ĐỊNH HƯỚNG Y TẾ VIỆT NAM 2011-2020 QUA CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ & TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trang 1TỔNG QUAN CHUNG TÌNH HÌNH Y TẾ VIỆT NAM 2001-2010
VÀ ĐỊNH HƯỚNG Y TẾ VIỆT NAM 2011-2020 QUA CÁC SỐ LIỆU
THỐNG KÊ & TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Tổng quan nhằm cung cấp một bức tranh về tình hình Y tế Việt Nam tronggiai đoạn 2001-2010 để rút ra những cơ hội và thách thức đốI với sức khoẻ củangười Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó thử nêu định hướng cho Y tế Việt Namgiai đoạn 2011-2020 Tổng quan được chuẩn bị theo 3 tiếp cận là:
1 Tiếp cận hệ thống
2 Tiếp cận dịch tễ học
3 Tiếp cậnh kinh tế học
Dựa trên 3 tiếp cận này, tổng quan phân tích 4 vấn đề sau đây:
1 Giai đoạn 2001-2010 trong quá trình phát triển của Y tế Việt Nam (phântích theo tiếp cận hệ thống)
2 Sức khoẻ và bệnh tật/Yếu tố ảnh hưởng sức khoẻ và bệnh tật giai đoạn2001-2010 (phân tích theo tiếp cận dịch tễ học)
3 Nhu cầu và cung ứng CSSK/Yếu tố ảnh hưởng cung cầu CSSK giai đoạn2001-2010 (phân tích theo tiếp cận kinh tế học)
4 Cơ hội và thách thức cho Y tế/Định hướng Y tế giai đoạn 2011-2020(phân tích tổng hợp)
Tiếp cận hệ thống giúp xác định hệ thống Y tế Việt Nam trong từng giaiđoạn, từng phân kỳ phát triển thuộc mô hình nào trong các mô hình sau đây Chínhtiếp cận này cho phép phân tích xu thế phát triển, định hướng của một hệ thống Y
tế
1 Mô hình hệ thống Y tế công kiểu Beveridge (Anh quốc) là một hệ thốnghoàn chỉnh không gắn với hệ thông hành chính, hoạt động bằng ngân sách lấy từthuế thu nhập
Trang 22 Mô hình hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa kiểu Semasko (Liên Xô) là một
hệ thống do Nhà nước tài chính và cung ứng
3 Hệ thống Y tế phúc lợi theo mô hình Bismark (Đức, Pháp) là hệ thống Y
tế dựa trên bảo hiểm Y tế toàn dân; mỗi người dân phải đóng bảo hiểm Y tế theomức thu nhập của mình; những người thu nhập thấp được Nhà nước đóng hộ bảohiểm Y tế
4 Hệ thống Y tế tư nhân theo mô hình Y tế Mỹ là một hệ thống dựa chủyếu trên cung ứng dịch vụ Y tế tư và bảo hiểm tư; Nhà nước và cộng đồng hỗ trợcho người nghèo và người già thông qua một số cơ sở Y tế cộng đồng và bảo hiểmNhà nước (Quỹ KCB cho người nghèo, quỹ KCB cho người già)
5 Hệ thống Y tế công tư kết hợp là hệ thống dựa trên sự phân tách giữacung ứng và tài chính Công và tư Cung ứng có phần công, có phần tư Tài chính
có phần công, có phần tư Mỗi quốc gia có thể có tài chính công đến mức nào, tàichính tư đến mức nào và cung ứng tư đến mức nào, cung ứng công đến mức nào
Tiếp cận dịch tễ học giúp xác định tình hình sức khoẻ và bệnh tật, các yếu
tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật và xu thế thay đổi của sức khoẻ và bệnh tậtdựa trên các chỉ số sức khoẻ và bệnh tật Chỉ tiêu phát triển thiên niên kỷ về conngười trong đó có các chỉ số sức khoẻ và bệnh tật của người Việt Nam là một cơ
sở để phân tích
Tiếp cận kinh tế học coi CSSK là một loại hàng hoá đặc biệt có nhu cầu, cócung ứng Nhu cầu trong CSSK là nhu cầu (need) thay cho yêu cầu (demand) củakinh tế học nói chung
1 GIAI ĐOẠN 2001-2010 CỦA Y TẾ VIỆT NAM (Phân tích hệ thống)
1.1 Ba giai đoạn phát triển của Y tế Việt Nam
Trang 3Ngành Y tế Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn sau: Giai đoạn trước cải tạo xãhội chủ nghĩa (1946-1959), Giai đoạn Y tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình Y tếSemasko (1959-1989), Giai đoạn đổi mới (từ sau 1989 đến nay)
1.1.1 Giai đoạn trước cải tạo xã hội chủ nghĩa
Giai đoạn trước cải tạo xã hội chủ nghĩa có một phân kỳ chiến tranh và mộtphân kỳ hoà bình Sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(1945), một hệ thống Y tế đã được thiết lập trên cơ sở nền Y tế thuộc địa trước đó.Phân kỳ chiến tranh trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) có một hệ thống
Y tế công tư kết hợp thoát thai từ hệ thống Y tế thuộc địa kiểu Pháp Tuy còn rấtnon trẻ, hệ thống Y tế này đã phải đương đầu với chiến tranh (kháng chiến chốngPháp) và với các bệnh lưu hành nặng nề như bệnh sốt rét và các bệnh dịch nguyhiểm như dịch đậu mùa, dịch bại liệt,… Nhà nước chưa thể huy động nhiều nguồnlực công cho Y tế nên phải động viên lòng yêu nước, huy động các nguồn lựccông và tư, huy động Đông Y và Tây Y, huy động dân Y và quân Y Ngay từ thời
kỳ đầu, ngành Y tế Việt Nam non trẻ đã chủ trương coi vệ sinh phòng bệnh vànâng cao sức khoẻ là chiến lược dựa trên các biện pháp có thể lúc đó như tiêmchủng (chủng đậu) và giáo dục Y tế Lúc này, nhân lực y tế yếu về chất lượng vàthiếu về số lượng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đã phải giải quyết khókhăn nhân lực Y tế bằng cách đào tạo nhiều loại hình nhân lực Y tế, đã mở ra đàotạo loại hình Y sĩ, đã đưa sinh viên Y khoa ngay từ những năm đầu ra chiến trường
và về địa phương thực hành Song song với hệ thống Y tế chính thống khángchiến, một hệ thống Y tế tạm chiếm theo kiểu trước năm 1945 (hệ thống Y tếthuộc địa kiểu Pháp) cũng đồng thời hoạt động tại một số thành phố và thị xã dongười Pháp chiếm đóng
Sau hội nghị Geneve năm 1954, hệ thống Y tế kháng chiến và hệ thống Y tếtạm chiếm được nhập vào thành một hệ thống Y tế chung tại phía Bắc Việt Nam
từ vĩ tuyến 17 Hệ thống Y tế này được tổ chức theo khuôn khổ của quản lý hànhchính Nhà nước với 3 cấp: quản lý hành chính là trung ương (Bộ Y tế), tỉnh (sở Y
tế tại các thành phố và ty y tế tại các tỉnh) và huyện (phòng Y tế) Một hệ thống
Trang 4phòng bệnh dần dần được thiết lập với các viện đầu ngành như Viện Vệ sinh Dịch
tễ (Viện Pasteur), Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Công trùng, Viện Lao và bệnhphổi, v.v , các trạm Y tế tại tuyến huyện và các đội phòng bệnh tại tuyến huyện.Một hệ thống khám chữa bệnh cũng dần dần hình thành với các bệnh viện và cácphòng khám bệnh bao gồm các bệnh viện trung ương, các bệnh viện tuyến tỉnh vàcác bệnh viện tuyến huyện (cho các huyện lớn) Hệ thống Y tế cơ sở cũng dần dầnđược hình thành với sự thiết lập các trạm y tế xã và các y tế thôn bản Hệ thống Y
