1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội

58 603 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 609 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đề tài nghiên cứu trước đây như đề tài “ Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm tâm lý ở trẻ tự kỷ” của Trần Thị Việt Hà, khoá luận tốt nghiệp, 2002, “Một số triệu chứng lâm sàng quan s

Trang 1

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Theo thống kê dịch tễ học, tự kỷ là một rối loạn tâm trí sớm ở trẻ em chiếm

tỷ lệ khoảng 4-5/10 000 trẻ trong đó có1/2 trẻ có bệnh cảnh tự kỷ điển hình và

3/4 trẻ có giới tính nam [11] Số trẻ tự kỷ được phát hiện ngày càng tăng đòi hỏi

sự quan tâm, giúp đỡ của những nhà chuyên môn, bác sĩ, nhà tâm lý và các

dịch vụ xã hội càng nhiều Song việc chăm sóc và trị liệu trẻ tự kỷ trong thời

gian gần đây được phát sinh theo nhu cầu của xã hội mang tính đối phó và thiếu

sự chuẩn bị cần thiết về mặt chuyên môn và nhân sự

Hiện nay có rất nhiều phương pháp can thiệp, nhiều trung tâm chăm sóc và

giáo dục cho trẻ tự kỷ nhưng các bậc phụ huynh luôn băn khoăn không biết đâu

là lựa chọn tốt nhất cho con mình Đưa con vào trung tâm thì không tin tưởng,

trung tâm nói con tiến bộ nhưng bản thân họ lại không nhận thấy Để trẻ ở nhà

thì trẻ quậy phá không cho họ một phút giây yên tĩnh, họ không biết phải làm gì

để giúp đỡ chúng Một số cha mẹ muốn để con yên không can thiệp gì vì cho

rằng những chương trình can thiệp sẽ gây căng thẳng cho trẻ và cho đời sống gia

đình Tệ hơn nữa là có những cha mẹ buông xuôi vì nghĩ không thể thay đổi

được gì cho đứa con tự kỷ của mình Nhưng nhìn chung phản ứng thông thường

của cha mẹ là muốn làm bất cứ điều gì để giúp con, không muốn bỏ lỡ cơ hội

nào dù vì mệt mỏi hay vì tài chính

Trên thế giới có rất nhiều lý thuyết hay về can thiệp cho trẻ tự kỷ song còn

ít người biết đến hoặc có biết thì cũng chỉ là trên sách vở, khi bắt tay vào làm

thực tiễn có rất nhiều sai xót, lúng túng Thực tế ở nước ta việc áp dụng, kết hợp

các phương pháp còn tuỳ tiện Điều đó khiến cho những trẻ tự kỷ vốn đã phải

chịu nhiều thiệt thòi lại khó khăn thêm, làm cho những gia đình có con tự kỷ

ngày càng hoang mang, bế tắc, không lối thoát, tuyệt vọng, buông xuôi

Trang 2

Ở Việt Nam cũng chưa có nghiên cứu nào có tính chất thực sự chuyên sâu

về phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ Những đề tài nghiên cứu trước đây như

đề tài “ Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm tâm lý ở trẻ tự kỷ” của Trần Thị

Việt Hà, khoá luận tốt nghiệp, 2002, “Một số triệu chứng lâm sàng quan sát ở trẻ

tự kỉ” của Lý Nguyễn Thảo Linh, báo cáo thực tập, 2004, thuộc chuyên ngành

tâm lý học chỉ mang tính lý luận, chưa giải quyết được những vấn đề trong thực

tiễn mà khi làm việc với trẻ tự kỷ hàng ngày cha mẹ và các giáo viên phải đối

mặt

Vì vậy tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với

hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội” với mong muốn

có thể đóng góp một phần tâm huyết cùng các gia đình tìm con đường đúng đắn

nhất để giúp cho những đứa trẻ tự kỷ sớm được phục hồi

2 M ục đích nghiên cứu

Tìm hiểu phương pháp can thiệp nói chung, can thiệp đối với hành vi và

nhận thức nói riêng của trẻ tự kỷ nhằm tìm ra cách thức tốt nhất để giúp trẻ tự

kỷ loại bỏ hay hạn chế những hành vi bất thường, hình thành những hành vi,

cách ứng xử phù hợp với các tình huống trong cuộc sống, để chúng dễ dàng hoà

nhập hơn với môi trường xã hội

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận:

- Làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề tài

- Một số lý thuyết về can thiệp cho trẻ tự kỷ trước đây và hiện nay, trong và

ngoài nước

Nghiên cứu thực tiễn:

- Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức

của trẻ tự kỷ đang được áp dụng tại các gia đình ở Hà Nội

Trang 3

- Tổng hợp, chọn lọc, đưa ra những điều nên làm, nên tránh trong quá

trình can thiệp cho trẻ tự kỷ, đề xuất cách thức tốt nhất khi áp dụng lý thuyết vào

thực tiễn Đưa ra kết luận và kiến nghị đối với phương pháp can thiệp cho trẻ tự

kỷ tại gia đình hiện nay

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận

thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội

- Khách th ể nghiên cứu: Các gia đình có trẻ tự kỷ ở Hà Nội đã và đang

can thiệp tại nhà

S ố lượng khách thể: 4 gia đình

Trong đó: cả 4 trường hợp đều là trẻ tự kỷ mức độ nặng, chưa nói được,

có nhiều hành vi bất thường, được can thiệp tại nhà, hoàn toàn không có sự tác

động nào khác Trẻ nam có độ tuổi từ 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi

5 Gi ả thuyết khoa học

- Kỹ thuật dạy với tốc độ nhanh, số lượng nhiều, không để trẻ mắc lỗi và

luôn bắt đầu từ những thứ trẻ thích, trẻ làm được của phương pháp can thiệp

“m ới” làm cho trẻ cảm thấy thích thú khi đến giờ học, việc học vui vẻ, không

nhàm chán, khối lượng kiến thức trẻ học được nhiều hơn Nhận thức của trẻ sẽ

tăng lên

- Nhận thức và hành vi của trẻ có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng qua

lại lẫn nhau Nhận thức tăng lên thì hành vi ứng xử xấu sẽ giảm bớt, khi đó trẻ

sẽ có cơ hội học được nhiều hơn và nhận thức sẽ ngày càng tốt hơn Trẻ càng

giỏi thì mọi người càng dễ bỏ qua những hành vi chưa tốt của chúng, chúng sẽ

có nhiều cơ hội hơn để hoà nhập

6 Ph ạm vi nghiên cứu

Trang 4

Luận văn chỉ dừng lại ở sự đánh giá hiệu quả, ưu điểm, nhược điểm của

một số phương pháp can thiệp hiện đang được áp dụng tại 4 gia đình ở Hà Nội

(thông qua quan sát lâm sàng, phỏng vấn người trực tiếp can thiệp cho trẻ, gia

đình trẻ và kết quả đánh giá sau 50 ngày nghiên cứu)

7 Ph ương pháp nghiên cứu

7.1 Ph ương pháp quan sát

Quan sát là một phương pháp nghiên cứu trong đó người quan sát sử dụng

các quá trình tri giác để thu thập thông tin về hành vi, cử chỉ, lời nói của khách

thể nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu nhất định

Cụ thể ở đây là quan sát hành vi, cách ứng xử của trẻ tự kỷ trong và ngoài

giờ trị liệu, trong gia đình và ngoài xã hội; quan sát cách xử lý hành vi ứng xử

xấu và dạy hành vi ứng xử phù hợp cho trẻ của gia đình và người trị liệu

7.2 Phương pháp hỏi chuyện, phỏng vấn sâu

Phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu tâm lý học,

thông qua việc tác động tâm lý xã hội giữa người hỏi và người được hỏi nhằm

thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của người nghiên cứu

Phỏng vấn lâm sàng (còn gọi là hỏi chuyện lâm sàng) là một khâu quan

trọng nhất của các kỹ thuật tâm lý lâm sàng, được sử dụng trong thực hành tâm

lý cũng như trong nghiên cứu tâm lý học lâm sàng

Trong luận văn, phỏng vấn lâm sàng được tiến hành giữa người nghiên cứu

với những người trực tiếp can thiệp cho trẻ tự kỷ, với gia đình trẻ tự kỷ Mục

đích là nhằm thu thập các thông tin về trẻ tự kỷ, bao gồm các thông tin về tiền

sử, bệnh sử, các triệu chứng, các thói quen, các khả năng, các cách thức ứng xử,

hành vi, các năng lực của trẻ, nghiên cứu hồi cứu những phương pháp, cách

thức, kỹ thuật trị liệu trẻ tự kỷ đó đã tham gia, hiệu quả, hậu quả và cách khắc

phục đã và đang áp dụng

7.3 Ph ương pháp nghiên cứu trường hợp

Trang 5

Nghiên cứu trường hợp (nghiên cứu ca) trong lâm sàng là phương pháp

nghiên cứu một cá nhân cụ thể trong một tình huống lâm sàng để thu thập những

thông tin trực tiếp, điển hình và có tính hệ thống về một loại rối nhiễu nào đó

nhằm phục vụ cho một mục tiêu đánh giá, chẩn đoán hoặc trị liệu lâm sàng

Trong luận văn, tôi sử dụng phương pháp này nghiên cứ 4 trường hợp trẻ

tự kỷ được trị liệu tại gia đình với những đặc điểm của khách thể như đã nêu ở

phần trên

7.4 Ph ương pháp nghiên cứu tài liệu:

Tài liệu là nguồn cung cấp các thông tin nhằm đáp ứng mục tiêu và nội

dung nghiên cứu Tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu này gồm: hồ sơ, bệnh

