1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về công tác kế toán khấu hao Tài sản cố định trong các Doanh nghiệp

36 319 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 438,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh TSCĐ bị hao mòn, giá trị hao mòn của TSCĐ được dịch chuyển dần vào trong giá trị của sản phẩm chỉ khi nào TSCĐ bị hư hỏng hoàn toàn thì k

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp thì TSCĐ là một trong những yếu tố quyết định vị thế của Doanh nghiệp trên thị trường vì nó quyết định đến giá thành sản xuất TSCĐ bao gồm toàn bộ các tư liệu lao động

để con người tác động và làm thay đổi đối tượng lao động, là điều kiện cần thiết

để giảm cường độ lao động và tăng năng suất lao động, nó thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ, năng lực của Doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong tình hình hiện nay khi nước ta ra nhập WTO, đất nước lại trong quá trình CNH, HĐH, khoa học kỹ thuật trở thành năng lực sản xuất thì TSCĐ là một yếu tố quan trọng tạo nên tạo nên thế mạnh cạnh tranh đối với các Doanh nghiệp khác Khác với đối tượng lao động, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và không thay đổi hình thái vật chất ban đầu Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh TSCĐ bị hao mòn, giá trị hao mòn của TSCĐ được dịch chuyển dần vào trong giá trị của sản phẩm chỉ khi nào TSCĐ bị hư hỏng hoàn toàn thì khi đó mới thay thế, đổi mới vì thế Doanh nghiệp phải tìm cách thu hồi lại vốn để tái đầu tư tài sản mới bằng cách trích khấu hao

Như vậy, Việc tính và trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh

có ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và lợi nhuận của Doanh nghiệp, không những vậy nó còn ảnh hưởng đến báo cáo tài chính cuả Doanh nghiệp trong phần tài sản Nhận thức được tầm quan trọng của việc tính khấu hao các Doanh nghiệp phải tìm cách tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào kinh doanh trong từng kỳ hạch toán cho phù hợp Hiện nay, ở nước ta có ba phương pháp hạch toán khấu hao TSCĐ, Doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp, tuân theo quy định của pháp luật, đảm bảo thu hồi vốn nhanh, đầy đủ, phù hợp với khái niệm cạnh tranh của Doanh nghiệp Trong các Doanh nghiệp hiện nay, công tác quản lý và và sử dụng TSCĐ

Trang 2

còn nhiều hạn chế, Do có trường hợp TSCĐ không sử dụng hoặc sử dụng không hết công suất để mất mát hư hỏng trước thời hạn sử dụng dẫn đến việc ghi chép không rõ ràng, trích khấu hao không đầy đủ là hiện tượng không những ảnh hưởng đến Doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước, nên yêu cầu đặt ra là phải đúng, tính đủ trong việc trích khấu hao TSCĐ.

Chính vì những lý do đó trên, em đã nhận biết được tầm quan trọng của

việc tính và trích khấu hao TSCĐ nên em đã chọn đề tài “Bàn về công tác kế

toán khấu hao TSCĐ trong các Doanh nghiệp” làm đề án môn học.

Nội dung đề án gồm ba phần:

Phần I: Cơ sở lý luận về công tác kế toán khấu hao TSCĐ.

Phần II: Thực tế công tác kế toán khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp

hiện nay

Phần III: Kiến nghị và nhận xét.

Trang 3

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN

KHẤU HAO TSCĐ

1 Các quan điểm về hao mòn và khấu hao TSCĐ

Trên đây là các quan điểm chung về hao mòn và khấu hao TSCĐ Tuy nhiên trải qua một quá trình lịch sử lâu dài thì quan điểm về hao mòn và KHTSCĐ của những nhà kinh tế học đương thời có những nét khác nhau rõ rệt

Quan đi ểm của Adam smith:

Adam smith cho rằng: Giá cả của sản phẩm không những hoàn lại giá cả của vật liệu, của sức lao động mà còn hoàn lại cả bộ phận giá trị của những công

cụ lao động được chuyển vào sản phẩm do hao mòn của những công cụ này Tuỳ theo giá trị của những tài sản ứng trước để chế tạo ra sản phẩm được hoàn lại bằng cách bán sản phẩm này toàn bộ hay từng phần, bán luôn một lúc hay bán dần, mà chỉ có phương thức và thời gian hoàn lại là thay đổi Trong cả hai trường hợp đó là chi phí chứ không phải giá trị thặng dư