tế thôn bản là một sáng kiến lớn của Việt Nam Hệ thống Y tế này dựa vào tàichính của các hợp tác xã; nhân viên của trạm Y tế xã được hưởng công điểm nhưcác xã viên và làm việc phục vụ nhân dân của xã; nhân dân trong xã đóng góp sứcngười sức của để xây dựng trạm Y tế xã, Nhà nước (các phòng Y tế và sở Y tế)giúp đào tạo nhân lực, hướng dẫn và quản lý chuyên môn Việt Nam đã phát tiểnnhân viên Y tế cộng đồng ngay từ thời gian này với phương thức đào tạo y tế 3tháng, y tế 6 tháng, y tế 9 tháng lấy nguồn nhân lực cho đi đào tạo y tá và y sĩ.Nhiều phong trào vệ sinh yêu nước đã được phát động Trong thời gian này, các
cơ sở Y tế công và tập thể được phát triển mạnh Song, nhiều cơ sở Y tế tư vẫn tồntại bao gồm các bệnh viện tư như bệnh viện Saint Paul của Toà xứ Hà Nội, cácphòng khám bệnh của tư, các nhà thuốc tư, v.v…
1.1.2 Giai đoạn Y tế xã hội chủ nghĩa
Năm 1989, cùng với chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa, hệ thống Y tếcông tư đã chấm dứt và thay vào đó là hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa theo môhình Semasko (Liên Xô) Các cơ sở Y tế tư bao gồm cả dược tư đều được cải tạo
xã hội chủ nghĩa và đưa vào hoạt động tại các cơ sở Y tế công hay tập thể; chỉ cònmột số nhỏ lang Y được hoạt động tư nhân tại cộng đồng theo truyền thống từtrước
Hệ thống Y tế Semasko với đặc điểm Nhà nước cung ứng và tài chính cácdịch vụ Y tế kết hợp với mạng lưới trạm Y tế xã và Y tế thôn bản do nhân dânđóng góp sức người sức của để xây dựng, do các hợp tác xã nông nghiệp tài chính
Trang 5bằng công điểm như các xã viên, do Nhà nước đào tạo và quản lý về chuyên môn
là đặc thù của hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam từ 1959 đến 1989
Hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào côngcuộc bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong chiến tranh phá hoại và trong xây dựng hoàbình thống nhất đất nước Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam nhờ vậy đã caohơn so với nhiều quốc gia có mức thu nhập tương đương Những kinh nghiệm của
hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được tổ chức Y tế thế giới (thuộcLiên hiệp quốc) đánh giá cao về tính công bằng và hiệu quả Ý tưởng chăm sócsức khoẻ ban đầu đã được thể hiện tại Việt Nam thông qua hệ thống trạm Y tế xã
và Y tế thôn bản, thông qua việc phát triển nhân viên Y tế cộng đồng với việc đàotạo Y tế ba tháng, y tế 6 tháng và Y tế 9 ttháng cuối thập kỷ 1950 và đầu thập kỷ1960
Từ 1959 đến 1975, hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng góp vào
sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong xậy dựng xã hội chủ nghĩa và chốngchiến tranh phá hoại Trong thời gian này, hệ thống Y tế dự phòng đã phát triểntương đối hoàn chỉnh Nhiều bệnh dịch đã được khống chế và tiêu diệt như đã sớmtiêu diệt bệnh đậu mùa, khống chế bệnh sốt rét, bệnh bại liệt, v.v… Cũng trongthời gian này, hệ thống khám chữa bệnh cũng đã được mở rộng, hầu hết các tỉnh
đã có bệnh viện đa khoa tỉnh tương đối hoàn chỉnh (trên 300 giường bệnh); một sốtỉnh có các bệnh viện chuyên khoa; hầu hết các huyện có bệnh viện đa khoa huyện(trên 50 giường bệnh); ngoài ra có nhiều phòng khám bệnh liên xã Mạng lướitrạm Y tế xã bao phủ hầu hết các xã và Y tế thôn bản có mặt ở hầu hết các thôn.Các bệnh viện có chủ yếu là bác sĩ hoạt động và các trạm Y tế có chủ yếu là Y sĩhoạt động Hầu hết các trạm Y tế xã có quầy thuốc và Y tế xã có túi thuốc Songsong với hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (nước Việt Nam Dân chủCộng hoà), một hệ thống Y tế công tư kết hợp đồng thời hoạt động tại các tỉnhphía Nam
Sau ngày thống nhất đất nước, từ 1975 đến 1989, các tỉnh phía Nam cũngdần dần xây dựng hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình của miền Bắc Tuy
Trang 6nhiên, các tỉnh phía Nam còn cho phép một số phòng khám bệnh tư và cửa hiệuthuốc tư hoạt động do những đặc điểm của xã hội các tỉnh phía Nam có yêu cầu.
Hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước đã góp phần quan trọng vàoviệc phục vụ sức khoẻ nhân dân, chống chiến tranh biên giới, khắc phục hậu quảchiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước Trong thời gian này, ViệtNam đã đáp ứng tuyên ngôn Alma Ata, thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầunhằm mục tiêu chiến lược “sức khoẻ cho mọi người năm 2000”
1.1.3 Giai đoạn Y tế “đổi mới”
Vào cuối thập kỷ 1980, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn Người ta
ví tốc độ của lạm phát trong thời gian này ngang với tốc độ của tên lửa (the rocketspeed inflation) trên nhiều báo chí quốc tế và trong nước Cả hai miền Nam và Bắccủa đất nước không còn những khoản viện trợ hồi sinh như trước đây Ngành Y tếcũng không đứng ngoài khó khăn này Một số cơ sở Y tế hầu như có thể phải dừnghoạt động do thiếu ngân sách Dụng cụ Y tế của hầu hết các bệnh viện đã cũ vàkhông được thay thế Để tiếp tục hoạt động, ngành Y tế phải cho phép các bệnhviện công được thu một phần viện phí đáp ứng yêu cầu chi phí thường xuyên.Đồng thời, ngành Y tế cũng phải cho phép các cơ sở Y tế tư nhân và các cơ sởdược tư nhân hoạt động, đáp ứng nhu cầu CSSK mà hệ thống Y tế công không thểđáp ứng được vào lúc này Như vậy, Nhà nước không còn là người cung ứng và tàichính duy nhất cho các dịch vụ Y tế Và, như vậy, nguyên lý của hệ thống Y tếSemasko đã không còn được tôn trọng Một hệ thống Y tế mới được hình thành vàđược gọi là hệ thống Y tế “Đổi mới” cùng với sự đổi mới kinh tế xã hội trong cảnước Về cơ bản đây là một hệ thống Y tế tuân thủ những nguyên lý của kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (hướng tới công bằng, hiệu quả và pháttriển)
Đổi mới kinh tế xã hội tuy làm cho nền kinh tế hồi sinh và tăng trưởng,song cũng đẩy mạnh xã hội phân tầng giàu nghèo, làm cho khoảng cách giữa nôngthôn và thành thị ngày một lớn thêm, làm cho sự cách biệt thu nhập giữa ngườigiàu và người nghèo ngày một xa thêm Hệ thống Y tế công tư với nhiều yếu tố tư
Trang 7làm cho người nghèo không còn được tiếp cận dịch vụ Y tế như trước, làm chonhiều người cần dịch vụ Y tế nhất (người nghèo) lại không được hưởng dịch vụ Y