án, sổ theo dõi hàng ngày, nhật ký của trẻ và một số tài liệu tham khảo, sách, tập

san liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài

Nghiên cứu tài liệu nghĩa là xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu

để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu

7.5 Ph ương pháp sử dụng test đánh giá

Đây là phương pháp sử dụng test đã được chuẩn hoá về kĩ thuật sử dụng

nhằm đánh giá, đo lường một chỉ báo về tâm lý của một người hay một nhóm

người trên cơ sở đối chiếu với một thang đo đã được chuẩn hoá hoặc một hệ

thống phân loại trên những nhóm mẫu khác nhau về phương diện xã hội

Trong báo cáo này, tôi sử dụng test C.A.R.S (Bảng đánh giá mức độ tự kỷ

của trẻ em) để xác định lại một lần nữa tình trạng, mức độ tự kỷ của trẻ tại thời

điểm bắt đầu nghiên cứu

Tuy nhiên để đánh giá được sâu hơn những nội dung nghiên cứu của đề tài,

tôi đã lập ra một bảng đánh giá kết quả trước và sau 50 ngày nghiên cứu để đánh

giá sự tiến bộ về hành vi và nhận thức của 4 trẻ

Trang 6

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ch ương 1: Cơ sở lý luận

1.1 T ổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Sơ lược về lịch sử tự kỷ và can thiệp:

Trước khi hiểu được mối quan hệ giữa bộ não và các hành vi, người ta

cho răng trẻ khuyết tật nói chung, trẻ tự kỷ nói riêng là sự trừng phạt của chúa

trời hoặc là do quỷ ám Những đứa trẻ này bị bỏ rơi hoặc chỉ được điều trị bằng

những phương pháp thô sơ như sử dụng các loại cỏ, côn trùng, phân động vật

tán thành bột nhưng hầu như không có hiệu quả gì Với một người nào đó có

hành vi bất thường, người ta thường tìm cách trục xuất các loại ma quỷ đó ra

khỏi người bệnh Hơn nữa do niềm tin mù quáng vào tôn giáo đã khiến nhiều

bậc cha mẹ chỉ thỉnh cầu vào thánh thần, xin cứu chữa cho đứa con của mình mà

không làm gì khác [13]

Đến thời kỳ khoa học bắt đầu phát triển, người ta có cách hiểu sâu sắc và

đúng đắn hơn với những trẻ khuyết tật nhờ khoa học giáo dục và tâm lý Tuy

nhiên trước khi có cái tên tự kỷ như hiện nay thì đã có những người mắc phải

những rối loạn tâm trí như vậy mà người ta cho đó là những đứa trẻ khác

thường, kỳ lạ

Trên thế giới:

Trang 7

Năm 1801, Jean Marc Gaspard Itard, một bác sĩ người Pháp, viện trưởng

Viện câm điếc Paris được giao nhiệm vụ chăm sóc một cậu bé 12 tuổi tên là

Victor, được gọi là “cậu bé hoang dã ở Aveyron” Người ta tìm thấy cậu sống

trong rừng và đã mang cậu về Cậu bé này có những hành vi kỳ lạ và không biết

nói Bác sĩ Itard đã tiến hành thử nghiệm việc áp dụng cách thức hướng dẫn có

hệ thống cho người bệnh, bao gồm nhiều hoạt động nhằm phát triển các chức

năng cảm giác, tư duy và tình cảm [2], [13]

Năm 1809, ở Anh, ông John Haslam kể lại chuyện một cậu bé bị lên sởi

nặng khi mới lên 1 tuổi Sau đó, cậu có những hành vi giống như trẻ tự kỷ Khi

lên năm tuổi cậu được đưa vào bệnh viện Hoàng gia Bethlem [2], [13]

Trong nửa đầu thế kỉ XX nhiều người đã viết về các nhóm trẻ có hành vi kỳ

lạ, mỗi người nêu lên một hoàn cảnh, một câu chuyện khác nhau nhưng lại có

nhiều điểm chung về hành vi Đầu tiên, các nhà khoa học xếp các rối loạn kiểu

này vào một dạng của tâm thần phân liệt.[13]

Năm 1919, Lightner Witmer, một nhà tâm lý học người Mỹ có bài viết về

Don, một đứa trẻ 2 năm 7 tháng có hành vi như trẻ tự kỷ điển hình Sau một thời

gian dài được dạy bảo riêng, em tỏ ra có tiến bộ, tập được các kỹ năng thiết

thực [2] Năm 1943, Leo Kanner, một nhà tâm thần nhi thuộc trường đại học John

Hopkins ở Baltimore (Mỹ) đã công nhận một số trẻ được đưa tới bệnh viện của

ông đều có chung một dạng hành vi khác thường, và lần đầu tiên đưa ra khái

niệm và đặt tên là “Hội chứng Kanner” hay “Tự kỷ thời ấu nhi – early infantile

autism” Ông đã mô tả chi tiết và đưa ra một số điểm đặc biệt quan trọng trong

việc chẩn đoán Ông cũng nhấn mạnh là tình trạng này có thể thấy được từ khi

đứa trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu.[13]

Năm 1944, có sự trùng hợp kỳ lạ là bác sĩ nhi khoa Hans Asperger ở nước

Áo công bố bài viết đầu tiên của mình về một nhóm trẻ nhỏ và thanh thiếu niên

Trang 8

có dạng hành vi khác lạ mà ngày nay gọi là “Hội chứng Asperger” Những nét

khác thường này được phát hiện khi trẻ được 3 tuổi trở lên hoặc bắt đầu đi học

Công trình nghiên cứu của ông được in ra bằng tiếng Đức, và mới được dịch

sang tiếng Anh năm 1991 [13]

Năm 1962, các cha mẹ và các nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề tự kỷ

đã thành lập hiệp hội tự nguyện đầu tiên tại nước Anh, nay gọi là “Hội tự kỷ

quốc gia” Nhờ những cố gắng của Hội này, cùng với tác dụng tuyên truyền của

các phương tiện truyền thông mà mọi người biết đến nhiều hơn về chứng tự kỷ

Những lần xuất bản đầu tiên của Hệ thống phân loại bệnh quốc tế ICD

không nói tới hiện tượng tự kỷ Năm 1967, khi tái bản lần thứ 8 ( ICD - 8) cũng

chỉ coi hiện tượng tự kỷ ở trẻ em là một dạng tâm thần phân liệt và khi tái bản

lần thứ 9 (1977) đã đặt tự kỷ vào trong mục “loạn tâm trẻ em” Trong lần tái

bản lần thứ 10, ICD - 10(1992) và trong bảng phân loại bệnh Hoa Kỳ DSM –

IV(1994), cả hai hệ thống này đã sử dụng tên gọi là “các dạng rối loạn phát

tri ển lan toả”

