Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể, xem xét sự tác động của chính sách xã hội tới đối tượng của nó để có thể thấy sự bất cập của một chính sách khi đi vào cuộc sống tới đối
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài: 4
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
2.1 Ý nghĩa khoa học 5
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 6
5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu 7
5.1 Đối tượng nghiên cứu: 7
5.2 Khách thể nghiên cứu: 7
5.3 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6.1 Phương pháp luận 7
6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Khung lý thuyết 11
9 Khả năng đóng góp của khóa luận 12
10 Bố cục của khóa luận 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 14
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 15
1.2.1 Cơ sở lý luận 15
1.2.2 Căn cứ thực tiễn 16
1.3 Những khái niệm công cụ 17
1.3.1 Khái niệm về sự tác động 17
1.3.2 Khái niệm chính sách xã hội 17
Trang 21.3.3 Đảm bảo xã hội 20
1.3.4 Ưu đãi xã hội 20
1.3.5 Đời sống xã hội 21
1.3.6 Liệt sỹ và gia đình liệt sĩ 21
1.3.7 Thương binh và gia đình thương binh 21
1.3.8 Chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ và Người có công24 1.3.9 Khái niệm thu nhập 22
1.3.10 Khái niệm nghèo 23
1.3.11 Khái niệm thị trường và nền kinh tế thị trường 23
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ25 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 25
2.2 Những nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu 28
2.2.1 Đảng bộ và chính quyền Huyện Văn Quan đã từng bước thực hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ 28
2.2.1.1 Khái quát về tình hình gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn Quan 28
2.2.1.2 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình thương binh liệt sĩ ở Văn Quan 30
2.2.2 Chính sách xã hội đã tác động rất lớn đến thực trạng đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ ở huyện Văn Quan 42
2.2.2.1 Đời sống vật chất 42
2.2.2.2 Đời sống tinh thần 44
2.2.3 Việc thực hiện chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sỹ vẫn còn nhiều bất cập, nhiều gia đình thương binh liệt sĩ còn gặp khó khăn trong cuộc sống nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 46
2.3 Kết luận Những kiến nghị và giải pháp 50
2.3.1 Kết luận 50
2.3.2 Kiến nghị và giải pháp 51
2.3.2.1 Kiến nghị và giải pháp chung: 51
Trước hết mọi ngành mọi cấp cần nhận thức: 51
Trang 32.3.2.2 Kiến nghị đối với địa phương 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh tàn khốc và ác
liệt Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã làm tròn sứ mệnh lịch
sử của mình, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giữ gìn độc lập tự do cho
Tổ quốc Hơn bốn mươi năm qua đi, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng
triệu người con hy sinh, hàng chục vạn người đã góp một phần xương máu của
mình cho Tổ quốc non sông, khi trở về mang bao nhiêu thương tật của chiến
tranh Tất cả họ lại tất bật với cuộc sống đời thường, họ gặp nhiều khó khăn
trong sinh hoạt, hạn chế trong lao động sản xuất
Khắc phục những hậu quả đó, đảm bảo cuộc sống cho gia đình thương
binh liệt sỹ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân cần phải chăm lo, điều đó cũng
là một trong những nội dung góp phần to lớn cho mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Nghị quyết Đại hội lần thứ IX
của Đảng đề ra
Với truyền thống “Thủy chung, nhân nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”,
“Ăn quả nhớ người trồng cây”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ, người có
công với cách mạng từ lâu đã được quan tâm Đặc biệt, ngay trong thời kỳ đồng
thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhiệm vụ này cũng đã
được đặt lên hàng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc lúc
bấy giờ rất quan tâm tới công tác chăm sóc, gia đình thương binh, liệt sĩ Trong
thư gửi cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ thương binh (cũ) nhân ngày 27/7/1956,
Bác viết “Thương bệnh binh, quân nhân và gia đình liệt sỹ những người có công
với Tổ quốc, với nhân dân cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải
thương yêu và giúp đỡ họ” Cho đến lúc trước khi qua đời, trong Di chúc Bác
không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: “đối với những người đã
Trang 5hy sinh một phần xương máu của mình vì độc lập tự do cho đất nước, Đảng,
Chính phủ và đồng bào phải bằng mọi cách làm cho họ có đủ nơi ăn, chốn ở yên
ổn”
Trong gần nửa thế kỷ qua, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, kế tục
và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
không ngừng phấn đấu thực hiện tốt vấn đề chăm sóc thương binh gia đình liệt
sỹ Tuy nhiên bên cạnh những cố gắng nỗ lực đáng ghi nhận đó, công tác chăm
sóc thương binh, gia đình liệt sỹ vẫn còn không ít những vấn đề bất cập và bức
xúc đặt ra cần phải giải quyết
Chúng ta đã biết, việc hoạch định ra được một chính sách xã hội đúng đắn
đã khó Nhưng để đưa chính sách xã hội đó vào cuộc sống, được cuộc sống chấp
nhận và đạt được mục tiêu đề ra lại càng khó khăn hơn Điều đó đòi hỏi phải có
những nghiên cứu cụ thể, xem xét sự tác động của chính sách xã hội tới đối
tượng của nó để có thể thấy sự bất cập của một chính sách khi đi vào cuộc sống
tới đối tượng cụ thể để nhận thức rõ hơn những vấn đề tích cực cũng như hạn
chế để giúp cho công tác “đền ơn đáp nghĩa” với các gia đình thương binh liệt sỹ
và các đối tượng khác ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển
xã hội hiện nay Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Sự tác động của chính sách
xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường
hiện nay” thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn làm
khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành xã hội học của mình
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Để thực hiện hoàn chỉnh đề tài: “Sự tác động của chính sách xã hội đối
với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay” chúng
tôi đã vận dụng nhiều tri thức, phương pháp nghiên cứu xã hội để phân tích
nhiều hiện tượng đang tồn tại và bức xúc hiện nay Ngoài ra đề tài còn được
triển khai trên cơ sở kiến thức chuyên ngành xã hội học chính sách xã hội, đồng
Trang 6thời để kiểm nghiệm những tri thức, lý thuyết khoa học đang vận dụng trong
thực tiễn xã hội hiện nay
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tìm hiểu sự tác động của chính sách xã hội đối với đời sống gia đình
thương binh liệt sỹ, qua đó thấy được thực trạng đời sống gia đình thuộc diện
chính sách, trên cơ sở khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của chính sách
xã hội, hướng tới mục tiêu là tạo cho đời sống của gia đình thương binh, liệt sỹ
có được mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú Đó là khâu quan trọng
trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục được những mặt trái
của nền kinh tế thị trường Từ đó giúp cho mỗi gia đình thương binh, liệt sỹ yên
tâm xây dựng cuộc sống gia đình, quê hương, bỏ qua những mặc cảm đời
thường, hòa nhập với xã hội để xây dựng đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên
con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách xã hội đã và đang tác động đến đời sống thương