tế Có ý kiến cho rằng kinh tế xã hội có thể phát triển theo xu thế thị trường,nhưng không nhất thiết Y tế phát triển theo xu thế thị trường Câu hỏi được đặt ravào lúc này là: “Vậy, hệ thống Y tế Việt Nam nên theo mô hình nào?” Trở về hệthống Y tế Semasko là không thể vì Nhà nước không đủ tiền để cung ứng và tàichính cho dịch vụ Y tế cũng như các dịch vụ công khác Đi theo hệ thốngBeveridge cũng không được vì hệ thống này đòi hỏi người dân phải đóng thuế thunhập đủ để trang trải cho Y tế và giáo dục bởi lẽ người Việt Nam vào lúc nàykhông có thu nhập đủ để đóng thuế thu nhập Đi theo hệ thống Bismark lại càngkhông được vì hệ thống này đòi hỏi người dân phải đóng bảo hiểm Y tế dựa trênthu nhập cá nhân của họ và người Việt Nam, nhất là nông dân Việt Nam, khôngquen đóng tiền kiểu này Vậy, trước mắt lúc này chỉ còn hệ thống Y tế công tư kếthợp có thể tạm thời được chấp nhận Tuy nhiên, hệ thống Y tế Việt Nam vẫn phảihướng tới một hệ thống Y tế dựa trên bảo hiểm Y tế toàn dân để bảo đảm côngbằng trong CSSK, bảo đảm cho sự phát triển bền vững
Giai đoạn đổi mới 1990-2000 đã được GS Phạm Song nêu lên trong tài liệu
“Những vấn đề cơ bản về Y tế, KHHGĐ, vệ sinh môi trường 1990-2000” (NhàXuất bản Y học, 2001) Giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn Y tế Việt Nam sau đổimới, tiếp sau giai đoạn 1990-2000 Nếu giai đoạn 1990-2000 là giai đoạn thựchiện đổi mới thì giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn hoàn thiện đổi mới theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa (hướng tới mục đích công bằng, hiệu quả và phát triển).Nếu giai đoạn 1990-2000 là giai đoạn còn tranh cãi về cái được và cái chưa đượccủa “Đổi mới”, còn phân vân giữa nên tiếp tục đổi mới hay quay lại hệ thống Y tếtrước đây thì giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn khẳng định hướng đi của đổi mới
1.2 Ba phân kỳ của giai đoạn 2001-2010
Trang 8Sự khẳng định này có 3 phân kỳ là “Phân kỳ xã hội hoá” (Đỗ NguyênPhương), “Phân kỳ quản lý Nhà nước” (Trần Thị Chung Chiến) và “Phân kỳ đápứng xã hội” (Nguyễn Quốc Triệu) Ba phân kỳ này cũng là ba giai đoạn phát triểncủa Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, từ việc huy động nguồn lực xã hội đếnviệc quản lý các nguồn lực và đến việc huy động các nguồn lực có thể sử dụngnhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu xã hội về y tế
Trong giai đoạn 2001-2010, ngành Y tế Việt Nam đã phải đương đầu vớithử thách của một số bệnh lây truyền mới là bệnh SARS, bệnh cúm gà (H5N1) vàbệnh cún lợn (H1N1) Việc giữ cho bệnh SARS không lây truyền ra cộng đồng làmột kết quả đáng được kể tới của ngành Y tế Việt Nam
1.2.1 Phân kỳ xã hội hoá
Ý tưởng cơ bản của “Đổi mới” trong Y tế là ý tưởng xã hội hoá Sự tranhcãi về từ ngữ xã hội hoá đã được nêu lên và thảo luận trong nhiều năm; có ý kiếncho rằng thực chất xã hội hoá ở đây là tư nhân hoá trong thực hiện Một nghiêncứu cấp Nhà nước về xã hội hoá Y tế đã thống nhất về định nghĩa của từ ngữ này
Xã hội hoá được hiểu là “một việc xưa nay chỉ có Nhà nước làm, nay mọi người,mọi gia đình, mọi tổ chức cộng đồng và xã hội bao gồm cả Nhà nước cùng cótrách nhiệm thực hiện” (Đỗ Nguyên Phương và Phạm Huy Dũng, Nhà Xuất bảnChính trị, 2003)
Trong thực thi, chính sách “tự chủ bệnh viện” coi là một hoạt động xã hộihoá đã gây nhiều tranh cãi nhất Một số bệnh viện ghi ngay tại giường bệnh thutiền là giường bệnh xã hội hoá Chính những sự việc tương tự đã làm cho ý nghĩa
xã hội hoá bị hiểu không đầy đủ Phát triển bảo hiểm Y tế cũng là một hoạt động
xã hội hoá để mọi người đóng góp chia sẻ với nhau nguy cơ chi phí bệnh tật Tuynhiên, phân kỳ xã hội hoá này lại phải chấp nhận việc bảo hiểm Y tế tách ra khỏingành Y tế để nhập vào ngành bảo hiểm
Đổi mới kinh tế xã hội và đổi mới Y tế theo ý tưởng thị trường xã hội chủnghĩa dẫu sao cũng đặt đồng tiền giữa thầy thuốc và bệnh nhân nên đã gây nênnhiều câu chuyện về vấn đề này Vì vậy, ngành Y tế đã đưa ra 12 điều Y đức để
Trang 9cán bộ Y tế thảo luận và thực hiện tùy nơi tùy lúc Tuy những điều Y đức nàychưa giải quyết được cơ bản vấn đề, song cũng nhắc nhở cán bộ Y tế những điềunên làm và những điều phải làm.
Với tinh thần xã hội hoá phục vụ sức khoẻ nhân dân tuyến cộng đồng,ngành Y tế đã củng cố tuyến Y tế cơ sở, đưa ra hướng dẫn về tổ chức trung tâm Y
tế huyện, tập trung quản lý chủ yếu ở hai tuyến là tuyến trung ương và tuyến tỉnh.Tuyến huyện xã được coi là tuyến chuyên môn huy động sự tham gia của Y tế tưnhân, huy động sự tham gia của xã hội cho sức khoẻ Trong ý tưởng này, ngành Y
tế phát triển bác sĩ gia đình và có chủ trương đưa bác sĩ về xã để mỗi xã có ít nhấtmột bác sĩ
1.2.2 Phân kỳ quản lý
Phân kỳ quản lý có ý tưởng từ chủ trương quốc gia “cải cách hành chính”.Tại tuyến vĩ mô, Nhà nước tổ chức lại các uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ và uỷ banquốc gia phòng chống HIV/AIDS, đưa một bộ phận quan trọng của các uỷ ban này
về Bộ Y tế Lúc đầu, chủ trương này gây một số tranh cãi, song đã được ổn định
và thực hiện thành thường quy hiện nay Với tổ chức mới này, việc quản lý hànhchính và chuyên môn được thực hiện chặt chẽ hơn, song việc huy động xã hội ítnhiều có bị ảnh huởng
Tổ chức Y tế cũng có sự thay đổi quan trọng với việc lập lại các phòng Y
tế huyện Như vậy, hệ thống quản lý Y tế lại có ba cấp là cấp trung ương (Bộ Ytế), cấp tỉnh (các sở Y tế) và tuyến huyện (các phòng Y tế) Nếu ngành Y tế tậptrung quản lý đối với các hoạt động chuyên môn DS-KHHGĐ và HIV/AIDS thìngược lại đã phân quyền quản lý đối với các hoạt động quản lý ngành Việc tổchức lại quản lý ngành này cũng đã gây nhiều xáo trộn và tranh cãi lúc đầu Song,
tổ chức quản lý ba cấp hiện nay cũng đã đi vào hoạt động ổn định Tổ chức quản
lý này tuy phân rõ được trách nhiệm giữa các bộ phận Y tế tuyến huyện xã; phòng
Y tế quản lý (bao gồm quản lý các trạm y tế xã), bệnh viện và phòng khám bệnhchữa bệnh, trung tâm Y tế dự phòng huyện thực hiện hoạt động phòng chống
Trang 10bệnh; song tổ chức mới này lại bị hạn chế trong việc huy động các tuyến, cácngành, các cấp tham gia vào Y tế tuyến huyện.
