Cơ cấu giống khuyến cáo do Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam ban hành. Cơ cấu giống cũ dựa trên cơ cấu giống trước và cập nhật trên mạng lưới khảo nghiệm giống do Viện nghiên cứu chủ trì kết hợp với các Công ty trong nghành thực hiện.
Trang 1Lưu ý:
- Đây là tham luận của Viện NCCS Việt Nam tại Hội nghị nông nghiệp lần 3 của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày 12/7/2012, không phải là văn bản chỉ đạo chính thức của Tập đoàn
- Vui lòng ghi rõ nguồn: www.rubbergroup.vn khi trích dẫn lại thông tin từ website
CẬP NHẬT KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM GIỐNG TRÊN CÁC VÙNG
TRỒNG CAO SU TẠI VIỆT NAM
Bộ môn Giống - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam
1 GIỚI THIỆU
Cơ cấu giống cao su khuyến cáo 2011-2015 do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) ban hành Cơ cấu giống mới dựa trên cơ sở của cơ cấu giống trước và cập nhật số liệu trên mạng lưới khảo nghiệm giống do Viện chủ trì và kết hợp với các công ty trong ngành thực hiện cũng như thông tin phản hồi từ sản xuất Ngoài việc hiệu chỉnh, bổ sung giống vào các Bảng; cơ cấu cũng đưa ra khuyến cáo giống cho các vùng trồng cao su mới
Một số đặc điểm của giai đoạn mới:
- Mở rộng địa bàn trồng cao su, nhiều vùng có điều kiện tới hạn như đất dốc, địa hình phân tán, rừng khộp nghèo, khí hậu thất thường (rét hại, gió mạnh, khô hạn )
- Thay đổi về đất trồng ngay cả ở vùng truyền thống: Tái canh nhiều chu kỳ làm thay đổi kết cấu, dinh dưỡng và nguồn bệnh cao su
- Bệnh hại xảy ra trên diện rộng đặc biệt là bệnh Corynespora và bệnh Botryodiplodia
- Mục tiêu cao hơn, khả năng thâm canh cao: Rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB), năng suất cao hơn giai đọan trước (trên 2 tấn/ha ở vùng truyền thống)
Để góp phần triển khai áp dụng cơ cấu giống cao su hiện hành, báo cáo này cập nhật một số kết quả khảo nghiệm giống trên các vùng trồng cao su trong nước Nguồn tư liệu từ các đề tài nghiên cứu chính cấp Bộ NN&PTNT và cấp Tập Đoàn như sau: (1) Nghiên cứu chọn giống cao su thích hợp miền núi phía Bắc
2011-2015, Đề tài cấp Bộ; (2) Nghiên cứu chọn giống cao su thích hợp cho Tây Nguyên
và Miền Trung 2009-2013, đề tài cấp Tập Đoàn và (3) Nghiên cứu chọn giống cao
su thích hợp miền núi phía Bắc 2008-2010, đề tài cấp Tập Đoàn Bên cạnh đó, Viện đã hợp tác với các công ty Đông Nam bộ thực hiện các đề tài triển khai cơ cấu giống: Lộc Ninh, Phú Riềng, Đồng Phú, Đồng Nai, Dầu Tiếng, Phước Hòa và Tây Ninh
Trang 22 THÀNH TÍCH CÁC GIỐNG TRIỂN VỌNG TRÊN CÁC VÙNG TRỒNG CAO SU
