1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn

69 688 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 777,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể, xem xét sự tác động của chính sách xã hội tới đối tượng của nó để có thể thấy sự bất cập của một chính sách khi đi vào cuộc sống tới đối

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài: 4

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5

2.1 Ý nghĩa khoa học 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 6

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 6

5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu 7

5.1 Đối tượng nghiên cứu: 7

5.2 Khách thể nghiên cứu: 7

5.3 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

6.1 Phương pháp luận 7

6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Khung lý thuyết 11

9 Khả năng đóng góp của khóa luận 12

10 Bố cục của khóa luận 13

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 14

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 15

1.2.1 Cơ sở lý luận 15

1.2.2 Căn cứ thực tiễn 16

1.3 Những khái niệm công cụ 17

1.3.1 Khái niệm về sự tác động 17

1.3.2 Khái niệm chính sách xã hội 17

Trang 2

1.3.3 Đảm bảo xã hội 20

1.3.4 Ưu đãi xã hội 20

1.3.5 Đời sống xã hội 21

1.3.6 Liệt sỹ và gia đình liệt sĩ 21

1.3.7 Thương binh và gia đình thương binh 21

1.3.8 Chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ và Người có công24 1.3.9 Khái niệm thu nhập 22

1.3.10 Khái niệm nghèo 23

1.3.11 Khái niệm thị trường và nền kinh tế thị trường 23

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ25 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 25

2.2 Những nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu 28

2.2.1 Đảng bộ và chính quyền Huyện Văn Quan đã từng bước thực hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ 28

2.2.1.1 Khái quát về tình hình gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn Quan 28

2.2.1.2 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình thương binh liệt sĩ ở Văn Quan 30

2.2.2 Chính sách xã hội đã tác động rất lớn đến thực trạng đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ ở huyện Văn Quan 42

2.2.2.1 Đời sống vật chất 42

2.2.2.2 Đời sống tinh thần 44

2.2.3 Việc thực hiện chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sỹ vẫn còn nhiều bất cập, nhiều gia đình thương binh liệt sĩ còn gặp khó khăn trong cuộc sống nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 46

2.3 Kết luận Những kiến nghị và giải pháp 50

2.3.1 Kết luận 50

2.3.2 Kiến nghị và giải pháp 51

2.3.2.1 Kiến nghị và giải pháp chung: 51

Trước hết mọi ngành mọi cấp cần nhận thức: 51

Trang 3

2.3.2.2 Kiến nghị đối với địa phương 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh tàn khốc và ác

liệt Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã làm tròn sứ mệnh lịch

sử của mình, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giữ gìn độc lập tự do cho

Tổ quốc Hơn bốn mươi năm qua đi, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng

triệu người con hy sinh, hàng chục vạn người đã góp một phần xương máu của

mình cho Tổ quốc non sông, khi trở về mang bao nhiêu thương tật của chiến

tranh Tất cả họ lại tất bật với cuộc sống đời thường, họ gặp nhiều khó khăn

trong sinh hoạt, hạn chế trong lao động sản xuất

Khắc phục những hậu quả đó, đảm bảo cuộc sống cho gia đình thương

binh liệt sỹ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân cần phải chăm lo, điều đó cũng

là một trong những nội dung góp phần to lớn cho mục tiêu “Dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Nghị quyết Đại hội lần thứ IX

của Đảng đề ra

Với truyền thống “Thủy chung, nhân nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”,

“Ăn quả nhớ người trồng cây”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,

công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ, người có

công với cách mạng từ lâu đã được quan tâm Đặc biệt, ngay trong thời kỳ đồng

thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở

miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhiệm vụ này cũng đã

được đặt lên hàng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc lúc

bấy giờ rất quan tâm tới công tác chăm sóc, gia đình thương binh, liệt sĩ Trong

thư gửi cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ thương binh (cũ) nhân ngày 27/7/1956,

Bác viết “Thương bệnh binh, quân nhân và gia đình liệt sỹ những người có công

với Tổ quốc, với nhân dân cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải

thương yêu và giúp đỡ họ” Cho đến lúc trước khi qua đời, trong Di chúc Bác

không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: “đối với những người đã

Trang 5

hy sinh một phần xương máu của mình vì độc lập tự do cho đất nước, Đảng,

Chính phủ và đồng bào phải bằng mọi cách làm cho họ có đủ nơi ăn, chốn ở yên

ổn”

Trong gần nửa thế kỷ qua, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, kế tục

và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

không ngừng phấn đấu thực hiện tốt vấn đề chăm sóc thương binh gia đình liệt

sỹ Tuy nhiên bên cạnh những cố gắng nỗ lực đáng ghi nhận đó, công tác chăm

sóc thương binh, gia đình liệt sỹ vẫn còn không ít những vấn đề bất cập và bức

xúc đặt ra cần phải giải quyết

Chúng ta đã biết, việc hoạch định ra được một chính sách xã hội đúng đắn

đã khó Nhưng để đưa chính sách xã hội đó vào cuộc sống, được cuộc sống chấp

nhận và đạt được mục tiêu đề ra lại càng khó khăn hơn Điều đó đòi hỏi phải có

những nghiên cứu cụ thể, xem xét sự tác động của chính sách xã hội tới đối

tượng của nó để có thể thấy sự bất cập của một chính sách khi đi vào cuộc sống

tới đối tượng cụ thể để nhận thức rõ hơn những vấn đề tích cực cũng như hạn

chế để giúp cho công tác “đền ơn đáp nghĩa” với các gia đình thương binh liệt sỹ

và các đối tượng khác ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển

xã hội hiện nay Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Sự tác động của chính sách

xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường

hiện nay” thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn làm

khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành xã hội học của mình

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học

Để thực hiện hoàn chỉnh đề tài: “Sự tác động của chính sách xã hội đối

với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay” chúng

tôi đã vận dụng nhiều tri thức, phương pháp nghiên cứu xã hội để phân tích

nhiều hiện tượng đang tồn tại và bức xúc hiện nay Ngoài ra đề tài còn được

triển khai trên cơ sở kiến thức chuyên ngành xã hội học chính sách xã hội, đồng

Trang 6

thời để kiểm nghiệm những tri thức, lý thuyết khoa học đang vận dụng trong

thực tiễn xã hội hiện nay

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Tìm hiểu sự tác động của chính sách xã hội đối với đời sống gia đình

thương binh liệt sỹ, qua đó thấy được thực trạng đời sống gia đình thuộc diện

chính sách, trên cơ sở khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của chính sách

xã hội, hướng tới mục tiêu là tạo cho đời sống của gia đình thương binh, liệt sỹ

có được mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú Đó là khâu quan trọng

trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục được những mặt trái

của nền kinh tế thị trường Từ đó giúp cho mỗi gia đình thương binh, liệt sỹ yên

tâm xây dựng cuộc sống gia đình, quê hương, bỏ qua những mặc cảm đời

thường, hòa nhập với xã hội để xây dựng đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên

con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu chính sách xã hội đã và đang tác động đến đời sống thương

binh, gia đình liệt sỹ như thế nào, đồng thời đưa ra một số kiến nghị và giải pháp

nhằm đề xuất với các nhà hoạch định chính sách, có những chính sách hữu hiệu

để nâng cao hơn nữa đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của các gia

đình thương binh liệt sỹ trước và sau khi chính sách xã hội ra đời đối với đối

tượng này

- Xem xét việc thực thi chính sách xã hội của địa phương

- Sự tác động của chính sách đến với đối tượng, những mặt tích cực, hạn

chế của chính sách và nguyện vọng của các đối tượng chính sách

- Từ thực tiễn ở địa bàn khảo sát đưa ra các giải pháp và kiến nghị để giúp

cho những người làm công tác chính sách xã hội ở địa phương thấy được thực

Trang 7

trạng để điều chỉnh, bổ sung và làm tốt hơn nữa công tác “đền ơn đáp nghĩa” ở

địa phương mình

- Đề tài cũng nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách xã hội có

