Phạm vi nghiên cứu: Các dạng đề, các đề bài nghị luận xã hội được học trongchương trình THPT đặc biệt tập trung vào 2 dạng đề cơ bản: nghị luận về một tưtưởng đạo lí và nghị luận về một
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG
- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Phạm Thanh Hà Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Hà Trung SKKN thuộc môn: Ngữ văn
Trang 2THANH HÓA NĂM 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
I Lý do chọn đề tài 2
II Mục đích nghiên cứu 2
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
IV Phương pháp nghiên cứu 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
I Cơ sở lí luận của đề tài 3
II Cơ sở thực tiễn của đề tài 3
III Thực trạng việc dạy và học phần NLXH trong bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Hà Trung 4
PHẦN II: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NLXH CHO HỌC SINH THPT 5
I Nhận dạng đề 5
II Tìm hiểu đề 7
III Lập ý 8
IV Lập dàn ý 14
V Huy động dẫn chứng 15
VI Kĩ năng diễn đạt 16
PHẦN III: THỰC NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 17
I Tiến hành thực nghiệm 17
II Kết quả thực nghiệm 17
III Một số giải pháp 18
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20
I Kết luận 20
II Kiến nghị 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một thời gian dài trước đây, môn làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vàonghị luận văn học, coi trọng nghị luận văn học, khiến học sinh chỉ quẩn quanh vớikiến thức sách vở, sự liên hệ với thực tế đời sống ít ỏi Việc dạy và học văn phầnnào đó trở nên phiến diện, máy móc, giáo điều Vài năm trở lại đây chương trình dạyhọc và thi môn văn có nhiều đổi mới Mảng văn nghị luận xã hội được đưa vàochương trình các cấp học từ THCS đến THPT Đề văn nghị luận xã hội là một trongnhững tiêu chí đánh giá quan trọng trong các bài kiểm tra thường xuyên, định kì, thitốt nghiệp THPT và đặc biệt là kì thi tuyển sinh cao đẳng, đại học Sự thay đổi này
đã đem lại không ít cơ hội cho việc rèn luyện năng lực tư duy và phát triển toàn diệncho học sinh Tuy nhiên nó cũng đặt ra cho các em không ít thách thức Thời gianrèn luyện về nghị luận xã hội ở trên lớp không nhiều, nhiều em kiến thức xã hội cònrất hời hợt, kĩ năng làm bài không thuần thục tất cả những điều đó tạo nên khókhăn khá lớn cho học sinh trong các kì thi Nhằm giúp các em có thêm kĩ năng làmtốt bài văn nghị luận xã hội đó là lí do để tôi chọn đề tài này
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản đểlàm tốt một bài văn nghị luận xã hội trong các kì thi
Thứ hai: Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận xã hội giúphọc sinh nâng cao khả năng trình bày quan điểm của mình; cung cấp cho các em vốntri thức phong phú về các vấn đề xã hội để các em nâng cao nhận thức và kĩ năngsống, sống tốt hơn, đẹp hơn, từng bước hoàn thiện nhân cách của mình
Thứ ba: Đề tài này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên Ngữvăn khi dạy phần nghị luận xã hội
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nghị luận xã hội có mặt trong chương trình Ngữ văn từbậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông, tuy nhiên trong phạm vi đề tài nàychúng tôi chỉ tìm hiểu phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh trunghọc phổ thông đặc biệt là học sinh lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT và tuyểnsinh vào Đại học, Cao đẳng
Phạm vi nghiên cứu: Các dạng đề, các đề bài nghị luận xã hội được học trongchương trình THPT đặc biệt tập trung vào 2 dạng đề cơ bản: nghị luận về một tưtưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Để đạt được mục đích và thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp thống kê phân loại
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện naythì giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng Mục tiêu giáo dục của tất cả các quốcgia là đào tạo con người phát triển toàn diện Tổ chức khoa học giáo dục thế giớiUNESCO cũng đã đề xướng mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học đểchung sống và học để khẳng định mình” Việc đưa mảng nghị luận xã hội vàochương trình Ngữ văn bậc trung học hoàn toàn phù hợp với xu hướng giáo dục trên.Nghị luận xã hội là phưong pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chínhtrị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu của vấn
đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng nhưvận dụng nó vào đời sống và bản thân Những đề tài và nội dung này thường lànhững vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời sựcao Đối với học sinh THPT, các bài văn nghị luận xã hội thường mang đến cho các
em những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộc sống; có ý nghĩa hướng đạo, đặcbiệt là uốn nắn nhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống
xã hội đang tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ
II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
- Về chương trình: Từ năm học 2008 - 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chínhthức đưa vào đề thi môn văn kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trườngCao đẳng, Đại học một câu nghị luận xã hội, chiếm tỉ lệ 30% trong tổng số đề ra.Những vấn đề nghị luận xã hội được đưa ra cho học sinh bàn bạc từ đó đến nay đềurất phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của đời sống Vừa códạng đề về tư tưởng đạo lí lại vừa có dạng đề về các hiện tượng đời sống Thế nhưngthời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng làm bài nghịluận xã hội trong phân phối chương trình THPT theo qui định của Bộ Giáo dục làquá ít ỏi ở lớp 12 cả Ban cơ bản và Ban Khoa học Xã hội nhân văn đều chỉ có 2 tiết
lí thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội: một cho dạng bài nghị luận về một tưtưởng đạo lí, một cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống Cả năm học
12 các em chỉ có hai bài viết rèn luyện nghị luận xã hội, còn lại thì tập trung vàonghị luận văn học Thực tế đó khiến học sinh không có điều kiện để rèn luyện nghịluận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kết quả đạt được không cao
- Về học sinh: Học sinh THPT đều ở độ tuổi mới lớn, chưa có điều kiện tiếp xúcnhiều với thực tế đời sống đa sắc, đa chiều, vốn kiến thức xã hội còn ít ỏi Nhiều emcách nhìn nhận vấn đề còn ấu trĩ, thậm chí lệch lạc do đó để hiểu đúng, hiểu sâu bảnchất và bàn luận thấu đáo một vấn đề xã hội là điều không đơn giản đối với các em
Trang 5III THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG
BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG
Hòa với thực tế chung của các trường THPT trong cả nước, trường THPT HàTrung cũng có những thuận lợi và khó khăn nhất định
- Về phía giáo viên: Các giáo viên bộ môn Ngữ văn đã chú ý đến mảng nghị luận xãhội đặc biệt là ở chương trình lớp 12 Nhưng do thời lượng chương trình hạn chế nênkhông có nhiều điều kiện bổ sung kiến thức cũng như rèn luyện kĩ năng viết bài nghịluận xã hội cho học sinh Với thời gian 2 tiết lí thuyết chỉ đủ để giáo viên giới thiệukhái niệm, kiểu bài, dạng đề và cách làm bài một cách đơn giản nhất Qua một số bàikiểm tra định kì, mỗi bài một câu nghị luận xã hội chiếm khoảng 30% bài viết chỉ đủ
để các em tiếp cận và làm quen với cách làm bài chứ chưa thể đạt đến độ thuần thục,nhuần nhuyễn được
- Về phía học sinh: Số học sinh hiểu thấu đáo vấn đề, có kĩ năng làm bài nghị luận
xã hội tốt không nhiều Đa phần các em thường ngợp trước các vấn đề xã hội, hiểu
lơ mơ, viết hời hợt Không có những trăn trở sâu sắc không có cái nhìn toàn diện, đachiều Đôi khi viết theo tính chất cảm hứng, không nắm vững qui trình làm bài Gặpphải đề lắt léo hay vấn đề nghị luận ẩn sau câu chữ, hình ảnh là không làm được
- Về phía Nhà trường: Nhà trường cũng đã có kế hoạch phụ đạo phù hợp nhưngchưa thể giảm hết khó khăn cho cả thầy và trò
Trang 6PHẦN II: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
XÃ HỘI CHO HỌC SINH THPT
I NHẬN DẠNG ĐỀ:
Nghị luận xã hội là những bài văn mà người viết dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ
để bàn luận về một vấn đề chính trị, xã hội, đời sống Đề tài của dạng bài này hếtsức rộng mở, bao gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, lối sống, những hiệntượng tích cực, tiêu cực trong đời sống, vấn đề thiên nhiên, môi trường, vấn đề hộinhập, vấn đề giáo dục nhân cách Nghĩa là ngoài những tác phẩm văn học ( lấy tácphẩm văn học trong nhà trường làm đối tượng) thì tất cả các vấn đề khác được đưa