1.2.3 Phân kỳ đáp ứng nhu cầu xã hội
Tình hình nhu cầu CSSK ngày một tăng vượt trên mức cung ứng dịch vụCSSK, ngày càng trở thành một bức xúc xã hội vào cuối thập kỷ 2001-2010 Tạicác bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, bệnh nhân có khi có chỗ phải nằm 2-3người trên một giường bệnh (kê thêm giường vào phòng bệnh) Mặt khác, chủtrương tự chủ bệnh viện khiến cho bệnh nhân dễ dàng vượt tuyến Trước tình hìnhnày, ngành Y tê đã tập trung nâng cấp bệnh viện các tuyến, đẩy mạnh phát triểncác bệnh viện tư nhân
Tình hình nhu cầu mua thẻ BHYT cũng trở nên bức xúc vì BHYT quy địnhcác tuyến cộng đồng phải có một tỷ lệ nhất định người mua thẻ BHYT để tránhtình trạng chỉ những người có bệnh mới có nhu cầu mua thẻ BHYT Như vậy,nhiều người muốn mua thẻ BHYT nhưng không được mua Ngành Y tế đã có chủtrương ai cũng được mua thẻ BHYT và có một số quy định về việc tham gia vàhưởng lợi BHYT
Việc đáp ứng tức thời nhu cầu xã hội đã làm giảm tình hình căng thẳng, sức
ép của nhu cầu CSSK tăng quá mức so với khả năng đáp ứng Song việc đáp ứngtức thời này không bỏ qua những nỗ lực nhằm phát triển Y tế bền vững LuậtBHYT với định hướng tiến tới BHYT toàn dân là một minh chứng cho nỗ lực này
1.3 Tiếp cận của tổng quan
Tổng quan chung tình hình Y tế Việt Nam 2001-2010 được thực hiện từgóc độ của nhà chuyên môn và người sử dụng dựa trên tiếp cận nhân học(anthropology) về yếu, ốm và bệnh tật (sickness, illness và disease) Với tiếp cậnnày, tình hình chung Y tế Việt Nam 2001-2010 được nhìn nhận theo cách nhìn củangười sử dụng, người hưởng lợi (bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, người dânnhận dịch vụ phòng bệnh), theo cách nhìn của xã hội về người sử dụng, ngườihưởng lợi và theo cách nhìn chuyên môn Tình hình Y tế Việt Nam bao gồm tình
Trang 11hình sức khoẻ và bệnh tật của người Việt Nam, tình hình những yếu tố ảnh hưởngđến sức khoẻ và bệnh tật, tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đáp ứngkhám chữa bệnh, đáp ứng phòng bệnh, đáp ứng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đápứng cung cấp thuốc, đáp ứng dịch vụ kỹ thuật cao Quanh vấn đề nhu cầu và dịch
vụ như trên, tổng quan về tình hình Y tế còn bao gồm nhận xét về hệ thống bảođảm chất lượng của thuốc và thực phẩm, nhận xét về trang thiết bị và nhân lực y tế(nói lên chất lượng dịch vụ y tế), nhận xét về hệ thống sản xuất và cung ứng thuốc.Việc phân tích tình hình Y tế với các nội dung nói trên cho phép rút ra những nhậnxét tổng hợp về thách thức và cơ hội, có những thông tin để suy nghĩ về địnhhướng cho Y tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Phân tích tình hình Y tế Việt Nam giai đoạn 2001-2010 giúp trả lời nhữngcâu hỏi sau đây:
- Đổi mới ngành Y tế có ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sức khoẻ và bệnhtật của nhân dân trong giai đoạn 2001-2010 không?
- Sự phát triển kinh tế xã hội đã tác động đến mô hình bệnh tật như thế nào
và diễn biến trong giai doạn 2011-2020 như thế nào?
- Những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật trong giai đoạn2001-2010?
- Tình hình sản xuất và cung ứng thuốc trong giai đoạn 2001-2010 như thếnào?
- Tình hình trang thiết bị và nhân lực Y tế trong giai đoạn 2001-2010 ảnhhưởng đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ như thế nào?
Trả lời những câu hỏi này có thể giúp hiểu thêm sự mong đợi về Y tế vàgiúp đưa ra một định hướng mong đợi Đồng thời cũng giúp giải thích ngành Y tế
đã vượt qua những thử thách của thập kỷ 2001-2010 như thế nào về các vấn đề:Phân tầng xã hội giầu nghèo, Cách biệt thành thị và nông thôn, Đô thị hoá/côngnghiệp hoá, Môi trường tự nhiên và xã hội nổi lên nhiều vấn đề lo ngại, Lối sốngảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật còn nhiều nguy cơ, Thay đổi khí hậu tác độngxấu đến bệnh tật, Nhiều bệnh dịch mới: HIV, SARS, H5N1, H1N1,
Trang 12Với mô tả diễn biến hệ thống y tế như trên, với phân tích về về khuôn khổ ýtưởng (quan niệm) Y tế của giai đoạn 2001-2010, với cách đặt vấn đề tiếp cận củatổng quan này, việc mô tả và phân tích tình hình y tế của giai đoạn 2001-2010 bắtđầu bằng phân tích tình hình sức khoẻ và bệnh tật cũng như các yếu tố ảnh hưởngđến sức khoẻ và bệnh tật của giai đoạn 2001-2010 Tình hình sức khoẻ và bệnh tậtcũng như những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình này sẽ nêu lên nhu cầu về CSSK.
2 SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT / YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT 2001-2010 (Phân tích dịch tễ học)
2.1 Sức khoẻ và bệnh tật
Chỉ số sức khoẻ
Để trả lời câu hỏi “Tình hình sức khoẻ của người Việt Nam trong giai đoạn2001-2010 có được cải thiện không?” và “Sức khoẻ của người Việt Nam so vớinhững quốc gia khác được thể hiện như thế nào?”, tổng quan này đưa ra các sốliệu về các chỉ số sức khoẻ diễn biến trong thập kỷ 2001-2010, so sánh các số liệunày với chỉ tiêu sức khoẻ thiên niên kỷ và so sánh số liệu này với số liệu của cácquốc gia khác Để trả lời câu hỏi “Tình hình phân tầng giầu nghèo trong thu nhậptại Việt Nam có ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật không?”, tổng quan này sosánh số liệu liên quan đến mô hình bệnh tật của các nhóm thu nhập
Thực hiện các mục tiêu quốc gia
Có 7 mục tiêu quốc gia là:
1 Tuổi thọ (tính theo năm)
2 Tỷ suất chết mẹ (MMR) là số tử vong mẹ trên 100.000 trẻ đẻ sống
3 Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) là số tử vong trẻ em trên 1.000 trẻ
đẻ sống
4 Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (<5MR) là số tử vong dưới 5 tuổi trên1.000 trẻ đẻ sống
5 Tỷ suất trẻ sơ sinh thiếu cân (<2.500 gr)
6 Tỷ suất trẻ em <5 tuổi suy dinh dưỡng
Trang 137 Chiều cao trung bình của thanh niên (m)
Tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2005 2010Tuổi thọ (năm) 67,8 68,0 71,3 71,3 71,3 71,3 70,0 >71,0
Nguồn: Điều tra Y tế quốc gia, BYT và TCTK, 2002
Niêm giám thống kê, Vụ KH&TC, BYT 2000-2008
Các chỉ số sức khoẻ nói chung được cải thiện hàng năm; và nhiều chỉ số đãđạt được vào năm 2005 nếu so sánh với mục tiêu thiên niên kỷ, mục tiêu của ViệtNam