Tại Việt Nam

Đối với phần lớn dân số Việt Nam hiện nay, tự kỷ vẫn là một khái niệm

mới mẻ Một phần có thể do trẻ tự kỷ có bề ngoài như trẻ bình thường, thậm chí

còn xinh xắn hơn trẻ thường nên ít ai biết bệnh của các em

Cho đến nay ở nuớc ta chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào

về trẻ tự kỷ và cũng chưa xác định được một phương pháp chăm sóc cụ thể nào

Thuốc men, nhân điện, châm cứu, cúng bái đều không đưa lại một kết quả cụ

thể

Cách đây khoảng 20 năm, một số phụ huynh có con bị tự kỷ đã tự tìm kiếm

thông tin, cách chữa trị từ nước ngoài, áp dụng cho con mình thấy có hiệu quả,

sau đó mở trung tâm để giúp đỡ những gia đình khác Ở Hà Nội có trung tâm

Sao Mai và Phúc Tuệ thuộc dạng này và khá nhiều năm nghiên cứu

Trang 9

Điều đáng lưu ý ở đây là trong khi phụ huynh lăn lội tìm kiếm phương pháp

hữu hiệu nhất cho con mình thì những bác sĩ, nhà tâm lý, nhà khoa học chỉ biết

đến một vài phương pháp chung chung Họ còn nhiều vấn đề phải quan tâm, trẻ

tự kỷ chỉ là một trong những đối tượng cần đến sự giúp đỡ của họ Có phải vì

thế mà những cha mẹ có con tự kỷ nhiều năm nay có kinh nghiệm hơn? Các bác

sĩ tâm thần nhi chỉ giúp được những gia đình mới phát hiện bệnh của con, chẩn

đoán, đánh giá nhưng chưa có phương pháp can thiệp hiệu quả nào và họ cũng

không có đủ thời gian để theo hẳn một ca nào trị liệu từ đầu đến cuối

Những năm gần đây, trẻ tự kỷ mới được biết đến và phát hiện ra rất nhiều

chủ yếu ở thành phố Nông thôn thì rất ít hoặc người dân không biết đến Đa số

trẻ tự kỷ chỉ được quan tâm chăm sóc như một dạng chậm khôn trong số trường

chuyên biệt hoặc khoa tâm lý tại một vài bệnh viện nhi đồng, trong khi trẻ tự kỷ

và trẻ chậm phát triển có rất nhiều khác biệt cả về nguyên nhân, biểu hiện, đặc

biệt là phương pháp trị liệu và giáo dục

Trước nhu cầu của xã hội, hàng loạt các trung tâm ra đời, chưa tính đến

chất lượng song về số lượng cũng chưa đủ đối với số trẻ tự kỷ được phát hiện

ngày càng nhiều Một trẻ tự kỷ cần có sự can thiệp của nhà tâm lý lâm sàng, bác

sĩ nhi, chuyên viên giáo dục đặc biệt, chuyên viên ngôn ngữ, nhân viên công tác

xã hội Nhưng thực tế chưa có một trung tâm hay một kiểu chữa trị nào ở nước

ta đáp ứng được yêu cầu đó và cũng chẳng có một gia đình nào có khả năng mời

một lúc từng ấy người can thiệp cho con ở các trường và trung tâm hiện nay đa

số là mỗi cô giáo phải đảm nhiệm ít nhất 5 đến 10 trẻ, một số trung tâm có trị

liệu cá nhân 1 cô - 1trò (1giờ /ngày) xong sau đó trẻ lại quay về lớp học chung

và hầu như chỉ chơi một mình trong suốt thời gian còn lại

Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của những người làm công tác can thiệp cho

trẻ tự kỷ còn rất thấp Một trong số họ là giáo viên các trường mầm non, cử nhân

tâm lý học, đa số là giáo viên giáo dục đặc biệt Họ tự nghiên cứu tài tiệu hoặc

qua những khóa tập huấn và quá trình làm việc thực tế tự rút ra kinh nghiệm, kỹ

Trang 10

thuật can thiệp chưa thực sự bài bản và khoa học, chỉ áp dụng được với những

trường hợp cụ thể mà không phải trường hợp nào cũng đem lại hiệu quả tích

cực

1.1.2 Các phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ trên thế giới

♦ ABA ( Applied Behaviour Analysis - Phân tích Hành vi ứng dụng) : [7]

ABA đã có từ lâu nhưng mới được biết tới nhiều từ năm 1987 nhờ bài viết

về sự luyện tập một nhóm nhỏ trẻ tự kỷ của tiến sĩ Lovaas và các cộng sự của

ông tại đại học UCLA ở California, tuy ông đã áp dụng phương pháp này từ thập

niên 1960 ý chính của phương pháp này là trẻ không chỉ học ở trường rồi ngưng

khi về nhà mà vẫn tiếp tục học trong suốt cả ngày, tương tác và học từ môi

trường xung quanh hàng ngày Hơn nữa là khi buổi học chấm dứt một cách phấn

khởi thành công thì lần học kế tiếp sẽ dễ hơn, do đó việc học của trẻ phải giữ sao

cho không kết thúc bằng thất bại, không bao giờ để trẻ sai, phải làm sao cho trẻ

luôn đúng, luôn thành công Cuối cùng, Lovaas nhận xét rằng khi trẻ ở trong

viện thì kỹ năng đã thạo được duy trì trong thời gian trẻ ở đó, nhưng khi về nhà

thì xuống dốc Vì vậy muốn duy trì thành công của trẻ thì cha mẹ cũng cần được

huấn luyện để tạo môi trường thích hợp ở nhà cũng như ở viện Phương pháp

sửa đổi hành vi không mới song cách dạy của ông đòi hỏi nhiều thời gian, có thứ

tự chặt chẽ và gồm những bước lập đi lập lại theo đó trẻ nghe lệnh và được

thưởng mỗi lần có phản ứng đúng cách ABA dạy trẻ biết nghe lời, thuận theo

yêu cầu của cha mẹ và giảm bớt những hành vi thái quá do chứng tự kỷ gây ra

Đầu tiên là học ngồi yên và làm theo chỉ dẫn vì đó là cái căn bản cho trẻ học tới

những hành vi khác phức tạp hơn

Thời gian tập ABA tuỳ theo mức độ bệnh nặng nhẹ của trẻ Song số lượng

thôi thì chưa đủ vì hiệu quả của việc dạy còn tuỳ thuộc vào khả năng của trị liệu

viên và sự tận tình hăng hái của họ

Trị liệu viên không cần có chuyên môn vì cha mẹ trẻ có thể huấn luyện hay

nhờ cố vấn của tổ chức ABA huấn luyện Vì vậy họ có thể là bất kỳ ai yêu mến

Trang 11

và có thể làm việc được với trẻ tự kỷ đó Có thể là ông bà, người thân trong gia

đình, cô giáo mầm non hay sinh viên tâm lý

Thành công của ABA một phần nhờ trẻ được can thiệp sớm, có chương

trình không nhận trẻ trên 6 tuổi Còn nếu gia đình tự dạy cho trẻ ở nhà thì có thể

bắt đầu ngay từ khi nhận ra trẻ có điểm khác thường, trẻ khoảng 2 tuổi

Gần đây phương pháp trên được thay đổi cho phù hợp với từng trường hợp

riêng rẽ Thời gian học và cách thức dạy cũng tuỳ theo từng đối tượng Tuy có

cơ sở lý thuyết chung là trị liệu hành vi, chương trình này ghi chính xác dạy cái

gì và dạy ra sao (bộ sách vaf băng video The me book của tiến sĩ Lovaas) song

khi áp dụng vào thực tế thì muôn hình muôn vẻ, nói đến ABA là nói đến một

khái niệm vô cùng rộng và các bậc phụ huynh còn rất mơ hồ trong việc áp dụng

phương pháp ABA như thế nào cho phù hợp với đứa con tự kỷ của mình

TEACCH ( Treatment and Education of Autistic and related Communication

Hanđicappe Children - Điều trị và giáo dục trẻ khuyết tật liên quan đến giao tiếp

và trẻ tự kỷ) Đây là một phân bộ của đại học North Carolina hoạt động từ năm

1972 Tác giả soạn thảo phương pháp này là một tập thể gồm nhiều bác sĩ, nhà

tâm lý, chuyên viên thuộc nhiều ngành nhưng TEACCH thường được gắn liền

với tên tuổi của tác giả Eric Schopler, người đầu tiên điều khiển chương trình

này.[12]

TEACCH có nhiều chương trình từ trẻ nhỏ đến tuổi trưởng thành, cho

người có khả năng thấp đến người có khả năng cao Chương trình TEACCH

giúp trẻ học cơ cấu và trật tự , ảnh hưởng tốt đến cả hành vi và khả năng học của

trẻ tự kỷ

Những đề mục được đề cập trong chương trình TEACCH: 1- Bắt chước,

2- Nhận thức, 3- Vận động thô, 4- Vận động tinh, 5- Phối hợp mắt và tay, 6- Kỹ

năng hiểu biết, 7- Kỹ năng ngôn ngữ, 8- Kỹ năng tự lập, 9- Kỹ năng xã hội hoá

PECS ( Picture exchange Communication System) [7]

