ chú ý hơn về các vấn
đề môi trường Điều này cho thấy rằng sách đen không tác động nhiều đến cơ sở gây
ô nhiễm
1.3 NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CHUNG
Nếu như chương trình phân hạng trên thế giới được thực hiện ở cấp quốc gia thì chương trình tại Việt Nam được thực hiện khác nhau tại mỗi địa phương Việc thực hiện một cách riêng rẽ và khác nhau tại mỗi địa phương cho thấy sự chưa thống nhất và đồng bộ ở cấp quốc gia Tuy nhiên, mỗi địa phương lại có những đặc điểm và vấn đề quan tâm khác nhau nên việc thực hiện cũng như đưa ra những tiêu chí khác nhau để phù hợp với tình hình thực tiễn tại mỗi tỉnh, thành Tuy có những điểm khác nhau nhưng các tiêu chí tại các tỉnh, thành đều đặt vấn đề tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường là mục tiêu trên hết Có thể nói, các chương trình phân hạng doanh nghiệp tại các nước trên thế giới và tại các tỉnh, thành của Việt Nam là nhằm thực hiện các chính sách về kiểm soát môi trường dựa vào cơ chế công khai hóa thông tin cho công chúng
Phân hạng doanh nghiệp ở các nước trên thế giới cũng như ở một số thành phố ở Việt Nam bao gồm công đoạn xây dựng tiêu chí và phân hạng theo tiêu chí về công tác quản
lý môi trường của các doanh nghiệp Tùy vào đặc điểm của các doanh nghiệp và tình hình quản lý môi trường của từng nước mà có các tiêu chí và quy mô phân hạng khác nhau
Việc phân hạng doanh nghiệp có yếu tố tích cực trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giúp tăng cường nhận thức về môi trường trong các doanh nghiệp Một số doanh nghiệp trên thế giới rất nhạy cảm về hình ảnh của mình đối với công chúng Hình ảnh doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thương hiệu cũng như mức độ tin cậy của cộng đồng đối với sản phẩm của doanh nghiệp Vì thế, việc phân hạng môi trường đưa ra những chỉ tiêu đơn giản để các doanh nghiệp cố gắng đạt được phân hạng loại tốt Còn đối với các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường thì chương trình này là một động lực giúp các doanh nghiệp hoàn thiện hơn để vừa tránh sự than phiền từ cộng đồng dân cư xung quanh, vừa giúp cơ quan quản lý dễ dàng trong công tác quản lý, vừa nâng cao hình ảnh của mình đối với xã hội
Hiện nay, nước ta đã là thành viên của WTO, Việt Nam được đối xử công bằng trong thương mại Quốc tế Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Để xâm nhập vào thị trường thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam vừa phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất song song với công tác bảo vệ môi trường Trước tình hình ô nhiễm ngày càng tăng, vấn đề môi trường đang trở thành một
đề tài nóng của cả nhân loại Thế giới đang rất quan tâm đến cách mà doanh nghiệp “đối xử” với môi trường Vì vậy, các doanh nghiệp “sạch” sẽ càng được tin cậy và đây là tấm thông hành để các doanh nghiệp xâm nhập vào các thị trường khó tính trên thế giới Không chỉ tuân thủ các văn bản pháp luật môi trường Việt Nam mà các doanh nghiệp đang ngày càng nâng cao công tác bảo vệ môi trường thông qua việc áp dụng các chương trình sản xuất sạch hơn và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14000, ISO 9000
Trang 26Bên cạnh các doanh nghiệp tuân thủ tốt các quy định của pháp luật về môi trường thì một