ra bàn luận đều được xếp vào dạng nghị luận xã hội Có thể qui về hai dạng đề cơbản: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học xét cho cùng thì cũngphải qui về một trong hai dạng đề trên Trên thực tế các đề nghị luận xã hội rấtphong phú và đa dạng, sự phân chia dạng đề chỉ là tương đối Nhiều khi giới hạngiữa hai dạng đề rất nhỏ nên học sinh khó xác định rạch ròi Việc nhận dạng đềtrước khi tìm hiểu đề rất quan trọng, giúp học sinh định hướng đúng cho bài làm,tránh sai lạc trong trong quá trình làm bài
1 Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởngđạo đức, lối sống, quan niệm của con người Vấn đề tư tưởng đạo lí thường đượcnêu lên trong các ý kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân, hay nhà thơ, nhà văn, hoặcđược nêu ra ở tục ngữ, ca dao…
Ví dụ:
- Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về
ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa” (Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB trẻ, 2008, tr90): Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2009
- “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” (Lép Tônxtôi) Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình
- “Đời người cũng như một bài thơ, giá trị của nó không tùy thuộc vào số câu mà tùy thuộc vào nội dung” (Seneca) Suy nghĩ của em về ý kiến trên.
- “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: Thời gian, lời nói và cơ hội” Lời nhắn nhủ này nhắc anh (chị) điều gì?
- Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Chúa Jesus: “Thiên đường ở chính trong ta Địa ngục cũng do ta mà có”
Trang 7- Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của Tuân Tử: “Người khen ta mà khen phải là bạn của ta, người chê ta mà chê phải là thầy của ta, những kẻ tâng bốc, xu nịnh là thù của ta”.
Học sinh có thể nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhận thấy đềbài yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, hay một câu danh ngôn.Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt trong dấu ngoặckép
2 Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Xung quanh chúng ta hằng ngày có biết bao hiện tượng xảy ra Có hiện tượng tốt,
có hiện tượng xấu Tất cả những điều xảy ra trong cuộc sống ấy đều là hiện tượngđời sống Nghị luận về một hiện tượng đời sống là cách sử dụng tổng hợp các thaotác lập luận để bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống xã hội,đáng khen, đáng chê, hay đáng suy nghĩ; có tính bức xúc, cập nhật nóng hổi diễn ratrong đời sống hàng ngày, được xã hội quan tâm như: an toàn giao thông, gian lậntrong thi cử, bạo lực học đường, bệnh vô cảm, bệnh thành tích, bệnh đạo đức giả,hiện tượng mê muội thần tượng từ đó làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểusâu, để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện tượng đó Các đề thường gặp là:
- Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.
- Em có suy nghĩ gì về vấn đề bạo lực học đường đang diễn ra khá nhiều trong trường học hiện nay?
- Hãy viết một bài văn với tiêu đề: “ Nước - nguồn tài nguyên quý vô giá”.
- Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề: ô nhiễm môi trường
- Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến: “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”
- Anh (chị) có suy nghĩ gì về căn bệnh vô cảm trong xã hội ta hiện nay?
- “Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng” Suy nghĩ của em về ý kiến trên.
- Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ của mình về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từ thông tin sau: “Chiều ngày 30 - 4 – 2013, bên bờ sông Lam , đoạn chảy qua xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Nam (học sinh lớp 12T7, trường THPT
Đô Lương I) nghe tiếng kêu cứu có người đuối nước dưới sông, em liền chạy đến Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6 Khi đẩy được em thứ năm vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi.