binh, gia đình liệt sỹ như thế nào, đồng thời đưa ra một số kiến nghị và giải pháp
nhằm đề xuất với các nhà hoạch định chính sách, có những chính sách hữu hiệu
để nâng cao hơn nữa đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của các gia
đình thương binh liệt sỹ trước và sau khi chính sách xã hội ra đời đối với đối
tượng này
- Xem xét việc thực thi chính sách xã hội của địa phương
- Sự tác động của chính sách đến với đối tượng, những mặt tích cực, hạn
chế của chính sách và nguyện vọng của các đối tượng chính sách
- Từ thực tiễn ở địa bàn khảo sát đưa ra các giải pháp và kiến nghị để giúp
cho những người làm công tác chính sách xã hội ở địa phương thấy được thực
Trang 7trạng để điều chỉnh, bổ sung và làm tốt hơn nữa công tác “đền ơn đáp nghĩa” ở
địa phương mình
- Đề tài cũng nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách xã hội có
được cái nhìn đúng đắn hơn về đời sống của các gia đình thương binh liệt sĩ nói
riêng và các đối tượng chính sách nói chung và sự bất cập của một chính sách xã
hội khi đi vào đời sống thực tế Từ đó họ hoạch định những chính sách phù hợp
với từng đối tượng xã hội
5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
“Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ ở
huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Đề tài được triển khai nghiên cứu đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ
ở huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian
Nghiên cứu trên địa bàn toàn huyện Văn Quan, nhưng tập trung chủ yếu ở
ba xã: Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu trong những năm gần đây chủ yếu là ba
năm 2005, 2006 và 2007
Thời gian khảo sát hai tháng từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2008
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Ở nước ta, đối tượng của chính sách xã hội bao gồm nhiều tầng lớp giai
cấp và nhóm xã hội khác nhau Bởi vậy, để có một phương pháp luận đúng, đề
tài phải dựa trên một số quan điểm sau:
+ Nghiên cứu phải dựa trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác-Lê
nin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghĩa là nghiên cứu chính sách xã
hội tác động tới đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ phải đặt trong mối quan
Trang 8hệ tác động qua lại với các chính sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp
các nhóm xã hội khác nhau Đồng thời, nghiên cứu phải dựa trên quan điểm duy
vật lịch sử, nghĩa là vấn đề nghiên cứu phải đặt ra được những hoàn cảnh, điều
kiện lịch sử cụ thể Quá trình nghiên cứu phải đảm bảo điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội của từng giai đoạn
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu không thể bỏ qua đặc trưng tính
chất cụ thể của từng vùng, từng địa phương
+ Nghiên cứu phải giữ vững lập trường quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh,
được cụ thể hóa bằng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Việt Nam trong các chính sách xã hội nói chung, chính
sách với gia đình thương binh liệt sỹ nói riêng Mọi chính sách của Đảng và Nhà
nước ta đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, ổn định xã hội, xét đến cùng là vì
mục đích cao cả - phát triển nhân tố con người
+ Nghiên cứu phải dựa trên lập trường của giai cấp công nhân, đó là lập
trường cách mạng triệt để, là lập trường kiên quyết đấu tranh, lập trường cách mạng
thể hiện được yêu cầu, nguyện vọng cơ bản của quần chúng nhân dân
+ Mỗi chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm vào mục đích phát
triển kinh tế ổn định xã hội Xét đến cùng là vì mục đích cao cả là phát triển
nhân tố con người Thương binh liệt sĩ là những người vì mục đích cao cả của
đất nước mà hy sinh tàn phế nên khi đi vào nghiên cứu CSXH về các đối tượng
này chúng ta phải xác định trước hết vì nhân tố phát triển con người phát triển
xã hội
6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu xã hội học như sau:
6.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:
Trong nghiên cứu xã hội học người ta thường sử dụng phương pháp chọn
mẫu Nghiên cứu mẫu có nghĩa là thay việc nghiên cứu toàn bộ bằng nghiên cứu
Trang 9một bộ phận đại diện Từ kết quả của bộ phận đại diện đó suy ra toàn bộ tổng
thể của địa bàn nghiên cứu Ở đây tuân thủ theo các quy trình nghiên cứu chọn
mẫu chúng tôi đã chọn địa bàn khảo sát ở huyện Văn Quan với 3 xã Tú Xuyên,
Tri Lễ và Hữu Lễ Từ kết quả của 3 xã này cũng có thể suy ra là kết quả của cả
huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn hiện nay
6.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua những nguồn
tài liệu có sẵn Ở đây chúng ta dựa vào các tài liệu viết về truyền thống “uống
nước nhớ nguồn” ở huyện Văn Quan cũng như 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ
Dựa vào các số liệu trong các báo cáo như các báo cáo kiểm điểm công tác của
các Đại hội nhiệm kỳ của Đảng bộ huyện và các xã; báo cáo của UBND huyện
và xã trong 3 năm gần đây và các báo cáo của ngành Lao động Thương binh Xã
hội huyện và xã trong quá trình thực hiện chính sách xã hội đối với người có
công, trong đó có gia đình Thương binh liệt sĩ
Thông qua phương pháp phân tích tài liệu tác giả cũng đã sử dụng các tri
thức của các nhà nghiên cứu trước đây đã viết về lịch sử như lịch sử Đảng huyện
Văn Quan cũng như lịch sử Đảng bộ các xã đã nghiên cứu để làm cho thông tin
đầy đủ hơn Đó là những tài liệu vô cùng quý giá mà tác giả đã thâu lượm chắt
lọc và phân tích phục vụ cho đề tài
6.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi
Bảng hỏi gồm 12 câu Đó là những câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi
hỗn hợp được thực hiện đối với 90 đối tượng khác nhau ở 3 xã nghiên cứu Dự
định ban đầu là gửi phiếu cho từng gia đình rồi sau đó thu lại Phiếu gửi đến đối
tượng theo thống kê của huyện Tuy nhiên, qua thí điểm thấy rằng phương pháp
này thu được kết quả không cao Từ đó, chúng tôi đã chuyển sang hướng phỏng
vấn trực tiếp Phương pháp này rất công phu, tốn nhiều thời gian và kinh phí,
nhưng lại thu được kết quả phong phú và chính xác Vì vậy bộ phiếu 12 câu hỏi
đó đều được thực hiện đối với 90 đối tượng ở 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ và Hữu Lễ
Trang 106.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu: Ở đây tác giả đã tiến hành 10 cuộc
phỏng vấn sâu cá nhân đã làm rõ chi tiết hơn và phong phú hơn
6.2.5 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát ở đây chủ
yếu là xác định rõ sự biến đổi của gia đình thương binh liệt sĩ qua đời sống vật
chất và tinh thần của họ
Tìm hiểu xem sự tác động của chính sách xã hội làm cho cuộc sống của
các gia đình thương binh liệt sĩ có biến đổi không Sự biến đổi ở đâu được đánh
giá ở mức độ cao
Có thể nói những kết quả quan sát và xem xét được ghi chép rất tỉ mỉ và
thống kê số liệu rất cụ thể, về có sự thẩm định đối chiếu rõ ràng
6.2.6 Phương pháp PRA
Để trì sử dụng phương pháp này thông qua sự đánh giá có sự tham gia các
cán bộ đảng viên trong quá trình phỏng vấn điều tra
Phương pháp PRA cũng được tiến hành thông qua nhiều phương pháp cụ
thể, song do hạn chế về nhân lực điều tra, ít thời gian và kinh phí lại có hạn cho
nên tác giả chỉ sử dụng một phương pháp đó là sự thống kê số liệu và phân tích
các số liệu đó Những số liệu thống kê về đối tượng chính sách và quan điểm chỉ