được cái nhìn đúng đắn hơn về đời sống của các gia đình thương binh liệt sĩ nói

riêng và các đối tượng chính sách nói chung và sự bất cập của một chính sách xã

hội khi đi vào đời sống thực tế Từ đó họ hoạch định những chính sách phù hợp

với từng đối tượng xã hội

5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

“Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ ở

huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”

5.2 Khách thể nghiên cứu:

Đề tài được triển khai nghiên cứu đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ

ở huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn

5.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian

Nghiên cứu trên địa bàn toàn huyện Văn Quan, nhưng tập trung chủ yếu ở

ba xã: Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ

- Phạm vi thời gian: nghiên cứu trong những năm gần đây chủ yếu là ba

năm 2005, 2006 và 2007

Thời gian khảo sát hai tháng từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2008

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Ở nước ta, đối tượng của chính sách xã hội bao gồm nhiều tầng lớp giai

cấp và nhóm xã hội khác nhau Bởi vậy, để có một phương pháp luận đúng, đề

tài phải dựa trên một số quan điểm sau:

+ Nghiên cứu phải dựa trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác-Lê

nin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghĩa là nghiên cứu chính sách xã

hội tác động tới đời sống gia đình thương binh, liệt sỹ phải đặt trong mối quan

Trang 8

hệ tác động qua lại với các chính sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp

các nhóm xã hội khác nhau Đồng thời, nghiên cứu phải dựa trên quan điểm duy

vật lịch sử, nghĩa là vấn đề nghiên cứu phải đặt ra được những hoàn cảnh, điều

kiện lịch sử cụ thể Quá trình nghiên cứu phải đảm bảo điều kiện kinh tế, chính

trị, xã hội của từng giai đoạn

Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu không thể bỏ qua đặc trưng tính

chất cụ thể của từng vùng, từng địa phương

+ Nghiên cứu phải giữ vững lập trường quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh,

được cụ thể hóa bằng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản

Việt Nam, Nhà nước Việt Nam trong các chính sách xã hội nói chung, chính

sách với gia đình thương binh liệt sỹ nói riêng Mọi chính sách của Đảng và Nhà

nước ta đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, ổn định xã hội, xét đến cùng là vì

mục đích cao cả - phát triển nhân tố con người

+ Nghiên cứu phải dựa trên lập trường của giai cấp công nhân, đó là lập

trường cách mạng triệt để, là lập trường kiên quyết đấu tranh, lập trường cách mạng

thể hiện được yêu cầu, nguyện vọng cơ bản của quần chúng nhân dân

+ Mỗi chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm vào mục đích phát

triển kinh tế ổn định xã hội Xét đến cùng là vì mục đích cao cả là phát triển

nhân tố con người Thương binh liệt sĩ là những người vì mục đích cao cả của

đất nước mà hy sinh tàn phế nên khi đi vào nghiên cứu CSXH về các đối tượng

này chúng ta phải xác định trước hết vì nhân tố phát triển con người phát triển

xã hội

6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học

Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu xã hội học như sau:

6.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:

Trong nghiên cứu xã hội học người ta thường sử dụng phương pháp chọn

mẫu Nghiên cứu mẫu có nghĩa là thay việc nghiên cứu toàn bộ bằng nghiên cứu

Trang 9

một bộ phận đại diện Từ kết quả của bộ phận đại diện đó suy ra toàn bộ tổng

thể của địa bàn nghiên cứu Ở đây tuân thủ theo các quy trình nghiên cứu chọn

mẫu chúng tôi đã chọn địa bàn khảo sát ở huyện Văn Quan với 3 xã Tú Xuyên,

Tri Lễ và Hữu Lễ Từ kết quả của 3 xã này cũng có thể suy ra là kết quả của cả

huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn hiện nay

6.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Đây là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua những nguồn

tài liệu có sẵn Ở đây chúng ta dựa vào các tài liệu viết về truyền thống “uống

nước nhớ nguồn” ở huyện Văn Quan cũng như 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ

Dựa vào các số liệu trong các báo cáo như các báo cáo kiểm điểm công tác của

các Đại hội nhiệm kỳ của Đảng bộ huyện và các xã; báo cáo của UBND huyện

và xã trong 3 năm gần đây và các báo cáo của ngành Lao động Thương binh Xã

hội huyện và xã trong quá trình thực hiện chính sách xã hội đối với người có

công, trong đó có gia đình Thương binh liệt sĩ

Thông qua phương pháp phân tích tài liệu tác giả cũng đã sử dụng các tri

thức của các nhà nghiên cứu trước đây đã viết về lịch sử như lịch sử Đảng huyện

Văn Quan cũng như lịch sử Đảng bộ các xã đã nghiên cứu để làm cho thông tin

đầy đủ hơn Đó là những tài liệu vô cùng quý giá mà tác giả đã thâu lượm chắt

lọc và phân tích phục vụ cho đề tài

6.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi

Bảng hỏi gồm 12 câu Đó là những câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi

hỗn hợp được thực hiện đối với 90 đối tượng khác nhau ở 3 xã nghiên cứu Dự

định ban đầu là gửi phiếu cho từng gia đình rồi sau đó thu lại Phiếu gửi đến đối

tượng theo thống kê của huyện Tuy nhiên, qua thí điểm thấy rằng phương pháp

này thu được kết quả không cao Từ đó, chúng tôi đã chuyển sang hướng phỏng

vấn trực tiếp Phương pháp này rất công phu, tốn nhiều thời gian và kinh phí,

nhưng lại thu được kết quả phong phú và chính xác Vì vậy bộ phiếu 12 câu hỏi

đó đều được thực hiện đối với 90 đối tượng ở 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ và Hữu Lễ

Trang 10

6.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu: Ở đây tác giả đã tiến hành 10 cuộc

phỏng vấn sâu cá nhân đã làm rõ chi tiết hơn và phong phú hơn

6.2.5 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát ở đây chủ

yếu là xác định rõ sự biến đổi của gia đình thương binh liệt sĩ qua đời sống vật

chất và tinh thần của họ

Tìm hiểu xem sự tác động của chính sách xã hội làm cho cuộc sống của

các gia đình thương binh liệt sĩ có biến đổi không Sự biến đổi ở đâu được đánh

giá ở mức độ cao

Có thể nói những kết quả quan sát và xem xét được ghi chép rất tỉ mỉ và

thống kê số liệu rất cụ thể, về có sự thẩm định đối chiếu rõ ràng

6.2.6 Phương pháp PRA

Để trì sử dụng phương pháp này thông qua sự đánh giá có sự tham gia các

cán bộ đảng viên trong quá trình phỏng vấn điều tra

Phương pháp PRA cũng được tiến hành thông qua nhiều phương pháp cụ

thể, song do hạn chế về nhân lực điều tra, ít thời gian và kinh phí lại có hạn cho

nên tác giả chỉ sử dụng một phương pháp đó là sự thống kê số liệu và phân tích

các số liệu đó Những số liệu thống kê về đối tượng chính sách và quan điểm chỉ

đạo của địa phương Từ thực tiễn đó thấy được mối liên hệ và tác động qua lại

giữa đối tượng chính sách và người thực hiện chính sách những ưu điểm và hạn

chế trong quá trình thực hiện chính sách đến với đối tượng trong nền kinh tế thị

trường hiện nay

7 Giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ vào quá trình khảo sát và nghiên cứu bước đầu ở huyện Văn Quan

trong đề tài này chúng tôi đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:

- Giả thuyết 1: Đảng bộ và chính quyền huyện Văn Quan đã từng bước

thực hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ

- Giả thuyết 2: Chính sách xã hội đã có sự tác động rất lớn đối với gia

đình thương binh liệt sĩ ở Văn Quan

Trang 11

- Giả thuyết 3: Việc thực hiện chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ

vẫn còn nhiều bất cập, nhiều gia đình thương binh liệt sỹ còn gặp khó khăn trong

cuộc sống nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

8 Khung lý thuyết

Trong quá trình nghiên cứu khảo sát ở 3 xã Tú Xuyên, Tri Lễ, Hữu Lễ

huyện Văn Quan về thực hiện chính sách xã hội và tác động của nó đối với gia

đình thương binh liệt sĩ, chúng tôi đã khảo sát các điều kiện kinh tế chính trị xã

hội Từ đó tìm hiểu sự tác động của chính sách xã hội đối với các hộ gia đình và

đặc biệt là đối với gia đình thương binh liệt sĩ Một mặt chúng tôi xem xét các

yếu tố khác như cơ cấu giai cấp, các loại hình hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo

dục, nhà ở, sức khỏe … Mối quan hệ qua lại cũng như tác động của chính sách

xã hội đối với các loại hoạt động trong từng đối tượng

Căn cứ vào cơ sở lý luận và phương pháp luận cũng giả thuyết nghiên cứu

và những điều giải trình trên xin đưa ra một cách khái quát khung lý thuyết

nghiên cứu như sau:

Trang 12

9 Khả năng đóng góp của khóa luận

Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu “sự tác động của chính sách xã hội đối với

các gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn Quan trong điều kiện kinh tế thị

trường ở nước ta hiện nay”; khóa luận sẽ đóng góp vào việc xác định rõ chính sách

xã hội và vai trò của nó đối với các gia đình thương binh liệt sĩ

Khóa luận tìm hiểu truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua các mối quan hệ

giữa con người với con người, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”

quan hệ “tương thân tương ái”, yêu thương đùm bọc lẫn nhau Qua đó góp phần

hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng mất đoàn kết, mất dân chủ ở một số địa

phương hiện nay

ưu đãi

nh ở

Chính sách

ưu đãi chăm sóc sức khỏe

Chính sách

ưu đãi giáo dục

Chính sách

ưu đãi thuế đất nông nghiệp

Chính sách

ưu đãi khác

Đời sống gia đình TB - LS

Trang 13

Nghiên cứu này cũng làm rõ mối liên hệ giữa các cư dân trong cộng đồng qua

các thời kỳ, đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay thì việc thực hiện chính sách xã

hội đối với gia đình thương binh và gia đình liệt sĩ cần phải làm thế nào để đáp ứng với

yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Ở đây khóa luận này sẽ đề cập đến một số hạn chế và bất cập nảy sinh khi

thực hiện chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ Từ đó giúp các

nhà lãnh đạo và nhà hoạch định chính sách sát thực hơn nhằm làm rõ tính ưu

việt của chế độ xã hội chúng ta ngày nay

Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi mở về các mô hình chính sách xã

hội từ đó kiến nghị với cơ quan Đảng và Nhà nước phải có chính sách xã hội

phù hợp với công cuộc đổi mới nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường theo

định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

10 Bố cục của khóa luận

Khóa luận gồm 2 phần:

- Phần mở đầu: Những vấn đề chung

Trong phần này đề cập đến 10 mục từ trang 4 đến trang 16

- Phần nội dung chính: Những nghiên cứu xã hội học thực nghiệm tại

huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn

Phần này có 2 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.3 Những khái niệm công cụ

+ Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại huyện Văn Quan tỉnh

Lạng Sơn, những giải pháp và kiến nghị

2.1 Một số nét khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.2 Kết quả nghiên cứu chứng minh 3 giả thuyết

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Khắc phục hậu quả chiến tranh nhằm nâng cao và ổn định hơn nữa đời

sống của gia đình thương binh, liệt sĩ ngoài các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà

nước và công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ của toàn dân, trong năm

gần đây luôn được các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể quan tâm nghiên

cứu, xem xét một cách chủ động Nhằm nâng cao hơn nữa và ổn định cuộc sống

gia đình thương binh, liệt sĩ và những người có công với cách mạng, nhiều công

trình, nghiên cứu, và nhiều cuộc hội thảo của các cơ quan, tổ chức xã hội và cá

nhân về nhóm đối tượng đặc thù này đã được thực hiện trong nhiều năm qua

Những phương tiện truyền thông đã giành những trang lớn để nói về vấn

đề này, tiêu biểu như các cuốn sách “Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ”, “Uống

nước nhớ nguồn”, “Năm mươi năm công tác thương binh liệt sĩ”… Tất cả các

công trình nghiên cứu và hội thảo đó là cơ sở để hình thành nhiều luận cứ và

giải pháp khoa học cho thực tiễn để nhằm cải thiện đời sống gia đình thương

binh, liệt sĩ Qua đó khẳng định truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn

đáp nghĩa” của dân tộc ta đối với những anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc,

những thương binh đã bỏ lại một phần xương máu cho dân tộc

Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu của các vùng, các địa phương khắp nơi

trên cả nước hướng về ngày 27/7 - ngày thương binh liệt sĩ Hàng năm cứ đến ngày

27/7 nhân dân trong cả nước lại long trọng tổ chức kỷ niệm ngày thương binh, liệt sĩ

và coi đó là sự kiện quan trọng có ý nghĩa chính trị rất sâu sắc Năm 2002 cả nước ta

kỷ niệm 55 năm “ngày thương binh, liệt sĩ” theo tinh thần chỉ thị 08/CT/TW của

Ban Bí thư “lấy năm 2002 là năm đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, gia

đình liệt sĩ và người có công với cách mạng”

Trang 15

Ngoài những cuốn sách, tạp chí có giá trị cao thể hiện tính nhân văn, nhân

bản của dân tộc, còn có những cuộc triển lãm, những cuộc trưng bày của các tổ

chức xã hội, các cá nhân về đề tài chiến tranh, đề tài thương binh, liệt sĩ Qua đó

chúng ta thấy rõ những hy sinh, những cống hiến to lớn và lòng biết ơn đối với

các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, đối với những chiến sĩ đã không tiếc xương máu

vì sự tồn vong của tổ quốc, của dân tộc

Những cuộc nghiên cứu, triển lãm, trưng bày đó đã nêu lên tương đối

hoàn chỉnh vấn đề thương binh, liệt sĩ Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu các chính

sách xã hội, sự tác động của chính sách xã hội đối với đời sống gia đình thương

binh, liệt sĩ từ góc độ xã hội học để tìm ra những bất cập, bức xúc của chính

sách thì chưa nhiều và còn hạn chế về số lượng, chất lượng, cả chiều rộng lẫn

chiều sâu Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi không có tham vọng gì lớn,

mà chỉ muốn tìm hiểu, phân tích các chính sách xã hội đã và đang tác động đến

đời sống gia đình thương binh, liệt sĩ, tìm ra những nhân tố bất cập, đưa ra

những giải pháp, kiến nghị góp phần thực hiện mục tiêu chung là nâng cao đời

sống đối tượng chính sách xã hội, đó là các gia đình thương binh liệt sĩ hiện nay

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.2.1 Cơ sở lý luận

Như đã nêu trong phần “Phương pháp luận” cơ sở lý luận và phương pháp

luận của đề tài là lấy Chủ nghĩa Mác-Lê nin làm nền tảng cho nghiên cứu Phân

tích các vấn đề xã hội và chính sách xã hội phải dựa trên phương pháp biện

chứng và lịch sử cụ thể

Ở đây khi tìm hiểu các vấn đề xã hội, chính sách xã hội phải đứng trên

quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét

và phân tích

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội

Đó là phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi liền

với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội

Trang 16

- Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh ở đây là “Uống nước nhớ nguồn”,

