Thơ văn Tú Xương phản ánh mặt trái của thời đại, đồng thời cũng nêulên được tâm sự chung của tầng lớp Nho sĩ cuối mùa thất thế.Ngoài mảng thơtrào phúng Tú Xương còn có một bộ phận sáng t
Trang 1Mục Lục
Trang
Mở đầu 02
1 Lý do chọn đề tài 02
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 03
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 03
4 Mục đích nghiên cứu 03
5 Phương pháp nghiên cứu 03
6 Đóng góp của luận văn 04
7 Cấu trúc của luận văn 04
Chương 1 V ị trí thơ văn tú xương trong văn học trung đại Việt Nam 05
1.1.Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 05
1.1.1.Cuộc đời 05
1.1.2.Sự nghiệp sáng tác 07
1.2.Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong thơ văn Tú Xương 08
1.2.1 Giá trị nội dung 08
1.2.2 Giá Trị nghệ thuật 21
1.4 Tiểu kết 29
Chương 2 Cái tôi trong thơ Tú Xương 30
2.1 Cái tôi phản tỉnh trong thơ trào phúng 30
2.1.1 Cái tôi ăn chơi 31
2.1.2 Cái tôi ngông nghênh 36
2.2 Cái tôi suy tư, dằn vặt trong thơ trữ tình 42
2.2.1 Cái tôi bế tắc, tuyệt vọng 42
2.2.2 Cái tôi cô đơn và tâm sự yêu nước thầm kín 47
2.3 Tiểu kết 56
Kết luận 57
Tài liệu tham khảo 58
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tú Xương là một trong những nhà thơ lớn của văn hoc Việt Nam cuốithế kỉ XIX Cuộc đời của ông ngắn ngủi, đầy bất hạnh lận đận trong nghiệpthi cử nổi ám ảnh nhất đời của ông Ông lại sống trong xã hội giao thời đầy bikịch.Giữa hai chế độ thực dân và phong kiến
Thơ văn Tú Xương phản ánh mặt trái của thời đại, đồng thời cũng nêulên được tâm sự chung của tầng lớp Nho sĩ cuối mùa thất thế.Ngoài mảng thơtrào phúng Tú Xương còn có một bộ phận sáng tác viết về bản thân mình.Ông viết về cuộc sống tâm tư tình cảm của bản thân, ở đây cái tôi cá nhân TúXương thể hiện rất rõ nhưng dường như có sự mâu thuẫn trong cái tôi ấy
Ở mảng thơ trào phúng, cái tôi của ông là cái tôi ngông nghênh ăn chơibừa bãi vô trách nhiệm và cường điệu hóa những mặt tiêu cực và nhược điểmcủa bản thân mình Nhưng bên cạnh một Tú Xương ngông nghênh vô tráchnhiệm trước thời cuộc, thì chúng ta lại bắt gặp một Tú Xương thể hiện đượccái tôi cô đơn bế tắc, bất lực và đầy tuyệt vọng nhưng luôn tha thiết với vậnmệnh của đất nước, dân tộc
Để nắm vững giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Tú Xương Cũng nhưphát hiện nét độc đáo trong cái tôi của ông được thể hiện trong thơ.Nên chúng
tôi chọn đề tài cái tôi trong thơ Tú Xương làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ Tú Xương là một hiện tượng độc đáo của văn học nước nhà, vì vậy
từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về thơ ông,tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:
Công trình nghiên cứu Thân thế và thơ Văn Tú Xương của Vũ Đăng
Văn (1951)
Tiếp đến, Khảo luận về Trần Tế Xương của Nguyễn Đình Chú và Lê
Mại do NXB Giáo dục phát hành năm 1984
Trang 3Đến năm 1997, có công trình Tú Xương con người và tác phẩm của
Ngô Văn Phú NXB Hội nhà văn phát hành
Trong giáo trình văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVII I- hết XIX của
Nguyễn Lộc phát hành Năm 1997 [ Tr,765-798] tác giả đề cập những nét cơbản về giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Tú Xương
Năm 2000 hai tác giả Phạm Trọng Thanh và Giang Phong đã cho xuất
bản Tú Xương ắt hẳn nghìn thu tiếng hãy còn.