đạo của địa phương Từ thực tiễn đó thấy được mối liên hệ và tác động qua lại
giữa đối tượng chính sách và người thực hiện chính sách những ưu điểm và hạn
chế trong quá trình thực hiện chính sách đến với đối tượng trong nền kinh tế thị
trường hiện nay
7 Giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào quá trình khảo sát và nghiên cứu bước đầu ở huyện Văn Quan
trong đề tài này chúng tôi đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Giả thuyết 1: Đảng bộ và chính quyền huyện Văn Quan đã từng bước
thực hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ
- Giả thuyết 2: Chính sách xã hội đã có sự tác động rất lớn đối với gia
đình thương binh liệt sĩ ở Văn Quan
Trang 11- Giả thuyết 3: Việc thực hiện chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ
vẫn còn nhiều bất cập, nhiều gia đình thương binh liệt sỹ còn gặp khó khăn trong
cuộc sống nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
8 Khung lý thuyết
Trong quá trình nghiên cứu khảo sát ở 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ
huyện Văn Quan về thực hiện chính sách xã hội và tác động của nó đối với gia
đình thương binh liệt sĩ, chúng tôi đã khảo sát các điều kiện kinh tế chính trị xã
hội Từ đó tìm hiểu sự tác động của chính sách xã hội đối với các hộ gia đình và
đặc biệt là đối với gia đình thương binh liệt sĩ Một mặt chúng tôi xem xét các
yếu tố khác như cơ cấu giai cấp, các loại hình hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo
dục, nhà ở, sức khỏe … Mối quan hệ qua lại cũng như tác động của chính sách
xã hội đối với các loại hoạt động trong từng đối tượng
Căn cứ vào cơ sở lý luận và phương pháp luận cũng giả thuyết nghiên cứu
và những điều giải trình trên xin đưa ra một cách khái quát khung lý thuyết
nghiên cứu như sau:
Trang 129 Khả năng đóng góp của khóa luận
Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu “sự tác động của chính sách xã hội đối với
các gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn Quan trong điều kiện kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay”; khóa luận sẽ đóng góp vào việc xác định rõ chính sách
xã hội và vai trò của nó đối với các gia đình thương binh liệt sĩ
Khóa luận tìm hiểu truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua các mối quan hệ
giữa con người với con người, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”
quan hệ “tương thân tương ái”, yêu thương đùm bọc lẫn nhau Qua đó góp phần
hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng mất đoàn kết, mất dân chủ ở một số địa
phương hiện nay
ưu đãi
nh ở
Chính sách
ưu đãi chăm sóc sức khỏe
Chính sách
ưu đãi giáo dục
Chính sách
ưu đãi thuế đất nông nghiệp
Chính sách
ưu đãi khác
Đời sống gia đình TB - LS
Trang 13Nghiên cứu này cũng làm rõ mối liên hệ giữa các cư dân trong cộng đồng qua
các thời kỳ, đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay thì việc thực hiện chính sách xã
hội đối với gia đình thương binh và gia đình liệt sĩ cần phải làm thế nào để đáp ứng với
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Ở đây khóa luận này sẽ đề cập đến một số hạn chế và bất cập nảy sinh khi
thực hiện chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ Từ đó giúp các
nhà lãnh đạo và nhà hoạch định chính sách sát thực hơn nhằm làm rõ tính ưu
việt của chế độ xã hội chúng ta ngày nay
Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi mở về các mô hình chính sách xã
hội từ đó kiến nghị với cơ quan Đảng và Nhà nước phải có chính sách xã hội
phù hợp với công cuộc đổi mới nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
10 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 2 phần:
- Phần mở đầu: Những vấn đề chung
Trong phần này đề cập đến 10 mục từ trang 4 đến trang 16
- Phần nội dung chính: Những nghiên cứu xã hội học thực nghiệm tại
huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Phần này có 2 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.3 Những khái niệm công cụ
+ Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại huyện Văn Quan tỉnh
Lạng Sơn, những giải pháp và kiến nghị
2.1 Một số nét khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.2 Kết quả nghiên cứu chứng minh 3 giả thuyết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Khắc phục hậu quả chiến tranh nhằm nâng cao và ổn định hơn nữa đời
sống của gia đình thương binh, liệt sĩ ngoài các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà
nước và công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ của toàn dân, trong năm
gần đây luôn được các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể quan tâm nghiên
cứu, xem xét một cách chủ động Nhằm nâng cao hơn nữa và ổn định cuộc sống
gia đình thương binh, liệt sĩ và những người có công với cách mạng, nhiều công
trình, nghiên cứu, và nhiều cuộc hội thảo của các cơ quan, tổ chức xã hội và cá
nhân về nhóm đối tượng đặc thù này đã được thực hiện trong nhiều năm qua
Những phương tiện truyền thông đã giành những trang lớn để nói về vấn
đề này, tiêu biểu như các cuốn sách “Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ”, “Uống
nước nhớ nguồn”, “Năm mươi năm công tác thương binh liệt sĩ”… Tất cả các
công trình nghiên cứu và hội thảo đó là cơ sở để hình thành nhiều luận cứ và
giải pháp khoa học cho thực tiễn để nhằm cải thiện đời sống gia đình thương
binh, liệt sĩ Qua đó khẳng định truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn
đáp nghĩa” của dân tộc ta đối với những anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc,
những thương binh đã bỏ lại một phần xương máu cho dân tộc
Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu của các vùng, các địa phương khắp nơi
trên cả nước hướng về ngày 27/7 - ngày thương binh liệt sĩ Hàng năm cứ đến ngày
27/7 nhân dân trong cả nước lại long trọng tổ chức kỷ niệm ngày thương binh, liệt sĩ
và coi đó là sự kiện quan trọng có ý nghĩa chính trị rất sâu sắc Năm 2002 cả nước ta
kỷ niệm 55 năm “ngày thương binh, liệt sĩ” theo tinh thần chỉ thị 08/CT/TW của
Ban Bí thư “lấy năm 2002 là năm đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, gia
đình liệt sĩ và người có công với cách mạng”
Trang 15Ngoài những cuốn sách, tạp chí có giá trị cao thể hiện tính nhân văn, nhân
bản của dân tộc, còn có những cuộc triển lãm, những cuộc trưng bày của các tổ
chức xã hội, các cá nhân về đề tài chiến tranh, đề tài thương binh, liệt sĩ Qua đó
chúng ta thấy rõ những hy sinh, những cống hiến to lớn và lòng biết ơn đối với
các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, đối với những chiến sĩ đã không tiếc xương máu
vì sự tồn vong của tổ quốc, của dân tộc
Những cuộc nghiên cứu, triển lãm, trưng bày đó đã nêu lên tương đối
hoàn chỉnh vấn đề thương binh, liệt sĩ Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu các chính
sách xã hội, sự tác động của chính sách xã hội đối với đời sống gia đình thương
binh, liệt sĩ từ góc độ xã hội học để tìm ra những bất cập, bức xúc của chính
sách thì chưa nhiều và còn hạn chế về số lượng, chất lượng, cả chiều rộng lẫn
chiều sâu Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi không có tham vọng gì lớn,
mà chỉ muốn tìm hiểu, phân tích các chính sách xã hội đã và đang tác động đến
đời sống gia đình thương binh, liệt sĩ, tìm ra những nhân tố bất cập, đưa ra