“đền ơn đáp nghĩa” Quan điểm này đã quán triệt trong một quá trình khảo sát

phân tích các vấn đề thực hiện chính sách xã hội ở địa phương

- Vận dụng phương pháp, tiếp cận hệ thống

Cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu xã hội học sẽ đem lại cho nhà xã

hội học một cách nhìn tổng thể những yếu tố cấu thành hệ thống và mối quan hệ

hữu cơ giữa các yếu tố trong hệ thống

Về phương pháp luận khoa học: Xu hướng phân chia sự vật thành các

phần nhỏ để nghiên cứu làm cho nhà xã hội học dễ quên đi cái nhìn tổng thể Do

vậy, để nắm bắt và có được cái nhìn tổng thể đòi hỏi phải có một quá trình tổng

hợp lại

Về mặt thực tiễn: Nếu tách từng mặt từng yếu tố của tổng thể sẽ gây ra

tính phiến diện không mang lại kết quả cần thiết cho nghiên cứu Chính vì thế

phải có sự tác động vào tổng thể để xem xét sự phát triển toàn diện của vấn đề

nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận hệ thống trong đề tài này là xem xét sự tác động

của chính sách xã hội đối với từng hộ gia đình thương binh liệt sĩ cũng như xem

xét tổng thể các hộ thuộc diện chính sách ở phạm vi toàn xã hoặc toàn huyện

Mặt khác sự chi phối bởi các quan hệ dọc (từ tỉnh xuống huyện xã và thôn bản)

nhưng đồng thời cũng bị chi phối bởi chiều ngang Có nghĩa là chịu sự tác động

của các quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng làng xã

1.2.2 Căn cứ thực tiễn

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 20 năm qua với việc

thực hiện chính sách xã hội đối với những người có công với đất nước với dân

tộc là một thực tiễn rất lớn Khi nền kinh tế nước ta từng bước phát triển, những

mặt tích cực và tiêu cực trong xã hội cùng nảy sinh Chúng ta đã thực hiện từng

bước chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” Những kết quả

của cơ quan Đảng, Nhà nước trong các lĩnh vực của ngành Lao động - Thương

Trang 17

binh - Xã hội đã có sự tác động tích cực đến các đối tượng chính sách đặc biệt là

gia đình thương binh liệt sĩ

Ngoài bài học về sự thành công và chưa thành công lại càng cần có những

thao tác phân tích tìm ra những nguyên nhân, cơ chế của chúng thì mới có thể

phát huy được mặt tích cực hoặc nêu ra được các giải pháp tích cực khắc phục

những mặt không thành công trong vận dụng chính sách

1.3 Những khái niệm công cụ

1.3.1 Khái niệm về sự tác động

- Theo từ điểm Tiếng Việt của Văn Tân: Tác động là gây ra sự biến đổi

nào đó làm cho sự vật hành động hướng tới Sự biến đổi ở đây là biến so sánh

với một tình trạng khác trước theo chiều hướng đi lên-chiều hướng tiến bộ

(Fichter)

1.3.2 Khái niệm chính sách xã hội

Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Chúng ta có thể tham khảo,

nghiên cứu một số quan điểm của những nhà khoa học như sau:

- Theo quan điểm của VZ.Rôgôvin (Nhà XHH Liên Xô cũ)

“Với tính cách là một bộ môn khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực

tri thức xã hội học nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, quyết định hoạt

động sống của con người trong xã hội xét theo khả năng tác động quản lý đến

các quá trình đó Chính sách xã hội, có đầy đủ cơ sở để xem như một sự hòa

quyện của khoa học và thực tiễn như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các

quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận

được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy”1

Có thể nói quan điểm Rôgôvin nhấn mạnh:

* Trước hết chính sách xã hội đó là một lĩnh vực tri thức XHH:

1 VZ Rôgô: CSXH trong CNXH phát triển

Trang 18

- Nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, mà trong xã hội quá trình đó

diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội

- Nó quyết định hoạt động sống của con người trong các quá trình đó (xét

theo khả năng tác động quản lý)

* Chính sách xã hội là một sự hòa quyện giữa khoa học và thực tiễn

* Chính sách xã hội là một sự phân tích phức hợp

* Dự báo về các quan hệ các quá trình xã hội

* Sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm quản lý các

quá trình và quan hệ xã hội ấy

- Theo quan điểm của GS.Winkler (nguyên viện trưởng viện XHH Chính

sách xây dựng CHDC Đức cũ)

“Chính sách xã hội là sự tổng hợp các biện pháp và phương pháp của

Đảng của giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các Liên hiệp

công đoàn của Đảng phái và các tổ chức chính trị khác nhằm tiếp tục các quan

hệ xã hội … Phục vụ những nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp

nông dân tập thể, trí thức và những người lao động khác”2

Theo quan điểm của Winker thì:

* Chính sách xã hội thực chất là tổng hợp những phương pháp, biện pháp

* Chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội

* Với tư cách là những quan hệ giữa những giai cấp, tầng lớp và nhóm xã

hội trong quá trình xích lại gần nhau

Quan hệ giữa các quá trình xã hội giữa quan hệ chung nhất với quan hệ

đặc thù (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội) Qua quá trình hoạt

động các mối quan hệ xã hội diễn ra không cô lập với các mối quan hệ kinh tế,

quan hệ chính trị quan hệ văn hóa, v.v…

2 Tạp chí xã hội học v chính sách xã hội số 2 - 1982 trang 1-21

(Anthony Giddens: Lý thuyết xã hội v xã hội học hiện đại Nh xuất bản Policy Press Cambridge 1987 trang

44 - 46)

Trang 19

Vì vậy chính sách xã hội và các chính sách khác nhau như chính sách kinh tế,

chính sách văn hóa, chính sách dân tộc, v.v… cũng không tách rời nhau

- Theo quan điểm của Anthony Giddens (Giáo sư Trường Đại học

Cambridge của Anh, hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Luân Đôn đã nêu rõ:

“Sự nghiên cứu có hiệu quả về Xã hôi học, Khoa học chính trị, Khoa học

kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi sự hoạch định chính sách trong chính phủ và

do đó dẫn đến sự tiến bộ xã hội và thịnh vượng kinh tế Mối quan hệ giữa

nghiên cứu và chính sách được xem như một công cụ một phương diện nhằm

mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu

quả”

* Có thể nói Giddens nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách xã hội

* Sự nghiên cứu có hiệu quả của các lĩnh vực khoa học như XHH, khoa

học chính trị, khoa học kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi chính sách trong

Chính phủ

* Sự biến đổi chính sách xã hội dẫn đến sự phát triển xã hội và thịnh

vượng kinh tế

* Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách như là một công cụ, một

phương diện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội

có hiệu quả

Vậy chính sách xã hội là gì?