Như vậy Adam smith cho rằng TBCĐ chỉ gồm những tư liệu lao động Chúng không thay đổi trong quá trình sản xuất và tiếp tục sử dụng cho tới khi hao mòn hết

Quan Đi ểm của Ricacdo:

Ricacdo thì cho rằng: Mức độ cố định của các tư liệu lao động tuỳ thuộc vào mức độ bền lâu của chúng nghĩa là thuộc tính vật lý của chúng Tuỳ theo mức độ bền lâu, trong những điều kiện khác không thay đổi, chúng sẽ hao mòn nhanh hay chậm nghĩa là hoạt động với tư cách là TBCĐ trong một thời gian dài hay ngắn nhưng quyết không phải do một mình thuộc tính vật lý ấy của việc bên lâu mà chúng hoạt động với tư cách là TBCĐ

Cả Adam smith và Ricacdo đã nhầm lẫn giữa TBCĐ và tư bản lưu động

Trang 4

Nhầm lẫn giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến, nên việc nghiên cứu vấn đề khấu hao và một số vấn đề khác bị sai lệch.

Quan đi ểm của Các Mác: Trước đây thông qua nghiên cứu đường ray và

xe lửa Mác đã nhận thấy rằng: Hao mòn trước hết là do bản thân việc sử dụng gây ra Và việc hao mòn đó sẽ tăng lên tỷ lệ thuận với sự tăng lên của tốc độ Tiếp nữa nguyên nhân của hao mòn còn là sự tác động của tự nhiên (ăn mòn, mục nát, rỉ ) sau hết sự hao mòn ở đây cũng như trong khắp ngành đại công nghiệp, đó là sự hao mòn tinh thần cũng có tác dụng Do sự cải tiến của công nghệ thì các tư liệu lao động thường được cải biến không ngừng Vì thế chúng được thay thế không phải dưới hình thức ban đầu của nó mà dưới một hình thái

đã được cải biến Và Mác đã rút ra hao mòn (không kể hao mòn tinh thần) là bộ phận mà TBCĐ do được sử dụng nên chuyển dần vào sản phẩm theo mức giá trị trung bình mà giá trị sử dụng của nó bị mất đi Sự hao mòn đó cho ta thấy TBCĐ có một thời gian tồn tại nào đó và mỗi một TBCĐ có một hình thức hao mòn khác nhau Sự hao mòn đó được hoàn lại từng năm hoặc từng giai đoạn ngắn hơn, hay thậm chí thường được chuyển lại dưới hình thái tự nhiên của số

tư bản đó Vì Thế mà cần có một quỹ khấu hao dùng cho các bộ phận TBCĐ là chỉ sau nhiều năm mới đến kỳ hạn sản xuất, thay thế toàn bộ Nhờ việc hình thành quỹ khấu hao theo tỷ lệ hao mòn của nó, giá trị tư bản cố định quay trở về quỹ này như điểm xuất phát của nó, một bộ phận của lưu thông và tiền tích trữ Mác đã nhận ra rằng với sự phát tiển của tín dụng, phát triển này tất nhiên phải

đi đôi với sự phát triển của nền đại công nghiệp và nền sản xuất tư bản công nghiệp Số tiền nói trên không phải hoạt động với tư cách là tiền tích trữ nữa, mà làm tư bản nhưng không phải trong tay người sử dụng nó mà trong tay những nhà tư bản khác được quyền sử dụng nó

2 Một số vấn đề chung về Tài sản cố định.

2.1 Khái niệm TSCĐ.

TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu làm thoả mãn đồng thời các tiêu chuẩn sau:

Trang 5

+ Có lợi ích kinh tế trong tương lai.

+ Nguyên giá được xác định một cách đáng tin cậy

+ Thoả mãn tiêu chuẩn giá trị theo quy định (Theo Quyết định 206/2003/ QĐ-BTC ngày12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài Chính thì TSCĐ phải có giá trị

2.3 Phân loại TSCĐ.

Phân loại TSCĐ là sắp xếp TSCĐ thành từng loại từng nhóm có đặc điểm tương đồng theo tiêu thức nhất định

TSCĐ có nhiều loại, nhiều thứ có đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau

Để việc tính khấu hao TSCĐ được thực hiện một cách hợp lý, chính xác thì sự phân loại TSCĐ là cần thiết Nhờ vào việc phân loại chúng ta sẽ biết được chất lượng, cơ cấu của từng TSCĐ hiện có trong doanh nghiệp để từ đó có thể đưa ra các phương pháp quản lý tốt: như đưa ra tỷ lệ khấu hao, giá trị năm sử dụng để thay đổi, cập nhật công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích tiêu thụ sản xuất