Riêng chỉ số về chiều cao của thanh niên và tỷ lệ suy dinh dưỡng còn chưađạt, nhất là về chiều cao Điều này nói lên việc chống suy dinh dưỡng do thiếucalo đã có nhiều kết quả, song chống suy dinh dưỡng thể thấp còi còn có nhiều vấn
đề phải tính toán Và, suy dinh dưỡng thể thấp còi là điểm cần quan tâm của pháttriển con người Việt Nam
Tuổi thọ so sánh
So sánh quốc tế về tuổi thọ80
Trang 14Tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người (PPP$)
Nguồn: Các chỉ tiêu phát triển thế giới, 2005, WHO
So sánh tuổi thọ với nhiều nước trong khu vực thấy Việt Nam có tuổi thọcao hơn so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập
Mô hình bệnh tật
Để trả lời câu hỏi: “Diễn biến kinh tế xã hội của Việt Nam có ảnh hưởngđến mô hình bệnh tật không và ảnh hưởng như thế nào?”, tổng quan đưa ra các sốliêu liên quan đến tình hình các bệnh truyền nhiễm, tình hình các bệnh khôngtruyền nhiễm và tình hình các bệnh
Xu hướng thay đổi mô hình bệnh
Mô hình bệnh tật với bệnh lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển thấp,với bệnh không lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển cao hơn, với tai nạn,chấn thương và ngộ độc cao nói lên sự phát triển chưa được quản lý tốt
Xu hướng thay đổi mô hình bệnh
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2006
Cơ cấu %Bệnh lây nhiễm 46,7 37,0 32,1 25,0 27,2 27,4 26,1 25,2
Trang 15Nguồn: Niêm giám thống kê Y tế 1998-2008
Tình hình các bệnh lây nhiễm giảm cả về tỷ lệ và số lượng Tình hình tainạn, chấn thương và ngộ độc có xu thế tăng
Mô hình bệnh theo các nhóm thu nhập
Mô hình bệnh theo nhóm thu nhập
Mức
sống
Chỉ sốChết
sơ sinh
Bệnhlâynhiễm
Bệnhkhônglâynhiễm
Tainạn
Giàtrên 70tuổi
Trang 16Nghèo 5,0 19,9 34,6 12,2 20,4 7,8 100,0 642Trung
bình
Nguồn: Điều tra mức sống quốc gia 2004, TCTK, 2006
Nhóm nghèo có chết so sinh cao hơn nhóm giàu, bệnh lây nhiễm cao hơnnhóm giàu, bệnh không lây nhiễm thấp hơn nhóm giàu, tai nạn cao hơn nhómgiàu, số người già trên 70 thấp hơn nhóm giàu Như vậy, nhóm nghèo phát triểnchậm hơn nhóm giàu
Như vậy, các chỉ số sức khoẻ toàn dân có tốt lên do đời sống kinh tế xã hộiđược cải thiện Song, nhóm người nghèo vẫn có tình hình sức khoẻ kém hơn sovới nhóm người giàu Điều này có thể có người cho là phải chấp nhận, song nhìntheo góc độ quyền được có sức khoẻ của mỗi người thì đây là một vấn đề cần quantâm
2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật
Yếu tố kinh tế
Trong phân tích trên cho thấy nhóm nghèo thu nhập thấp có tình trạng sứckhoẻ kém hơn so với nhóm giàu thu nhập cao Qua số liệu kinh tế khoảng cách thunhập trung bình của nông thôn chỉ bằng một nửa của thành thị và khoảng cách thunhập giữa nhóm giàu nhất ngày càng cách biệt xa với nhóm nghèo nhất
Chệnh lệch thu nhập thành thị và nông thôn
Năm Chênh lệch thu nhập nông thôn và thành phố
Trang 17Khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất
Năm Chện lệch thu nhập giữa
20% hộ giàu nhất và 20%
hộ nghèo nhất
Chệnh lệch thu nhập giữa10% hộ giàu nhất và 10%
là 5,23) Đặc điểm dân số học này khiến cho người nghèo lại nghèo thêm Những
hộ nghèo đông người phải chi phí nhiều cho thức ăn hàng ngày không còn để dànhcho chăm sóc sức khoẻ và giáo dục Nguồn tài liệu cho phân tích này lấy từchuyên khảo tổng điều tra dân số về hôn nhân, mức sinh và mức chết 1999-2004của Uỷ Ban quốc gia DS-KHHGĐ
Mặt khác, tình hình di cư trong nước không chỉ tác động đến sức khoẻ củangười di cư, mà còn tác động đến sức khoẻ của cộng đồng mà người di cư đếnnhập cư Khả năng miễn dịch chống trả lại các bệnh lưu hành (như sốt rét, viêmnão Nhật Bản B) của người di cư thường yếu hơn người địa phương Người dân di
cư cũng có thể mang mầm bệnh đến vùng nhập cư Việc di cư thường còn kèmtheo những vấn đề xã hội không mong muốn ảnh hưởng đến sức khoẻ
Với sự phát triển kinh tế, tình hình di cư đang xảy ra với tốc độ nhanh, chỉ
từ tháng 4/2004 đến tháng 3/2005 cả nước đã có 240 ngàn người di cư (chưa kể
Trang 18những con số chưa đăng ký được) Có những vùng nhập cư thuần như Tây Bắc vàĐông Nam Bộ Có những vùng xuất cư thuần như Nam Trung Bộ và Bắc Trung
Bộ Di cư nông thôn ra thành thị chiếm 60%; di cư từ nông thôn đến nông thônchiếm 38% Số di cư thành thị không đáng kể Di cư nói chung nhằm đi học hay đitìm kiếm công việc làm Phân tích này có số liệu lấy từ nguồn số liệu của Tổngcục Thống kê (2006): Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2005
Yếu tố trình độ học vấn
Trình độ học vấn là một yếu tố tác động đến sức khoẻ đã được chứng minhqua nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế Một tài liệu từ năm 1992 đã đưa ranhiều minh chứng cho nhân xét này1 Một nghiên cứu (SAVY, 2003) cho thấy tỷ
lệ biết chữ trong thập kỷ qua đã tăng lên và trình độ văn hoá năm 2003 được nhậnxét như dưới đây
Status, income and occupation contribute to risk factors for cardiovascular diseases American Journal of Public Health June 1992;Vol 82; No 6 pp 819-820
Trang 19 Yếu tố môi trường, nước sạch và vệ sinh
Vấn đề chất thải sinh hoạt vẫn luôn là một vấn đề quan tâm của ngành Y tế.Vấn đề giải quyết phân người và nhà tiêu hợp vệ sinh vẫn còn cần được quan tâm
vì chính đây là nguồn phân tán các bệnh lây qua đường tiêu hoá Thế nhưng mớichỉ có khoảng 50% số nhà tiêu được kiểm tra là hợp vệ sinh (Nguồn: Van derHoek W và ctv,2003: Current status of soil transmitted helminths in Vietnam inSoutheast Tropical Medicine and International Health, 2003 Oct, 8 ((10) 1-11)
Vấn đề nước thải của các đô thị cũng vẫn còn là điều lo ngại của Y tế Hơn
120 ha trồng rau của một thôn tại huyên Thanh Trì (nay là quận Hoàng Mai), HàNội được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng nguồn nước thải Sông Tô Lịch (chiếm 50%nguồn nước thải đô thị, khoảng 200.000 m2/ngày đêm) Như vậy, không những100% người dân ở đây tiếp xúc với mầm bệnh từ nguồn nước thải sinh hoạt này
mà sự phân tán của mầm bệnh còn có thể được truyền qua rau đem bán ở thịtrường Tỷ lệ các bệnh như thương hàn hay viêm gan siêu vi trùng đều cao tạihuyện Thanh Trì (Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam 6/5/2003)