Đến năm 2003 NXB Giáo dục đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu
và bài viết của các tác giả được tuyển tập lại trong Trần Tế Xương về tác gia
và tác phẩm.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết của các tác giả được đăng trên cáctạp chí đã đề cập đến cuộc đời sự nghiệp, thời đại, cái hay cái đẹp trong thơcủa ông như: Trần Thanh Mại, Tú Mỡ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, NguyễnCông Hoan, Trần Mạnh Hảo, Chế Lan Viên…
Tuy nhiên chưa có một công trình nào đề cập đến cái tôi trong thơ TúXương một cách hệ thống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối Tượng nghiên cứu của luận văn là cái tôi qua một số sáng tác tiêu
biểu của ông như: Tự trào, Tự cười mình, Đau mắt, Than nghèo, Đêm hè,
Đêm dài, Chợt giấc… được tập hợp in trong giáo trình văn học Việt Nam nữa
cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của giáo sư Nguyễn Lộc do NXB Giáodục phát hành năm 1997 [Tr,765-798], và một số tài liệu có liên quan để bàiviết thêm phong phú
4 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát một cách hệ thống về cái tôi trong thơ Tú Xương Qua đó thấyđược con người của ông với đầy nỗi niềm tâm sự của cá nhân mình Đồngthời, khẳng định vị trí của ông đối với văn học trung đại Việt Nam nử a cuốithế kỷ XIX
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau cơ bản sau đây:Phương pháp tiếp cận văn bản và phương pháp phân tích tổng hợp, phươngpháp đối chiếu so sánh.
6 Đóng góp của luận văn
Qua việc khảo sát về cái tôi trong thơ Tú Xương để thấy được nét độcđáo giữa cái tôi trữ tình và cái tôi phản tỉnh của ông Trên cơ sở đó giúpchúng tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật, vàcũng như về nhân cách của Tú Xương được thể hiện trong thơ Điều này, sẽgiúp ích rất nhiều trong việc giảng dạy của chúng tôi sau này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn sẽ đượctriển khai trong hai chương sau đây:
Chương1: Vị trí thơ văn Tú Xương trong văn học trung đại Việt NamChương 2: Cái tôi trong trong thơ Tú Xương
Trang 5Chương 1
VỊ TRÍ THƠ VĂN TÚ XƯƠNG TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.1.1 Cuộc đời
Tú Xương chính tên là Trần Duy Uyên, tự là Mặc Trai, hiệu là MộngTích, khi đi thi Hương lấy tên là Tế Xương, khoa cuối cùng lấy tên là TrầnCao Xương để mong thi đỗ như vẫn cứ thi hỏng Ông đã phải thốt lên rằng:
"Tế đổi làm Cao mà chó thếKiện ra trong tiệp hỡi trời ơi"
Ông sinh ngày 10 tháng 8 Năm canh Ngọ (1870) tức là ngày 5 tháng 9năm 1870 ở làng Vị xuyên, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định cũ nay là phố HàngNâu, thuộc khu Định Hữu trong một gia đình đông con nhà nghèo Ông thânsinh của nhà thơ là Trần Duy Nhuận, một người có đi học, đi thi nhưng không
đỗ đạt gì.Về sau làm tự thừa giúp việc trong dinh Đốc học Nam Định
Tú Xương khôi ngô hoạt bát thông minh, tính tình phóng khoáng ăn nói códuyên, đặc biệt là khiếu hài hước và thường hay châm biếm khác người Ônglấy vợ sớm, vợ là Phạm Thị Mẩn, một người phụ nữ tảo tần có tiếng
Ông xuất thân Nho gia nên sớm đã theo đòi Khổng học Năm 15 tuổi đithi Hương nhưng không đậu Hai khoa tiếp theo cũng trượt cả hai Mãi đến khoaGiáp ngọ năm 1894, ông mới đậu tú tài, năm ấy nhà thơ 24 tuổi Trong bài "Phúhỏng thi", ông đã thuật lại sự việc này một cách khôi hài thật chua xót:
"Tú rớt bảng trong năm Giáp ngọ, nổi tiếng tài hoaCon nhà dòng ở đất Vị Xuyên, ăn phần cổ nọng"
Thời bấy giờ mảnh bằng tú tài may lắm là có thể làm thầy đồ dạy học,chứ không làm được chức quan gì nên nhà thơ lại tiếp tục vác lều chỏng đi thimong kiếm chút cử nhân mới có thể làm việc được Nhưng các khoa thi sau từnăm 1897, năm 1900, năm 1903, năm 1906 cứ ba năm một lần ông lại có mặt
Trang 6tại trường thi không bỏ sót khoa nào nhưng vẫn trượt Đến khoa thi tiếp thìkhông còn ai thấy mặt nhà thơ nữa vì ông đã từ trần trước đó hai năm trongmột trường hợp rất đặc biệt Ngày rằm tháng chạp năm Bính ngọ tức ngày 20tháng 1 năm 1907 Tú Xương về quê ngoại ăn giỗ đi đường gặp mưa, trời lạirét Ông bị cảm nặng không chạy chữa kịp, ông mất ngay đêm ấy tại nhà họngoại, thuộc làng Đại Tứ huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định.