bộ phận các doanh nghiệp vẫn xả nước thải, khí thải chưa xử lý ra môi trường Ngoài ra, một số doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý chỉ mang tính chất đối phó và chỉ vận hành khi có cơ quan quản lý đến kiểm tra Để nâng cao công tác quản lý môi trường, cơ quan quản lý tại các địa phương đã tăng cường các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Tuy nhiên, việc tiếp cận quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đang được nhiều nước áp dụng Học hỏi kinh nghiệm của các nước, nhiều tỉnh, thành đã triển khai chương trình phân hạng môi trường và nhiều doanh nghiệp đã được xếp loại
Mô hình phân hạng Xanh ở Việt Nam bước đầu đã đạt những kết quả nhất định:
- Tăng lên đáng kể số lượng các nhà máy tuân thủ quy chế quản lý quốc gia và cải thiện hơn tình hình môi trường khu vực Nâng cao nhận thức cho các cơ sở công nghiệp, nhất là những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó thấy rõ trách nhiệm cần cải thiện môi trường của cơ sở
- Phát triển những thể chế về trao đổi thông tin, tạo được mối quan hệ khá chặt chẽ giữa
cơ quan quản lý môi trường và nhà máy
- Tăng cường vai trò tham gia của cộng đồng vào quá trình đánh giá mức độ ô nhiễm và xếp hạng của nhà máy Sức ép của cộng đồng là giải pháp hữu hiệu nhằm giúp cho các nhà máy gây ô nhiễm sẽ phải xem xét lại các biện pháp bảo vệ môi trường của mình, đồng thời có hướng điều chỉnh nhất định, tất nhiên là trong quá trình thực hiện có sự
hỗ trợ và tư vấn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
- Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho cán bộ quản lý môi trường
Vì vậy, việc phân hạng Xanh được triển khai tại các tỉnh, thành là rất cần thiết để thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao công tác bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả quản lý cho cơ quan Nhà nước Hiện tại, việc thực hiện phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí bảo
vệ môi trường đã thực hiện tại các tỉnh, thành trọng điểm của cả nước có công nghiệp phát triển mạnh Với những thành công bước đầu đạt được, việc xây dựng tiêu chí để phân hạng và xếp loại bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp đang hứa hẹn tiếp tục
mở rộng cùng với tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước
Trang 27Chương 2
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP,
CÁC VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH KHÁNH HÕA
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Khánh Hòa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung bộ, là tỉnh ven biển có điểm cực đông vươn ra biển xa nhất của đất nước Tọa độ của tỉnh Khánh Hòa được xác định như sau:
- Vĩ độ: Từ điểm cực Nam 11041’53’’ đến điểm cực Bắc 12050’28’’
- Kinh độ: Từ điểm cực Tây 108040’26’’ đến giáp biển Đông
Ranh giới của tỉnh Khánh Hòa được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên;
- Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận;
- Phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng;
- Phía Đông giáp với biển Đông với đường bờ biển dài 385 km
Cùng với phần đất liền, Khánh Hòa có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với gần 40 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường Sa với vị trí rất quan trọng về an ninh, quốc phòng và kinh tế của cả nước Là tỉnh duy nhất có 03 vịnh biển đẹp là vịnh Nha Trang, vịnh Vân Phong, vịnh Cam Ranh Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch cũng như kinh tế biển của tỉnh, đặc biệt là phát triển cảng biển và khai thác, nuôi trồng thủy hải sản
Khí hậu