(Theo Khánh Hoan, Thanhnienonline, ngày 6 - 5 - 2013)
Học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống nhờ vào đốitượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài Đối tượng được đề cậpbây giờ không phải là một câu nói nào đó mà là một vấn đề đang xảy ra trong cuộc
Trang 8sống hiện tại Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như: hiện tượng, vấn đề,
vấn nạn… nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định được dạng đề ngay tức
thì
Tuy nhiên với một số đề thì vấn đề lại không hoàn toàn đơn giản như vậy Cónhững đề có sự giao thoa giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghị luận về mộthiện tượng đời sống
Ví dụ: Nhà hoạt động xã hội Martin Luther King từng nói: “Trong thế giới này,
chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả
vì sự im lặng đáng sợ của người tốt” Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Đề bài trên vừa bàn về tư tưởng đạo lí, vừa bàn về hiện tượng đời sống Với dạng
đề bài này, học sinh cần kết hợp yêu cầu bài làm của cả hai dạng đề để giải quyết.Trước hết các em cần xác định phần chung của hai dạng đề cần giải quyết, đó là:
- Giới thiệu, tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng cần giải quyết
- Bình luận về tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống Chỉ ra mặt đúng, mặt tíchcực, hay mặt sai, mặt tiêu cực của vấn đề cần bàn luận
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
Mỗi dạng đề có các yêu cầu riêng của nó Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo
lí cần thiết phải giải thích ý nghĩa của tư tưởng đạo lí Còn dạng đề nghị luận về mộthiện tượng đời sống cần thiết phải phân tích nguyên nhân và chỉ ra hậu quả của hiệntượng cần bàn luận Đối với các đề bài có sự kết hợp cả hai dạng thì học sinh cầnphải xác định luận điểm nhiều hơn, bao gồm cả phần chung và phần riêng đã nóitrên
Như vậy, nhận dạng đề là khâu quan trọng đầu tiên giúp học sinh xác địnhđược hướng đi của bài làm, nhằm tránh việc lạc đề Có thể thấy dạng đề được thểhiện khá rõ qua các dấu hiệu ngôn ngữ có trong đề bài Đề nghị luận về một tưtưởng đạo lí thường yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, một câudanh ngôn Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặttrong dấu ngoặc kép Đề nghị luận về một hiện tượng đời sống thường đề cập đếnđối tượng cụ thể là các hiện tượng, vấn đề, vấn nạn học sinh có thể nhận biết dễdàng nếu tập trung chú ý
II TÌM HIỂU ĐỀ:
Sau khi nhận dạng đề, học sinh cần tiến hành khâu tìm hiểu đề Đây không phải
là công đoạn riêng của văn nghị luận xã hội mà bất cứ bài làm văn nào cũng cầnthiết phải được chú ý Tìm hiểu đề là tìm hiểu 3 yêu cầu của đề, bao gồm:
- Yêu cầu về thể loại
- Yêu cầu về nội dung
- Yêu cầu về dẫn chứng
Về thể loại gần như cả 2 dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận
về một hiện tượng đời sống đều là bình luận Về dẫn chứng, người viết phải biết huyđộng mọi loại kiến thức trong nhà trường cũng như trong cuộc sống đặc biệt là
Trang 9những hiểu biết thực tế để làm cho bài viết vừa sâu sắc vừa sống động, đầy sứcthuyết phục Yêu cầu quan trọng nhất là về nội dung đòi hỏi học sinh phải xác địnhđúng trọng tâm của đề thì bài viết mới đúng hướng.
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng: “Nếu cuộc đời là một bộ phim , tôi muốn là vai phụ xuất sắc nhất” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.
Luận đề của đề bài này là: Bàn về vai trò của một người bình thường trong xã hộinhưng là người bình thường xuất sắc
Ví dụ 2: Hãy viết bài văn với tiêu đề: “Góc sân và khoảng trời”.