Đối với Tú Xương, dấu ấn thi cử đậm nét trong cuộc đời ngắn ngủi củaông Tú Xương đã phản ánh trong thơ của mình về nghiệp thi cử, thái độ củaông lúc đầu có vẻ chế giễu cười đùa, nhưng càng về sau thì không còn cườiđùa nữa mà là cay đắng chua xót và tủi nhục
Khoa thi Canh tý (năm 1900) ông hỏng thi nên rất bực dọc "Đau quáđòn hằn, Rát hơn lửa bỏng" nhà thơ cảm thấy thẹn với bản thân "Hổ bút hổnghiên, Hổ lều hổ chõng, Nghĩ đến chữ Nam nhi đắc chí thêm nổi thẹn thùng,Ngẫm đến câu Quyền thổ trùng lai nói ra ngập ngọng" Ông lại tự an ủi bảnthân mình "Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ nói vậy màthiêng nào ai ngờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa lỡ ra cũng hỏng…"
Đến khoa Quý mão (năm 1903) thì nhà thơ đã thở dài thất vọng:
"Trách mình phận hẩm lại duyên ôi,
Đổ suốt hai trường hỏng một tôi"
(Hỏng thi)Đến khoa thi cuối cùng của cuộc đời ông, tiếng thở dài lại càng nãoruột hơn nhiều qua bài thơ "Buồn thi hỏng":
"Bụng buồn còn muốn nói năng chi,
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi!
Một việc văn chương thôi cũng nhảm,Trăm năm thân thế có ra gì?"
Ngoài việc thi cử cuộc đời nghèo túng của gia đình cũng để lại dấu ấnđậm nét trong thơ Tú Xương Gia đình ông có tám người con, sáu trai hai gái,tất cả đều do người vợ tảo tần nuôi con Quanh năm buôn bán nơi đầu sông
Trang 7cuối bể, đảm đang chịu thương chịu khó để nuôi chồng ăn học, cùng với mộtđàn con dại.
Ông Tú vẫn có tiền để ăn tiêu nhưng lúc nào cũng túng thiếu Nhà thơ
đã ghi lại cảnh nghèo của gia đình mình một cách chân thật, nợ nần luôn đeobám nhà thơ "Van nợ lắm khi trào nước mắt", lúc nào cũng phải lo cuộc sốngtừng ngày vì thiếu thốn "Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi"
Nguyễn Công Trứ ngày xưa đã ngửa tay đi vay mượn bọn phú hộ để
mà chịu nhục:
"Gặp khi chân sẩy đường cùng, nên phải tới cửa này cửa nọ
Than thở to to nhỏ nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi chờDần dà nọ nọ kia kia nó cũng vuốt râu làm bộ"
(Hàn nho phong vị phú)Cho hay đời nào cũng thế, cái cảnh của những người tài danh mà phảichịu lụy những kẻ trọc phú quả là những bức tranh thiên cổ Nó tượng trưngcho nỗi nhọc nhằn của những người có tài mà phải gặp cảnh nghèo khó
Hỏng thi, nghèo túng và cuộc đời riêng chẳng ra gì của nhà thơ lại trôiqua từng ngày ở một nơi đô hội, cuộc sống lúc nào cũng là quần là áo lượtvang lên tiếng guốc giày Nhà thơ chạy theo nó nhưng càng ngày lại càng đốilập gay gắt với nó Từ cảnh ngộ riêng của cá nhân của gia đình ông lại đếngần với cảnh ngộ của quần chúng Nhà thơ thấy rõ cuộc đời đầy đen bạc xấu
xa của xã hội Tiếng thơ của ông mang tính tố cáo đanh thép xã hội bấy giờ
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Tú Xương sống vào giai đoạn thoái trào của phong trào Cần Vương.Thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Cuộc đờiông bất hạnh nghèo khổ thất bại trên con đưòng thi cử lại sống giữa một thànhphố đã chịu sự chi phối của thực dân nửa phong kiến với nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa dưới hình thức thuộc địa bắt đầu hình thành Gắn liền với sự thayđổi trong cơ cấu kinh tế là sự thay đổi trong sinh hoạt, trạng thái tâm lí xã hội.Đây là lúc ông làm thằng, thằng làm ông là lúc "cô Thống cô Thông" (Hà
Trang 8thành thất thủ ca), cô Tư Hồng (thơ Nguyễn Khuyến) cậu bồi, cậu bếp, thầythông, thầy kí …bất tài vô dụng sẽ lên làm anh chị nghênh ngang lên mặt vớiđời Và đây cũng là lúc nho phong tàn tạ, sĩ khí tiêu tan, bút lông hết được sănđón, mọi giá trị cũ đang sụp đổ trước uy lực của đồng tiền Đến lúc này "cótiền mua tiên cũng được" Tú Xương đã chứng kiến thực trạng xã hội lúc bấygiờ Chính nó đã chi phối cuộc đời, tác động đến tâm lí Tú Xương, ông rấtnhạy bén với thực trạng đó để đưa vào thơ của mình Tú Xương để lại khánhiều thơ, văn viết bằng chữ nôm gồm đủ loại thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lụcbát, văn tế, phú, câu đối … Ngoài ra còn một số thơ dịch Tú Xương ít làmthơ chữ Hán Đương thời Tú Xương làm thơ không ghi chép lại, chỉ đọc chobạn bè nghe vì thế thơ ông thất lạc rất nhiều Người đương thời nghe thơ ông,phẩm bình truyền tụng như một đặc sản của quê hương "ăn chuối ngự, đọcthơ Xương" thể hiện sự nâng niu trân trọng đối với thơ của ông Nhà thơNguyễn Khuyến đã có lần nói "Kế dư chi hậu kỳ Xương hồ" nhưng khôngngờ Tú Xương lại mất trước Nguyễn Khuyến hai năm Đánh giá về thi nghiệp