Phương pháp dạy bằng hình ảnh Dùng hình có rất nhiều tiện lợi cho trẻ

không biết nói, là phương tiện liên lạc, bày tỏ ý của trẻ, giúp trẻ giao tiếp dễ

Trang 12

đàng hơn Nhiều cha mẹ lo lắng trẻ sẽ không nói mà chỉ mãi mãi dùng hình ảnh

Thực tế cho thấy cách này không cản trở việc học nói của trẻ Có trẻ dùng PECS

một thời gian rồi nói được song chưa chứng minh được là nhờ PECS hay do sự

phát triển tự nhiên

AIT ( Auditory Integration Training - Huấn luyện thính giác): [7]

AIT có mục đích làm giảm mức nhậy cảm thính giác của trẻ bằng cách

chỉnh lại khả năng nghe của trẻ Cách huấn luyện này được bác sĩ tai mũi họng

người Pháp, Guy Berard khởi xướng năm 1982, ông cho rằng sự biến dạng của

thính giác có thể nhận ra trên biểu đồ âm thanh là những âm khiến người nghe

nhạy cảm bị chói tai Từ đó xác định và loại bỏ những âm thanh loại này, kết

quả là làm giảm bớt hay loại trừ hẳn sự biến dạng do những âm này gây ra Đa

số trung tâm sử dụng phương pháp này ở Mỹ, một số tại úc, còn ở Anh thì kết

hợp với Quang trị liệu)

♦ Quang âm trị liệu (Light & Sound Therapy) [7] được áp dụng không chỉ

riêng cho trẻ tự kỷ mà còn cho trẻ khuyết tật về học Trị liệu này đã có từ lâu

song chỉ được biết tới rộng rãi khi thành lập cơ sở ở London năm 1992, gồm

nhiều chương trình trong đó chương trình căn bản là kết hợp AIT và quang trị

liệu Với tự kỷ, quang trị liệu làm giảm tính nhạy cảm với ánh sáng chói, điều

hoà cảm nhận thị giác dẫn tới việc cải thiện hành vi một cách đáng kể

1.2 M ột số khái niệm liên quan

1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ

Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiều quan

niệm về tự kỷ Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, dưới đây là một

số quan niệm phổ biến:

Quan ni ệm của Bleuler, 1911: “ Tự kỷ là khái niệm dùng để chỉ những

người bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa ma

Trang 13

sống với thế giới riêng của mình,bệnh nhân chia cắt với những thực tế bên ngoài

và lui về thế giới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn” [4]

Quan điểm của Freud : “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại

trong cái tôi,có nghĩa là đã trở thành tự yêu,là sự ẩn náu của trẻ em trong thế

giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể

được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc

của người mẹ” [4]

Theo Kanner, 1943 : “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ

lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy,

đó là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công

việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động

một cách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống.”

[13]

Theo Asperger, 1944: Người tự kỷ có đặc điểm là cách tiếp cận xã hội

ngơ ngẩn, không thích hợp, ham chơi mãnh liệt, hạn chế trong một số thứ như

các bảng giờ xe lửa, giỏi về ngữ pháp và từ ngữ nhưng nói năng đơn điệu và

thường nói một mình, không trò chuyện với ai, phối hợp vận động yếu kém,

trình độ, khả năng ở mức ráp ranh, trung bình hoặc cao nhưng thường có những

khó khăn riêng khi học tập một vài môn nào đó, thiếu ý thức về lẽ phải [13]

Theo DSM-IV: “tự kỷ là sự phát triển không bình thường hay một sự giảm

sút rõ rệt, hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực : quan hệ xã hội,

giao tiếp và tác phong thu hẹp định hình”.[4]

Theo ICD-10: Tính tự kỷ của trẻ em, một rối loạn lan toả sự phát triển

được xác định bởi một sự phát triển không bình thường và hay giảm sút biểu

hiện trước 3 tuổi, và bởi một hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực:

tác động xã hội qua lại, giao tiếp và tác phong thu hẹp, lặp lại

Trang 14

Ở Việt Nam, tự kỷ còn có những tên gọi khác như tự toả hay tự bế nhưng

t ự kỷ là danh từ được sử dụng rộng rãi hơn cả

♦ Có rất nhiều quan điểm về trẻ tự kỷ nhưng nói chung có thể gặp những

đặc điểm sau ở trẻ tự kỷ [5] :

- Không hồi đáp khi được gọi tên

- Không biết chỉ tay để thể hiện mong muốn mà thường cầm tay người khác

đặt vào vật trẻ muốn

- Về ngôn ngữ: chậm nói, không nói được, thậm chí không phát âm Nói

khó khăn hoặc rất ghét nói Đã nói được nhưng lại mất ngôn ngữ Có khi

nói cả câu rất suôn sẻ nhưng nội dung không liên quan gì đến hoàn cảnh,

môi trường xung quanh ( ngôn ngữ không có chức năng)

- Rất ít hoặc không giao tiếp bằng mắt

- Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ

- Từ chối quyết liệt một cách bất thường khi phải thay đổi thói quen sinh

hoạt hoặc những điều quen thuộc hàng ngày

- Thường đem theo một vật bên mình (vật bất ly thân)

- Có những hành vi không lý giải được như tự hành hạ (tự đập đầu, cào cấu,

cắn, tự đánh, nói linh tinh một mình ) và hành hạ người thân Thường lặp

đi lặp lại một số hành vi hoặc cử động cơ thể nhất định nào đó Hầu hết các

hoạt động của trẻ đều có xu hướng bất biến

- Có trẻ “ quá ngoan”, không đòi hỏi gì, không cần đồ chơi mới, không cần

ai quan tâm, chơi một mình không bao giờ quấy khóc Đôi khi cha mẹ lại tự

hào vì những trẻ này quá ngoan, không làm phiền họ

- Quá nhạy cảm hoặc không có cảm giác gì với một số cảm giác, âm thanh,

mùi nào đó

- Sự tập trung chú ý kém hoặc không có

Không có cách nào chữa khỏi bệnh tự kỷ mà chỉ có thể can thiệp, trị liệu để

cải thiện triệu chứng và giáo dục để phát triển tiềm năng của trẻ

1.2.2 Nguyên nhân: [6],[13]

Trang 15

Vào những năm 1970, nhiều nhà chuyên môn còn tin vào các thuyết cho

rằng nguyên nhân của tự kỷ là do cách cha mẹ nuôi dạy con cái nhưng chưa có

chứng cớ khoa học để ủng hộ quan niệm này Những công trình nghiên cứu sau

này được tiến hành có kiểm tra nghiêm túc đã cho thấy những thuyết đó là

không chính xác Ngày nay có nhiều bằng chứng là do nguyên nhân sinh học mà

không phải là tâm thần Sau đây là những giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến tự

kỷ đang được đề cập đến nhiều nhất:

Cấu tạo não:

Trong cuốn “Sinh lý thần kinh của chứng tự kỷ” có nêu kết quả nghiên

cứu sáu bộ não của những đối tượng tự kỷ ở dạng Kanner mô tả, cho thấy là các

dị tật ở các vùng này nhỏ li ti có lẽ đã có từ trước khi ra đời Những tổn thương

trước khi sinh ra có thể đã tác động đến quá trình xử lý mọi loại thông tin do các

giác quan truyền tới và có ảnh hưởng đến các đáp ứng và các hành vi nói chung

Theo cuốn “Cẩm nang dành cho cha mẹ trẻ tự kỷ” (Keys to parenting the

child with autism, Marlene Targ Brill, Barron’s Publishing House, 2001), có

33% số trẻ tự kỷ bị rối loạn hệ thần kinh trung ương và một cuộc điều tra ở Mỹ

cho thấy ở những trẻ em tự kỷ, tiểu não của họ nhỏ một cách bất thường

Tuy nhiên, tổn thương não có thể gặp ở một số trẻ tự kỷ nhưng không

phải trẻ tổn thương não nào cũng bị tự kỷ và trẻ tự kỷ nào cũng bị tổn thương

não

Do di truyền

Trong một nghiên cứu về 21 cặp sinh đôi cùng giới có ít nhất một trẻ tự

kỷ Trong đó 11 cặp sinh đôi 1 trứng và 10 cặp sinh đôi 2 trứng Bốn trong số

những cặp sinh đôi 1 trứng cùng bị tự kỷ trong khi các cặp sinh đôi 2 trứng

không có trường hợp nào

Công trình nghiên cứu của Patrick Bolton và các cộng sự công bố năm

1974 đã đề xuất là trong số các anh chị em của trẻ mắc chứng tự kỷ điển hình,

có gần 3% cũng mắc chứng này và 3% nữa mắc các chứng rối loạn lan toả

Trang 16

Gần đây nhiều cuộc nghiên cứu đã tập trung xác định gen tự kỷ và một số

nhà nghiên cứu cho rằng có khoảng 3 đến 5 gen có khả năng liên quan đến hội

chứng tự kỷ

Rối loạn chức năng tâm lý

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều công trình khảo sát các rối loạn

chức năng tâm lý để xác định bản chất của các chứng tật gây ra tự kỷ Các công

trình nghiên cứu này nhằm khảo sát về ngôn ngữ, khả năng tập trung chú ý, trí

nhớ và kỹ năng thị giác- không gian Các nhà nghiên cứu Uta Frith và Simon

Baron Cohen cùng các cộng sự đã khảo sát kỹ năng hiểu các ý nghĩ và cảm xúc

của người khác - còn được gọi là “Luận thuyết về tâm trí” - ở các trẻ tự kỷ

Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác nữa như do vi-rút, nếu người

mẹ bị sởi (rubella) ở giai đoạn ba tháng đầu của thời kỳ mang thai thì đứa trẻ

sinh ra có nguy cơ mắc tự kỷ Vi-rút CMV (cytolomegalo vi-rút) cũng có thể là

nguyên nhân Các nguyên nhân như ô nhiễm môi trường, nhiễm độc thuỷ ngân,

tiêm vắc-xin phòng các bệnh thông thường như sởi, ho gà, cúm vẫn chưa được

kiểm chứng nên không được công nhân rộng rãi

1.2.3 Lý giải một số điều cơ bản hay gặp ở trẻ tự kỷ [5]

1.2.3.1 B ệnh về não:

Tự kỷ là một dạng của bại não Bại não là khi một hay nhiều tế bào, một

cụm hay nhiều cụm tế bào bị chết (do nhiều nguyên nhân như: tai nạn, xung đột

gien cha- mẹ, rối loạn nhiễm sắc thể ) Khi đó người bệnh sẽ mất một phần hay

toàn phần của một hoặc nhiều chức năng

Vì vậy trẻ bị tổn thương ở phần não chịu trách nhiệm với chức năng nào

thì chức năng đó của trẻ sẽ kém, rối loạn hoặc mất hẳn Còn phần não nào không

bị tổn thương thì vẫn đảm nhiệm công việc của mình tuy bị ảnh hưởng ít nhiều

Vì thế không thể tìm được 2 trẻ tự kỷ nào hoàn toàn giống nhau về tình

trạng bệnh hay tật chứng của chúng

Trang 17

VD: Có trẻ tự kỷ không nói, nhưng giao tiếp mắt và ngôn ngữ không lời

rất tốt là do phần não chịu trách nhiệm về ngôn ngữ bị tổn thương Có trẻ tự kỷ

có khả năng nói tốt những lại sợ giao tiếp

1.2.3.2 M ất ngôn ngữ

Trẻ phát âm ma ma, ba ba, nha nha, ư, a, ê khi 7, 8 tháng, nói được một

vài từ như bà, mẹ, măm, đi khi được một hay một tuổi rưỡi Nhưng rồi trẻ

không nói nữa, thậm chí cả ngày không phát ra một âm nào Vì sao lại như vậy?

Bộ não cần oxy, vận động và chất dinh dưỡng Não điều khiển, chỉ huy,

phối hợp mọi hoạt động, hoạt động càng phức tạp thì não càng đòi hỏi nhiều

oxy Nói, sử dụng ngôn ngữ là một hoạt động vô cùng phức tạp chỉ có ở con

người, đòi hỏi phải phối hợp rất nhiều cơ quan chức năng như chuẩn bị ý tưởng,

kết hợp các cơ quan phát âm, sắp xếp tổ chức ngôn từ Trẻ tự kỷ bị thiếu oxy

lên não nên khả năng kết hợp các cơ quan rất kém, vì vậy có thể lúc nhỏ nói

được song đến 1,5 tuổi hay 2 tuổi không nói nữa.[5]

1.2.3.3 T ập trung chú ý kém, thói quen bất biến

- Do thiếu oxy lên não: Nhu cầu oxy não là một trong 2 yếu tố cần thiết

hàng đầu để một bộ não tồn tại và hoạt động Khi não thiếu oxy thì mọi khả

năng của trẻ như hoạt động, tư duy, chú ý sẽ giảm

- Một số nguyên nhân khác:

+ Thính giác:

Nhiều khi ta thấy trẻ tự dưng hét lên hoặc phát ra những âm thanh kỳ cục,

u u ư ư mãi không thôi Đó là do một số trẻ tự kỷ có thính giác quá nhạy cảm

Chúng nghe được những âm thanh mà người thường không nghe thấy như sóng

siêu âm Những âm thanh đó khiến chúng đau tai và chúng hét lên, không biết

làm thế nào thì có trẻ tự cắn thậm chí cắn người xung quanh cũng là một cách

trẻ muốn mọi người biết trẻ đau để giúp trẻ Nhiều khi trẻ phát ra những âm kỳ

cục u u, ư ư là để át đi nhứng âm thanh làm trẻ khó chịu Nhưng đa số không

Trang 18

mấy ai hiểu được sự đau đớn mà trẻ phải chịu Người lớn thường la mắng, đánh

đập trẻ vì cho rằng đó là những hành vi xấu Như vậy trẻ tự kỷ vừa phải đối phó

với những âm thanh khó chịu khiến chúng đau đớn, vừa phải chịu sự trừng phạt

của người lớn, chúng luôn ngó nghiêng đề phòng với những thứ làm chúng khó

chịu Chính vì vậy mà không thể tập trung chú ý

+ Th ị giác:

Phần não phụ trách thị giác của một số trẻ tự kỷ bị tổn thương nên sự điều

tiết của mắt không chính xác

Hình ảnh mà trẻ nhìn thấy lúc to, lúc nhỏ; lúc rõ, lúc mờ; có lúc cái gì

cũng rung, lắc lư Chính vì thế mà trẻ quay đi không nhìn Nếu đó là một thứ trẻ

rất muốn nhìn thì trẻ sẽ có phản ứng là túm lấy vật giữ thật chặt vì có thể trẻ cho

rằng làm như vậy vật đó sẽ không còn rung nữa

Sự điều tiết của mắt không hoàn chỉnh nên hình ảnh mà 2 mắt trẻ nhận

được chồng lên nhau nhưng không khít, giống như khi ta bị hoa mắt, nhìn 1 vật

mà thành 2, 3 vật nên nhiều lúc trẻ đưa tay ra túm mà không trúng vào vật

Ví dụ như đi cầu thang trẻ không nhìn xuống bậc thang vì 3 bậc trẻ thấy

thành 6 bậc, bước toàn hụt, không biết bước vào bậc nào nên trẻ không nhìn nữa

mà dò bằng chân Rất nhiều trẻ tự kỷ 3- 4tuổi đi cầu thang còn rất kém, thường

bước 2 chân 1 bậc

Có trẻ tự kỷ 9 tháng đứng vững nhưng 22 tháng mới đi vững Trước khi đi

được, để di chuyển trẻ chỉ có một cách duy nhất là bò vì ở khoảng cách đó với

đất nó mới nhìn rõ đường Nếu có người dắt, thậm chí đặt một ngón tay vào

người trẻ thì trẻ bước lên phía trước khá bình thường song bỏ tay ra thì trẻ dừng

lại ngay ở đây không phải yếu tố tâm lý thiếu bàn tay người khác, trẻ thiếu tự

tin mà chỉ vì trẻ không nhìn rõ

Những trẻ chức năng thị giác của não kém thường cần rất nhiều kích thích

thị giác Chúng thường tự kích thích bằng cách xoay tròn, lắc lư, đung đưa các

vật vì vật tĩnh chỉ có 1 hình ảnh trong khi hình động có tới 24 hình/1giây kích

Trang 19

thích thị giác nhiều hơn Do đó rất nhiều trẻ tự kỷ có tật xoay tròn các vật, thích

nhìn những vật quay tròng như cánh quạt

+ V ị giác:

Mất vị giác: những trẻ này thích ăn những thức ăn kích thích mạnh như

hành, tỏi, ớt để tìm cảm giác vị giác nhưng chỉ cảm nhận được rất ít nên chúng

ăn rất nhiều những thứ này Dù bị cấm ăn, gia đình phải giấu những thứ này đi

trẻ vẫn tìm bằng được để ăn Nhiều khi trẻ ăn bất cứ thứ gì trẻ thấy, dù bẩn, để

tìm cảm giác vị giác

Ngược lại có những trẻ tự kỷ vị giác quá nhạy cảm thì lại không ăn được

gì hoặc chỉ ăn một, hai món mà không chịu dùng món khác Thường khi cho

những trẻ này ăn rất khó khăn, mỗi bữa ăn đều phải vật lộn để bón cho trẻ

+ Xúc giác:

Một số trẻ tự kỷ xúc giác quá nhạy cảm, chúng thường đi nhón chân, đi

bằng các đầu ngón chân, thậm chí có trẻ không bao giờ đi, đặt xuống đất là chạy

vì khi chạy thì sự tiếp xúc giữa chân và mặt đất sẽ ít đi

Một số khác thì ngược lại, chúng không có hoặc có rất ít cảm giác xúc

giác Tay trẻ lúc nào cũng như đeo găng tay cao su dày, vướng víu, không cầm

chắc được vật gì ( tay không liệt vì vẫn giơ lên được) Để tìm cảm giác xúc giác

những trẻ này hay vẵy tay, cào lên tường, đập tay xuống sàn nhà, co cứng các

ngón tay lại rồi nhìn chằm chằm vào bàn tay

+ Kh ứu giác:

Trẻ có thể thở khó hay thường xuyên bị những bệnh về hô hấp như xổ

mũi, ngạt mũi Một số trẻ nhạy cảm với những mùi thơm của nước xả quần áo,

nước lau nhà Những mùi này khiến trẻ khó chịu Một số trẻ lại thích ngửi đồ vật

hoặc tay người khác để tìm kiếm mùi mà trẻ thích

+ R ối loạn tiêu hoá:

Trẻ thường xuyên bị táo hoặc kiết Một phần do trẻ ăn uống thiếu chất

(đối với những trẻ kén ăn) nhưng cơ bản là do không hấp thụ được một số chất

Trang 20

Có thể cho trẻ uống thêm một số Vitamin song không cải thiện được tình trạng

bao nhiêu

Với tất cả những khó khăn mà trẻ tự kỷ phải đối mặt hàng ngày hàng giờ

như đã nêu trên thì thế giới này quả là “khinh khủng” với nó Vì thế mà với

những gì nó đã biết rồi thì nó thấy an toàn và không muốn thay đổi bất cứ cái gì

nó đã biết, nó sợ cái mới sẽ nguy hiểm đối với nó Khi cầm một vật gì mà nó

yêu thích thì sẽ cầm mãi, một vật bất ly thân, bất kể lúc nào, dù nó ở đâu, làm gì

thì không ai có thể lấy vật nó khỏi tay nó được

1.2.3.4 M ột số yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi của trẻ tự kỷ

♦ Dinh dưỡng:

Có giả thuyết cho rằng với một số trẻ, bệnh tự kỷ sinh ra do ăn thức ăn có

chất gluten (có trong bột mì) và casein trong sữa Đây là hai protêin lớn mà khi

vào ruột, chúng được cắt ra những phần nhỏ hơn gọi là peptides Bệnh tự kỷ

sinh ra do việc tiêu hoá không hoàn toàn các peptides này Chúng được hấp thu

qua màng ruột vào máu đi lên não, có tác dụng giống như thuốc phiện đối với tế

bào thần kinh trong não, gây ra những hành vi thường gặp trong bệnh tự kỷ

Tuy chưa có nghiên cứu khoa học nào xác nhận giả thuyết trên là đúng

song những cha mẹ thử cho con ăn theo lối dinh dưỡng không có gluten, kiêng

sữa cùng những sản phẩm từ sữa thì tính tình trẻ trở nên dễ chịu hơn, bớt cáu

kỉnh và những hành vi xấu, tiến bộ rõ rệt sau 1 tháng thử nghiệm

Tại sao sữa không tốt cho trẻ bại não nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng?

Có thể hiểu một cách nôm na rằng mẹ của loài nào chỉ tiết ra sữa để nuôi con

của loài đó Trong sữa bò, sữa dê có những thành phần không phù hợp với cơ

thể con người Những thành phần đó sau khi được hấp thụ vào cơ thể còn đọng

lại ở não mà những trẻ này không tự loại bỏ được

Tuy nhiên không phải trẻ tự kỷ nào cũng "dị ứng" với những thứ trên Có

thể áp dụng chế độ thử kiêng bằng cách đưa ra khỏi thực đơn của trẻ tất cả

những thứ có thể làm trẻ khó chịu trong khoảng từ 4 - 10 tuần Theo dõi phản

ứng của trẻ Sau đó đưa trở lại ăn từng món một và theo dõ phản ứng của trẻ

Trang 21

Loại bỏ vĩnh viễn bất cứ món ăn nào làm cho phản ứng của trẻ trở nên tồi tệ

hơn

Ngoài ra trẻ tự kỷ thường bị thiếu canxi do cơ thể không hấp thu được

canxi trong thức ăn, biểu hiện ra là răng bị đen, hay nghiến răng, gồng người,

xước măng dô cả 10 đầu ngón tay, thậm chí nếu thiếu nhiều còn dễ bị gãy xương

và một số hậu quả xấu khác

♦ Nhiệt độ: ở những trung tâm chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ, vào những

ngày trời mát, những trẻ ở đây đều trở nên dễ bảo và hiền hơn, không quậy phá

Cơ thể hoạt động cần oxy, nếu nhiệt độ môi trường tăng thêm 1˚C thì cơ

thể cần thêm 7% oxy[5]

1.2.4 Khái niệm phương pháp can thiệp

Khái ni ệm phương pháp trong triết học [3]

Trong triết học, phương pháp được hiểu là cách thức, con đường thực hiện

một hành động nào đó để đạt một mục đích nhất định, để giải quyết những

nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn

Trong mối quan hệ với nội dung, Hêghen (nhà triết học Đức) định nghĩa

phương pháp là sự vận động nội tại của nội dung Nội dung nào thì phương pháp

đó Không thể lắp ghép tuỳ tiện nội dung này với phương pháp khác

Triết học nhấn mạnh rằng cùng một vấn đề khi được tiếp cận bằng những

ph ương pháp khác nhau sẽ đem lại kết quả khác nhau cả về chất lượng và hiệu

qu ả Đây cũng chính là điều tôi muốn làm sáng tỏ trong nghiên cứu này

Khái ni ệm phương pháp can thiệp

Từ định nghĩa về phương pháp theo quan điểm triết học ở trên, ta có thể

hiểu phương pháp can thiệp là cách thức, con đường thực hiện những hành động

nào đó tác động đến một đối tượng nhằm mục đích làm thay đổi đối tượng đó

Cụ thể trong nghiên cứu này là cách thức thực hiện những hành động cụ thể tác

động lên hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ nhằm thay đổi chúng theo hướng

tích cực

Trang 22

Cần lưu ý cùng một phương pháp can thiệp có thể phù hợp với trẻ này

song lại không phù hợp với trẻ khác

Nh ững khái niệm khác

Khái niệm hành vi được sử dụng trong đề tài chỉ giới hạn ở hành vi ứng

xử của trẻ trong một số tình huống nhất định Hành vi ứng xử là cách trẻ hoạt

động để đối phó với những tác động từ bên ngoài vào cơ thể

Theo Piaget, sự phát triển nhận thức của trẻ em bao gồm sự thu thập các

cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc để hiểu và làm việc với thế giới bên ngoài để

tư duy và giải quyết vấn đề Cơ sở nhận thức nằm ở hành động [1, 176-177]