- Có thể nói chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức các biện pháp

của Nhà nước, của Đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn những

nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa,

chính trị, xã hội góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội

của đất nước

- Chính sách xã hội đó là cụ thể hóa, thể chế hóa bằng pháp luật những

đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị khác dựa

trên những quan điểm tư tưởng của chủ thể của chính sách xã hội phù hợp với

bản chất chế độ chính trị xã hội nhất định

Trang 20

* Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Nghị quyết VI (12-1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ “Chính

sách xã hội bao trùm lên mọi mặt đời sống của con người, điều kiện lao động

sinh hoạt giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình quan hệ giai cấp quan hệ dân tộc

Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây

dựng chủ nghĩa xã hội”

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội Đảng ta đã nhấn mạnh “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát

huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng bình đẳng về quyền lợi

nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đáp

ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và

cộng đồng xã hội” (Văn kiện, Đại hội VII (6-1991) của Đảng Cộng sản Việt

Nam)

Những quan điểm trên chính là tư tưởng cơ bản, có tính chất quyết định

đối với mọi chính sách xã hội được hoạch định trong thời gian trước mắt cũng

như trong chiến lược lâu dài của Việt Nam

1.3.3 Đảm bảo xã hội

Khái niệm đảm bảo xã hội được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1941 trong

Hiến chương Đại Tây Dương và ngay sau đó được tổ chức lao động quốc tế

trong Công ước lao động quốc tế ngày 28/6/1952: “Bảo đảm xã hội được hiểu là

sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua một loạt các

biện pháp công cộng chống lại những suy sụp về kinh tế và xã hội do nhiều

nguyên nhân như: Thu nhập bị sụt đi do ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, thất

nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già, trợ cấp gia đình đông con”

1.3.4 Ưu đãi xã hội

“Ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và

toàn xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt

Trang 21

trong đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công lao đặc biệt

với đất nước và đang gặp khó khăn trong cuộc sống”

1.3.5 Đời sống xã hội

“Đời sống bao gồm toàn bộ những điều kiện sinh hoạt của con người, của

xã hội Đời sống của con người được chia ra thành hai mảng đời sống vật chất

và đời sống tinh thần”

- Đời sống vật chất là những gì thuộc về nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, nói

chung là nhu cầu về thể xác của con người

- Đời sống tinh thần là những hoạt động về đời sống nội tâm của con

người, là những suy nghĩ ý thức tình cảm của con người

1.3.6 Liệt sỹ và gia đình liệt sĩ

- Liệt sĩ là người hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc bảo

vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân,

được Nhà nước truy tặng bằng “Tổ quốc ghi công”

- Gia đình liệt sĩ gồm các thân nhân liệt sĩ, cha mẹ đẻ, người có công nuôi

liệt sỹ vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con của liệt sĩ và được cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền cấp giấy “ Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ”

1.3.7 Thương binh và gia đình thương binh

- Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ

trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh

chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm, vì lợi ích

của Nhà nước và nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên được

tặng “Huy hiệu thương binh”

+ Thương binh hạng 1: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 81% trở lên

+ Thương binh hạng 2: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 61-80%

Trang 22

+ Thương binh hạng 3: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 41-60%

+ Thương binh hạng 4: Là đối tượng được hội đồng giám định y khoa có

thẩm quyền quyết định kết luận mất sức lao động từ 21-40%

- Gia đình thương binh gồm những thân nhân của thương binh như: Cha,

mẹ, chồng, con, người có công nuôi thương binh, anh chị ruột của thương binh

1.3.8 Chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ và Người có công

Chính sách chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ và Người có công là

một vấn đề xã hội, thương binh, gia đình liệt sĩ và Người có công là những

người đã hy sinh xương máu, trí lực cho nền độc lập tự do hòa bình và sự phát

triển của đất nước, họ xứng đáng được hưởng những chế độ ưu đãi của Nhà

nước về mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần khi đất nước đã bình yên ổn định

Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cụ thể đem lại cho thương

bình và gia đình liệt sĩ và Người có công yên ổn về vật chất vui vẻ về tinh thần

và có cơ hội tham gia các hoạt động có ích cho xã hội Với mục tiêu trước mắt

của công tác chăm sóc này là: Đảm bảo cho Người có công với đất nước với

cách mạng có đời sống vật chất tinh thần ổn định và mở rộng phong trào “Đền

ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”

Pháp lệnh ưu đãi người có công tai Mục II, Điều 9 điểm 1 quy định: Gia

đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ: vợ hoặc chồng, con cha mẹ đẻ,

Người có công nuôi liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy

chứng nhận Gia đình liệt sĩ

Điểm 2, Điều 9 quy định gia đình liệt sĩ được hưởng các ưu đãi sau đây:

a Được giúp đỡ có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, ổn định đời sống

như: ưu tiên giao đất, vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất, miễn giảm các loại

thuế, nghĩa vụ công ích theo quyết định của pháp luật

b Gia đình liệt sĩ được hưởng Tuất một lần trong những trường hợp gia

đình liệt sĩ không còn thân nhân

1.3.9 Khái niệm thu nhập

Trang 23

Thu nhập là sự nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ hoạt động nào đó

của cá nhân, gia đình trong khoảng thời gian nhất định, thường là một tháng hay

một năm

1.3.10 Khái niệm nghèo

“Nghèo là tình trạng của có một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn

một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với

mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”

Viện Xã hội học trong công trình: “Khảo sát Xã hội học về sự phân tầng”

đưa ra tiêu chuẩn đánh giá về sự giàu nghèo như sau:

- Nhóm hộ nghèo có thu nhập dưới 75.000đ đến 150.000đ/người/tháng

- Nhóm trung bình thu nhập từ 150.000đ đến 300.000đ/người/tháng

- Nhóm khá giả từ 300.000đ đến 600.000đ/người/tháng

Chỉ tiêu này dùng cho cả nông thôn và đô thị Đơn vị này người ta tính đo

bằng số tiền chi phí cho tiêu dùng về việc ăn uống chứ không tính tiền xây nhà

cửa và các phương tiện hoặc bất động sản (trích theo PGS.TS Vũ Hào Quang

trong Xã Hội Học NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004)

1.3.11 Khái niệm thị trường và nền kinh tế thị trường

* Khái niệm thị trường:

“Thị trường là biểu hiện của các mối quan hệ kinh tế của những người

trao đổi sản phẩm dưới hình thức sản phẩm xã hội trong quá trình tái sản xuất xã

hội bao gồm: Sản xuất và lưu thông hàng hóa, như vậy thị trường là môi trường

để phát triển sản xuất hướng vào mục đích trao đổi và mua bán” (Trần Hậu

Kiêm: Quản lý Nhà nước Nxb CTQG 2001-tr.29)

Về mặt biểu hiện có một số loại thị trường đặc trưng là thị trường hàng

hóa, thị trường dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn…

* Khái niệm kinh tế thị trường:

Kinh tế thị trường là một hình thức tổ chức của nền kinh tế trong đó người

tiêu dùng và người sản xuất tác động qua lại lẫn nhau thông qua thị trường nhằm

xác định ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế là: sản xuất ra cái gì? Sản xuất như

thế nào? Sản xuất cho ai? Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động sản xuất

Trang 24

và trao đổi đều diễn ra một cách khách quan và tự phát Song, không có nghĩa là

hoàn toàn lộn xộn, không theo một trình tự nào Nền kinh tế thị trường vận hành

theo cơ chế của nó - đó là cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường nhằm

điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa theo các quy luật khách quan

như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông

tiền tệ…

Có thể nói chính cơ chế thị trường đã tạo nên môi trường thuận lợi cho

các chủ thể năng động sáng tạo vươn lên Ý thức làm giàu cho bản thân, gia đình

và đóng góp cho xã hội đã được hình thành và đứng vững trong xã hội Người

lao động trong nền kinh tế thị trường được “cởi trói” nên họ thực sự dám nghĩ,

dám làm, độc lập tự chủ trong mọi công việc, tự mình tìm kiếm các cơ hội, điều

kiện để làm giàu Định hướng giá trị của người dân cũng có những biến đổi

trong nền kinh tế thị trường so với trước đây Thực chất sự biến đổi này là sự

sắp xếp lại vị trí thứ bậc giá trị vật chất tinh thần và đạo đức Cơ chế hoạt động

của nền kinh tế thị trường còn kích thích hình thành các nhu cầu mới và hoạt

động để thỏa mãn các nhu cầu đó

Tuy nhiên kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực, người ta

gọi là “mặt trái” đối với đời sống xã hội như: tư tưởng cá nhân chủ nghĩa tư

tưởng chạy theo giá trị vật chất, ít coi trọng đến giá trị đạo đức, suy thoái đạo