Tú Xương, Nguyễn Khuyến lại có câu đối điếu:
"Kìa ai chín suối Xương không nát
Có nhẽ nghìn thu tiếng hãy còn"
Không phải là "có nhẽ" nữa mà chắc chắn thế Thơ văn Tú Xương sẽvẫn còn nguyên giá trị của nó và là niềm tự hào của người dân Việt Namhôm nay và cho đến mai sau
1.2 Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong thơ văn Tú Xương
1.2.1 Giá trị nội dung
Sinh sau Nguyễn Khuyến ba mươi lăm năm, Tú Xương sống trong giaiđoạn thoái trào của phong trào chống Pháp, và bắt đầu khai thác thuộc địa lầnthứ nhất Năm 1873 khi Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, rồi tiến đánhNam Định Tú Xương mới 3 tuổi Năm 1882 chúng tấn công Hà Nội lần thứhai và tràn đi cướp nốt các tỉnh khác Năm 1884 triều đình nhà Nguyễn kíhiệp ước Pa-tơ-nôt cả nước ta chính thức bị đặt dưới quyền đô hộ của thực
Trang 9dân Pháp Kẻ thù tạm thắng nhưng chúng đã phải gặp bao nhiêu khốn đốntrước các lực lượng đấu tranh của dân tộc ta Tiếp theo phong trào khángchiến của sĩ phu và nhân dân Nam Kỳ, phong trào Cần Vương chống Pháp sôinổi khắp cả nước Ở Nam Định quê hương ông có phong trào của các giới sĩphu như Phạm Văn Nghị, Kỳ Đồng ….nhưng tất cả đều bị thực dân Pháp dậptắt Tú Xương lớn lên cũng là lúc xã hội phong kiến ở nước ta nhanh chónggiải thể nhường chỗ cho một xã hội nửa thực dân phong kiến ra đời Thực dânPháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa thì một nền kinh tế tư bản chủ nghĩadưới hình thức thuộc địa bắt đầu hình thành, gắn liền với sự thay đổi về kinh
tế, giai cấp, sinh hoạt, tâm lí xã hội Tú Xương chỉ sống quanh quẩn ở thànhphố quê hương, điều đầu tiên đập vào con mắt sắc sảo của nhà thơ đó lànhững cái lố lăng, kỳ quặc của xã hội giao thời bấy giờ Nhà thơ đã ghi lại rấtsinh động, những người, những cảnh, những tập tục của nó
Phản ánh cuộc sống là sứ mệnh cao cả của nghệ thuật Văn học các giaiđoạn trước cũng đã phản ánh một cách sâu sắc xã hội Việt Nam trong thời kỳsuy tàn của chế độ phong kiến cho đến văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX,
đã giữ vững truyền thống này và nâng lên một bước có tính cụ thể lịch sửtrong việc phản ánh xã hội Bức tranh xã hội trong thơ Tú Xương trước hết làbức tranh thành phố Nam Định quê hương ông những năm giao thời cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX Quê hương ông là một trong những thành phố đầu tiên
bị chiếm đóng trên miền Bắc, cuộc sống thực dân đã bắt đầu cắm rễ ở đây nó
là hình ảnh thu hẹp và tập trung của cuộc sống thực dân nửa phong kiến TúXương viết về Nam Định, nhưng ý nghĩa của nó không bó hẹp vào một địaphương, mà nó có tính chất tiêu biểu cho bức tranh chung của xã hội ViệtNam trong buổi giao thời bấy giờ Nét đặc sắc của ông là thông qua những nét
kí họa để làm nổi bật sự chuyển hóa ấy
Trong thơ Tú Xương có hình bóng những con người và sinh hoạt của
xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa và có những nhân vật mới, sinh hoạtmới do xã hội thực dân đem lại
Trang 10Ông viết về những con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ,
mà tiêu biểu là tầng lớp quan lại, trước hết Tú Xương vạch trần tính chất taysai của chúng Nhân câu chuyện về một cô hầu bị tên quan huyện đuổi đi vìcho là thói lẳng lơ đĩ thõa Ông đã làm bài thơ giả lời cô hầu để gửi cho viênquan nhưng thực chất là vạch trần bản chất tay sai của hắn Mượn cái cớ làchuyện riêng tư mà phê phán chuyện theo giặc, lời thơ đanh thép tiểu biểu chotinh thần phê phán nghiêm chỉnh của ông:
"Chỉ trách người sao chẳng trách mình ?Mình trung đâu đấy, trách người trinh
Áo dày cơm nặng bao nhiêu đức?