Khánh Hòa có chế độ khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa So với các tỉnh phía Bắc thì mùa đông ở Khánh Hoà ít lạnh hơn, còn mùa nóng kéo dài hơn So với các tỉnh phía Nam thì Khánh Hòa có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện những đợt mưa ngắn trong mùa này Trong đó, mùa mưa
từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 9
Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm trên dưới 2.000 mm, mùa mưa chỉ kéo dài trong hai tháng,
các tháng còn lại nắng ấm, rất thuận lợi cho sự kéo dài du lịch
Trang 28 Đặc điểm thủy văn
Dãy Trường Sơn thuộc địa phận Khánh Hòa chạy gần sát biển Do đó, các sông suối chảy qua tỉnh đều ngắn và dốc Mật độ sông, suối của Khánh Hòa là 0,5 - 1 km/km2 chảy qua sông Cái Nha Trang và sông Cái Ninh Hòa, cụ thể:
- Sông Cái Nha Trang bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgô cao 1.475 m, chảy qua Khánh Vĩnh,
Diên Khánh, Nha Trang và đổ ra cửa Hà Ra – Nha Trang Đây là con sông lớn nhất
và lượng nước dồi dào nhất của tỉnh
- Sông Cái Ninh Hòa bắt nguồn từ đỉnh Chư Hu, dài 49 km, có diện tích lưu vực là
964km2 Lượng mưa bình quân trong lưu vực 1.700 mm/năm
- Hệ thống sông suối ở Khánh Hòa đa số thường bị nhiễm mặn vào mùa khô, đặc biệt
là hệ thống sông Cái Nha Trang Có năm nước mặn xâm nhập qua cửa sông tới 15km gây khó khăn rất lớn tới sản xuất và đời sống của nhân dân
10-2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
GDP
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) giá thực tế 23.758 tỷ đồng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ từ 40,91% (2007) lên 42,94% (2008); khu vực công nghiệp - xây dựng từ 41,59% xuống còn 40,73% và khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản từ 17,5% xuống còn 16,33% Thu nhập bình quân đầu người ước tính 9,8 triệu đồng/năm tăng 15% so năm 2007 10
Sản xuất nông lâm thuỷ sản
Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa năm 2008, giá trị sản xuất (GTSX) nông, lâm nghiệp - thủy sản cả năm 2008 ước được 2.539 tỷ đồng tăng 4,63% so năm 2007,
10
Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, 2008
Trang 29trong đó GTSX nông nghiệp 1.159,6 tỷ đồng tăng 8,6%, GTSX thủy sản 1.339 tỷ đồng tăng 2,36%
Do tập trung cho gieo trồng cây lương thực và cây chất bột có củ nên so với năm trước về diện tích gieo trồng cây thực phẩm (6.108 ha) và cây công nghiệp hàng năm (17.814 ha) giảm từ 2 đến 3%, sản lượng giảm từ 7 đến 27%, riêng sản lượng mía tăng 2,04%
Theo kết quả điều tra chăn nuôi gia súc gia cầm, đến ngày 1/10/2008 toàn tỉnh có đàn trâu 5.325 con, đàn bò 84.814 con, đàn lợn 106.649 con, đàn gia cầm 1.909 ngàn con, đàn dê cừu 17.601 con So thời điểm 1/8/2007, đàn trâu, lợn, gia cầm tăng từ 4,9% đến 18,2%, đàn bò giảm 20,1%
So với năm trước sản xuất lâm nghiệp giảm từ 19 – 48% ở cả 2 khâu khai thác gỗ và trồng rừng tập trung Công tác phòng chống cháy rừng được quan tâm thường xuyên nên chỉ xảy ra 1 vụ cháy thiệt hại 2,5 ha rừng
Sản xuất thủy sản có 3 chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch và tăng so năm trước: đánh bắt thủy sản 68.637 tấn, khai thác yến sào 2.400 kg, thu hoạch tôm thịt 7.148 tấn
Sản xuất công nghiệp
Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính cả năm 12.890 tỷ đồng tăng 13,8% so năm 2007 Một số doanh nghiệp có mức tăng GTSX khá hơn như Cty TNHH 1 thành viên khai thác chế biến XK khoáng sản Khánh Hòa, Cty Yến sào, Cty liên doanh TNHH Cát Phú, Cty TNHH Sambo ISE, Cty TNHH Long Hiệp, Cty CP hải sản Nha Trang, Cty TNHH Trúc An, … trong đó cả 2 doanh nghiệp đóng tàu biển lớn là Hyundai VinaShin và Cty CN tàu thủy Nha Trang đều