Trang 20Cùng với sự quá trình công nghiệp hoá, khối lượng chất thải ngày càng lớn.Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), cả nước có trên 70khu công nghiệp và trên 1000 bệnh viện hàng ngày thải ra sông hàng triệu m2nước thải Theo một báo cáo khác cũng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thườngxuyên có trên 4000 doanh nghiệp đang đổ nước thải ra sông, trong đó có 284 cơ sởsản xuất kinh doanh, 15 kho thuốc bảo vệ thực vật, 3 khu tồn lưu chất độc hoá họcgây ô nhiễm nghiêm trọng cần phải xử lý (Nguồn: Diễn biến môi trường ViệtNam, chất thải rắn, WB, CIDA, Bộ Tài nguyên Môi trường, 2005)
Các cơ sở công nghiệp và bệnh viện còn có chất thải rắn làm ô nhiễm môitrường, nhất là các cơ sở bệnh viện vì chất thải rắn bệnh viện và tác nhân lâynhiễm chứa trong nó không những là nguy cơ cho môi trường và sức khoẻ củacộng đồng mà còn ảnh hưởng đến nhân viên Y tế và bệnh nhân Ngoài ra, môitrường bệnh viện còn là nguồn lây bệnh do công tác vệ sinh trong bệnh viện chưađược tăng cường (Nguồn: Báo cáo Thực trạng vệ sinh môi truờng các cơ sở Y tế,Cục Y tế Dự phòng, BYT, 2005)
Việc hồi phục và phát triển các làng nghề chưa quan tâm đến môi trưòngcũng đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Đầu năm 2006, cả nước có1.450 làng nghề; 67,3% ở đồng bằng Sông Hồng Một điều tra cho thấy 100% mẫunước ở các làng nghề đều bị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Hàng năm, làngnghề ở các tỉnh phía Bắc thải ra môi trường 2.200 tấn chất thải nguy hại; các làngnghề ở các tỉnh miền Trung thải ra môi trường 220 tấn chất thải nguy hại Một sốlàng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, nhựa, kim loại gây ô nhiễm bởikhói, bụi, mùi hôi Một số làng nghề sử dụng hóa chất như vải sợi, mạ kim loại, táichế chì, nhôm, đồng, đồng, kẽm, nhựa, giấy thì khả năng gây ung thư, nhiễm độckim loại cao
Một điều tra cho thấy có một số làng có tên gọi là làng ung thư Thật rahiện nay cũng chưa có thể quy kết nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng một số làng
có tỷ lệ bệnh ung thư cao, tỷ lệ chết do ung thư cao Song, hiện tượng nay cũngcần được nêu lên như một lời cảnh báo Một số làng phải chịu ảnh hưởng trực tiếp
Trang 21của ô nhiễm do nhà máy, do kho hoá chất, kho thuốc trừ sâu, nguồn nước sinhhoạt bị ô nhiễm Song, một số làng có tỷ lệ bệnh gan cao có thể còn có nguyênnhân uống nhiều rượu tự nấu.
Trên thực tế, người ta thấy số người bị mắc ung thư và bị chết vì ung thưxuất hiện ở một nơi nào đấy nhiều hơn ở những nới khác Một số nghiên cứu điềutra dịch tễ học đã được thực hiện (chủ yếu là nghiên cứu bệnh chứng), song nhữngnghiên cứu này chưa đưa ra được bằng chúng về nguyên nhân gây ung thư củanhững địa danh gọi là làng ung thư này Tuy nhiên, hiện tượng có nhiều ngườimắc và nhiều người chết vì bệnh ung thư của một số địa danh không thể khôngqnan tâm Việc tìm ra được mối liên quan của ung thư và những tác nhân có thểgây ung thư của những địa danh này chắc chắn là cần thiết cho sức khoẻ
Một số làng ung thư
thư
Nguồn ônhniễmnghi ngờ
Khả năngkhác
Số ngườimắc và chết
Supe Phot Phat và hoáchất Lâm Thao
106 chết từ 1991; 30 hiện mắc
Xã Yên Lập Gan, phổi ,
đại tràng
Kho thuốc trừ sâu, ô nhiễm nước
Viêm gan B
Trang 22Sông Nhuệ gây ô nhiễm nướctưới tiêu và sinh hoạt;
thạch tín trong nước uống
22 chết trong 10 năm
Nghệ An Làng Cờ Đỏ,
xã Diễn Hải
Gan, dạ dày Ô nhiễm
nước sinh hoạt
Viêm gan B 40 người
chết trong 5năm
Xóm Sơn, xã
Đức Thành
Kho thuốc trừ sâu của HTX
28 hiện mắc, 19 chếtQuảng
sử dụng DDT và 666
Viêm gan B Hàng chục
chết, 15 chết do ungthư gan
Nguồn: Báo cáo Y tế 2006, BYT
Những con số trên cho thấy tuổi thọ của con người cũng như tình hình bệnhtật không phải chỉ phụ thuộc vào Y tế phòng bệnh và chữa bệnh mà còn phụ thuộcvào các yếu tố môi trường Việc quản lý môi trường và thanh khiết môi trường đòihỏi có sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành môi trường và ngành Y tế Và, sự kết hợp
Trang 23này hiện nay trên văn bản có nhiều, song trong hoạt động thực tế chưa thấy có sựhợp tác cụ thể Ngay trong khoa học về vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trườngcũng chưa thể hiện sự lồng ghép cần thiết Ngành môi trường và ngành sức khoẻmôi trường có thể là hai ngành chuyên môn có những vấn đề quan tâm khác nhau,song vì sức khoẻ của con người, vì sự phát triển của con người Việt Nam, vấn đềhợp tác của hai ngành là cần thiết.
Yếu tố an toàn xã hội
Các yếu tố liên quan đến an toàn xã hội bao gồm:
- Tại nạn thương tích (trong cộng đồng, do bạo lực gia đình, trong giaothông, trong lao động)
- Ngộ độc (thực phẩm, hoá chất) Trong 10 năm (1989-1999), tai nạnthương tích đã tăng gấp 4 lần làm 43.000 người chết và 137.000 người bị thương(Báo cáo Y tế 2006, BYT) Theo số liệu thống kê bệnh viện năm 2003, tỷ lệ chết
do tai nạn chấn thương và ngộ độc đã vượt qua tỷ lệ chết do các bệnh truyềnnhiễm; số người nhập viện do tai nạn chấn thương và ngộ độc tuy chưa vượt quá
số người bị bệnh truyền nhiễm, song có xu thế tăng lên (Nguồn: Niên giám thống
kê Y tế 2005)
An toàn và tai nạn chấn thương
Tai nạn thương tích ở trẻ em đã trở thành một lo ngại của Y tế công cộng.Theo kết quả điều tra Y tế quốc gia (2003) thấy 75% tử vong trẻ am là do tai nạnthương tích; chỉ có 12% do bệnh lây nhiễm và 15% do bệnh mãn tính Nguyênnhân tử vong có nhiều, song đáng chú ý hơn cả là các nguyên nhân có thể phòngtránh được như chết đuối, bỏng các loại, giao thông Tỷ lệ tai nạn gây thương tíchnhưng không gây tử vong ở nông thôn là 5.134,8 trẻ trên 100.000 trẻ năm so với3.770,4 trẻ trên 100.000 trẻ năm ở thành thị Nguyên nhân bao gồm các loại ngã,động vật cắn, giao thông, các vật sắc nhọn, bỏng, các vật rơi, ngộ độc thức ăn,máy móc, v.v Tỷ lệ tử cong cao nhất là do bỏng, sau đó đến ngộ độc, đến ngã rồiđến các vật rơi (Nguồn: Điều tra tai nạn thương tích 2003 VMIS, 2003) Những
Trang 24nơi thường xảy ra tai nạn là: Nơi công cộng (3%), trường học (4%), nơi làm việc(17%), tại nhà (17%), đường giao thông (59%) (Nguồn: Điều tra SAVY, 2003).