Chiếu cạnh giường bên, mấy hột tình
Tơ tóc nổi riêng thì xét nétGiang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh !
Cổ cong mặt lệnh người đâu thếCái cóc bôi vôi khéo dại hình!"
(Cô hầu gửi quan lớn)Trong bài "Hát tuồng" lợi dụng đặc điểm nghệ thuật này, Tú Xương đảkích tính chất bịp bợm giả dối của bọn quan lại trên sân khấu chính trị bấygiờ, thực chất chỉ là bù nhìn mà thôi:
"Nào có ra chi lũ hát tuồngCũng hò cũng hét, cũng y uôngDẫu rằng dối được đàn con trẻ ,Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn !"
Cũng như những nhà thơ khác, Tú Xương còn vạch trần thói tham ôcủa chúng Ở thời đại này, thời đại mà đồng tiền tác oai tác quái ghê gớm nócàng xấu xa và thối nát Nguyễn Khuyến đã lợi dụng bài thơ "Vịnh Kiều" đãkích bọn quan lại một cách kín đáo:
"Có tiền viêc ấy mà xong nhỉNgày trước làm quan cũng thế a !"
Trang 11Tú Xương không cần kín đáo ông đả kích một cách quyết liệt, chứcquan đuợc mua như một món hàng, mà lại còn cò kè về giá cả:
"Lẳng lặng mà nghe nó chúc sangĐứa thời mua tước đứa mua quan"
(Năm mới chúc nhau)Hay trong bài "Bỡn ông phó bảng":
"Tri huyện lâu nay giá rẻ mà
Ví vào tay tớ quyết không tha"
Ông thẳng tay đả kích thói ăn tiền của bọn chúng thật trơ trẽn:
"Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên,Chữ "y" chữ "chiểu" không phê đến,Ông chỉ quen phê một chữ tiền."
(Đùa ông phủ)Phê phán quan lại ăn tiền thật ra không có gì mới, cái mới ở đây là cáchphê phán của Tú Xương có cá tính hơn, sắc sảo hơn nó mang nét cảm hứngthời sự lúc bấy giờ
Ông chửi thẳng vào một viên quan chấm thi, gian dối mà dốt nát:
"Thánh cắt ông vào chủ việc thi,Đêm ngày coi sóc chốn trường quy
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy ?
Trang 12Tú Xương đã dựng được nhiều chân dung giới quan lại mỗi người một
vẻ, sắc cạnh Ngoài Tú Xương hiếm có nhà thơ nào làm được như vậy Đốivới bọn chúng, nhà thơ không dừng lại ở những nét bên ngoài mà dường nhưqua cá tính của bọn chúng, ông muốn gợi lên một nét chung có tính cách thờiđại, đó là ông huyện "Mình trung đâu đấy trách người trinh",ông Ấm "chạylăng quăng Ấm chẳng ngồi", ông Hàn "nay lành mai vỡ ", ông Đốc "cờ bạc ănchơi rặt một màu"… Những nét tính cách này tuy không rõ nét, nó khônghoàn toàn là tính cách của bọn quan lại trong xã hội thuần túy, mà nó đãphảng phất hình bóng của bọn quan lại dưới chế độ thực dân Trong bức tranhnày, tác giả đã vẽ lên hình ảnh xã hội phong kiến cũ còn có các Nho sĩ đi thi,những ông cử, ông tú hình ảnh của một nền Nho học tiêu biểu cho chốn trườngthi, đồng thời cũng nói lên được đạo đức lễ giáo phong kiến thời bấy giờ
Thời đại Tú Xương một mặt là thời đại múa may đắc chí của bọn hãnhtiến cầu danh, cầu lợi Nhưng mặt khác lại là thời buổi bần cùng thất thế củaNho học vốn đã có mấy nghìn năm lịch sử Chỉ với dăm ba sự việc điển hìnhbiểu hiện cho một hình tượng độc đáo Tú Xương đã cực tả cái không khí vàquang cảnh buổi xế chiều:
"Đạo học ngày nay đã chán rồi,Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ,Trình có ông tiên thứ chỉ tôi!"