có mức tăng trên 41% so năm 2007
Đầu tư nước ngoài chuyển biến rõ rệt, đến cuối năm 2008 toàn tỉnh đã có 66 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với vốn đăng ký 1,05 tỷ USD Đầu tư trong nước có 825 doanh nghiệp ngoài nhà nước được cấp phép mới với số vốn đăng ký tăng thêm khoảng 8.000 tỷ đồng
Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách theo kế hoạch được 988,3 tỷ đồng, tăng 20,35% so năm 2007 Đầu năm giá vật liệu xây dựng tăng cao khiến nhiều công trình phải tạm dừng thi công Cuối năm giá cả vật liệu xây dựng giảm nên tiến độ thi công nhanh hơn Dự ước
cả năm có 76 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng đến cuối năm vẫn còn 20 công trình trong kế hoạch chưa khởi công
Trang 30 Dân số
Theo số liệu của cục thống kê năm 2008, dân số tỉnh Khánh Hòa có khoảng 1.147.000 người với mật độ dân số toàn tỉnh là 220 người/km² Trong đó, nam giới có khoảng 570.400 người chiếm 49,73% và nữ giới có khoảng 576.600 người chiếm 50.27%
Hiện nay có 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc
Kinh chiếm 95,3%, dân tộc Raglai chiếm 3,4%, dân tộc Hoa chiếm 0,86%, dân tộc
Cơ-ho chiếm 0,34%, dân tộc Ê-đê chiếm 0,25% Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm
Dân số tại các đơn vị hành chính được trình bày ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Dân số các đơn vị hành chính cấp huyện
9 Huyện đảo Trường Sa
(Nguồn: Tổng cục thống kê tỉnh Khánh Hoà, 2008)
Khánh Hoà là một tỉnh có 370 km bờ biển với điều kiện thuận lợi để thiết lập cảng biển
Hệ thống cảng biển trên địa bàn tỉnh khá đa dạng bao gồm cảng cát Đầm Môn, cảng Hòn Khói, cảng nhà máy đóng tàu Huyndai-Vinashin, cảng Nha Trang, cảng Ba Ngòi
Trang 31Giao thông đường bộ
Hiện tại Khánh Hoà có 5 tuyến quốc lộ (QL) đi qua là: QL 1, QL 26, QL 26 nối dài, QL 1C, QL 27B với tổng chiều dài 225,48 km
Thuỷ lợi và cấp nước sinh hoạt
Đối với thuỷ lợi
Đến nay, toàn tỉnh có 163 công trình thuỷ lợi, trong đó có 25 hồ chứa, 76 đập dâng, 62 trạm bơm và 421,50 km kênh mương các cấp Tỉnh cũng đã xây dựng đê điều, kè chống
lũ để ngăn mặn, ngăn lũ và chống xói lở một số tuyến đê ở vùng cửa sông như sông Cái Nha Trang và sông Cái Ninh Hoà
Đối với cấp nước sinh hoạt
Nhà máy nước Võ Cạnh, Xuân Phong hiện nay đáp ứng khoảng 95% nhu cầu sử dụng nước của dân số TP Nha Trang và một phần dân số ở huyện Diên Khánh với tiêu chuẩn cấp nước khoảng 100 lít/người/ngàyđêm Các nhà máy nước Ninh Hoà và Vạn Giã đều mới được xây dựng nên chất lượng rất tốt, công suất đảm bảo cho nhu cầu nước lâu dài Trong những năm qua, Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn cùng nhân dân và một số tổ chức khác đã xây dựng các loại hình cấp nước cho nhân dân trên 7 huyện, thành phố của Tỉnh và giải quyết cấp nước sạch cho 302.279 người trên tổng số 761.627 người dân nông thôn với tiêu chuẩn 50 - 70 lít/người ngày đêm Tỉ lệ hộ dân dùng nước sạch qua lắng lọc năm 2000 đạt khoảng 40%, năm 2005 khoảng 70%, năm
2007 đạt 79%
2.2 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ, KINH TẾ VÀ CÔNG NGHIỆP
2.2.1 Quy hoạch phát triển đô thị 11
- Thị xã Cam Ranh là trung tâm tiểu vùng phía Nam của tỉnh;
- Các thị trấn Vạn Giã, Ninh Hoà, Diên Khánh, Khánh Vĩnh Tô Hạp là các thị trấn huyện lỵ;
- Huyện Trường Sa: Mô hình tổ chức huyện đảo, chưa có đô thị