Tai nạn thương tích ở người cao tuổi cũng đã trở thành một quan tâm của Y
tế công cộng Theo “Điều tra mức sống hộ gia đình 2002”, trong số 15.195 ngườigià (từ 60 tuổi trở lên) được hỏi có 1,4% bị tai nạn thương tích xảy ra trong thờigian 4 tuần qua; Tỷ lệ nam là 1,4% và tỷ lệ nữ là 1,5%; ở nông thôn là 1,6% và ởthành thị là 1,6% Tỷ lệ tàn tật chung là 11,7%; ở thành thị là 10,5% và ở nôngthôn là 12,1%; ở nam là 12,6% và ở nữ là 11,2% (Nguồn: Điều tra mức sống ViệtNam VLSS, 2002) Theo một cuộc điều điều tra về sức khoẻ người cao tuổi ở 3tỉnh thuộc ba miền (Hải Dương, Ninh Thuận và Vĩnh Long) năm 2005, trong số1.132 người được hỏi có 546 ngưòi bị ngã (48,2%), trung bình 1 người ngã 1,2 lần
từ khi 50 tuổi Trong số đó có 48,3% bị bầm tím, sưng tấy; 15,7% sai khớp; 13,8%gẫy tay chân và 1,5% chấn thương sọ não Nữ có nguy cơ bị ngã nhiều hơn nam(51,9% so với 42,9%)
Bạo lực gia đình cũng là một hiện tượng đang trở nên nghiêm trọng đối vớisức khoẻ Theo một điều tra của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (2001), 6% phụ
nũ bị chồng đánh đã phải vào nhập viện trong vài ngày; và 51,8% người vợ bịđánh đã bị thâm tím mặt mày Một cuộc điều tra khác của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ(2001) tại 5 xã của tỉnh Bình Dương, trong số 19 phụ nữ bị chồng đánh đượcphỏng vấn có 7 người đã bị đánh đập nhiều lần khi mang thai, 2 người bị chồngđánh hư thai, 7 người bị cưỡng ép tình dục và 2 người đã phải ly hôn Bạo lực đốivới trẻ em cũng là một hiện tượng đáng quan tâm Theo điều tra SAVY, 2003, có2,2% gia đình đánh trẻ em Và, phân tích số liệu của Toà án Nhân dân Tối caonăm 2001, trong số 1.407 vụ bạo lực được xét xử có 50% trường hợp là bạo lựcđối với trẻ em Theo một số liệu điều tra của Ban Khoa Giáo Trung ương và ĐoànThanh niên Công sản Hồ Chí Minh năm 1993-1997 có 1000 trường hợp bạo lựctrẻ em bị xét xử ở toà án tối cao và 2.644 trường hợp bị xét xử ở toà án địa phương
Tai nạn thương tích trong giao thông đang ngày một tăng cùng với số xemáy và xe ôtô đang tăng Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, tỷ số tử
Trang 25vong toàn quốc khoảng 11 ca tử vong trên 100.000 xe gắn máy (tương tự với sốliệu của một số quốc gia khác tại vùng Đông Nam Á) Trong khoảng 10 năm(1995-2005), số các vụ tai nạn giao thông đâm xe tăng 38%, bị thương tăng 52%
và tử vong tăng 37% Một số nghiên cứu cho thấy tai nạn giao thông có tỷ lệ gâythương tổn vùng đầu mặt cổ rất cao; tại TP Hồ Chí Minh là 37%, tại Thái Nguyên
là 62%, tại Lâm Đồng là 26%, tại Thái Bình là 30,5% Theo số liệu của bệnh việnViệt Đức năm 2001, 81% chấn thương sọ não là do tai nạn giao thông.(Nguồn:Báo cao Y tế 2006, BYT)
Tai nạn thương tích trong nghề nghiệp cũng là một vấn đề lớn hiện nay Tainạn lao động gây thiệt hại về người và cơ sở vật chất Tai nạn có khuynh hướngphát triển phức tạp nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ Theo niên giám của BộLao động thương binh Xã hội trong các năm 2002, 2003 có 3.896 vụ tai nạn laođộng khiến cho 4.089 người bị nạn và 513 người tử vong Theo thống kê của Y tếcác cơ sở công nghiệp, nhũng con số này cao hơn
Trang 26Năm 1999 có 327 vụ ngộ độc thực phẩm được báo cáo, trong đó có 7.576 người bịngộ độc (trong số người bị ngộ độc có 71 ngưòi bị tử vong) Năm 2000 có 213 vụngộ độc thực phẩm, trong đó có 4.233 người mắc và trong số người mắc có 59người tử vong (Báo cáo Y tế 2006, BYT).
Trong sản xuất thực phẩm, nguời sản xuất có xu thế sử dụng đến mức lạmdụng thuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng Theo báo cáo kết quả thanh tranăm 2004 của Cục bảo vệ thực vật có 21% hộ nông dân vi phạm các quy định về
sử dụng thuốc Kết quả phân tích năm 2000-2003 cho thấy trong thực phẩm cómột số loại hóa chất, kháng sinh và chế phẩm không an toàn Về chế biến, BộCông nghiệp chỉ quản lý một số cơ sở sản xuất Nhà nước, còn lại đến hơn 90% dođịa phương quản lý không theo một tiêu chuẩn nào Về kinh doanh, Cục quản lýthị trường cho biết tình trạng lưu thông các thực phẩm giả, thực phẩm kém chấtlượng trên lãnh thổ Việt Nam còn khá phổ biến
Vệ sinh an toàn thực phẩm do đó không thể chỉ là trách nhiệm của mộtngành và cần có sự phối hợp trách nhiệm, phối hợp hành động; nhất là giữa cácngành Y tế, nông nghiệp và quản lý thị trường
Sốchẩnđoánmắcbệnh
Sốgiámđịnh
Số trợcấp
Số cấpsổ
SốgiámđịnhtíchluỹBệnh bụi phổi Silic
Bệnh bụi phổi Amiăng
Bệnh bụi phổi bông
Trang 27 Yếu tố lối sống sinh hoạt
Những hành vi nguy cơ như nghiện thuốc lá, nghiện bia rượu, nghiện matuý hay tình dục không an toàn là những yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnhtật
Trang 28 Nghiện thuốc lá
Theo một mô hình mô phỏng dự báo về hút thuốc lá của Việt Nam và xắcchết do thuốc lá (kiểu mô phỏng của Đài Loan) ngưòi ta ước tính năm 2003 cókhoảng 30.000 người chết do thuốc lá ở nước ta, và nếu không có sự thay đổitrong mô hình hút thuốc lá, số người chết so thuốc lá năm 2033 sẽ lên tới khoảng67.000 người (Nguồn: Simsmoke Việt Nam) Tử vong do thuốc lá thường xảy ra ởtuổi trung niên và người già
Theo “Điều tra mức sống Viịet Nam” (VLSS) 2006, tỷ lệ ngưòi hút thuốc látại Việt Nam vẫn còn cao Tỷ lệ nam giới trên 15 tuổi có hút thuốc lá là 47% và cóhút thuốc lá hàng ngày là 39% Tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá ít hơn, có hút thuốc lá là1% và có hút thuốc lá hàng ngày là 1,5%
Nghiện bia rượu
Theo quy chuẩn của Y tế thế giới, lạm dụng bia rượu là tình trạng nhữngngười uống từ 3 lon/ cốc bia 330 ml nồng độ 5% hoặc hơn 3 chén rượu 30 ml cónồng độ 30% mỗi ngày Tại Việt Nam, chưa tính được tỷ lệ lạm dụng bia rượu.chưa có số liêu chung cho cả nước Song, tại một số điểm điều tra, như ở Ba Vìnăm 2003, người ta thấy biểu hiện lâm sàng của nghiện bia rượu có ở 8% nam giới(trên 585 đối tượng nghiên cứu) còn ở nữ giới là 0% Năm 1994, cũng tại Ba Vì,tiếp tục điều tra bằng bộ câu hỏi AUDIT trên 3423 đối tượng, người ta thấy có25,5 nam giới và 0,7 nữ giới có biểu hiện lạm dụng bia rượu Tại Hà-nội 1994,điều tra trên 7.986 đối tượng từ 15 tuổi trở lên, người ta thấy có 1,9% nam giớinghiện bia rượu còn ở nữ giới là 0%
Tuy bia rượu có thể mang lại một số tác dụng tích cực nhất định, song cũng
là nguyên nhân dẫn đến tai nạn xe cộ, tai nạn lao động và bạo lực gia đình Theobáo cáo của WHO năm 2002, rượu bia là nguyên nhân liên quan đến 3,2% tử vongtrên thế giới và làm mất đi 38,5 triệu (DALYs)
Nghiện ma tuý
Trang 29Ma tuý phổ biến tại Việt Nam là ma tuý liên quan đén thuốc phiện (thuốcphiện và heroin), cũng có một tỷ lệ nhất định người sử dụng cần sa, ma tuý tổnghợp (amphetamine) và thuốc lắc (ecstasy) Mặc dầu đã có nhiều biện pháp cứngrắn chống ma tuý, song số người nghiện ma tuý ở Việt Nam vẫn chưa giảm nhiều.UNODC ước tính Việt Nam có khoảng 200.000 người nghiện ma tuý.