2.1 Đông Nam Bộ
Hai giống Bảng I có từ cơ cấu 2006-2010: RRIV 1 và PB 255 trồng đại trà cho sản lượng cao, kháng bệnh Corynespora, tuy nhiên đã thể hiện nhược điểm là hệ số nhân giống thấp, khó ghép sống- đặc biệt là PB 255 là hạn chế đáng kể cho việc
mở rộng diện tích hai giống này RRIV 5 và RRIV 124 được đưa lên từ Bảng II (cơ cấu giống 2006-2010) đã cho thấy có những ưu điểm nhất định
RRIV 5
Năng suất cao, sớm tương đương RRIV 1 Trung bình 5 năm đầu chưa kích thích đạt 2 tấn/ha/năm trên chung tuyển ở Đông Nam Bộ (Bảng 1) Đáp ứng với kích thích mủ khá
Trên vườn sản xuất tại Lai Khê (Mono block), RRIV 5 cho năng suất tương tự như trong thí nghiệm với bình quân 6 năm đạt 1,9 tấn/ha; tương đương với năng suất RRIV 1 ở lô kế cận (Bảng 1)
Bảng 1: Năng suất của RRIV 5 trên các vườn khảo nghiệm tại Đông Nam Bộ
Lai Khê, CT 90* 1.330 1.748 2.037 2.384 2.026 2.494 2.175 - 2.028 (125)
Lai Khê, XT 95 1.095 1.720 - - 1.722 2.142 - 2.310 1.798 (110)
Mono LK 97 1.001 1.717 2.206 2.123 2.178 2.294 - - 1.920
(*) Chế độ cạo S/2 d3, không kích thích.(số trong ngoặc)= % so PB 235
Với chế độ cạo có kích thích, sau 4 năm khai thác, RRIV 5 có sản lượng và đáp ứng kích thích tương đương PB 235 (Bảng 2)
Bảng 2: Sản lượng RRIV 5 có kích thích năm thứ 4 trên vườn chung tuyển tại Lai Khê - CTLK90
RRIV 5
PB 235
Ghi chú: Số lần cạo trong 7 tháng năm 2005: 57 lần, số cây cạo/ha: 450
Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần kích thích đến sản lượng của RRIV 5 và đối chứng PB 235 ở năm cạo thứ ba có áp dụng kích thích liên tục trong 3 năm trên vườn XTLK 95 cho thấy:
Trang 3- Sau 3 năm áp dụng, RRIV 5 vẫn duy trì khả năng đáp ứng với kích thích và thích hợp nhất với nghiệm thức xử lý kích thích nhẹ 2 lần/năm, sản lượng (g/c/c) đạt 128,7% so với đối chứng không kích thích Tuy nhiên, kích thích nhiều lần hơn có xu hướng làm giảm đáp ứng
- Trung bình sản lượng trong thời gian theo dõi của RRIV 5 vượt hẳn so PB 235 (160%)
Sinh trưởng: Vùng thuận lợi có sinh trưởng rất khoẻ, vanh mở cạo tương đương
hoặc vượt PB 235 đến 9%; tăng trưởng tốt trong thời gian khai thác, tương đương
PB 235 (Bảng 3) Trên các vườn sản xuất thử, RRIV 5 có sinh trưởng ở giai đoạn KTCB khỏe nhất trong các giống Bảng I và II ở Đông Nam Bộ hiện nay, có thể mở cạo sau 5 năm KTCB với đất Hạng I Tại Phú Riềng trên vườn sản xuất thử trồng
2009, vanh RRIV 5 vượt 8% so RRIV 124 (32,2 cm so 29,7 cm đo tháng 5/2012) Bảng 3: Vanh thân lúc mở cạo và tăng vanh cạo của RRIV 5 – Đông Nam Bộ
mở cạo
%
PB 235
TVC/
3 năm đầu
%
PB 235
TVC/
3 năm
%
PB 235