(Than Đạo Học)Nho học suy đồi địa vị tâm lý của người theo Nho học cũng thay đổitrong đó có cả nhà thơ Tú Xương:
"Nào có ra gì cái chữ nho,
Trang 13Ông nghè ông cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm thầy phán,Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò"
"Nhà nước ba năm mở một khoa,Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,Váy lê quét đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,Ngoảnh cổ mà trong lại nước nhà !"
Không khí trang nghiêm của khoa thi lúc này bị phá vỡ hoàn toàn.Tầng lớp quan lại, sĩ tử từ xưa đến nay vẫn được người đời trân trọng họ đã tỏ
rõ một phong thái ung dung, đàng hoàng đĩnh đạc của tầng lớp trên "duy hữuđộc thư cao" Giờ đây hình hài thân phận của họ lôi thôi, nhếch nhác Thái độtiếng nói của họ thì lúng túng "ậm ọe" Trong khi đó, bọn người thống trịphương tây xa lạ nghênh ngang đường hoàng Tú xương đã sử dụng lối tiểuđối: "sĩ tử" thì lôi thôi, quan trường thì "ậm ọe", hình ảnh lại đối chọi với âmthanh, lúc này tiếng cười bật lên chua chát khi cái lọng của quan sứ đối vớicái váy của mụ đầm Khôi hài hơn là hình ảnh ông cử đối nghịch với mụ đầmtrong bài "Giễu người thi đỗ":
Trang 14"Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không ?Trên ghế bà đầm ngoi đít vịtDưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !"
Trong số những người trúng tuyển có kẻ không xứng đáng, có lẽ đỗđược cũng nhờ gửi gắm chạy chọt nên nhà thơ một lần nữa đã kích bọn chúngvới nhân cách kém cỏi:
"Tiến sĩ khoa này được mấy người ?Xem chừng hay chữ có ông thôi!
Nghe văn mà gớm cho văn mãi,
Cờ biển vua ban cũng lạ đời."
(Ông tiến sĩ mới)Lại có những thí sinh đỗ nhờ thế lực của cha ông:
"Thử năm ông cử ai làm nổi,Học trò quan đốc ở Hà Nội
Nghe tin bà cố cười khì khì,
Đổ cả riêu cua xuống vũng lội."
(Ông cử thứ năm)Ông lại vạch trần những ông cử ông tú kém tài không năng lực tranhnhau chức thủ khoa "Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa" để rồi giương giương
tự đắc về tài năng của mình "Tuân khoe văn hoạt, Nghị văn già"
Hay trong bài thơ "Than sự thi":
Trang 15Ta dặn điều này phải nhớ cho.
Ra phố khăn ngang quàng lấy mặt
Vào trường quần rộng xắn lên khu
Câu văn đắc ý đừng nguây nguẩyChén rượu mền môi chứ gật gù
Nghe nói khoa này nghiêm cấm lắm,Đêm hôm phải sợ phép quan cò."
(Dặn người đi thi)Thi cử đã trở thành món hàng mua bán nơi đút lót gửi gắm, huy độnghết mức thế và lực: thi cử đã bị lưu manh hoá và việc tổ chức thi lại hỏng nátngay từ cơ sở tỉnh; trong lúc thi khảo để chọn lựa người xứng đáng được đi
dự khoa thi hương, cũng đã xảy ra những sự việc gian dối.Tác giả thể hiện rất
rõ trong bài "Ông cử Nhu":
"Sơ khảo khoa này bác cử Nhu,Thực là vừa dốt, lại vừa ngu
Văn chương nào phải là đơn thuốc,Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu."
Tú Xương đã phản ánh chính sách bỏ thi chữ Hán, một mặt vì quanđiểm bảo thủ nhưng mặt khác ông thấy rõ mục đích của thực dân muốn thaythế cái học mới vào cái học cũ, chẳng qua là để đào tạo đắc lực cho chúng,chứ chẳng phải là khai hoá văn minh cho nước ta Tú Xương mỉa mai lối đưadần các môn Sử, Toán Pháp, Cách Trí, luận Quốc Ngữ vào chương trình thi:
"Sử đề theo sách quan Ngô Giáp Toán pháp thêm bài hội Trí Tri"
(Bảo nhau đi thi)Ông ác cảm với cây bút chì vì nó tượng trưng cho cái học gán ép, laicăng của thực dân Tú Xương đã ghi nhận sự việc này trong bài "Đổi thi":
"Nghe nói khoa này sắp đổi thi,Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Trang 16Dẫu không bia đá còn bia miệng,Ném bút lông đi, thay bút chì."