Căn cứ vào tính chất của TSCĐ trong doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành phân loại TSCĐ theo các tiêu thức sau:

Phân loại TSCĐ theo hình thái có:

- TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể bao gồm:+ Nhà cửa vật, kiến trúc

+ Máy móc, thiết bị

+ Phương tiện vận tải

+ Thiết bị, dụng cụ quản lý

Trang 6

+ Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật cho sản phẩm

+ Phần mềm máy tính nếu phần mềm độc lập với phần cứng

+ Giấy phép và giấy nhượng quyền

+ TSCĐ vô hình khác

Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có:

- TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: là những TSCĐ do nhà nước cấp hoặc do các cá nhân, cổ đông góp vốn khi thành lập doanh nghiệp hoặc mua bằng nguồn vốn bổ sung của doanh nghiệp

- TSCĐ đi thuê: là TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định ghi trong hợp đồng thuê (TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động)

Phân loại theo tình hình sử dụng:

- TSCĐ sử dụng cho hoạt động kinh doanh

- TSCĐ sử dụng cho phúc lợi, sự nghiệp, cho chương trình dự án

- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ nhà nước

- TSCĐ sử dụng cho hoạt động khác

- TSCĐ chờ thanh lý

Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành có:

- TSCĐ được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách

- TSCĐ được đầu tư, mua sắm bằng nguồn vốn bổ sung (quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển)

- TSCĐ được đầu tư, mua sắm bằng nguồn vốn vay

Trang 7

- TSCĐ được đầu tư, mua sắm bằng nguồn vốn liên doanh

2.4 Nhiệm vụ hạch toán TSCĐ.

Hạch toán TSCĐ phải đảm bảo các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Theo dõi phản ánh chính xác tình hình tăng, giảm TSCĐ cả về giá trị và

số lượng tài sản hiện có trong phạm vi toàn bộ đơn vị cũng như ở từng bộ phận

sử dụng

- Tính toán và phân bổ chính xác khấu hao TSCĐ và chi phí sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn cuả tài sản và chế độ quy định

- Tập hợp và phân bổ chi phí sửa chữa TSCĐ

- Tham gia kiểm tra đánh giá lại TSCĐ theo quy định của Nhà nước và yêu cầu bảo quản vốn

- Tiến hành phân tích sử dụng và hiệu quả sử dụng TSCĐ

3 Một số vấn đề chung về Khấu hao Tài sản cố định.

3.1 Hao mòn TSCĐ.

Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật trong quá trình hoạt động của TSCĐ.Khi sử dụng TSCĐ, tuy rằng nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng thực tế đã giảm dần giá trị do chuyển phần hao mòn vào giá trị sản phẩm

- Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn vật lỷ trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận Hao mòn hữu hình của TSCĐ diễn ra ở hai dạng sau:

+ Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng

+ Hao mòn do tác động của thiên nhiên (độ ẩm, hơi nước, không khí), hao mòn này xảy ra thường xuyên và không phụ thuộc vào việc sử dụng

- Hao mòn vô hình: là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hao mòn loại này không kèm theo sự giảm thấp về giá trị sử dụng Nhờ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, việc ứng dụng các thành tựu khoa học

kỹ thuật vào hoạt động kinh tế càng nhanh và quy mô lớn thì TSCĐ được sản xuất càng có nhiều tính năng với năng suất cao và chi phí thấp làm cho TSCĐ cũ

Trang 8

bị mất giá, lạc hậu so với công nghệ mới.

3.2 Khấu hao TSCĐ.

Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách hợp lý, khoa học nguyên giá TSCĐ vào chi phí kinh doanh thông qua thời gian sử dụng TSCĐ.Thực chất khấu hao TSCĐ là hình thức thu hồi vốn cố định ở TSCĐ tương ứng với giá trị hao mòn trong sản xuất kinh doanh

Phần giá trị hao mòn của TSCĐ được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm mới sản xuất ra thông qua việc trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo những tỷ lệ khấu hao khác nhau đối với mỗi loại TSCĐ

Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của TSCĐ Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho doanh nghiệp thu được bộ phận giá trị đã mất của TSCĐ

3.3 Mối quan hệ giữa hao mòn và khấu hao.

Để thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ, người ta tiến hành trích khấu hao phần giá trị hao mòn của TSCĐ vào giá trị sản phẩm làm ra Do vậy, hao mòn quyết định khấu hao và có hao mòn thì mới có khấu hao

Hao mòn là một hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ, hao mòn là một khái niệm trìu tượng và không dự đoán được Còn khấu hao là một biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu hồi giá trị hao mòn của TSCĐ Khấu hao là một khái niệm cụ thể, trong kế toán dùng khấu hao để phản ánh hao mòn

3.4 Các phương pháp tính Khấu hao TSCĐ

Hiện nay, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam thì có ba phương pháp khấu hao:

3.4.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng.