Ghi chú: LK = Lai Khê; ĐP = Đồng Phú
RRIV 124 (LH 90/952)
Sản lượng trung bình 10 năm cạo đạt 91,2 g/c/c, ước lượng năng suất trên 3,6 tấn/ha/năm (sơ tuyển tại Lai Khê) (Bảng 4) Sản lượng năm đầu thấp hơn PB 235 nhưng tăng rất cao từ năm thứ 3 trở đi, ít giảm sản lượng ở miệng cạo thấp và vượt trên 100 g/c/c ở mặt cạo BO2 (Bảng 4) Ở năm cạo thứ 11, cạo 2 miệng cùng lúc, vẫn duy trì sản lượng cao, đạt trên 84 g/c/c ở miệng úp và trên 92 g/c/c ở miệng cạo ngữa (trên mặt cạo BO2); sản lượng có thể đạt đến 6,4 tấn/ha/năm (Bảng 5) Bảng 4: Sản lượng của RRIV 124 trên vườn sơ tuyển tại Lai Khê, STLK 94
DVT Sản lượng cá thể qua các năm, gam/cây/lần cạo (g/c/c) Trung
bình
RRIV124
g/c/c 30,66 46,20 73,32 99,52 109,31 102,99 102,32 114,39 120,10 113,33 91,21
(142) Kg/ha/năm 1.242 1.871 2.969 4.030 4.427 4.171 4.144 4.633 4.864 4.590 3.694
Chế độ cạo S/2 d3, kích thích từ năm thứ 3 (Số trong ngoặc)= % so PB 235
Bảng 5: Sản lượng của RRIV 124 trên vườn sơ tuyển tại Lai Khê, STLK 94, ở năm cạo thứ 11
DVT
Số cây hữu hiệu/ha
Miệng
úp (g/c/c)
Miệng ngữa (g/c/c)
Cộng (g/c/c)
Kg/ha/nă
Chế độ cạo: miệng úp S/4 d3 năm đầu; miệng ngữa S/2 d3 trên vỏ tái sinh
Trang 4Sinh trưởng khỏe trong thời gian KTCB (Bảng 7); trên Sơ tuyển tại Lai Khê, vanh
mở miệng cạo tương đương PB 235 (Bảng 6) Tăng vanh trong khi cạo rất tốt, thân thẳng, cao – trữ lượng gỗ rất cao
Bảng 6: Sinh trưởng và tăng vanh cạo của RRIV 124 trên vườn sơ tuyển tại Lai Khê STLK 94
4/2001
Vanh sau 9 năm cạo 04/2010
Tăng vanh cạo
Bảng 7: Vanh thân RRIV 124 trên các chung tuyển Lai Khê (4/2012), Lộc Ninh, Đồng Nai và Phú Riềng (đo tháng 11/2011)
Vanh, cm/1m (%
ĐC)
36,7 (97,2)* 14,9 (105) 13,9 (117) 10,9
(110) 9,2 (115)
Ghi chú: CT 1-Cẩm Đường (đất đỏ, hạng I); CT 2-An Viễng (Đất xám, hạng II)
*Số trong ngoặc = Lai Khê ( % so RRIV 4) Lộc Ninh, Phú Riềng, Đồng Nai (% so PB 260)
RRIV 114
Hầu hết các giống thuộc Bảng II vùng Đông Nam Bộ đã có số liệu năng suất trên vườn khảo nghiệm qui mô lớn, riêng RRIV 114 chỉ mới đưa vào khai thác trên các vườn sản xuất thử, cụ thể tại Tây Ninh (2010), Lai Khê (2011) và Lộc Ninh (2012) Về sinh trưởng giai đoạn KTCB, RRIV 114 có sinh trưởng rất khỏe và đồng đều nên tỉ lệ đưa vào mở cạo rất cao (6 năm KTCB ở Lộc Ninh và Bến Củi; 7 năm ở Lai Khê) (Bảng 8)
Trên vườn sản xuất thử Tây Ninh (XTTN 05), RRIV 114 sinh trưởng khỏe- mở cạo ở năm thứ 6 sau trồng (trồng tum trần 7/2005, mở cạo 7/2010) và tăng vanh cạo tốt Trên vườn sản xuất thử Lai Khê (XTLK 04), vanh mở cạo tương đương RRIV 4, tăng vanh cạo vượt 30% so với đối chứng RRIV 4 Tương tự, trên hai vườn sản xuất thử và trình diễn tại Lộc Ninh, RRIV 114 cũng biểu hiện sinh trưởng khỏe, đã mở cạo sau 6 năm KTCB, đạt tiêu chuẩn theo qui trình (Bảng 8) Bảng 8: Vanh thân mở cạo và tăng vanh cạo của RRIV 114 trên vườn sản xuất thử