Luận đề của đề bài này là: Bàn về mối quan hệ giữa những cái nhỏ bé, gần gũi vànhững cái lớn lao, to tát; giữa thực tại và ước mơ, khát vọng
Ví dụ 3: Có ý kiến cho rằng: “ Một người chưa biết đến những lời nói dối đẹp thì cũng chưa biết đến thế giới chân thực” Suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Luận đề của đề bài này là: Bàn về ý nghĩa của những lời nói dối đẹp
Ví dụ 4: Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của Âu Dương Tử: “Trăm sông học bể đến được bể Gò đống học núi không đến được núi là bởi một đằng đi, một đằng đứng”.
Luận đề của đề bài này là : Tầm quan trọng của cách học và cũng là cách sống củacon người trong cuộc đời
Ví dụ 5: Có ý kiến cho rằng: “ Một người khi đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì sẽ đánh mất thêm nhiều thứ quí giá khác” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.
Luận đề của đề bài này là: Bàn về vai trò, tầm quan trọng của lòng tự tin
Ví dụ 6: Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Chúa Jesus: “Thiên đường ở chính trong ta Địa ngục cũng do ta mà có”.
Luận đề của đề bài này là: Cuộc sống của chúng ta trở nề đẹp đẽ hay chán ngắt là
cụm từ then chốt có chứa ẩn ý được gọi là từ khóa hay cụm từ khóa Sau đó giải mã
các từ khóa để tìm ra yêu cầu trọng tâm của đề là gì Ở ví dụ 1 cụm từ then chốt là
“vai phụ xuất sắc nhất”; nếu xác định từ then chốt là cuộc đời hay bộ phim thì sẽ lạc
đề ngay Ở ví dụ 2 từ khóa là “góc sân” và “khoảng trời”; ví dụ 3 cụm từ khóa là
“lời nói dối đẹp” và “thế giới chân thực”; ví dụ 4 từ khóa là “đi” và “đứng”; ví dụ 5 cụm từ khóa là “niềm tin vào bản thân”; ví dụ 6 từ khóa là “thiên đường” và “địa
ngục”
III LẬP Ý:
Đa số học sinh hiện nay thường mắc phải một lỗi cơ bản đáng tiếc là không thiếtlập hệ thống ý trước khi viết bài Các em thường nghĩ đến đâu, viết đến đấy nên bàiviết thường lan man, ý lộn xộn, thiếu ý hoặc các ý trình bày trùng lặp Vấn đề được
Trang 10hiểu lơ mơ lại viết theo kiểu ngẫu hứng nên bài làm thường không sâu, không đạtđược yêu cầu của đề ra
Ở một bài văn nghị luận xã hội , luận điểm chính đã có sẵn ở cấu trúc bài làm.Học sinh chỉ cần dựa vào trình tự các bước để thiết lập luận điểm Sách giáo khoangữ văn 12 đã đưa ra phần ghi nhớ về cách làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí
và nghị luận về một hiện tượng đời sống như sau:
- “Bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường có một số nội dung sau:
+ Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận;
+ Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đếnvấn đề bàn luận;
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí
+ Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tốbiểu cảm nhưng phải phù hợp và có chừng mực.”
(Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, tr 21)
- “Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có các nội dung:
+ Nêu rõ hiện tượng
+ Phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại
+ Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xãhội đó
+ Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tốbiểu cảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng”
(Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, tr 67)
Sau đây tôi xin triển khai cụ thể hơn về cách thiết lập luận điểm trong một bài nghịluận xã hội (các luận điểm trong phần thân bài)
1 Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đaọ lí:
- Luận điểm 1: Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận
Làm rõ vấn đề được dẫn trong đề Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng trích dẫn mộtcâu tục ngữ, một câu danh ngôn hay một nhận định, người viết cần lần lượt giảithích, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm, ý nghĩa của các từ ngữ,hình ảnh đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn Khi vấn đềđược diễn đạt theo kiểu ẩn dụ, bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩabóng của từ ngữ
+ Luận cứ: Nghĩa đen (nghĩa tường minh)
Nghĩa bóng (nghĩa hàm ẩn)
Nghĩa cả câu
- Luận điểm 2: Bàn luận về tư tưởng đạo lí được đề cập đến trong đề bài
+ Luận cứ 1: Các biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống
+ Luận cứ 2: Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đối với đời sống xã hội: Mặt tích cực,tiêu cực, đúng hay chưa đúng của tư tưởng đạo lí, khẳng định mặt đúng, tích cực,bác bỏ những biểu hiện sai lệch
Trang 11+ Luận cứ 3: Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề: Đưa ra phản đề làm đối sánhnhằm khẳng định luận đề, mở rộng nâng cao vấn đề lên mức độ khái quát thànhquan niệm sống, triết lí sống.