Phương pháp này căn cứ vào nguyên giá và tỷ lệ khấu hao TSCĐ để tính ra mức khấu hao và Doanh nghiệp phải xác định được thời gian sử dụng của TSCĐ Xác định mức tính khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công

Trang 9

Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao lũy kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó

Khi sửa chữa nâng cấp TSCĐ làm tăng nguyên giá TSCĐ thì mức khấu hao mới trích hàng tháng thay đổi và được tính theo công thức sau:

Mức khấu hao phải

trích trong tháng =

Giá trị còn lại trước khi nâng cấp + Giá trị nâng cấp

Số năm ước tính sử dụng sau khi nâng cấp x 12

Nhược điểm:

Trang 10

- Do áp dụng tỷ lệ khấu hao như nhau nên việc thu hồi vốn chậm ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ, tái đầu tư TSCĐ, thời gian thu hồi vốn lâu nên không theo kịp hao mòn thực tế, nhất là hao mòn vô hình làm giảm giá trị tài sản so với giá trị trên sổ kế toán, cất trữ và quản lý TSCĐ, thường xuyên phải kiểm tra đánh giá hiệu suất hoạt động của TSCĐ để có phương án kịp thời như sửa chữa, nâng cấp.

- Nếu TSCĐ được sử dụng với công suất như nhau trong mỗi kỳ kế toán thì phương pháp này phân bổ rất công bằng tổng chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm

3.4.2 Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.

- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế- kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế

- Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ

* Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức dưới đây:

x

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn

vị sản phẩmTrong đó:

Mức trích khấu hao bình quân

Trang 11

- Phương pháp này đã phản ánh đúng mức độ hoạt động của TSCĐ theo thước đo về sản lượng Khấu hao TSCĐ sẽ tăng khi doanh nghiệp sản xuất nhiều

và tạo ra nhiều sản phẩm tương đương, nếu doanh nghiệp sản xuất ít thì mức khấu hao tương ứng trong kỳ sẽ ít

- Phương pháp khấu hao theo sản lượng làm cho kết quả kinh doanh trong

kỳ phản ánh đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Nhược điểm: Mức khấu hao trên một đơn vị là bằng nhau do vậy khấu hao trích trong tháng phụ thuộc vào sản lượng hoàn thành trong lỳ Chính vì vậy không tính đến sản phẩm dở dang hoặc bị hỏng và sản phẩm dở dang kỳ trước

kỳ này hoàn thành

3.4.3 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.

Theo quy định,TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Là TSCĐ đầu tư mới (chưa qua sử dụng);

- Là các loại máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm.Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh

Mức trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như sau:

Trang 12

- Xác định thời gian sử dụng của TSCĐ : Doanh nghiệp xác định thời gian

sử dụng của TSCĐ theo quy định tại chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính

- Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công thức dưới đây:

Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:

Tỷ lệ khấu hao TSCĐ

theo phương pháp đường

thẳng(%)

Thời gian sử dụng của TSCĐ x 100

Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại bảng dưới đây:

Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)

Đến 4 năm (t ≤ 4 năm) 1,5

Trên 4 đến 6 năm ( 4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0

Trên 6 năm (t >6 năm) 2,5

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ

Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia

Trang 13

cả các doanh nghiệp, ở tất cả các quốc ga trên thế giới khi hạch toán về KHTSCĐ Về bản chất thì việc trích KHTSCĐ là giống nhau ở mọi nơi, chỉ có

sự khác nhau về cách thức, phương pháp tính KHTSCĐ

Sự phù hợp giữa KHTSCĐ Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế thể hiện ở trên các phương diện: Xác định nguyên giá của TSCĐ Số khấu hao phản ánh lợi ích kinh tế của một tài sản và được ghi nhận là một chi phí trừ khi nó được tính vào giá trị ghi sổ của một tài sản tự xây dựng Các nguyên tắc chuẩn mực kế toán quốc tế quy định là:

+ Số khấu hao được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng+ Phương pháp khấu hao phản ánh tiêu dùng dự tính bao gồm 3 phương pháp: Khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần, khấu hao theo

số lượng sản phẩm Từ đó ta thấy rằng đã có sự phù hợp giữa kế toán việt Nam

và kế toán quốc tế

So sánh kế toán KHTSCĐ ở Việt Nam với Mỹ và Pháp

* Giống nhau:về bản chất và mục đích KHTSCĐ đều qui định KHTSCĐ

là quá trình kế toán phân bổ giá trị hao mòn của TSCĐ vào chi phí theo một

cách thức hợp lí và phù hợp để thu hồi lại giá trị hao mòn của TSCĐ Cơ sở KHTSCĐ đều là NGTSCĐ và giá trị thanh lí ước tính của tài sản đó

TSCĐ sử dụng ngày nào thì trích khấu hao sử dụng ngày đó (Việt Nam đã

áp dụng theo Quyết định 206/2003/QĐ-BTC)

* Khác nhau:

Kế toán Mỹ: do đặc điểm của nền kinh tế Mỹ, chế độ kế toán quy định

Trang 14

có 4 phương pháp khấu hao đó là khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo số lượng sản phẩm, khấu hao theo phương pháp luỹ kế giảm, và khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần Mỹ còn quy định có thể áp dụng phương pháp khấu hao theo nhóm và cách tính hỗn hợp do đặc điểm của từng TSCĐ hoặc đặc trưng riêng của từng ngành Các doanh nghiệp ở Mỹ áp dụng phương pháp khấu hao theo nhóm TSCĐ có bản chất giống nhau hoặc khấu hao kết hợp các TSCĐ có bản chất và thời gian sử dụng khác nhau.

Khi xác định được số khấu hao phải trích hàng tháng, kế toán ghi:

Nợ TK “Chi phí KHTSCĐ”

Có TK “Hao mòn luỹ kế”

Kế toán Pháp: phương pháp khấu hao sử dụng có nhiều, tuy nhiên trong các

doanh nghiệp chủ yếu sử dụng hai phương pháp khấu hao theo đường thẳng và khấu hao giảm dần TSCĐ sử dụng ngày nào thì trích khấu hao sử dụng ngày đó khác với khấu hao của Việt Nam trước đây là khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng

Khi trích khấu hao, kế toán ghi:

Nợ TK “Niên khoản khấu hao dự phòng-chi phí kinh doanh”

Có các TK “Khấu hao bất động sản”

Đơn giản hơn kế toán Việt Nam rất nhiều

Lịch sử kế toán - kiểm toán đã có từ rất lâu trên thế giới tuy nhiên ở Việt Nam thì ngành này vẫn còn non trẻ Việt Nam mới chỉ đưa ra được những chuẩn mực chung về kế toán còn chuẩn mực về kiểm toán mới đang dần dần hình thành, tất

cả đã chứng tỏ sự mới mẻ của lĩnh vực này Vì vậy Việt Nam cần phải cố gắng tích luỹ, học hỏi và hoàn thiện dần chế độ tài chính kế toán và đưa hệ thống kế toán Việt Nam từng bước tương thích với những thông lệ kế toán quốc tế, dưới đây là một số giải pháp kiến nghị về KHTSCĐ:

5 Nội dung công tác kế toán Khấu hao Tài sản cố định.

Để theo dõi tình hình hiện có, biến động tăng, giảm khấu hao, kế toán sử dụng tài khoản 214 “ hao mòn TSCĐ” Ngoài ra còn sử dụng tài khoản 009

“nguồn vốn khấu hao cơ bản”

Trang 15

- Kết cấu tài khoản 214 “ Hao mòn TSCĐ “

TK214

D ĐK: Giá trị hao mòn luỹ kếPS: Giá trị hao TSCĐ giảm do thanh

lý, nhượng bán, chuyển đi nơi khác,

góp vốn liên doanh, đánh giá lại

DCK: Giá trị hao mòn hiện có tại DNTài khoản chi tiết:

+ Tài khoản 214 “ hao mòn TSCĐ” có 3 tài khoản cấp 2:

• 2141- Hao mòn TSCĐ hữu hình

• 2142- Hao mòn TSCĐ thuê tài chính

• 2143- Hao mòn TSCĐ vô hình

- Phương pháp hạch toán:

+ Định kỳ, trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh, ghi:

Nợ TK 623 (6234) – Chi phí sử dụng máy thi công

Nợ TK 627 (6274) – Chi tiết theo từng phân xưởng: KH TSCĐ sử dụng ở

bộ phận phân xưởng, bộ phận sản xuất

Nợ TK 641 (6414) – KH TSCĐ sử dụng cho bộ phận bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ

Nợ TK 642 (6424) – KH TSCĐ dung chung cho toàn doanh nghiệp

Có TK 214 (chi tiết tiểu khoản): Tổng số khấu hao phải trích trong kỳ.+ Trường hợp phải nộp vốn khấu hao cho đơn vị cấp trên hoặc điều chuyển cho đơn vị khác

• Trường hợp được hoàn trả lại: Khi nộp vốn khấu hao ghi:

Nợ TK 136 (1368): phải thu nội bộ

Có TK 111,112: số tiền nộp cấp trên

• Trường hợp không được hoàn trả lại ghi:

Trang 16

Nợ TK 411: Số nộp không được hoàn trả

Có TK 111,112: số tiền nộp

+ Trường hợp cho các đơn vị khác vay vốn khấu hao ghi:

Nợ TK 128: Đầu tư ngắn hạn khác

Nợ TK 228: Đầu tư dài hạn khác

Có TK 111,112: số tiền cho vay

+ Khi trích khấu hao tài sản dùng cho hoạt động phúc lợi vào thời điểm cuối năm

+ Trường hợp TSCĐ đánh giá lại theo quyết định của Nhà nước

• Trường hợp đánh giá tăng nguyên giá TSCĐ

Nợ TK 211: TSCĐ hữu hình

Có TK 412: chênh lệch đánh giá lại tài sản (phần giá trị còn lại tăng)

Có TK 214: hao mòn TSCĐ (phần hao mòn TSCĐ tăng thêm) nếu điều chỉnh gía trị hao mòn

• Trường hợp điều chỉnh tăng giá trị hao mòn

Nợ TK 412: chênh lệch đánh giá lại tài sản

Có TK 214: hao mòn TSCĐ

• Trường hợp điều chỉnh giảm giá trị hao mòn

Nợ TK 214: hao mòn TSCĐ

Có TK 412: chênh lêch đánh giá lại tài sản

• Trường hợp đánh giá giảm nguyên giá TSCĐ ghi:

Nợ TK 412: chênh lệch dánh giá lại (phần giá trị giảm)

Có TK 214: hao mòn TSCĐ (phần hao mòn TSCĐ giảm)

Có TK 211: TSCĐ hữu hình

+ Trường hợp khấu hao hết với TSCĐ vô hình ( ghi theo nguyên giá)

Nợ TK 214 (2143): hao mòn TSCĐ - TSCĐ vô hình

Trang 17

Nợ TK 214: giá trị hao mòn luỹ kế

Nợ TK 627, 641, 642: chi phí trong kỳ ( nếu nhỏ)

Nợ TK 142: chi phí chờ kết chuyển (nếu lớn)

Có TK 211: TSCĐ hữu hình

+ Đối với TSCĐ đi thuê

• Thuê tài chính: Đối với đơn vị đi thuê hàng kỳ phải trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ

Nợ TK 627, 641, 642: chi phí trong kỳ

Có TK 214 (2142): số khấu hao phải trích

Khi đến hạn thuê phải trả mà chưa trích đủ khấu hao thì giá trị còn lại của TSCĐ thuê phải trích vào chi phí chờ phân bổ ( nếu giá trị lớn) hoặc phân bổ hết vào chi phí (nếu giá trị nhỏ)

Nợ TK 2142 : giá trị hao mòn luỹ kế

Nợ TK 142: giá trị còn lại

Có TK 212: nguyên giá TSCĐ thuê tài chính

• Thuê hoạt động: Bên đi thuê không phải trích khấu hao Hàng kỳ bên cho thuê trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ để xác định thu nhập

Trang 18

Hàng kỳ việc tính khấu hao TSCĐ và phân bổ khấu hao được thực hiện trên bảng sau:

Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ

(Bảng phân bổ số 3)

chỉ tiêu

Tỷ lệ khấu hao (%) GTSD

Nơi sử dụng TK 627- CPSXC

TK 641 Chi phí Bán hàng

Tk 642 Chi phí quản lý DN

TK 241 XDCB

dở dang

xưởng (SP)

Phân xưởng (SP)

Phân xưởng (SP)

NG TSCĐ

Số KH

Ngày đăng: 17/04/2015, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w