và trình diễn tại Lai Khê, Tây Ninh và Lộc Ninh (cm/1m)
Vanh mở cạo,
04/2011
T vanh cạo Vanh mở cạo,
07/2010
T vanh cạo/
năm
Vanh mở cạo, 04/2012
Vanh mở cạo, 04/2012 50,9
(99,9% RRIV 4)
3,5 (130,4% RRIV 4)
(99,6% RRIV4)
52,6 (111,5% PB260 )
Ghi chú: XT = Sản xuất thử; SX = Trình diễn; LK = Lai Khê; TN = Tây Ninh; LN = Lộc Ninh
Trang 5Sản lượng rất cao ở năm cạo đầu tiên trên vườn sản xuất thử tại Lai Khê (XTLK 04), đạt 65 g/c/c tương ứng với năng suất đạt 2,1 tấn/ha/năm (Bảng 9) Trên vườn sản xuất thử Tây Ninh (XTTN 05), RRIV 114 đạt sản lượng khá ngay ở năm thứ 5 sau trồng (năng suất đạt 1,6 tấn/ha/năm 1 và 1,8T/ha năm 2) (Bảng 9)
Bảng 9: Sản lượng RRIV 114 trên vườn sản xuất thử tại Lai Khê (mở cạo 04/2011)
và Tây Ninh (mở cạo 09/2010)
65,1
(146,3)**
*Sản lượng từ 09/2010 - 01/2011; chế độ cạo S/2 d3, không kích thích
**Số trong ngoặc ( % so RRIV 4)- Số lần cạo 70 lần cạo/năm
Một số giống triển vọng thuộc Bảng III
Qua 3 năm khai thác, một số giống triển vọng thuộc Bảng III như RRIV 205, RRIV 208 và RRIV 209 cho sản lượng dẫn đầu trên các thí nghiệm sơ tuyển ở Lai
Khê, An Lộc, Suối Kiết Năng suất các năm đầu ước tính đạt từ 1,5T-2T/ha/năm – vượt hẳn RRIV 4 trên cùng vườn (Bảng 10)
vanh cạo
STLK 03, Lai Khê
STAL 03, An Lộc
STSK 03, Suối Kiết
XTLK 03, Lai Khê
XTSK 03, Suối Kiết
Ghi chú: ST = Sơ tuyển; XT = Sản xuất thử; Chế độ cạo S/2 d3, không kích thích
Trên vườn sản xuất thử ở điều kiện bất thuận tại Suối Kiết (mùa khô kéo dài, đất cát), RRIV 205 có sản lượng vượt trội ở năm cạo đầu tiên, đạt trên 72 g/c/c, vượt
Trang 644,1% so đối chứng RRIV 4; vanh mở cạo và tăng vanh cạo tương đương RRIV 4 (Bảng 10) Tương tự, trên vườn sản xuất thử tại Lai Khê, RRIV 205 và RRIV 209 cũng thể hiện khả năng vượt trội về sản lượng với g/c/c trung bình 2 năm cạo đầu xấp xỉ 63 g/c/c/ (vượt 53,1% so RRIV 4) và 44 g/c/c (vượt 6,7% so RRIV 4) (Bảng 10)
Bảng 10: Sản lượng và sinh trưởng của một số dòng vô tính triển vọng trên các vườn sơ tuyển và sản xuất thử
2.2 Tây Nguyên
Ở điều kiện Tây Nguyên, trong số các giống ở Bảng I, PB 312 đạt thành tích tốt cả
năng suất lẫn sinh trưởng Trên vườn chung tuyển tại Trạm ChưPrông (cao trình
680 m), trung bình sản lượng trong 4 năm cạo vượt hơn hẳn các giống phổ biến, sản lượng các thể đạt 37 g/c/c, vượt hơn gấp đôi GT 1 (Bảng 11) Bên cạnh đó, PB