đức lối sống, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, tâm trạng hoài nghi, mơ hồ hay ngộ

nhận, đánh giá một cách thiếu khách quan đối với các sự kiện và các yếu tố tiêu

cực Đó chính là những mặt trái của cơ chế thị trường mà trong quá trình quản lý

xã hội chúng ta không thể coi nhẹ

Trang 25

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở HUYỆN VĂN QUAN

TỈNH LẠNG SƠN, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn

Trung tâm của huyện cách thành phố Lạng Sơn 45km, nằm ở tọa độ: 24044’ vĩ

bắc, 106043’ kinh đông Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng, phía Nam giáp huyện

Chi Lăng, phía Đông giáp huyện Cao Lộc, phía Tây giáp huyện Bình Gia và Bắc

Sơn Có địa hình đồi núi trùng điệp, hiểm trở, trải dài từ đông sang tây, gồm

nhiều vùng đất, núi đá vôi, xen kẽ các thung lũng và cánh đồng bậc thang, có độ

cao trung bình là 400m so với mặt biển Với hệ thống sông Kỳ Cùng và sông

Mô Pya chảy qua 8 xã trong huyện

Văn Quan thuộc khí hậu vùng núi á nhiệt đới trong năm thường chia

thành 2 mùa rõ rệt Đời sống kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn thu nhập

bình quân đầu người gần 6 triệu đồng/năm Văn Quan là huyện miền núi đất

rừng đồi chiếm 80% diện tích tự nhiên do đó nguồn lợi thu được trong nền kinh

tế chủ yếu là lâm nghiệp sản xuất, phát triển cây công nghiệp dài ngày và các

loại cây ăn quả Đặc biệt là cây hồi mang lại giá trị kinh tế cao vừa có giá trị

xuất khẩu vừa có tác dụng cải thiện môi sinh

Huyện Văn Quan có 23 xã và một Thị trấn với số dân trong năm 2007 là

656.689 người, gồm 4 dân tộc cùng sinh sống: Tày - Nùng - Hoa - Kinh Trong

đó dân tộc Tày, Nùng chiếm 90% dân số toàn huyện

Tổng diện tích tự nhiên là 54.944 ha, trong đó:

+ Đất lâm nghiệp: 28.683,19ha

+ Đất nông nghiệp: 5.679,93ha

+ Đất chuyên dùng: 448,7ha

+ Đất khác: 19.743,09ha

Trang 26

Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm chiếm: 53,33%; dịch vụ: 31,67%;

công nghiệp xây dựng cơ bản: 15%

Do cơ cấu địa lý của huyện không đều, chủ yếu là rừng núi, đât nông

nghiệp ít, phụ thuộc và thiên nhiên, do đó đời sống của nhân dân còn gặp nhiều

khó khăn, số hộ đói nghèo năm 2007 là 2387 chiếm 21,31% Về giao thông,

toàn huyện có 45 tuyến đường liên xã và 2 quốc lộ chạy qua, quốc lộ 1B thị trấn

- Đồng Đăng chạy qua huyện theo hướng Đông Tây qua huyện Bình Gia, Bắc

Sơn đến Thái Nguyên

Quốc lộ 297 đi từ thị trấn Đồng Mỏ huyện Chi Lăng đến Văn Quan qua

Na Sầm huyện Văn Lãng giáp Trung Quốc, do đó thuận tiện cho việc giao lưu

hàng hóa với miền xuôi và các vùng kinh tế của tỉnh

Kết cấu hạ tầng trên địa bàn được củng cố, có thêm các công trình phúc

lợi dân sinh: như giao thông nông thôn phát triển, đầu tư xây dựng các công

trình thủy lợi để phục vụ tưới tiêu do công trình 135 và dự án xóa đói giảm

nghèo của Chính phủ đối với 9 xã đặc biệt khó khăn Nhờ đó kinh tế của huyện

đã có nhiều chuyển biến trong những năm qua

+ Trên lĩnh vực nông nghiệp: Trong năm 2007 toàn huyện đạt đỉnh cao

mới cả về năng suất sản lượng lương thực có hạt: 24.661,6 tấn, trong đó thóc là

15.786 tấn Bình quân lương thực 433kg đầu người Chăn nuôi ngày một tăng,

số đàn gia súc, gia cầm đều phát triển chủ yếu là trâu bò, lợn, gà, cá lồng …

+ Dịch vụ: Đạt 31,67% tăng 1,13% so với năm 2001 góp phần tăng thu

nhập cho một bộ phận dân cư trong huyện

+ Giáo dục văn hóa: Trên địa bàn huyện có 2 trường phổ thông trung học,

gần 50 trường tiểu học và trung học cơ sở, một trường mầm non và 104 lớp ở

các xã, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp 2006-2007 là 99,8% tốt nghiệp phổ thông trung học là

91%, đã phổ cập xong tiểu học là 24/24 xã; trung học 9/24 xã Số xã có điện

lưới quốc gia là 19/24 xã đến năm 2007 đã có 20/24 xã có điểm bưu điện văn

hóa Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao ngày một được xây dựng và phát

Trang 27

triển, số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt 68,9% toàn huyện đã công nhận

15 làng văn hóa và 108 đơn vị cơ quan văn hóa Hoạt động văn hóa hướng vào

nội dung xây dựng làng văn hóa mới, bài trừ mê tín dị đoan, xóa bỏ các tập tục

phong kiến lạc hậu, thu thập thông tin về khoa học kỹ thuật, vui chơi, giải trí…

giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, văn hóa truyền thống

+ Công tác y tế - dân số: toàn huyện có 1 bệnh viện, 3 phân viện, 100% số

xã có trạm xá, phục vụ khám, điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tỉ lệ tăng

dân số liên tục giảm nhanh từ 0,82% năm 2001 xuống còn 0,71% năm 2007, tỉ

lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 19% năm 2001 xuống còn

15,6% năm 2007

+ Về chính trị xã hội: nhân dân các dân tộc trong huyện tin tưởng vào

đường lối của Đảng và Nhà nước, gắn bó chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng với

nhân dân Với nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ 19 tiếp

tục định hướng đường lối cho công cuộc đổi mới đất nước thực hiện mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” kiên định con

đường xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng và Bác Hồ lựa chọn

+ Về an ninh quốc phòng: Thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách

phát triển kinh tế xã hội trong nhiều năm qua và nhất là chính sách chăm sóc

thương binh, gia đình liệt sỹ đã góp phần rất lớn vào việc tăng cường khối đại

đoàn kết dân tộc “chống diễn biến hòa bình” giữ vững ổn định chính trị, trật tự

an toàn xã hội trên địa bàn huyện Văn Quan

Những đặc điểm kinh tế xã hội của huyện đã tác động đến việc thực hiện

chính sách xã hội đối với gia đình thương binh, liệt sỹ của huyện Vấn đề này

luôn được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và ngành lao động thương binh - xã

hội, sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các ban ngành, đoàn thể

toàn huyện

Trang 28

2.2 Những nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu

2.2.1 Đảng bộ và chính quyền Huyện Văn Quan đã từng bước thực

hiện kịp thời chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh liệt sỹ

Chính sách xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả vật chất lẫn tinh thần của Nhà

nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao của những người hay một bộ phận xã

hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có

công với nước là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội Ngay từ những

ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí

Minh cùng toàn dân ta đã quan tâm đến chính sách đối với gia đình thương binh

liệt sỹ Để thực thi các chính sách ưu đãi này, trong thời gian qua, Nhà nước ta

đã xây dựng nhiều trung tâm phục hồi chức năng, mở rộng các trại điều dưỡng,

an dưỡng ở trung ương cũng như địa phương nhằm phục hồi sức khỏe cho

thương binh Các địa phương đều xây dựng các cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất

tạo công ăn việc làm cho con em thương binh, bệnh binh và con em liệt sĩ

Gần đây, với việc ban hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà

nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và “pháp lệnh ưu đãi người có công với cách

mạng”, một lần nữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thực hiện lòng biết ơn

sâu sắc của mình với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công

với cách mạng

Suốt nửa thế kỷ qua, tiếp nối truyền thống nhân ái của dân tộc, nhiều

phong trào của các địa phương, các tổ chức xã hội, các cá nhân đã làm cho công

tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ trở thành công việc thường xuyên của

xã hội Tuy vậy với yêu cầu to lớn của công việc này, chúng ta còn phải cố gắng

nhiều hơn nữa, phải tiếp tục hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách

của Đảng và Nhà nước Công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người

có công phải tổ chức thực hiện mọi ngành, mọi cấp

2.2.1.1 Khái quát về tình hình gia đình thương binh liệt sĩ ở huyện Văn

Quan

Trang 29

Với truyền thống quật cường của dõn tộc, một đất nước yờu chuộng hũa

bỡnh, nhõn dõn Việt Nam đó chiến đấu và chiến thắng hai kẻ thự là thực dõn Phỏp

và đế quốc Mỹ, giành được độc lập tự do cho dõn tộc Chiến tranh đi qua, để lại

một hậu quả tàn khốc, hàng triệu người con ưu tỳ của dõn tộc đó anh dũng hy sinh,

hàng chục vạn người đó để lại chiến trường một phần xương mỏu Hũa chung với

khớ thế quật cường của dõn tộc, nhõn dõn huyện Văn Quan đó gúp sức cựng đồng

bào cả nước đứng lờn đấu tranh chiến thắng kẻ thự

Trong số những người con ra đi vỡ Tổ quốc, đó cú hàng ngàn người nằm

lại ở chiến trường Trong tổng số 11.186 hộ gia đỡnh của toàn huyện thỡ số hộ

chớnh sỏch đó lờn tới con số 732 chiếm 6,54% tổng số dõn trong địa bàn

Trong số những hộ chớnh sỏch đú cú 662 hộ gia đỡnh thương binh, liệt sĩ

chiếm 5,92% hộ gia đỡnh trong toàn huyện

Để hiểu thờm cơ cấu hộ gia đỡnh thương binh, liệt sĩ trong cơ cấu hộ gia

đỡnh chớnh sỏch ta cú thể phõn tớch qua biểu đồ sau:

Biểu đồ: Cơ cấu gia đỡnh thương binh, liệt sĩ trong cơ cấu hộ gia đỡnh thuộc

diện chớnh sỏch (toàn huyện Văn Quan)

Hộ gia đình chính sách

(Nguồn: Số liệu khảo sỏt tại UBND huyện Văn Quan)

Qua biểu đồ trờn ta thấy, số hộ gia đỡnh liệt sĩ gồm 552 hộ chiếm 75,4%

tổng số hộ thuộc diện chớnh sỏch ưu đói của toàn huyện Cựng với hộ gia đỡnh

liệt sĩ cú: 110 hộ gia đỡnh thương binh, chiếm 15,02% Đõy là những hộ gia đỡnh

Trang 30

đang từng ngày, từng giờ vật lộn với cuộc sống đầy khó khăn Ngoài ra, còn có

70 hộ gia đình chính sách khác, chiếm 9,56% như hộ gia đình hoạt động trước

cách mạng tháng tám năm 1945, hộ gia đình có công với cách mạng, bà mẹ Việt

Nam anh hùng, …

Ngày nay, chúng ta-những người đang hưởng thành quả của cách mạng

phải có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ những gia đình thiếu hụt đi lên hòa nhập với

cuộc sống đời thường Những hộ gia đình đó là những hộ gia đình chịu nhiều

thiệt thòi và mất mát

2.2.1.2 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình thương binh

liệt sĩ ở Văn Quan

2.2.1.2.1 Chính sách ưu đãi xã hội đối với đời sống gia đình liệt sĩ

(1) Vài nét về cơ cấu liệt sĩ và gia đình liệt sĩ:

Chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất nhưng những

tổn thương chiến tranh không thể hàn gắn một sớm một chiều Không có sự mất

mát nào to lớn hơn sự mất mát hy sinh về con người Trải qua 2 cuộc kháng

chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng chiến tranh biên giới Tây Nam và biên

giới phía Bắc, huyện Văn Quan có 564 liệt sĩ hi sinh trong các thời kỳ để minh

chứng cho sự mất mát này, chúng ta xem xét bảng số liệu cơ cấu liệt sĩ qua các

thời kỳ

Bảng 1: Cơ cấu liệt sĩ qua các thời kỳ

Qua bảng số liệu trên ta thấy toàn huyện có 564 liệt sĩ, chiếm 0.99% dân

số toàn huyện Trong đó có 51 liệt sĩ hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống

Pháp chiếm 9,05% tổng liệt sĩ của toàn huyện Thân nhân của liệt sĩ trong thời

Trang 31

kỳ chống Pháp giờ đây tuổi đã già yếu, con của liệt sĩ giờ đã trưởng thành và là

lực lượng lao động đông đảo của đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước

phải luôn quan tâm tới nhóm thân nhân này

Trong hơn 20 năm chống Mỹ, Văn Quan có 410 liệt sĩ, chiếm 72,6% số

liệt sĩ của toàn huyện Khi chiến tranh chấm dứt, trong công cuộc xây dựng và

bảo vệ tổ quốc, toàn huyện có 103 người con hy sinh, chiếm 18,28% Số liệt sỹ

này mới hy sinh trong những năm gần đây, những thân nhân của liệt sỹ còn rất

trẻ, họ là những người đang trong độ tuổi lao động, con cái của họ đang trong độ

tuổi đi học, do đó Đảng và Nhà nước phải có những chính sách ưu đãi làm cho

họ tin tưởng vào sự nghiệp chung của đất nước

Khi xem xét về tình hình thương binh và liệt sỹ ở huyện Văn Quan ta thấy

rõ cơ cấu gia đình liệt sỹ thể hiện như sau:

Bảng 2: Cơ cấu phân loại gia đình liệt sỹ

1 Gia đình có 01 con là liệt sỹ 540 97,82

2 Gia đình có 02 con là liệt sỹ 12 2,18

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007 của PhòngNội vụ-LĐ-TB&XH huyện Văn Quan)