- Luận điểm 3: Bài học sâu sắc cho bản thân:
+ Luận cứ 1: Bài học về nhận thức
+ Luận cứ 2: Bài học về hành động
Yêu cầu với các bước tiến hành một bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí là: giảithích vấn đề thật rõ ràng, nêu biểu hiện của vấn đề thật cụ thể, bàn luận thật sâu vàrút ra bài học thật thấm thía, sâu sắc
Ví dụ1: Có ý kiến cho rằng: “Bàn tay tặng hoa hồng luôn phảng phất hương
thơm”.
Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.
- Luận điểm 1: Giải thích ý kiến:
+ Luận cứ 1: Ý kiến trên chứa đựng một hàm ý sâu sắc ẩn dưới những hình ảnh có
ý nghĩa biểu trưng “Bàn tay” là hình ảnh hoán dụ để chỉ “người tặng hoa hồng” tức
là người có lòng nhân ái, vị tha, luôn biết đồng cảm, sẻ chia, biết sống vì ngườikhác “Tặng” là thái độ, là hành động tự nguyện, vui vẻ, chân thành trao cho ngườikhác một thứ gì đó của mình “Hoa hồng” là hình ảnh biểu trưng cho vẻ đẹp của tìnhyêu thương chân thành, của lòng nhân ái, của tất cả những gì trong sáng, cao đẹp.Còn hình ảnh “phảng phất hương thơm” là niềm hạnh phúc của người biết trao tặng + Luận cứ 2: Như vậy, ý nghĩa của cả câu nói trên là: Biết đồng cảm, sẻ chia, biếttrao tặng tình yêu thương chân thành, biết sống vì người khác thì sẽ luôn cảm thấyhạnh phúc Đó là một cách để chúng ta làm đẹp tâm hồn mình và góp phần làm đẹpcho cuộc sống
- Luận điểm 2: Bàn luận về vấn đề:
+ Luận cứ 1: Cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu đi sự ấm áp của những tấm lòng? Mỗicon người sẽ như thế nào nếu tâm hồn ngày càng cằn cỗi? Nếu không biết tự làmgiàu cho tâm hồn mình thì con người sẽ chẳng khác gì những cỗ máy Sự thơm thảocủa những tấm lòng biết yêu thương, đồng cảm, sẻ chia chính là biểu hiện sinh độngnhất, đẹp đẽ nhất, ấm áp nhất của tâm hồn con người và cũng là của cuộc sống + Luận cứ 2: Xung quanh chúng ta hàng ngày, hàng giờ có biết bao nhiêu hànhđộng, việc làm của các cá nhân, tập thể luôn sẵn sàng cưu mang, đùm bọc, sẻ chiavới người khác Cái mà họ cho đi không phải lúc nào cũng mang giá trị vật chất màtrước hết là ý nghĩa tinh thần Nó là biểu hiện của đạo lí sống cao đẹp, của truyềnthống nhân ái có từ xa xưa của dân tộc ta
+Luận cứ 3: Bên cạnh những người sẵn lòng trao cho người khác tất cả những gìtốt đẹp mình có thì vẫn còn không ít những kẻ chỉ biết sống cho riêng mình, ích kỉ,hẹp hòi, bon chen, vụ lợi, không dám rớt cho ai thứ gì hoặc chỉ biết nhận mà không
có trao Nếu bất đắc dĩ phải trao thì miễn cưỡng hoặc vì mục đích vụ lợi nào đó Tất cả các cách sống trên sẽ không bao giờ có được niềm vui, niềm hạnh phúc đích