11
Chương trình phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Trang 32Định hướng phát triển đô thị
Với quá trình chuyển dịch cơ cấu tăng nhanh lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp, quá trình
đô thị hoá của Khánh Hoà đến năm 2010 và năm 2020 sẽ diễn ra rất nhanh Tỷ lệ đô thị hoá sẽ nâng từ 39,6% năm 2004 lên 55% vào năm 2010 và 75% vào năm 2020 Quy mô dân số đô thị Khánh Hoà sẽ đạt khoảng 610 - 670 nghìn người vào năm 2010 và 0,85 - 1 triệu người vào năm 2020 Xét theo chỉ tiêu này, tương lai Khánh Hoà sẽ đạt được nhiều chỉ tiêu theo tiêu chí của đô thị loại 1 - thành phố trực thuộc Trung ương
Mạng lưới đô thị của Khánh Hoà vào năm 2020 bao gồm:
- Đô thị loại 1: 01 thành phố trực thuộc tỉnh là thành phố Nha Trang
- Đô thị loại 2: 01 đô thị thuộc tỉnh là Đầm Môn
- Đô thị loại 3: 02 đô thị thuộc tỉnh gồm Cam Ranh, Ninh Hoà
- Đô thị loại 4: 02 đô thị thuộc tỉnh gồm Vạn Giã, Bắc Cam Ranh
- Đô thị loại 5: 06 thị trấn thuộc huyện gồm Lạc An, Ninh Sim, Diên Khánh, Suối Tân, Khánh Vĩnh, Tô Hạp
Quy hoạch sử dụng đất 12
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh đến năm 2010 là 520.715,73 ha, tăng hơn 174 ha so với năm 2005 do lấn biển nuôi trồng thuỷ sản 50 ha (Vạn Ninh) và lấn biển xây dựng khu dịch vụ cảng Vân Phong 124 ha
Đất sản xuất nông nghiệp
- Diện tích năm 2005: 85.765 ha;
- Diện tích theo quy hoạch được duyệt đến năm 2010: 85.049 ha;
- Diện tích điều chỉnh đến năm 2010: 84.720 ha, giảm 3.902 ha so với hiện trạng năm
2005 và giảm 329 ha so với quy hoạch được duyệt
Đất lâm nghiệp
Căn cứ tài liệu chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Khánh Hòa và tài liệu điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh, dự kiến tổng diện tích đất lâm nghiệp được điều chỉnh đến năm 2010 là 236.539 ha, tăng hơn 34.764 ha so với hiện trạng 2005 và tăng 7.764 ha so với quy hoạch được duyệt
Trang 33Đất ở
Diện tích đất ở được bố trí đến năm 2010 là 8.439 ha (chiếm 7,7% diện tích đất phi nông nghiệp và chiếm 2% so với tổng diện tích tự nhiên), tăng hơn 2.615 ha so với hiện trạng
2005 và tăng 1.447 ha so với quy hoạch được duyệt
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
Với việc chỉnh trị các sông và hồ, diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng dự kiến tăng thêm 2.007 ha so với năm 2005 và đạt diện tích 9.150 ha vào năm 2010
2.2.2 Quy hoạch phát triển kinh tế và công nghiệp 13
Về phát triển kinh tế
Trong thời gian tới, Khánh Hòa sẽ đẩy nhanh và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của cả nước, tốc độ tăng GDP thời kỳ 2006 – 2010 khoảng 12%, thời
kỳ 2011 – 2015 khoảng 12,5% và thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 13%
Nhịp độ tăng bình quân hàng năm của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khoảng 3,5% thời kỳ 2006 – 2010, thời kỳ 2011 – 2015 khoảng 3% và thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 2,8% Tương tự theo các thời kỳ trên, tăng trưởng của khu vực công nghiệp – xây dựng là 14%, 14,5% và 14,8%; khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao là 13,8%, 13,1%
và 12,8%
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiệp Tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ sẽ tăng lên 42% năm 2005, 43,5% năm 2010 và 47% vào năm 2020; khu vực công nghiệp – xây dựng theo các mốc năm trên là 40,5% lên 43,5% và 47% GDP khu vực nông nghiệp giảm dần từ 17,5% hiện nay xuống 13%
và 6%