Ma tuý là nguồn gốc của nhiều tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây nên tìnhtrạng rối loạn tâm thần và ứng xử Ma tuý cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh HIV/AIDS do kết quả của việc tiêm chích bơm tiêm chung giữa những người có HIV
và những người chưa có HIV Những người có HIV và nghiện ma tuý có thể quan
hệ tình dục với người chưa gây nhiễm và truyền bệnh qua đường tình dục
Tình dục không an toàn
Hậu quả của tình dục không an toàn là mắc bệnh lây nhiễm, các bệnh lâytruyền qua đường tình dục mà nguy hiểm hơn cả là HIV/AIDS Số liệu mắc bệnhlây truyền qua đường tình dục không có nhiều, song một số cuộc điều tra như cuộcđiều tra giám sát vào năm 2000 cho thấy như sau
Tỷ lệ có triệu chứng bệnh lây truyền qua đường tình dục
Trang 30Phân tích tình hình Y tế không chỉ đơn thuần là phân tích hệ thống Y tế đápứng yêu cầu CSSK xuất phát từ tình hình ốm đau bệnh tật, mà còn cần phân tíchnhu cầu về CSSK và khả năng cung ứng để có thể điều chỉnh tối ưu.
3.1 Nhu cầu CSSK
Như trình bày trong phần sức khoẻ và bệnh tật /những yếu tố ảnh hưởngđến sức khoẻ và bệnh tật, dịch vụ CSSK không chỉ đơn thuần là khám chữa bệnhhay phòng bệnh mà còn liên quan đến rất nhiều vấn đề khác Đó là mội trường với
đủ loại ô nhiễm cần xử lý; là những nguy cơ tai nạn chấn thương, ngộ độc cầnphòng tránh; là những hành vi không mong muốn của con người cần thay đổi, làhoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi người cần sự giúp đỡ của Nhà nước, của cộngđồng, v.v
Số lần / ngày KCB trong 1 năm
Theo “Điều tra mức sống Việt Nam VLSS” 2002, hàng năm bình quân mỗingười sẽ có 1,5 đợt ốm, Như vậy, với dân số 85 triệu người, hàng năm có khoảng127,5 triệu đợt ốm trong phạm vi cả nước Ngoài ra, hàng năm có khoảng 1,5 triệutrẻ em sinh ra và cả nước có khoảng 3% người khuyết tật đòi hỏi có những chămsóc riêng
Nhu cầu KCB của người nghèo nhiều hơn của người giàu Khoảng 22%người nghèo tự khai là sức khoẻ của mình yếu so với chỉ có 10% người giàu tựkhai là mình có sức khoẻ yếu Khoảng 18,2% hộ nghèo có thành viên là ngườikhuyết tật so với chỉ có 8,3% hộ giàu tự khai có thành viên là người khuyết tật.Khoảng 70% phụ nữ nghèo sinh con so với chỉ có 39% phụ nữ giàu sinh con.Khoảng 6,4% hộ nghèo có người bị bệnh nặng phải nằm một chỗ trong năm so vớichỉ có 3,3% hộ giàu có người bị ốm phải nằm một chỗ trong năm Khoảng 5,2%
hộ nghèo có trẻ chết chu sinh so với chỉ có 2,2% hộ giàu có trẻ chết chu sinh.Khoảng 21% hộ nghèo có người mắc bệnh truyền nhiễm so với chỉ có 12% hộgiàu có người bị mắc bệnh truyền nhiễm (Nguồn: VLSS 2004)
Trang 31Vấn đề ở đây là, nếu có sự khác biệt về bệnh tật khác nhau thì nhất thiếtviệc sử dụng dịch vụ Y tế cũng khác nhau giữa người giàu và người nghèo Việctiếp cận dịch vụ Y tế của người nghèo ở các tuyến là một vấn đề cần suy nghĩ saocho thích hợp Vấn đề BHYT có làm cho sự tiếp cận này tốt lên không cũng là mộtvấn đề phải xem xét.
Hành vi lựa chọn CSSK
Khi ốm đau, một số người có thể không điều trị gì, một số người mua thuốc
tự điều trị và một số người tìm đến Y tế
Lựa chọn CSSKHành vi lựa chọn CSSK (%)Không chữa bệnh khi có vấn đề ốm đau 3%
Phân tích của Điều tra mức sống Việt Nam VLSS 2002 cho thấy:
- Không điều trị có nhiều lý do Tỷ lệ người già ốm không chữa bệnh nóichung cao hơn, khoảng 30% (Nguồn: Chương trình ngưòi già của Viện Chiến lược
và Chính sách Y tế, 2006) Lý do để giải thích vì sao không đi KCB thường đượcgắn với tình trạng nặng nhẹ của bệnh (qua phân tích hồi quy) Trong số nhữngngười bị mắc bệnh nặng mà không đi khám bệnh có 32% khai là vì không có tiền
và 3% khai là cơ sở Y tế quá xa nhà Có 53% người nghèo bị bệnh nặng không đikhám bệnh khai là vì không có tiền Đây là một vấn đề mang tính xã hội
- Tỷ lệ những người ốm tự mua thuốc về tự điều trị rất cao lên tới 73% Lý
Trang 32+ Theo sự mách bảo mua người quen
Như vậy, việc tự điều trị có nhiều nguy cơ tới sức khoẻ nhưng nhândân chưa nhận thức được điều đó Đây là một vấn đề mang tính Y tế
+ Thái độ dễ chịu hơn+ Tin tưởng ở khả năng chuyên môn tốt, có uy tín trong cộng đồngHành vi lựa chọn CSSK còn tuỳ thuộc vào lựa chọn cơ sở để KCB nội trúhay để KCB ngoại trú Trạm Y tế và phòng khám đa khoa khu vực tuy là những cơ
sở không có giường bệnh, song vẫn có một số giường lưu
Trang 33KCB ngoại trú tại các cơ sở công lậpĐối tượng TYT/
PKĐKKV(%)
Bệnh việnhuyện(%)
Bệnh việntỉnh/ TW(%)
Tổng(%)
Số người(người)
Sử dụng dịch vụ KCB nội trú
Hành vi lựa chọn KCB nội trú chịu ảnh hửơng rất nhiều bởi mức độ thunhập (mức sống) của gia đình bệnh nhân Các cơ sở để người bệnh lựa chọn đểkhám chữa bệnh nội trú bao gồm: Trạm Y tế xã, Phòng khám đa khoa khu vực,Bệnh viện huyện, Bệnh viện tỉnh, Bệnh viện trung ương, Các cơ sở Y tế Nhà nướckhác, Các cơ sở Y tế ngoài công lập
Các nhóm thu nhập được phân ra thành: Nghèo, Cận nghèo, Trung bình,Khá và Giàu
BV tỉnh BV
trungương
Cơ sở
Y têNhànước
Cơ sở
Y tếngoàicông
Tổng