những giải pháp, kiến nghị góp phần thực hiện mục tiêu chung là nâng cao đời
sống đối tượng chính sách xã hội, đó là các gia đình thương binh liệt sĩ hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.2.1 Cơ sở lý luận
Như đã nêu trong phần “Phương pháp luận” cơ sở lý luận và phương pháp
luận của đề tài là lấy Chủ nghĩa Mác-Lê nin làm nền tảng cho nghiên cứu Phân
tích các vấn đề xã hội và chính sách xã hội phải dựa trên phương pháp biện
chứng và lịch sử cụ thể
Ở đây khi tìm hiểu các vấn đề xã hội, chính sách xã hội phải đứng trên
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét
và phân tích
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội
Đó là phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi liền
với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội
Trang 16- Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh ở đây là “Uống nước nhớ nguồn”,
“đền ơn đáp nghĩa” Quan điểm này đã quán triệt trong một quá trình khảo sát
phân tích các vấn đề thực hiện chính sách xã hội ở địa phương
- Vận dụng phương pháp, tiếp cận hệ thống
Cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu xã hội học sẽ đem lại cho nhà xã
hội học một cách nhìn tổng thể những yếu tố cấu thành hệ thống và mối quan hệ
hữu cơ giữa các yếu tố trong hệ thống
Về phương pháp luận khoa học: Xu hướng phân chia sự vật thành các
phần nhỏ để nghiên cứu làm cho nhà xã hội học dễ quên đi cái nhìn tổng thể Do
vậy, để nắm bắt và có được cái nhìn tổng thể đòi hỏi phải có một quá trình tổng
hợp lại
Về mặt thực tiễn: Nếu tách từng mặt từng yếu tố của tổng thể sẽ gây ra
tính phiến diện không mang lại kết quả cần thiết cho nghiên cứu Chính vì thế
phải có sự tác động vào tổng thể để xem xét sự phát triển toàn diện của vấn đề
nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận hệ thống trong đề tài này là xem xét sự tác động
của chính sách xã hội đối với từng hộ gia đình thương binh liệt sĩ cũng như xem
xét tổng thể các hộ thuộc diện chính sách ở phạm vi toàn xã hoặc toàn huyện
Mặt khác sự chi phối bởi các quan hệ dọc (từ tỉnh xuống huyện xã và thôn bản)
nhưng đồng thời cũng bị chi phối bởi chiều ngang Có nghĩa là chịu sự tác động
của các quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng xã
1.2.2 Căn cứ thực tiễn
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 20 năm qua với việc
thực hiện chính sách xã hội đối với những người có công với đất nước với dân
tộc là một thực tiễn rất lớn Khi nền kinh tế nước ta từng bước phát triển, những
mặt tích cực và tiêu cực trong xã hội cùng nảy sinh Chúng ta đã thực hiện từng
bước chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” Những kết quả
của cơ quan Đảng, Nhà nước trong các lĩnh vực của ngành Lao động - Thương
Trang 17binh - Xã hội đã có sự tác động tích cực đến các đối tượng chính sách đặc biệt là
gia đình thương binh liệt sĩ
Ngoài bài học về sự thành công và chưa thành công lại càng cần có những
thao tác phân tích tìm ra những nguyên nhân, cơ chế của chúng thì mới có thể
phát huy được mặt tích cực hoặc nêu ra được các giải pháp tích cực khắc phục
những mặt không thành công trong vận dụng chính sách
1.3 Những khái niệm công cụ
1.3.1 Khái niệm về sự tác động
- Theo từ điểm Tiếng Việt của Văn Tân: Tác động là gây ra sự biến đổi
nào đó làm cho sự vật hành động hướng tới Sự biến đổi ở đây là biến so sánh
với một tình trạng khác trước theo chiều hướng đi lên-chiều hướng tiến bộ
(Fichter)
1.3.2 Khái niệm chính sách xã hội
Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Chúng ta có thể tham khảo,
nghiên cứu một số quan điểm của những nhà khoa học như sau:
- Theo quan điểm của VZ.Rôgôvin (Nhà XHH Liên Xô cũ)
“Với tính cách là một bộ môn khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực
tri thức xã hội học nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, quyết định hoạt
động sống của con người trong xã hội xét theo khả năng tác động quản lý đến
các quá trình đó Chính sách xã hội, có đầy đủ cơ sở để xem như một sự hòa
quyện của khoa học và thực tiễn như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các
quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận
được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy”1
Có thể nói quan điểm Rôgôvin nhấn mạnh:
* Trước hết chính sách xã hội đó là một lĩnh vực tri thức XHH:
1 VZ Rôgô: CSXH trong CNXH phát triển
Trang 18- Nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, mà trong xã hội quá trình đó
diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
- Nó quyết định hoạt động sống của con người trong các quá trình đó (xét
theo khả năng tác động quản lý)
* Chính sách xã hội là một sự hòa quyện giữa khoa học và thực tiễn
* Chính sách xã hội là một sự phân tích phức hợp
* Dự báo về các quan hệ các quá trình xã hội
* Sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm quản lý các
quá trình và quan hệ xã hội ấy
- Theo quan điểm của GS.Winkler (nguyên viện trưởng viện XHH Chính
sách xây dựng CHDC Đức cũ)
“Chính sách xã hội là sự tổng hợp các biện pháp và phương pháp của
Đảng của giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các Liên hiệp
công đoàn của Đảng phái và các tổ chức chính trị khác nhằm tiếp tục các quan
hệ xã hội … Phục vụ những nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân tập thể, trí thức và những người lao động khác”2
Theo quan điểm của Winker thì:
* Chính sách xã hội thực chất là tổng hợp những phương pháp, biện pháp
* Chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội
* Với tư cách là những quan hệ giữa những giai cấp, tầng lớp và nhóm xã
hội trong quá trình xích lại gần nhau
Quan hệ giữa các quá trình xã hội giữa quan hệ chung nhất với quan hệ
đặc thù (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội) Qua quá trình hoạt
động các mối quan hệ xã hội diễn ra không cô lập với các mối quan hệ kinh tế,
quan hệ chính trị quan hệ văn hóa, v.v…
2 Tạp chí xã hội học v chính sách xã hội số 2 - 1982 trang 1-21
(Anthony Giddens: Lý thuyết xã hội v xã hội học hiện đại Nh xuất bản Policy Press Cambridge 1987 trang
44 - 46)
Trang 19Vì vậy chính sách xã hội và các chính sách khác nhau như chính sách kinh tế,
chính sách văn hóa, chính sách dân tộc, v.v… cũng không tách rời nhau
- Theo quan điểm của Anthony Giddens (Giáo sư Trường Đại học
Cambridge của Anh, hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Luân Đôn đã nêu rõ:
“Sự nghiên cứu có hiệu quả về Xã hôi học, Khoa học chính trị, Khoa học
kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi sự hoạch định chính sách trong chính phủ và
do đó dẫn đến sự tiến bộ xã hội và thịnh vượng kinh tế Mối quan hệ giữa
nghiên cứu và chính sách được xem như một công cụ một phương diện nhằm
mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu
quả”
* Có thể nói Giddens nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách xã hội
* Sự nghiên cứu có hiệu quả của các lĩnh vực khoa học như XHH, khoa
học chính trị, khoa học kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi chính sách trong
Chính phủ
* Sự biến đổi chính sách xã hội dẫn đến sự phát triển xã hội và thịnh
vượng kinh tế
* Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách như là một công cụ, một
phương diện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội
có hiệu quả
Vậy chính sách xã hội là gì?