Tỷ lệ huy động vào ngân sách thời kỳ 2006 – 2010 khoảng 22% GDP, thời kỳ 2011 –
2015 khoảng 22 – 23% GDP và thời kỳ 2016 – 2020 khoảng 24% so với GDP
Khánh Hòa sẽ đẩy mạnh phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, ổn định và mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, chủ động và khẩn trương trong hội nhập kinh tế quốc tế Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 là 18% và 2011 – 2020 khoảng 15 – 16%, phấn đấu kim nghạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt khoảng 1 tỷ USD
Kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội được xây dựng đồng bộ, đạt tiêu chí của đô thị loại I trên phạm vi toàn tỉnh Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, giải quyết tốt quan hệ tích luỹ và tiêu dùng, thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, thời kỳ 2006 – 2010 tổng vốn đầu tư
xã hội đạt 38 – 40% GDP; thời kỳ 2011 – 2020 khoảng 40 – 45%
13
Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2006 - 2010
Trang 34 Về phát triển công nghiệp
Là một trong những tỉnh có điều kiện rất thuận lợi về giao thông, Khánh Hoà hội tụ đầy
đủ mọi phương tiện giao thông như hàng không, đường sắt, đường biển và đường bộ Do
đó, Khánh Hoà có tiềm năng rất lớn về phát triển công nghiệp, đặc biệt đối với dải đất ven quốc lộ 1A
Với phương hướng phát triển công nghiệp theo nhịp độ tăng bình quân hàng năm tính theo giá trị gia tăng là 14% thời kỳ 2006 – 2010 và 14,6% thời kỳ 2011 – 2020 Để đạt được tốc độ tăng trưởng như trên, cơ cấu công nghiệp cần có sự chuyển dịch và cấu trúc lại theo hướng phát triển mạnh 8 nhóm nghành sản phẩm sau:
- Đóng mới, sữa chữa tàu thuyền – cơ khí, điện tử;
- Chế biến hải sản;
- Chế biến nông sản;
- Khai thác chế biến khoáng sản – sản xuất vật liệu xây dựng;
- Chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;
- Dệt, may, phụ liệu may;
- Sản xuất nước giải khát;
- Công nghệ thông tin
Ngoài ra, Khánh Hòa cũng đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp truyền thống, nhất là sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, đồ mộc dân dụng, chế biến lương thực, thực phẩm,… phục vụ nhu cầu tại chỗ, cho du lịch và xuất khẩu nhằm tăng thêm thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm và góp phần từng bước đô thị hoá nông thôn
Theo Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa tính đến ngày 31/12/2007, toàn tỉnh có 462 doanh nghiệp lớn và 6.598 cơ sở sản xuất nhỏ lẻ Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có 01 khu công nghiệp đang hoạt động là KCN Suối Dầu với quy mô 152 ha Tuy nhiên, trên đại bàn tỉnh có 04 KCN đã có quyết định thành lập nhưng chưa đi vào hoạt động bao gồm Ninh Thuỷ, Vạn Thắng, Nam và Bắc Cam Ranh Từ nay đến năm 2010, tỉnh sẽ lấp đầy 40% diện tích đất cho thuê 5 khu công nghiệp trên và một số khu khác trong khu kinh tế Vân Phong và Cam Ranh Đến năm 2020 là 100% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê
Về cụm công nghiệp, tỉnh có 2 cụm công nghiệp đang hoạt động là cụm Diên Phú (43,8 ha) và cụm Đắc Lộc (36,3 ha) Phấn đấu đến năm 2020, mỗi huyện, thị xã có ít nhất là 3 cụm công nghiệp, đồng thời đẩy mạnh tiến độ xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ
ở các huyện Vạn Ninh, Ninh Hoà và Diên Khánh có quy mô dưới 50 ha Bên cạnh đó, tỉnh cũng tích cực thực hiện chương trình phát triển kinh tế miền núi ở 2 huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh
Trang 352.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH KHÁNH HÕA
2.3.1 Các văn bản pháp luật về môi trường của riêng tỉnh Khánh Hòa
- Quyết định số 56/2007/QĐ-UBND ngày 17/09/2007 về việc quy định mức thu, chế độ thu, quản lý và sử dụng phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường do cơ quan địa phương thực hiện
- Công văn số 6614/UBND ngày 09/10/2007 về việc thực hiện thông tư số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT sửa đổi, bổ sung thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/3/2003 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Quyết định số 507/QĐ-UBND ngày 06/03/2009 về việc thành lập Hội đồng thẩm định
Dự án Quy hoạch khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất trên địa bàn thành phố Nha Trang
- Quyết định số 457/QĐ-UBND ngày 26/02/2009 về việc phê duyệt Phương án thu gom, vận chuyển rác trong vịnh Nha Trang
- Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03/02/2009 Ban hành Quy định về việc thẩm định
đề cương, nghiệm thu và thực hiện đề án, dự án, nhiệm vụ sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Quyết định số 67/2007/QĐ-UBND ngày 18/10/2007 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc Ban hành Quy trình thủ tục thực hiện, quản lý các dự án đầu tư và xây dựng sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
2.3.2 Hiện trạng môi trường tỉnh Khánh Hòa năm 2008 và diễn chất lượng môi trường tỉnh Khánh hòa trong 5 năm (2003 – 2007)
Hiện trạng môi trường tỉnh Khánh Hòa năm 2008
Chất lượng môi trường không khí
Chất lượng môi trường không khí và tiếng ồn được đánh giá trên cơ sở kết quả quan trắc tại các trạm Diễn biến nồng độ của các chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn cho phép được thể hiện
từ Hình 2.1 đến Hình 2.5
Trang 36Hình 2.1 Diển biến hàm lượng bụi tại các trạm quan trắc
Hình 2.2 Diễn biến nồng độ NO2 tại các trạm quan trắc
Hình 2.3 Diễn biến nồng độ SO2 tại các trạm quan trắc
Trang 37Hình 2.4 Diễn biến nồng độ hydrocacbon tại các trạm quan trắc
Hình 2.5 Diễn biến tiếng ồn tại các trạm quan trắc
Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí và tiếng ồn năm 2008 so với năm
2007 có phần cải thiện tốt hơn, các chỉ tiêu NO2, SO2 tại tất cả các trạm quan trắc vẫn còn nằm trong tiêu chuẩn cho phép và ít có biến động so với năm 2007 Tuy nhiên vẫn còn các chỉ tiêu bụi, hydrocacbon và tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép Mặc dù vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng các chỉ tiêu này đã có xu hướng giảm so với năm 2007, cụ thể như sau:
Hàm lượng bụi lơ lửng
Kết quả quan trắc cho thấy hàm lượng bụi tại tất cả các trạm quan trắc đều cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép, tuy nhiên giá trị trung bình năm 2008 của hàm lượng bụi trong không khí xung quanh của tất cả các trạm quan trắc có xu hướng giảm so với giá trị trung bình năm 2007
Hàm lượng hyrocacbon
Hàm lượng hyrocacbon tại tất cả các trạm quan trắc có giá trị trung bình năm 2008 thấp hơn so với năm 2007, tuy nhiên ở một số trạm: thị trấn Vạn Giã, thị trấn Ninh Hòa, Đồng
Đế, Cam Ranh và Bình Tân giá trị này vẫn cao hơn tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng bụi
và hydrocacbon trong không khí mặc dù cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng đã giảm so
Trang 38với năm 2007, nguyên nhân có thể là do cơ sở hạ tầng tại khu vực xung quanh các trạm quan trắc đã có nhiều cải thiện so với năm 2007