Từ cảnh trường thi nhốn nháo tây, ta với bao nhiêu thay đổi đó cũng làhình ảnh một xã hội pha tạp hỗn độn buổi ban đầu của thực dân Pháp khi đặtách thống trị trên đất nước Lớp người cũ tượng trưng cho nền văn hiến cổ xưa,của dân tộc đang chết dần, để dành chỗ cho lớp người khác.Với những nét tảthực đến trần trụi từ những âm thanh và hình ảnh tiếng cười vừa mạnh mẽ vừathấm thía nhiều khi nó là tiếng nấc nghẹn ngào xót xa Bức tranh xã hội đậmnét nhất là sự xuất hiện hàng loạt những nhân vật mới, nó là con đẻ thật sự củachủ nghĩa thực dân Và trong bức tranh này ngòi bút hiện thực của Tú Xươngphóng ra trực tiếp tả cảnh, vẻ người, cuộc sống và những chân dung
Trước hết đó là sự thay đổi phá vỡ những thuần phong mĩ tục cũ củadân tộc với sự xâm nhập lấn át của xã hội thực dân với tất cả những cái rởmđời, lố lăng, sa đoạ Trước kia xã hội phong kiến ràng buộc con người bằngđạo đức phong kiến như tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức phản tựnhiên, một thời đã bị con người đấu tranh chống lại chúng Đó là ý nghĩ nhânsinh tiến bộ, có tính chất chống phong kiến của văn học Việt Nam trong giaiđoạn trước Xã hội thực dân phong kiến là một hiện tượng phản tự nhiên vàchính bản thân nó cũng không xây dựng được được một nền đạo đức nào cả
và nó cũng không theo đạo đức phong kiến bởi vì đạo đức phong kiến ngăncản con người, buộc con người sống trong khuôn khổ Xã hội nửa thực dânnữa phong kiến thực chất là xã hội, vô luân vô đạo Tú Xương đã ghi lại tínhchất vô luân vô đạo ấy, không những phổ biến trên bề mặt của xã hội mà nó
đã ăn sâu đến từng gia đình, vốn là nền tảng vững chắc của xã hội phong kiến
Tú Xương đã vạch ra trong gia đình này: con khinh bố mẹ, vợ chanh chuachửi chồng thật đau xót với tiếng thở dài não ruột:
"Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sôngNhà kia lỗi phép con khinh bố
Trang 17Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồngKeo cú người đâu như cứt sắtTham lam chuyện thở rặt hơi đồng Bắc Nam hơi khắp người bao tỉnh
Có đất nào như đất ấy không?"
(Đất Vị Hoàng)Thậm chí, một sự ngược đời khá đau lòng khi thi sĩ chứng kiến cảnhtrong gia đình kia mẹ vợ ăn nằm với chàng rể dẫn đến việc "Chép miệng bànuôi to cái dại, Phờ râu ông rể ẳm con so"
Mọi luân thường đạo trong gia đình không còn nữa, có gia đình khác chồngđem hiến vợ mình cho Tây để thăng quan, nó ê chề nhục nhã Một gia đình khácthì bà mẹ goá muốn tựa cửa quan mà gả con gái cho một thằng nghiện:
"Gái goá đem mình tựa cửa quan,Nghĩ rằng quan lớn thế thì sang
Thương con toan lấy dây tơ buộc,Kén rể vì tham cái lộng tàn."