- Có thể nói chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức các biện pháp
của Nhà nước, của Đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn những
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa,
chính trị, xã hội góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của đất nước
- Chính sách xã hội đó là cụ thể hóa, thể chế hóa bằng pháp luật những
đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị khác dựa
trên những quan điểm tư tưởng của chủ thể của chính sách xã hội phù hợp với
bản chất chế độ chính trị xã hội nhất định
Trang 20* Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Nghị quyết VI (12-1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ “Chính
sách xã hội bao trùm lên mọi mặt đời sống của con người, điều kiện lao động
sinh hoạt giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình quan hệ giai cấp quan hệ dân tộc
Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Đảng ta đã nhấn mạnh “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát
huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng bình đẳng về quyền lợi
nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đáp
ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và
cộng đồng xã hội” (Văn kiện, Đại hội VII (6-1991) của Đảng Cộng sản Việt
Nam)
Những quan điểm trên chính là tư tưởng cơ bản, có tính chất quyết định
đối với mọi chính sách xã hội được hoạch định trong thời gian trước mắt cũng
như trong chiến lược lâu dài của Việt Nam
1.3.3 Đảm bảo xã hội
Khái niệm đảm bảo xã hội được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1941 trong
Hiến chương Đại Tây Dương và ngay sau đó được tổ chức lao động quốc tế
trong Công ước lao động quốc tế ngày 28/6/1952: “Bảo đảm xã hội được hiểu là
sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua một loạt các
biện pháp công cộng chống lại những suy sụp về kinh tế và xã hội do nhiều
nguyên nhân như: Thu nhập bị sụt đi do ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, thất
nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già, trợ cấp gia đình đông con”
1.3.4 Ưu đãi xã hội
“Ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và
toàn xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt
Trang 21trong đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công lao đặc biệt
với đất nước và đang gặp khó khăn trong cuộc sống”
1.3.5 Đời sống xã hội
“Đời sống bao gồm toàn bộ những điều kiện sinh hoạt của con người, của
xã hội Đời sống của con người được chia ra thành hai mảng đời sống vật chất
và đời sống tinh thần”
- Đời sống vật chất là những gì thuộc về nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, nói
chung là nhu cầu về thể xác của con người
- Đời sống tinh thần là những hoạt động về đời sống nội tâm của con
người, là những suy nghĩ ý thức tình cảm của con người
1.3.6 Liệt sỹ và gia đình liệt sĩ
- Liệt sĩ là người hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc bảo
vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân,
được Nhà nước truy tặng bằng “Tổ quốc ghi công”
- Gia đình liệt sĩ gồm các thân nhân liệt sĩ, cha mẹ đẻ, người có công nuôi
liệt sỹ vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con của liệt sĩ và được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy “ Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ”
1.3.7 Thương binh và gia đình thương binh
- Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ
trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh
chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm, vì lợi ích
của Nhà nước và nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên được
tặng “Huy hiệu thương binh”
+ Thương binh hạng 1: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có
thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 81% trở lên
+ Thương binh hạng 2: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có
thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 61-80%
Trang 22+ Thương binh hạng 3: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có
thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 41-60%
+ Thương binh hạng 4: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có
thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 21-40%
- Gia đình thương binh gồm những thân nhân của thương binh như: Cha,
mẹ, chồng, con, người có công nuôi thương binh, anh chị ruột của thương binh
1.3.8 Chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ và Người có công
Chính sách chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ và Người có công là
một vấn đề xã hội, thương binh, gia đình liệt sĩ và Người có công là những
người đã hy sinh xương máu, trí lực cho nền độc lập tự do hòa bình và sự phát
triển của đất nước, họ xứng đáng được hưởng những chế độ ưu đãi của Nhà
nước về mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần khi đất nước đã bình yên ổn định
Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cụ thể đem lại cho thương
bình và gia đình liệt sĩ và Người có công yên ổn về vật chất vui vẻ về tinh thần
và có cơ hội tham gia các hoạt động có ích cho xã hội Với mục tiêu trước mắt
của công tác chăm sóc này là: Đảm bảo cho Người có công với đất nước với
cách mạng có đời sống vật chất tinh thần ổn định và mở rộng phong trào “Đền
ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”
Pháp lệnh ưu đãi người có công tai Mục II, Điều 9 điểm 1 quy định: Gia
đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ: vợ hoặc chồng, con cha mẹ đẻ,
Người có công nuôi liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận Gia đình liệt sĩ
Điểm 2, Điều 9 quy định gia đình liệt sĩ được hưởng các ưu đãi sau đây:
a Được giúp đỡ có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, ổn định đời sống
như: ưu tiên giao đất, vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất, miễn giảm các loại
thuế, nghĩa vụ công ích theo quyết định của pháp luật
b Gia đình liệt sĩ được hưởng Tuất một lần trong những trường hợp gia
đình liệt sĩ không còn thân nhân
1.3.9 Khái niệm thu nhập
Trang 23Thu nhập là sự nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ hoạt động nào đó
của cá nhân, gia đình trong khoảng thời gian nhất định, thường là một tháng hay
một năm
1.3.10 Khái niệm nghèo
“Nghèo là tình trạng của có một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với
mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”
Viện Xã hội học trong công trình: “Khảo sát Xã hội học về sự phân tầng”
đưa ra tiêu chuẩn đánh giá về sự giàu nghèo như sau:
- Nhóm hộ nghèo có thu nhập dưới 75.000đ đến 150.000đ/người/tháng
- Nhóm trung bình thu nhập từ 150.000đ đến 300.000đ/người/tháng