Qua bảng số liệu trên, tổng số hộ gia đình liệt sỹ trong huyện là 522

Trong đó hộ gia đình có 01 con là liệt sỹ chiếm 97,82%, gia đình có 02 con là

liệt sỹ chiếm 2,18% Thông qua cơ cấu liệt sỹ qua các thời kỳ và cơ cấu phân

loại liệt sỹ, chúng ta phần nào bù đắp được những thiệt hại và mất mát của gia

đình liệt sỹ

(2) Trợ cấp tuất của thân nhân liệt sỹ

Thương binh, liệt sỹ là những người vì sự nghiệp chung của Tổ quốc hy

sinh gia đình và bản thân mình nên Đảng và Nhà nước cùng toàn thể nhân dân

có trách nhiệm và bổn phận bù đắp thiệt thòi cho họ, để họ có cuộc sống yên ổn

về vật chất, vui vẻ về tinh thần, có mức sống ngang bằng với mức sống trung

Trang 32

bình của người dân nơi cư trú Hàng tháng, thân nhân liệt sỹ được hưởng mức

trợ cấp nhất định để đảm bảo cuộc sống gia đình

Nghị định 32/2007/NĐ-CP ngày 02/3/2007 qui định với bản thân liệt sỹ,

khi hy sinh được trợ cấp tiền mai táng phí và một khoản tiền khác trong tổ chức

tang lễ Cụ thể: gia đình liệt sỹ được hưởng tiền trợ cấp tuất một lần

3.000.000đ/người Đối với thân nhân liệt sỹ như bố, mẹ đẻ (kể cả người có công

nuôi liệt sỹ), vợ hoặc chồng của liệt sỹ, con của liệt sỹ dưới 18 tuổi hoặc trên 18

tuổi vẫn còn đi học Tất cả thân nhân liệt sỹ có đủ điều kiện trên được hưởng

mức trợ cấp tuất hàng tháng là 470.000đ/người/tháng Đặc biệt, thân nhân cô

đơn không nơi nương tựa hoặc con mồ côi cả cha lẫn mẹ đều được hưởng mức

trợ cấp là 794.000đ/người/tháng Văn Quan với tổng số 476 thân nhân liệt sỹ,

đây là đối tượng đang được hưởng chính sách ưu đãi xã hội Để hiểu thêm về số

lượng thân nhân được hưởng chính sách ưu đãi được thể hiện qua kết quả khảo

Qua khảo sát ta thấy: Số thân nhân liệt sỹ được hưởng chế độ hàng tháng

là 470.000đ chiếm 74,37% và có 5 thân nhân liệt sỹ được hưởng chế độ tuất

nuôi dưỡng là 794.000đ chiếm 1,05%, có 117 thân nhân được hưởng chế độ thờ

cúng một lần là 600.000đ, chiếm 24,58%

Những khoản trợ cấp ưu đãi xã hội không những mang ý nghĩa tinh thần

mà còn phần nào bù đắp về vật chất, giúp cho gia đình liệt sỹ bớt những khó

Trang 33

khăn trong cuộc sống Mẹ Nông Thị L - Mẹ Liệt sĩ ở xã Tri Lễ đã tâm sự với

chúng tôi: “ Trước đây mẹ ở với con dâu trong một căn nhà tranh cạnh chợ,

tiện nghi sinh hoạt trong nhà không có gì đáng giá Mùa đông không có chăn

đắp đủ ấm Bây giờ mẹ đã được sống trong căn nhà tình nghĩa xây dựng khang

trang Trong nhà có ti vi, giường tủ, bàn ghế chắc và đẹp, chăn ấm Thật sướng

quá, mẹ càng thấy khoẻ ra” (Trích phỏng vấn sâu số 1)

(3) Chính sách ưu đãi về y tế, chăm sóc sức khỏe

Sức khỏe là yếu tố quan trọng đối với mỗi người, thân nhân liệt sỹ là

những người chịu nhiệt thiệt thòi về vật chất cũng như tinh thần, để bù đắp

những thiệt thòi đó, Đảng, Nhà nước ta đã có chính sách ưu đãi về y tế, chăm

sóc sức khỏe cho thân nhân liệt sỹ

Tất cả những thân nhân liệt sỹ, người có công nuôi liệt sỹ, vợ hoặc chồng

của liệt sỹ đang hưởng trợ cấp hàng tháng đều được cấp sổ bảo hiểm y tế, khám

bệnh định kỳ và được cấp phát thuốc miễn phí Theo kết quả điều tra thì có

100% thân nhân liệt sỹ trong huyện đều được cấp sổ bảo hiểm y tế Hàng năm

đến ngày 27/7, những thân nhân liệt sỹ đều được trung tâm y tế của huyện khám

sức khỏe định kỳ và cấp phát thuốc miễn phí Điều đó, phần nào an ủi và bù đắp

được những mất mát đau thương của bản thân và gia đình liệt sỹ Để thực hiện

tốt hơn nữa chính sách chăm sóc sức khỏe, chúng ta phải hiểu thêm tình trạng

sức khỏe của thân nhân liệt sỹ Qua khảo sát về tình trạng sức khỏe của thân

nhân chủ yếu của liệt sỹ (bố, mẹ già) ở huyện Văn Quan thu được kết quả sau:

Trang 34

Bảng 4: Tình trạng sức khỏe của thân nhân liệt sỹ

Mức độ Đối tượng

Thường xuyên ốm

Thân nhân chủ yếu của liệt sỹ 56,67% 43,33%

(Báo cáo Tổng kết năm 2007 của Phòng Nội vụ-LĐ-TB&XH huyện Văn Quan)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, số thân nhân chủ yếu của liệt sỹ là vợ, bố

mẹ già thường xuyên ốm chiếm 56,67%, những thân nhân thỉnh thoảng ốm

chiếm 43,33% Đây là nhóm thân nhân có tuổi già sức yếu nên tình trạng sức

khỏe không ổn định Đối tượng này cần được sự quan tâm của Đảng và Nhà

nước về chính sách bảo hiểm y tế Thực hiện tốt chính sách này là thể hiện

truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”

Tinh thần, thái độ nhiệt tình của y, bác sỹ cũng là điều quan trọng tác

động đến đời sống tinh thần của thân nhân liệt sỹ, đó là sự tác động quyết định

Ví dụ khi khám chữa bệnh, bệnh nhân cảm nhận được sự nhiệt tình của người

chăm sóc, họ cảm thấy tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,

vào chế độ xã hội chủ nghĩa

(4) Chính sách ưu đãi giáo dục

Để bù đắp những thiệt thòi của thân nhân liệt sỹ, Đảng và Nhà nước đã ban

hành chế độ ưu đãi giáo dục đối với con em liệt sỹ và Phòng Nội vu-Lao động-TB

và Xã hội huyện Văn Quan đã làm tốt về vấn đề này Con liệt sỹ khi theo học tiểu

học, trung học cơ sở, phổ thông trung học được miễn học phí và miễn các khoản

xây dựng trường sở, được ưu tiên trong tuyển sinh và tốt nghiệp, được trợ cấp mỗi

năm học một lần với mức 60.000đ với học sinh mầm non, 90.000đ với học sinh

trung học cơ sở, 120.000đ với học sinh phổ thông trung học

Con liệt sỹ khi học các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, dự bị đại học

được ưu tiên trong xét tuyển Trong 5 năm qua toàn huyện có 8 cháu được xét đi

học, có 2 cháu học đại học đã có việc làm Số còn lại đang tiếp tục học cao đẳng

Ngày đăng: 16/04/2015, 23:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu liệt sĩ qua các thời kỳ - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 1 Cơ cấu liệt sĩ qua các thời kỳ (Trang 30)
Bảng 2: Cơ cấu phân loại gia đình liệt sỹ. - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2 Cơ cấu phân loại gia đình liệt sỹ (Trang 31)
Bảng 3: Phân loại thân nhân được hưởng chế độ tuất - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 3 Phân loại thân nhân được hưởng chế độ tuất (Trang 32)
Bảng 5: Cơ cấu thương binh theo tỉ lệ thương tật trong toàn huyện V ăn Quan. - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 5 Cơ cấu thương binh theo tỉ lệ thương tật trong toàn huyện V ăn Quan (Trang 36)
Bảng 6: Cơ cấu tuổi của thương binh - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 6 Cơ cấu tuổi của thương binh (Trang 37)
Bảng 8. Mức thu nhập của hộ gia đình thương binh, liệt sỹ - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 8. Mức thu nhập của hộ gia đình thương binh, liệt sỹ (Trang 47)
Bảng 9. Những khó khăn thường gặp trong hoạt động sản xuất của  những gia đình thương binh liệt sỹ - Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh liệt sĩ trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay thông qua khảo sát xã hội học ở huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Bảng 9. Những khó khăn thường gặp trong hoạt động sản xuất của những gia đình thương binh liệt sỹ (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w