Khái niệm nhận thức được sử dụng trong đề tài nhằm để chỉ những thứ trẻ biết

và những việc trẻ làm được

Không thể phân chia rõ ràng cái nào hoàn toàn thuộc về nhận thức, cái

nào hoàn toàn thuộc về hành vi mà sự phân chia chỉ là tương đối VD: Khi ta

yêu cầu trẻ “chỉ con cá”, hành động chỉ của trẻ là hành vi của cơ thể song quá

trình tư duy được khái niệm con cá thuộc về nhận thức Trong nghiên cứu này,

ngay cả hành động chỉ cũng được tính điểm trong phần đánh giá nhận thức là do

trẻ phải phân biệt được yêu cầu “chỉ, cầm, đưa” để làm theo lệnh

Khái niệm trị liệu được sử dụng trong nghiên cứu này chỉ có nghĩa là một

sự tác động, can thiệp đến trẻ tự kỷ nhằm cải thiện tình trạng của trẻ, không hẳn

là trị liệu tâm lý

Kỹ thuật viên, chuyên viên, người trị liệu, người can thiệp có thể chỉ

những đối tượng khác nhau song trong nghiên cứu này được dùng như nhau để

chỉ những người có tác động đến trẻ tự kỷ trong quá trình can thiệp

1.2.5 Một số phương pháp can thiệp được sử dụng tại các gia đình ở Hà Nội

Ở đây tôi chỉ trình bày 2 phương pháp mà khách thể (4 gia đình) trong

nghiên cứu này đang sử dụng

Phương pháp can thiệp “cũ”: Là một trong những phương pháp phổ biến

nhất hiện nay Gia đình mời hoặc gia sư, hoặc chuyên gia phục hồi chức năng

của viện nhi, hoặc giáo viên giáo dục đặc biệt, hoặc nhà tâm lý học đến trị liệu

Trang 23

cho trẻ tại nhà Êkíp can thiệp cho trẻ có thể là một người hoặc một vài người

hoặc tất cả trong số đó KTV tự tìm hiểu, tổng kết từ các tài liệu, chương trình

tập huấn và hoạt động thực tiễn để đề ra phương pháp dạy đối với từng trẻ

Phương pháp can thiệp “mới” [5]: kết hợp của phương pháp ABA,

chương trình phục hồi trẻ bại não - Glenn Doman, chương trình cách dạy ngôn

ngữ ứng xử cho trẻ tự kỷ và chậm phát triển tâm thần- Vincent Carbon, chương

trình Từng bước nhỏ một của Đại học Marquarie, Sydney và kinh nghiêm bản

thân Lê Thị Phương Nga đã xây dựng Chương trình "Bé yêu - Bé giỏi"

Mục tiêu chung của những phương pháp này đều nhằm cải thiện hành vi

và phát triển nhận thức của trẻ, trẻ nghe lời Tuy nhiên với những bài tập và tình

huống cụ thể thì mỗi phương pháp lại có những mục tiêu riêng Về nền tảng giáo

dục đều theo lý thuyết chủ nghĩa hành vi Song việc áp dụng những lý thuyết đó

vào thực tiễn, cách thức, kết quả trẻ tiếp thu được lại rất khác nhau

Bảng 1: So sánh phương pháp “mới” và phương pháp “cũ”

STT Nội dung Phương pháp “cũ” Phương pháp “mới” [5]

1 Vài nét

chính

- Th ời gian: Trẻ được can thiệp bởi các KTV 4 giờ/ngày Thời gian còn lại

do sự chăm sóc và giáo dục của gia đình

- Trình độ của KTV: trình

độ đại học, các ngành tâm

lý học, giáo dục đặc biệt, mầm non được đào tạo qua một số lớp tập huấn hoặc

tự tham khảo tài liệu

- N ội dung học: học trên bàn (các kỹ năng, chơi đồ chơi, nhận biết, sử dụng đồ

- Th ời gian: Cả ngày trẻ không bao giờ rảnh rỗi, được can thiệp bởi các KTV 4 giờ/ngày, thời gian còn lại gia đình can thiệp

- Trình độ của KTV: Trình

độ hết lớp 12 trở lên, được học 40 giờ lý thuyết và quan sát, dự giờ những buổi của KTV nhiều kinh nghiệm hơn

- N ội dung học: các bài tập

phục hồi chức năng, các

ký năng, học trên bàn

Trang 24

vật, )

- Phòng h ọc: tuỳ điều kiện

gia đình trẻ song lúc trẻ học phải có không gian riêng không ai làm phiền

- Giáo c ụ, đồ chơi: tuỳ

theo lứa tuổi của trẻ, một phần do gia đình chuẩn bị, một phần do KTV tự trang

- Giáo c ụ đồ chơi: rõ ràng

đơn giản về màu sắc, đa dạng về chủng loại Hoàn toàn do gia đình chuẩn bị

mắt, quát, hoặc roi vọt

Cách c ủng cố hành vi tốt

Khen và thưởng nhưng không phải lúc nào cũng khen ngay, thưởng ngay

Nhiều khi yêu cầu trẻ làm lại một lần nữa ngay lúc

đó rồi mới thưởng

Cách dạy bài mới: số

lượng bài mới giới thiệu ít, dựa trên khả năng của trẻ, trẻ học nhanh thì giới thiệu thêm bài mới, trẻ học

có thể chỉ khen không thưởng Cho trẻ cơ hội tiếp tục thể hiện hành vi tốt nhưng không bắt lặp lại ngay lúc đó

Cách dạy bài mới:

thường xuyên giới thiệu cái mới hàng ngày với số lượng lớn Luôn bắt đầu từ những thứ trẻ thích, trẻ

Trang 25

chậm thì ôn đi ôn lại bài

cũ, bài mới ít

Cách kiểm tra bài cũ

Thường xuyên kiểm tra,

ôn đi ôn lại một số lượng kiến thức trong nhiều ngày

làm được

Cách kiểm tra bài cũ

Không kiểm tra mà tạo điều kiện cho trẻ cơ hội thể hiện cái trẻ biết

- Bài học phải được trộn lẫn và tráo đổi liên tục, không đơn điệu, không lặp lại trong 1 tua dạy (trừ khi xen vào giữa những cái khác)

- Dừng lại trước khi trẻ muốn dừng

3 Nguyên

tắc chung

- KTV nói chậm, ngắn gọn, to, rõ để trẻ hiểu

- KTV nói là làm, không xoá lệnh: nghĩa là cô ra lệnh trẻ phải làm kể cả phải đe doạ, dùng roi

KTV nói nhanh để giữ sự tập trung chú ý của trẻ, nói

to, dứt khoát, không lên bổng xuống trầm

- Giảm thời gian chết, không có khoảng trống về thời gian, các câu hỏi và hoạt động liên tiếp cho đến lúc rời khỏi bàn

- KTV nói là làm, không xoá lệnh: nghĩa là cô ra lệnh trẻ phải làm Nếu không biết thì giúp toàn phần, nếu trẻ biết mà không chịu làm thì cầm tay trẻ làm nhưng nắm tay

Trang 26

- Cô luôn đúng: chỉ cho trẻ thấy cái sai của trẻ, làm theo cô mới đúng

thật chặt (trẻ sẽ rất khó chịu và lần sau sẽ tự làm)

- Trẻ luôn đúng: không bao giờ để trẻ sai, thất bại

- Đối xử với trẻ công bằng, tôn trọng

4 Phản ứng

của trẻ

Trẻ sợ các KTV, nhiều lúc chán nhưng vẫn phải làm theo, nảy sinh tâm lý tiêu cực và hành vi xấu Vâng lời một cách ép buộc

Trẻ vui vẻ, thích học trên bàn, rất quí các KTV

Vâng lời một cách tự nguyện Thỉnh thoảng có hành vi xấu khi làm các bài tập phục hội chức năng

Ngoài ra, tại các gia đình theo phương pháp “mới” còn có luật và chính

sách:

Luật: mọi cái ghi trong luật đều phải làm Luật cho trẻ biết mình chờ đợi gì

ở trẻ, trẻ được làm gì và không được làm gì Luật phải công khai, rõ ràng, ở nơi

dễ thấy, dễ biết Luật phải đủ tính răn đe Hình phạt đối với hành vi xấu giống

như liều thuốc trụ sinh Nếu luật không đủ tính răn đe, hình phạt không đủ, trẻ sẽ

nhờn, không sợ Nếu luật đủ tính răn đe, hành vi xấu sẽ mất Luật phải khả thi

Chính sách: nên làm, làm thì được thưởng, không làm thì thiệt thòi Khi

trẻ biết chính sách hợp lý, trẻ sẽ ngoan hơn, giỏi hơn VD: Làm một bài trong

hai mươi phút được thưởng 1/4 cái bánh, nếu trẻ làm xong một phút rưỡi thì cho

trẻ cả cái bánh, ba phút mới xong thì cô ăn bánh luôn Chính sách phải rõ ràng,

công khai, phải đủ tính khích lệ, phải khả thi ( khi yêu cầu trẻ làm bài trong 2

phút phải biết chắc trẻ làm, nếu trẻ biết là trẻ không thể làm xong trong hai phút,

trẻ sẽ bỏ đi luôn) Tuỳ từng thời điểm phục hồi để điều chỉnh chính sách cho

phù hợp

Trang 27

Trách nhiệm: trẻ tự chịu trách nhiệm về bản thân Trẻ rất muốn cống hiến

cho người khác Cái gì trẻ biết làm thì hãy để trẻ làm, dù trẻ làm dở thì cũng

đừng cản trẻ Trẻ cần cha mẹ trang bị những kỹ năng để trẻ đạp lên được trông

gai chứ không phải để cha mẹ che chở suốt đời Nếu cha mẹ che chở mà không

trang bị, đến lúc không còn người che chở, trẻ sẽ không chống đỡ được với cuộc

sống Nếu trẻ cảm thấy mình là người thừa, vô dụng thì càng thu mình Vì vậy,

cần phải tạo điều kiện để trẻ cảm thấy trẻ là người có ích, là người quan trọng

VD: cho trẻ làm việc nho nhỏ : nhặt rác, rót nước, dọn cơm Cho trẻ thấy trẻ

được bình đẳng với người khác, quan trọng với người khác

Thêm nữa, chủ trương của phương pháp mới coi nguyên nhân của bệnh tự

kỷ là do não của trẻ bị tổn thương Mỗi chức năng có thể được điều khiển bởi

một phần của não nhưng tất cả các chức năng của chúng ta phối hợp với nhau

một cách hài hoà vì não là một khối thống nhất Tuy các chức năng hoạt động

tương đối đọc lập nhưng khi một chức năng bị tổn thương thì hoạt động của các

chức năng khác cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Não không tái sinh tế bào, nếu tế

bào não chết đi sẽ không có tế bào mới thay thế Tuy nhiên trẻ có thể học để

thay thế chức năng Khi một phần não nào đó bị tổn thương dẫn đến việc mất

chức năng cơ thể (mất một phần hoặc toàn phần) thì phần não “láng giềng” –

tương ứng – có thể học cách tiếp nhận thông tin và chỉ đạo cơ thể phục hòi được

chức năng đã mất nếu được kích thích và huấn luyện đúng cách Một quan niệm

nữa của phương pháp “mới” cũng còn xa lạ với nhiều người Đó là não là một

“dụng cụ chứa đặc biệt” Khi bỏ vào đó càng nhiều thì sức chứa của nó càng

tăng lên Trẻ học được nhiều hay ít, giỏi hay không nằm ở chỗ phương pháp dạy

chứ không phải khả năng tiếp nhận thông tin của não[5] Cũng như các bộ phận

khác của cơ thể, não cũng cần vận động để tồn tại nhưng theo cách riêng của nó

Nhiệm vụ của não là xử lý thông tin từ môi trường truyền vào thông qua các

giác quan rồi chỉ đạo cơ thể phản ứng để trả lời môi trường bên ngoài Cách duy

nhất để vận động não là tạo thật nhiều cơ hội cho não nhận được các kích thích,

các thông tin từ môi trường bên ngoài thông qua 5 giác quan: thị giác, thính

Trang 28

giác, xúc giác, vị giác, khứu giác Đó là 5 đường quan trọng dẫn truyền kích

thích, thông tin đi tới não

Theo phương pháp “mới” trẻ phải tập các bài tập phục hồi chức năng và

ch ương trình vận động não sau:

Phục hồi chức năng:

- Phối hợp chéo giữa chân và tay: bò (1,6km/ngày), trườn (1,6km/ngày),

chạy, đi bộ (tối thiểu 2km/ngày), bơi, vận động chéo (60phút/ngày) (xem ảnh

minh hoạ ở phụ lục 5) Phối hợp chéo có tác dụng tăng sự phối hợp điều khiển

của các cơ quan chức năng, tốt cho sự phục hồi của não giữa (thở, nghe, kết hợp

cơ quan phát âm), cũng củng cố phần chức năng của vỏ não (xử lý thông tin, sắp

xếp tổ chức ngôn từ, vấn đề bên thuận - thuận trái/phải)

- Hô hấp, cải thiện tình trạng thiếu oxy: thở mặt nạ và tập đai (ảnh minh

họa trong phụ lục 5)

- Thị giác: 1- tập bằng đèn 500-1000W trong phòng tối đối với những trẻ

thị giác bị tổn thương nặng (biểu hiện mắt lệch nhiều-lác, nhìn kém, mắt đảo

liên tục ) Còn lại tập nhìn bảng đen trắng: 1 tấm giấy đen rồi đến 1 tấm giáy

trắng, tráo trước mặt trẻ mỗi tấm 1giây, 10 phút làm 1 lần, mỗi lần 5 đen, 5

trắng Ngoài ra có thể xem đĩa tập mắt 2- tập bơi lội, chuyền cành, đu xà (phụ)

- Thính giác: tập còi hơi, phải bất ngờ, trung bình 20- 40 tiếng còi/1 ngày,

để còi phía sau gáy trẻ cách xa 0,5m , mỗi lần một tiếng còi Ngoài ra còn đập

gỗ 40 - 60 lần/ngày, cách tai 20cm Tập cho đến khi trẻ định vị được âm thanh

thì dừng

- Xúc giác: dùng kim châm, dụng cụ massa hoặc móng tay, châm vào da

trẻ rồi xoa ngay tại chỗ châm (20 phút/ngày) Ngoài ra còn trườm nóng lạnh:

dùng một chai nước nóng để lên điểm nào 1 giây rồi đến một chai nước lạnh

(15 phút /ngày) Ví dụ trẻ đi nhón chân thì kích thích từ đầu gối xuống bàn chân,

đặc biệt là lòng bàn chân

Trang 29

Yêu cầu đối với các kích thích:

- Phải đủ mạnh mới đủ sức truyền kích thích lên vùng não “phía trên”,

nói một cách hình ảnh là nó đi vòng qua vùng não chết, vùng não bị tổn

thương để lên vùng não còn hoạt động

- Phải đủ dày mới đủ sức lưu giữ được thông tin trong não

- Phải đủ lâu: con đường lên tới vùng trí nhớ khó khăn hơn rất nhiều so

với trẻ thường Do đó phải kiên trì dạy đến khi trẻ thực sự hiểu, thực sự

nhớ

Chương trình vận động não

- Chương trình học toán: phương pháp học bằng thẻ chấm trước để dạy về

giá trị thật, sau đó mới chuyển qua học số viết theo quy ước của xã hội Thẻ

chấm, thẻ số từ 1 đến 100, thẻ dấu +, -, x, ữ

- Chương trình học đọc: phương pháp chụp hình mặt chữ, không đánh

vần Làm thẻ chữ: từ đơn, từ đôi, câu Tráo trước mặt trẻ mỗi thẻ 1 giây, mỗi

lần tối đa 5 thẻ và đọc: VD: bố, mẹ, con, bà, cô Sau đó đổi thứ tự để lần khác

giới thiệu trẻ không thuộc lòng

Ngày đăng: 16/04/2015, 23:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh phương pháp “mới” và phương pháp “cũ” - Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội
Bảng 1 So sánh phương pháp “mới” và phương pháp “cũ” (Trang 23)
Bảng 2 : Đánh giá ban đầu bằng test C.A.R.S - Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội
Bảng 2 Đánh giá ban đầu bằng test C.A.R.S (Trang 36)
Bảng 3: Kết quả đánh giá về nhận thức và hành vi buổi đầu - Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội
Bảng 3 Kết quả đánh giá về nhận thức và hành vi buổi đầu (Trang 37)
Bảng 6 : So sánh nhận thức và hành vi ban đầu của A và A’ - Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội
Bảng 6 So sánh nhận thức và hành vi ban đầu của A và A’ (Trang 42)
Bảng 9 :   So sánh cách tiếp cận,  đối xử với trẻ của KTV - Tìm hiểu một số phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ tại các gia đình ở Hà Nội
Bảng 9 So sánh cách tiếp cận, đối xử với trẻ của KTV (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w