- Nhóm khá giả từ 300.000đ đến 600.000đ/người/tháng
Chỉ tiêu này dùng cho cả nông thôn và đô thị Đơn vị này người ta tính đo
bằng số tiền chi phí cho tiêu dùng về việc ăn uống chứ không tính tiền xây nhà
cửa và các phương tiện hoặc bất động sản (trích theo PGS.TS Vũ Hào Quang
trong Xã Hội Học NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004)
1.3.11 Khái niệm thị trường và nền kinh tế thị trường
* Khái niệm thị trường:
“Thị trường là biểu hiện của các mối quan hệ kinh tế của những người
trao đổi sản phẩm dưới hình thức sản phẩm xã hội trong quá trình tái sản xuất xã
hội bao gồm: Sản xuất và lưu thông hàng hóa, như vậy thị trường là môi trường
để phát triển sản xuất hướng vào mục đích trao đổi và mua bán” (Trần Hậu
Kiêm: Quản lý Nhà nước Nxb CTQG 2001-tr.29)
Về mặt biểu hiện có một số loại thị trường đặc trưng là thị trường hàng
hóa, thị trường dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn…
* Khái niệm kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là một hình thức tổ chức của nền kinh tế trong đó người
tiêu dùng và người sản xuất tác động qua lại lẫn nhau thông qua thị trường nhằm
xác định ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế là: sản xuất ra cái gì? Sản xuất như
thế nào? Sản xuất cho ai? Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động sản xuất
Trang 24và trao đổi đều diễn ra một cách khách quan và tự phát Song, không có nghĩa là
hoàn toàn lộn xộn, không theo một trình tự nào Nền kinh tế thị trường vận hành
theo cơ chế của nó - đó là cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường nhằm
điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa theo các quy luật khách quan
như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông
tiền tệ…
Có thể nói chính cơ chế thị trường đã tạo nên môi trường thuận lợi cho
các chủ thể năng động sáng tạo vươn lên Ý thức làm giàu cho bản thân, gia đình
và đóng góp cho xã hội đã được hình thành và đứng vững trong xã hội Người
lao động trong nền kinh tế thị trường được “cởi trói” nên họ thực sự dám nghĩ,
dám làm, độc lập tự chủ trong mọi công việc, tự mình tìm kiếm các cơ hội, điều
kiện để làm giàu Định hướng giá trị của người dân cũng có những biến đổi
trong nền kinh tế thị trường so với trước đây Thực chất sự biến đổi này là sự
sắp xếp lại vị trí thứ bậc giá trị vật chất tinh thần và đạo đức Cơ chế hoạt động
của nền kinh tế thị trường còn kích thích hình thành các nhu cầu mới và hoạt
động để thỏa mãn các nhu cầu đó
Tuy nhiên kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực, người ta
gọi là “mặt trái” đối với đời sống xã hội như: tư tưởng cá nhân chủ nghĩa tư
tưởng chạy theo giá trị vật chất, ít coi trọng đến giá trị đạo đức, suy thoái đạo
đức lối sống, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, tâm trạng hoài nghi, mơ hồ hay ngộ
nhận, đánh giá một cách thiếu khách quan đối với các sự kiện và các yếu tố tiêu
cực Đó chính là những mặt trái của cơ chế thị trường mà trong quá trình quản lý
xã hội chúng ta không thể coi nhẹ
Trang 25CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn
Trung tâm của huyện cách thành phố Lạng Sơn 45km, nằm ở tọa độ: 24044’ vĩ
bắc, 106043’ kinh đông Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng, phía Nam giáp huyện
Chi Lăng, phía Đông giáp huyện Cao Lộc, phía Tây giáp huyện Bình Gia và Bắc
Sơn Có địa hình đồi núi trùng điệp, hiểm trở, trải dài từ đông sang tây, gồm
nhiều vùng đất, núi đá vôi, xen kẽ các thung lũng và cánh đồng bậc thang, có độ
cao trung bình là 400m so với mặt biển Với hệ thống sông Kỳ Cùng và sông
Mô Pya chảy qua 8 xã trong huyện
Văn Quan thuộc khí hậu vùng núi á nhiệt đới trong năm thường chia
thành 2 mùa rõ rệt Đời sống kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn thu nhập
bình quân đầu người gần 6 triệu đồng/năm Văn Quan là huyện miền núi đất
rừng đồi chiếm 80% diện tích tự nhiên do đó nguồn lợi thu được trong nền kinh
tế chủ yếu là lâm nghiệp sản xuất, phát triển cây công nghiệp dài ngày và các
loại cây ăn quả Đặc biệt là cây hồi mang lại giá trị kinh tế cao vừa có giá trị
xuất khẩu vừa có tác dụng cải thiện môi sinh
Huyện Văn Quan có 23 xã và một Thị trấn với số dân trong năm 2007 là
656.689 người, gồm 4 dân tộc cùng sinh sống: Tày - Nùng - Hoa - Kinh Trong
đó dân tộc Tày, Nùng chiếm 90% dân số toàn huyện
Tổng diện tích tự nhiên là 54.944 ha, trong đó:
+ Đất lâm nghiệp: 28.683,19ha
+ Đất nông nghiệp: 5.679,93ha
+ Đất chuyên dùng: 448,7ha
+ Đất khác: 19.743,09ha
Trang 26Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm chiếm: 53,33%; dịch vụ: 31,67%;
công nghiệp xây dựng cơ bản: 15%
Do cơ cấu địa lý của huyện không đều, chủ yếu là rừng núi, đât nông
nghiệp ít, phụ thuộc và thiên nhiên, do đó đời sống của nhân dân còn gặp nhiều
khó khăn, số hộ đói nghèo năm 2007 là 2387 chiếm 21,31% Về giao thông,
toàn huyện có 45 tuyến đường liên xã và 2 quốc lộ chạy qua, quốc lộ 1B thị trấn
- Đồng Đăng chạy qua huyện theo hướng Đông Tây qua huyện Bình Gia, Bắc
Sơn đến Thái Nguyên
Quốc lộ 297 đi từ thị trấn Đồng Mỏ huyện Chi Lăng đến Văn Quan qua
Na Sầm huyện Văn Lãng giáp Trung Quốc, do đó thuận tiện cho việc giao lưu
hàng hóa với miền xuôi và các vùng kinh tế của tỉnh
Kết cấu hạ tầng trên địa bàn được củng cố, có thêm các công trình phúc
lợi dân sinh: như giao thông nông thôn phát triển, đầu tư xây dựng các công
trình thủy lợi để phục vụ tưới tiêu do công trình 135 và dự án xóa đói giảm
nghèo của Chính phủ đối với 9 xã đặc biệt khó khăn Nhờ đó kinh tế của huyện
đã có nhiều chuyển biến trong những năm qua
+ Trên lĩnh vực nông nghiệp: Trong năm 2007 toàn huyện đạt đỉnh cao
mới cả về năng suất sản lượng lương thực có hạt: 24.661,6 tấn, trong đó thóc là
15.786 tấn Bình quân lương thực 433kg đầu người Chăn nuôi ngày một tăng,
số đàn gia súc, gia cầm đều phát triển chủ yếu là trâu bò, lợn, gà, cá lồng …
+ Dịch vụ: Đạt 31,67% tăng 1,13% so với năm 2001 góp phần tăng thu
nhập cho một bộ phận dân cư trong huyện
+ Giáo dục văn hóa: Trên địa bàn huyện có 2 trường phổ thông trung học,
gần 50 trường tiểu học và trung học cơ sở, một trường mầm non và 104 lớp ở
các xã, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp 2006-2007 là 99,8% tốt nghiệp phổ thông trung học là
91%, đã phổ cập xong tiểu học là 24/24 xã; trung học 9/24 xã Số xã có điện
lưới quốc gia là 19/24 xã đến năm 2007 đã có 20/24 xã có điểm bưu điện văn
hóa Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao ngày một được xây dựng và phát
Trang 27triển, số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt 68,9% toàn huyện đã công nhận