312 cũng cho thấy khả năng sinh trưởng và tăng trưởng rất tốt so với các giống khác trong thí nghiệm với vanh mở cạo vượt 23,5% và tăng vanh cạo vượt 20,6%
so đối chứng GT 1
Tương tự, trên vườn sản xuất thử tại Gia Lai ở năm cạo đầu tiên, PB 312 cũng thể hiện khả năng vượt trội về sản lượng với sản lượng các thể đạt trên 31 g/c/c, vượt 20,2% so với RRIC 100 (Bảng 11) Về khả năng sinh trưởng và tăng trưởng trong khi cạo, PB 312 cũng vượt trội với vanh mở cạo đạt xấp xỉ 50 cm và tăng vanh cạo 5,9 cm/năm – vượt hẳn RRIC 100 ở năm đầu tiên
Bảng 11: Sản lượng và sinh trưởng của giống PB 312 trên vườn chung tuyển và sản xuất thử tại Tây Nguyên
Năm
CTCP 00, ChưPrông
XTGL 04, Gia Lai (*)
(*) Sản lượng 04 tháng (10/2011 – 1/2012); vanh thân đo tại vị trí 1,5 m
Bên cạnh các giống Bảng I khuyến cáo cho vùng, một số giống Bảng II và Bảng III cho thấy rất có triển vọng trong điều kiện vùng Tây Nguyên (Bảng 12) Các giống mới RRIV 106, RRIV 107, RRIV 205, RRIV 209 và RRIV 210 đều cho sản lượng
và sinh trưởng vượt giống đối chứng PB 260 Đặc biệt, RRIV 205 cho sản lượng cao qua 5 năm cạo trên vườn Sơ tuyển tại ChưPrông (vượt 35,9% so với PB 260) Sản lượng năm đầu cao nhất trên vườn chung tuyển tại Kon Tum (vượt 18% so PB 260)
Về sinh trưởng và tăng trưởng trong khi cạo, hầu hết các giống triển vọng trên đều
có vanh mở cạo và tăng vanh cạo vượt hoặc tương đương PB 260 (Bảng 12)
Trang 7Bảng 12: Sản lượng và sinh trưởng của một số giống triển vọng thuộc bảng II & III trên các vườn chung tuyển và sản xuất thử tại khu vực Tây Nguyên
vanh
CTCP 99, ChưPrông
RRIV 205 42,1 32,6 37,8 34,9 43,7 38,2 135,9 49,9 108,2 3,8 RRIV 210 43,1 25,3 44,4 33,0 44,7 38,1 135,6 56,3 122,1 1,9
PB 260 29,2 23,5 31,2 25,5 31,0 28,1 100,0 46,1 100,0 1,2 RRIM 600 - 30,4 25,2 23,1 22,1 25,2 89,7 43,8 95,0 3,5
CTKT 04, Kon Tum (*)
(*) Sản lượng 04 tháng (09 - 12/2011)
2.3 Duyên hải Trung Bộ
Vùng Duyên hải Trung Bộ hàng năm chịu tác hại do gió bão, vì vậy trồng giống chịu gió là giải pháp quyết định trong sản xuất Các giống khuyến cáo Bảng I cho vùng đều đã khẳng định khả năng kháng gió RRIC 100 và RRIM 712 đã chứng tỏ khả năng kháng gió tốt tại Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Tại Quảng Trị, RRIC 121 sinh trưởng khỏe, mở cạo sau 8 năm KTCB- sớm hơn 1 năm so với GT1
và RRIM 600 trong cùng điều kiện đồng thời thể hiện khả năng chịu rét (vườn trình diễn trồng 2004 tại NT Quyết Thắng- mở cạo 2012), trong khi RRIV 4 thiệt hại nặng do rét trên vườn trồng kế cận