Tiếng ồn
Kết quả quan trắc tiếng ồn cho thấy giá trị độ ồn tại các trạm quan trắc đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép (ngoại trừ tại trạm KCN Diên Phú) và giảm so với năm 2007 (trừ trạm Đồng Đế)
Nhìn chung, chất lượng môi trường không khí và tiếng ồn năm 2008 có diễn biến tốt hơn
so với năm 2007 Hầu hết các thông số ô nhiễm đều có xu hướng giảm mặc dù không đáng kể, nhưng đây cũng là một dấu hiệu khả quan cho công tác bảo vệ môi trường tại Khánh Hòa
Hiện trạng chất lượng nước mặt
Chất lượng nước mặt (sông, suối)
Công tác quan trắc chất lượng môi trường nước mặt được thực hiện với tần suất quan trắc
4 lần/năm (01 quý/lần) tại các trạm quan trắc đặt trên các sông lớn ở Khánh Hòa như sông Cái (Nha Trang), sông Dinh (Ninh Hòa) và một số sông, suối và kênh mương ở Khánh Hòa
Diễn biến hàm lượng các chất ô nhiễm tại các điểm quan trắc được thể hiện từ hình 2.6 đến hình 2.9
Hình 2.6 Diễn biến BOD tại các trạm quan trắc năm 2007-2008
Diễn biến nồng độ BOD tại các trạm quan trắc
Cống Diên Toàn
Diên Phú
Sông Suối Dầu
Cầu Bình Tân
Thanh Minh
Trang 39Hình 2.7 Diễn biến TSS tại các trạm quan trắc năm 2007-2008
Hình 2.8 Diễn biến tổng dầu mỡ tại các trạm quan trắc năm 2007 - 2008
Diễn biến nồng độ HydroCacbon tại các trạm quan trắc
Diên Phú
Sông Suối Dầu
Cầu Bình Tân
Thanh Minh
Diễn biến tổng dầu mỡ tại các trạm quan trắc
Diễn biến nồng độ TSS tại các trạm quan trắc
Cống Diên Toàn
Diên Phú
Sông Suối Dầu
Cầu Bình Tân
Thanh Minh
Trang 40Diễn biến Coliform tại các trạm quan trắc
Diên Phú
Sông Suối Dầu
Cầu Bình Tân
Thanh Minh
Hình 2.9 Diễn biến Coliform tại các trạm quan trắc năm 2007 - 2008
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại các trạm quan trắc được thực hiện vào năm
2008 cho thấy hầu hết các thông số như pH, DO, BOD5, NO3 – N, Zn, Cu, As đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép, ngoại trừ một số chỉ tiêu như TSS, tổng dầu mỡ và Coliform tại một số vị trí vượt tiêu chuẩn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT Trong đó, có 2 điểm đáng lưu ý:
- Trạm Thanh Minh (sông Cái Nha Trang) mặc dù hầu hết giá trị các thông số còn nằm trong tiêu chuẩn cho phép (ngoại trừ TSS, độ muối, hydrocacbon, coliform) nhưng giá trị trung bình năm của các thông số này đang có xu thế tăng so với năm 2007 (ngoại trừ BOD5) Giá trị coliform trung bình năm 2008 vượt tiêu chuẩn cho phép và cao hơn so với giá trị trung bình năm 2007 rất nhiều lần
- Đối với các trạm quan trắc nước mặt khác thì giá trị trung bình năm của hầu hết các thông số (ngoại trừ tổng dầu mỡ, coliform) đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép và ít
có sự biến động so với năm 2007 Tuy nhiên, giá trị trung bình năm 2008 của hầu hết các thông số đều có xu thế gia tăng so với năm 2007
Chất lượng nước biển ven bờ
Công tác quan trắc chất lượng môi trường nước biển ven bờ vẫn tiến hành với tần suất quan trắc 4 lần/năm tại 6 trạm Trong số đó có 2 trạm quan trắc chất lượng nước khu vực bãi tắm là Quảng trường 2/4 (vịnh Nha Trang), Bãi Dài (vịnh Cam Ranh) và 4 trạm tác động là những nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế như nuôi trồng hải sản, du lịch, công nghiệp, chuyển tải dầu, sinh hoạt,… Các số liệu quan trắc chất lượng nước biển ven bờ được so sánh với quy chuẩn nước biển ven bờ được qui định trong QCVN 10:2008/BTNMT
Diễn biến Coliform vượt tiêu chuẩn cho phép đối với nước biển ven bờ được thể hiện ở Hình 2.10