15 làng văn hóa và 108 đơn vị cơ quan văn hóa Hoạt động văn hóa hướng vào
nội dung xây dựng làng văn hóa mới, bài trừ mê tín dị đoan, xóa bỏ các tập tục
phong kiến lạc hậu, thu thập thông tin về khoa học kỹ thuật, vui chơi, giải trí…
giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, văn hóa truyền thống
+ Công tác y tế - dân số: toàn huyện có 1 bệnh viện, 3 phân viện, 100% số
xã có trạm xá, phục vụ khám, điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tỉ lệ tăng
dân số liên tục giảm nhanh từ 0,82% năm 2001 xuống còn 0,71% năm 2007, tỉ
lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 19% năm 2001 xuống còn
15,6% năm 2007
+ Về chính trị xã hội: nhân dân các dân tộc trong huyện tin tưởng vào
đường lối của Đảng và Nhà nước, gắn bó chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân Với nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ 19 tiếp
tục định hướng đường lối cho công cuộc đổi mới đất nước thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” kiên định con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng và Bác Hồ lựa chọn
+ Về an ninh quốc phòng: Thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách
phát triển kinh tế xã hội trong nhiều năm qua và nhất là chính sách chăm sóc
thương binh, gia đình liệt sỹ đã góp phần rất lớn vào việc tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc “chống diễn biến hòa bình” giữ vững ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn huyện Văn Quan
Những đặc điểm kinh tế xã hội của huyện đã tác động đến việc thực hiện
chính sách xã hội đối với gia đình thương binh, liệt sỹ của huyện Vấn đề này
luôn được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và ngành lao động thương binh - xã
hội, sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các ban ngành, đoàn thể
toàn huyện
Trang 282.2 Những nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu
2.2.1 Đảng bộ và chính quyền Huyện Văn Quan đã từng bước thực
hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ
Chính sách xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả vật chất lẫn tinh thần của Nhà
nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao của những người hay một bộ phận xã
hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có
công với nước là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội Ngay từ những
ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí
Minh cùng toàn dân ta đã quan tâm đến chính sách đối với gia đình thương binh
liệt sỹ Để thực thi các chính sách ưu đãi này, trong thời gian qua, Nhà nước ta
đã xây dựng nhiều trung tâm phục hồi chức năng, mở rộng các trại điều dưỡng,
an dưỡng ở trung ương cũng như địa phương nhằm phục hồi sức khỏe cho
thương binh Các địa phương đều xây dựng các cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất
tạo công ăn việc làm cho con em thương binh, bệnh binh và con em liệt sĩ
Gần đây, với việc ban hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà
nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và “pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
mạng”, một lần nữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thực hiện lòng biết ơn
sâu sắc của mình với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công
với cách mạng
Suốt nửa thế kỷ qua, tiếp nối truyền thống nhân ái của dân tộc, nhiều
phong trào của các địa phương, các tổ chức xã hội, các cá nhân đã làm cho công
tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ trở thành công việc thường xuyên của
xã hội Tuy vậy với yêu cầu to lớn của công việc này, chúng ta còn phải cố gắng
nhiều hơn nữa, phải tiếp tục hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người
có công phải tổ chức thực hiện mọi ngành, mọi cấp
2.2.1.1 Khái quát về tình hình gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn
Quan
Trang 29Với truyền thống quật cường của dõn tộc, một đất nước yờu chuộng hũa
bỡnh, nhõn dõn Việt Nam đó chiến đấu và chiến thắng hai kẻ thự là thực dõn Phỏp
và đế quốc Mỹ, giành được độc lập tự do cho dõn tộc Chiến tranh đi qua, để lại
một hậu quả tàn khốc, hàng triệu người con ưu tỳ của dõn tộc đó anh dũng hy sinh,
hàng chục vạn người đó để lại chiến trường một phần xương mỏu Hũa chung với
khớ thế quật cường của dõn tộc, nhõn dõn huyện Văn Quan đó gúp sức cựng đồng
bào cả nước đứng lờn đấu tranh chiến thắng kẻ thự
Trong số những người con ra đi vỡ Tổ quốc, đó cú hàng ngàn người nằm
lại ở chiến trường Trong tổng số 11.186 hộ gia đỡnh của toàn huyện thỡ số hộ
chớnh sỏch đó lờn tới con số 732 chiếm 6,54% tổng số dõn trong địa bàn
Trong số những hộ chớnh sỏch đú cú 662 hộ gia đỡnh thương binh, liệt sĩ
chiếm 5,92% hộ gia đỡnh trong toàn huyện
Để hiểu thờm cơ cấu hộ gia đỡnh thương binh, liệt sĩ trong cơ cấu hộ gia
đỡnh chớnh sỏch ta cú thể phõn tớch qua biểu đồ sau:
Biểu đồ: Cơ cấu gia đỡnh thương binh, liệt sĩ trong cơ cấu hộ gia đỡnh thuộc
diện chớnh sỏch (toàn huyện Văn Quan)
Hộ gia đình chính sách
(Nguồn: Số liệu khảo sỏt tại UBND huyện Văn Quan)
Qua biểu đồ trờn ta thấy, số hộ gia đỡnh liệt sĩ gồm 552 hộ chiếm 75,4%
tổng số hộ thuộc diện chớnh sỏch ưu đói của toàn huyện Cựng với hộ gia đỡnh
liệt sĩ cú: 110 hộ gia đỡnh thương binh, chiếm 15,02% Đõy là những hộ gia đỡnh
Trang 30đang từng ngày, từng giờ vật lộn với cuộc sống đầy khó khăn Ngoài ra, còn có
70 hộ gia đình chính sách khác, chiếm 9,56% như hộ gia đình hoạt động trước
cách mạng tháng tám năm 1945, hộ gia đình có công với cách mạng, bà mẹ Việt
Nam anh hùng, …
Ngày nay, chúng ta-những người đang hưởng thành quả của cách mạng
phải có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ những gia đình thiếu hụt đi lên hòa nhập với
cuộc sống đời thường Những hộ gia đình đó là những hộ gia đình chịu nhiều
thiệt thòi và mất mát
2.2.1.2 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình thương binh
liệt sĩ ở Văn Quan
2.2.1.2.1 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình liệt sĩ
(1) Vài nét về cơ cấu liệt sĩ và gia đình liệt sĩ:
Chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất nhưng những
tổn thương chiến tranh không thể hàn gắn một sớm một chiều Không có sự mất
mát nào to lớn hơn sự mất mát hy sinh về con người Trải qua 2 cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng chiến tranh biên giới Tây Nam và biên
giới phía Bắc, huyện Văn Quan có 564 liệt sĩ hi sinh trong các thời kỳ để minh
chứng cho sự mất mát này, chúng ta xem xét bảng số liệu cơ cấu liệt sĩ qua các
thời kỳ
Bảng 1: Cơ cấu liệt sĩ qua các thời kỳ
Qua bảng số liệu trên ta thấy toàn huyện có 564 liệt sĩ, chiếm 0.99% dân