Bên cạnh các giống khuyến cáo Bảng I cho vùng, đã nhận diện được một số dòng
vô tính triển vọng ở vùng Duyên hải Trung bộ Ở giai đoạn KTCB, các dòng vô tính này có sinh trưởng rất khỏe và chống chịu gió tốt Trong số các giống triển
vọng trên, RRIV 205 đặc biệt vượt trội cả về sản lượng và sinh trưởng trên cả hai
thí nghiệm chung tuyển tại Quảng Trị và sản xuất thử tại Phú Yên (Bảng 13) Ở năm cạo đầu tiên, RRIV 205 có sản lượng gấp đôi PB 260 tại Quảng Trị cũng như tại Phú Yên; vanh mở cạo cũng tương ứng vượt 10,2% và 8,8% so với đối chứng trên hai thí nghiệm nầy Ngoài RRIV 205, một số dòng vô tính triển vọng khác như
RRIV 106, RRIV 107, RRIV 108 và RRIV 209 cũng thể hiện sự thích nghi và
vượt trội về sản lượng và sinh trưởng trên các thí nghiệm (Bảng 13)
Bảng 13: Sản lượng và sinh trưởng của một số giống triển vọng thuộc Bảng II & III trên các vườn chung tuyển và sản xuất thử tại khu vực Duyên hải Trung Bộ
Trang 8Chi tiết Sản lượng cá thể (g/c/c)* Vanh mở cạo (1,5 m) Tăng vanh cạo
CTQT 04, Quảng Trị
XTPY 04, Phú Yên
(*) Sản lượng 04 tháng (09 - 12/2011)
2.4 Bắc Trung Bộ (Nghệ An – Thanh Hóa)
Vùng Bắc Trung Bộ với yếu tố hạn chế hàng đầu là nhiệt độ thấp vào mùa rét có thể gây hại nặng cho cao su, gió mạnh cũng xãy ra nhưng ở tầng suất thấp
Kết quả đánh giá các giống trên các vườn sản xuất thử trồng năm 1997 tại Phủ Quỳ
(Nghệ An) cho thấy RRIM 712 (giống Bảng I của vùng) cho sản lượng cá thể cao
nhất qua 8 năm cạo trên cả hai thí nghiệm, IRCA 230 và RRIV 3 cho sản lượng các năm đầu thấp nhưng tăng cao về sau (Bảng 14) Qua đợt rét đậm tháng 2/2008, các giống này đã chứng tỏ khả năng chịu rét trong khi PB 260 và RRIV 2 bị thiệt hại hoàn toàn
Bảng 14: Sản lượng và sinh trưởng của một số giống trên các vườn sản xuất thử tại Phủ Quỳ
Chi tiết Sản lượng cá thể gam/cây/lần cạo (g/c/c) Vanh mở cạo TVC
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 5 Năm 6 Năm 7 Năm 8 TB %ĐC cm %ĐC cm
XTPQ 1/97 (Hàng đơn)
RRIM 712 30,65 33,35 23,38 45,56 30,6 32,93 34,6 33,0 100,0 43,1 100,0 2,8 IRCA 230 21,2 28,68 25,08 38,77 35,4 32,15 37,6 31,3 94,7 43,3 100,5 1,5 RRIV 3 17,5 18,25 17,81 28,12 35,2 34,13 31,0 26,0 78,8 48,9 113,6 3,4
XTPQ 1/97 (Hàng kép)
RRIM 712 33,42 28,86 24,52 37,05 30,7 35,19 32,1 31,7 100,0 42,1 100,0 3,4 IRCA 230 29,31 19,2 20,42 30,95 35,4 31,96 31,8 28,4 89,8 40,1 95,3 3,4 RRIV 3 15,63 16,74 18,2 24,02 34,9 33,83 23,6 23,8 75,2 46,5 110,5 2,7
Ghi chú: - Năm cạo thứ 4 (2007) không theo dõi sản lượng
- Từ năm cạo thứ 5 (2008), PB 260 và RRIV 2 chết không theo dõi do đợt rét tháng 2/2008
Kết quả trên vườn Sơ tuyển trồng năm 2004 tại Phủ Quỳ (Nghệ An) cho thấy nhiều giống mới triển vọng thích hợp trong vùng Mặc dù trải qua 2 đợt rét kỷ lục (đầu năm 2008 và 2011) làm nhiều nhiều giống trên vườn chết hẳn hoặc hư hại nặng nhưng một số dòng vô tính thuộc thể hiện khả năng chống chịu rét tốt, sinh trưởng
Trang 9khỏe và đã đưa vào khai thác sau 7 năm kiến thiết cơ bản trong khi giống đối chứng GT 1 thuộc nhóm sinh trưởng kém nhất (Bảng 15)
Bảng 15: Sản lượng và sinh trưởng của các giống xuất sắc trên vườn STPQ 04 tại Nghệ An
Chi tiết Sản lượng cá thể (g/c/c) Vanh mở cạo (1,5 m) Tăng vanh cạo
Ghi chú: - Sản lượng năm 1 (2011) trung bình 04 tháng (07-10/2011)
- Tăng vanh cạo trong 06 tháng (05-11/2011) GT 1 chưa mở cạo
Nhóm giống cho sản lượng cao gồm RRIV 213, RRIV 204, RRIV 209 và RRIV
208 trong đó RRIV 213 là xuất sắc nhất với trung bình trong 4 tháng đầu đạt xấp xỉ
43 g/c/c (Bảng 15) Có thể bước đầu nhận định rằng một số dòng thuộc dãy RRIV
200 thể hiện tính chịu rét và duy trì thành tích sản lượng như ở Đông Nam Bộ Kết hợp với các đặc điểm sinh trưởng khỏe và chống chịu rét tốt, đây là những giống mới có khả năng thích hợp ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng như miền núi phía Bắc Tại Như Xuân, Thanh Hóa - trên vườn sản xuất thử (On farm trial- cao su tư nhân) trồng 2009-2010, trong số 4 giống bố trí (RRIV 124, RRIM 712, RRIC 121, PB 260); trải qua các vụ rét 2010-2011, RRIV 124 thể hiện khả năng chịu rét và sinh trưởng khỏe, RRIM 712 chịu rét và sinh trưởng khá trong khi PB 260 bị rét hại nghiêm trọng
2.5 Các tỉnh miền núi phía Bắc
Thành tích giống trên các thí nghiệm chung tuyển
Trên hai thí nghiệm chung tuyển tại Ma Quai (Lai Châu) và Tông Lệnh (Sơn La),
ở năm tuổi thứ 5, nhiều giống đã chứng tỏ khả năng sinh trưởng và tăng trưởng khỏe hơn RRIC 121 là giống khuyến cáo Bảng I và vượt hẳn RRIM 600, PB 312 (Bảng II); nhóm dẫn đầu gồm IAN 873, RRIV 124 và RRIV 107 (Bảng 16) Có sự phân nhóm rõ về mức tăng trưởng sau rét (4/2011-5/2012), mức tăng vanh này phản ánh khả năng thích hợp của giống qua khả năng phục hồi sau đợt rét hại Các giống IAN 873 và RRIV 124 tăng vanh cao nhất, RRIV 107 cũng có tăng vanh cao trong khi những giống còn lại tăng vanh kém hơn RRIC 121, đặc biệt RRIM 600 tăng vanh rất kém trên cả hai thí nghiệm thể hiện khả năng ít thích hợp của giống này (Bảng 17)
Trang 10Bảng 16: Sinh trưởng một số giống triển vọng các thí nghiệm chung tuyển tại MNPB
CTLC 08, Ma Quai, Lai
CTSL 08, Tông Lệnh, Sơn
CTLC 09, Nậm Tăm, Lai
CTSL 09, Mường Bú, Sơn
CT LC 10, Phong Thổ, Lai