số toàn huyện Trong đó có 51 liệt sĩ hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp chiếm 9,05% tổng liệt sĩ của toàn huyện Thân nhân của liệt sĩ trong thời
Trang 31kỳ chống Pháp giờ đây tuổi đã già yếu, con của liệt sĩ giờ đã trưởng thành và là
lực lượng lao động đông đảo của đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước
phải luôn quan tâm tới nhóm thân nhân này
Trong hơn 20 năm chống Mỹ, Văn Quan có 410 liệt sĩ, chiếm 72,6% số
liệt sĩ của toàn huyện Khi chiến tranh chấm dứt, trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, toàn huyện có 103 người con hy sinh, chiếm 18,28% Số liệt sỹ
này mới hy sinh trong những năm gần đây, những thân nhân của liệt sỹ còn rất
trẻ, họ là những người đang trong độ tuổi lao động, con cái của họ đang trong độ
tuổi đi học, do đó Đảng và Nhà nước phải có những chính sách ưu đãi làm cho
họ tin tưởng vào sự nghiệp chung của đất nước
Khi xem xét về tình hình thương binh và liệt sỹ ở huyện Văn Quan ta thấy
rõ cơ cấu gia đình liệt sỹ thể hiện như sau:
Bảng 2: Cơ cấu phân loại gia đình liệt sỹ
1 Gia đình có 01 con là liệt sỹ 540 97,82
2 Gia đình có 02 con là liệt sỹ 12 2,18
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007 của PhòngNội vụ-LĐ-TB&XH huyện Văn Quan)
Qua bảng số liệu trên, tổng số hộ gia đình liệt sỹ trong huyện là 522
Trong đó hộ gia đình có 01 con là liệt sỹ chiếm 97,82%, gia đình có 02 con là
liệt sỹ chiếm 2,18% Thông qua cơ cấu liệt sỹ qua các thời kỳ và cơ cấu phân
loại liệt sỹ, chúng ta phần nào bù đắp được những thiệt hại và mất mát của gia
đình liệt sỹ
(2) Trợ cấp tuất của thân nhân liệt sỹ
Thương binh, liệt sỹ là những người vì sự nghiệp chung của Tổ quốc hy
sinh gia đình và bản thân mình nên Đảng và Nhà nước cùng toàn thể nhân dân
có trách nhiệm và bổn phận bù đắp thiệt thòi cho họ, để họ có cuộc sống yên ổn
về vật chất, vui vẻ về tinh thần, có mức sống ngang bằng với mức sống trung
Trang 32bình của người dân nơi cư trú Hàng tháng, thân nhân liệt sỹ được hưởng mức
trợ cấp nhất định để đảm bảo cuộc sống gia đình
Nghị định 32/2007/NĐ-CP ngày 02/3/2007 qui định với bản thân liệt sỹ,
khi hy sinh được trợ cấp tiền mai táng phí và một khoản tiền khác trong tổ chức
tang lễ Cụ thể: gia đình liệt sỹ được hưởng tiền trợ cấp tuất một lần
3.000.000đ/người Đối với thân nhân liệt sỹ như bố, mẹ đẻ (kể cả người có công
nuôi liệt sỹ), vợ hoặc chồng của liệt sỹ, con của liệt sỹ dưới 18 tuổi hoặc trên 18
tuổi vẫn còn đi học Tất cả thân nhân liệt sỹ có đủ điều kiện trên được hưởng
mức trợ cấp tuất hàng tháng là 470.000đ/người/tháng Đặc biệt, thân nhân cô
đơn không nơi nương tựa hoặc con mồ côi cả cha lẫn mẹ đều được hưởng mức
trợ cấp là 794.000đ/người/tháng Văn Quan với tổng số 476 thân nhân liệt sỹ,
đây là đối tượng đang được hưởng chính sách ưu đãi xã hội Để hiểu thêm về số
lượng thân nhân được hưởng chính sách ưu đãi được thể hiện qua kết quả khảo
Qua khảo sát ta thấy: Số thân nhân liệt sỹ được hưởng chế độ hàng tháng
là 470.000đ chiếm 74,37% và có 5 thân nhân liệt sỹ được hưởng chế độ tuất
nuôi dưỡng là 794.000đ chiếm 1,05%, có 117 thân nhân được hưởng chế độ thờ
cúng một lần là 600.000đ, chiếm 24,58%
Những khoản trợ cấp ưu đãi xã hội không những mang ý nghĩa tinh thần
mà còn phần nào bù đắp về vật chất, giúp cho gia đình liệt sỹ bớt những khó
Trang 33khăn trong cuộc sống Mẹ Nông Thị L - Mẹ Liệt sĩ ở xã Tri Lễ đã tâm sự với
chúng tôi: “ Trước đây mẹ ở với con dâu trong một căn nhà tranh cạnh chợ,
tiện nghi sinh hoạt trong nhà không có gì đáng giá Mùa đông không có chăn
đắp đủ ấm Bây giờ mẹ đã được sống trong căn nhà tình nghĩa xây dựng khang
trang Trong nhà có ti vi, giường tủ, bàn ghế chắc và đẹp, chăn ấm Thật sướng
quá, mẹ càng thấy khoẻ ra” (Trích phỏng vấn sâu số 1)
(3) Chính sách ưu đãi về y tế, chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe là yếu tố quan trọng đối với mỗi người, thân nhân liệt sỹ là
những người chịu nhiệt thiệt thòi về vật chất cũng như tinh thần, để bù đắp
những thiệt thòi đó, Đảng, Nhà nước ta đã có chính sách ưu đãi về y tế, chăm
sóc sức khỏe cho thân nhân liệt sỹ
Tất cả những thân nhân liệt sỹ, người có công nuôi liệt sỹ, vợ hoặc chồng
của liệt sỹ đang hưởng trợ cấp hàng tháng đều được cấp sổ bảo hiểm y tế, khám
bệnh định kỳ và được cấp phát thuốc miễn phí Theo kết quả điều tra thì có
100% thân nhân liệt sỹ trong huyện đều được cấp sổ bảo hiểm y tế Hàng năm
đến ngày 27/7, những thân nhân liệt sỹ đều được trung tâm y tế của huyện khám
sức khỏe định kỳ và cấp phát thuốc miễn phí Điều đó, phần nào an ủi và bù đắp
được những mất mát đau thương của bản thân và gia đình liệt sỹ Để thực hiện
tốt hơn nữa chính sách chăm sóc sức khỏe, chúng ta phải hiểu thêm tình trạng
sức khỏe của thân nhân liệt sỹ Qua khảo sát về tình trạng sức khỏe của thân
nhân chủ yếu của liệt sỹ (bố, mẹ già) ở huyện Văn Quan thu được kết quả sau:
Trang 34Bảng 4: Tình trạng sức khỏe của thân nhân liệt sỹ
Mức độ Đối tượng
Thường xuyên ốm
Thân nhân chủ yếu của liệt sỹ 56,67% 43,33%
(Báo cáo Tổng kết năm 2007 của Phòng Nội vụ-LĐ-TB&XH huyện Văn Quan)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số thân nhân chủ yếu của liệt sỹ là vợ, bố
mẹ già thường xuyên ốm chiếm 56,67%, những thân nhân thỉnh thoảng ốm
chiếm 43,33% Đây là nhóm thân nhân có tuổi già sức yếu nên tình trạng sức
khỏe không ổn định Đối tượng này cần được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước về chính sách bảo hiểm y tế Thực hiện tốt chính sách này là thể hiện
truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”
Tinh thần, thái độ nhiệt tình của y, bác sỹ cũng là điều quan trọng tác
động đến đời sống tinh thần của thân nhân liệt sỹ, đó là sự tác động quyết định
Ví dụ khi khám chữa bệnh, bệnh nhân cảm nhận được sự nhiệt tình của người
chăm sóc, họ cảm thấy tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
vào chế độ xã hội chủ nghĩa
(4) Chính sách ưu đãi giáo dục
Để bù đắp những thiệt thòi của thân nhân liệt sỹ, Đảng và Nhà nước đã ban
hành chế độ ưu đãi giáo dục đối với con em liệt sỹ và Phòng Nội vu-Lao động-TB
và Xã hội huyện Văn Quan đã làm tốt về vấn đề này Con liệt sỹ khi theo học tiểu
học, trung học cơ sở, phổ thông trung học được miễn học phí và miễn các khoản
xây dựng trường sở, được ưu tiên trong tuyển sinh và tốt nghiệp, được trợ cấp mỗi
năm học một lần với mức 60.000đ với học sinh mầm non, 90.000đ với học sinh
trung học cơ sở, 120.000đ với học sinh phổ thông trung học
Con liệt sỹ khi học các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, dự bị đại học
được ưu tiên trong xét tuyển Trong 5 năm qua toàn huyện có 8 cháu được xét đi
học, có 2 cháu học đại học đã có việc làm Số còn lại đang tiếp tục học cao đẳng