(Thông gia với quan)Còn có nhiều gia đình, các bà vợ chán các đức ông chồng quyết tâmlàm bạn với nhà sư để được thướt tha, được lườm nguýt dưới trướng thể hiệntrong bài thơ "Ông sư và mấý ả lên đồng":
"Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng Thà rằng làm bạn quách với sư xong !Một thằng trọc tếch, thằng khua mõ, Hai ả tròn xoe đứng múa bôngThấp thoáng bên đèn lên bóng cậu
Thướt tha dưới án nguýt sư ôngChị em thủ thỉ đêm thanh vắng Chả sướng gì hơn lúc thượng đồng"
Lại có những bà "mẹ hiền" nhằm lúc các quý công tử đang ra đường
Trang 18ngông nghênh vênh váo, thì "mẹ hiền" ở nhà thông dâm với đại diện của chữnghĩa diệt dục Ông làm hai câu thơ để chế giễu cậu ấm kiêu căng nọ trongbài "Thằng tiểu phù Long":
"Thôi đừng điếu tráp nghênh ngang nữa Thằng tiểu phù Long nó chửi mày"
Lại có những cô gái chê chồng ngu mà mặc sức chơi nhăng:
"Vợ đẹp của người không giữ được Chồng ngu mượn đứa để chơi nhăng"
(Để vợ chơi nhăng)
Xã hội phong kiến suy đồi, trong xã hội suy đồi không phải không cónhững hiện tượng hình ảnh, con người mới Đó là hình ảnh anh công chứcthuộc địa chỉ có trong xã hội thực dân, sống không lý tưởng và vô tích sự nhưmột cái máy Nhưng những hiện tượng này lại xuất hiện với mức độ đậm đặcnhư trong thơ Tú Xương thì chỉ có trong xã hội thực dân lúc bấy giờ thôi
Không chỉ nói đến những hiện tượng của xã hội khi mà bộ cánh luânthường đã rách nát Tú Xương còn đưa vào bức tranh của mình hình ảnhnhững con người mới Đó là hình ảnh anh công chức thuộc địa chỉ có trong xãhội thực dân sống không lý tưởng và vô tích sự "Bác này mới thật thái vôtích" như một cái máy "sáng vác ô đi tối vác về!"
Lại có hạng người xoay sở đủ ngón, lợi dụng mọi cơ hội để kiếm chác,khi thì đóng vai thầy dùi, thầy cò trong việc kiện cáo, lúc đóng vai thầy langthày bói bịp bợm để kiếm ăn và lúc nào cũng vênh váo lên mặt:
"Thầy tớ tớ phố xênh xangThoạt nhác trông ra ngỡ cóc vàng Kiện hết sở tuần vô sở sứ,Khi thì thầy số, lúc thầy lang"
(Bợm già)
Có khi là những công tử bột nghênh ngang trâng tráo sản phẩm tất yếu củatình trạng phát triển xã hội thị dân trong bài "Anh hàng sắt giả danh nhà nho":
Trang 19"Áo quần đinh đáo trông ra cậu,
Ăn nói nhễ nhàng khác giọng Ngô"
Trong bài "Khai lí lịch" ngòi bút của Tú Xương còn đả kích đến bọnbồi bếp, bọn lính lệ lên mặt phong lưu "Tai cài ngọn bút, anh kia dòng tịch sĩxuất thân, Lưng dắt thẻ bài, chú nọ cùng lính tuần đựơc đất"
Ông còn đưa vào bức tranh của mình những người buôn bán mánh mối,lợi dụng nhan sắc để câu khách, đầu cơ trục lợi, mua rẻ bán đắt Đây là sự tíchtrữ, vốn chỉ có trong xã hội giao thời lúc bấy giờ ảnh hưởng nền kinh tế tưbản đang xâm nhập:
"Nước buôn như chị mới ăn người, Chị thấy ai ru? chị cũng cười
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế,Đắt hàng như thể mớ tôm tươi
Tiền hàng kẻ thiếu, mi thường đủ, …Giá gạo đâu năm đây vẫn mười…"
(Gái buôn 2)Đặc biệt kệch cỡm nhất là bọn me Tây gái điếm, ông cũng đã bêu rếuthói đĩ thoả, tà dâm của bọn chúng cậy thế, cậy thần tác yêu tác quái trong xãhội này Trong bài "Cô tây đi tu" nhà thơ đã thể hiện rõ nét:
"Rứt cái mề đay quẳng xuống sôngThôi thôi tôi cũng mét xì ông !"
Tú Xương nêu lên cho mọi người thấy, chính những loại này mới lànhân vật tiêu biểu cho xã hội thực dân nửa phong kiến Thì lẽ tất nhiên, khi xãhội đã xuất hiện những chủ thể mới, thì nó cũng mang theo một lối sống mớiquan niệm mới Giờ đây in trên nền trời của xã hội mới này chính là cái đít vịtcủa một mụ đầm béo núc ních, là cái dáng đỏng đảnh của mụ me Tây gái đĩ, làcái dáng dị hình quái gỡ của bọn anh hùng sắt giả danh nhà nho, và vô số hìnhthù của các ông quan "thành thì đen kịt, Đốc thì lang" của các quan bà "chồngchung vợ chạ"của các vị tu hành chán sự đời, lại đú đởn vụng trộm trong chùa
Trang 20Đối với những bọn này thì tiêu chuẩn bình thường của cuộc sống đều bị lậtnhào xuống Giờ đây bọn lố lăng sẽ trở thành sang trọng, kệch cỡm trở thànhquí phái, xấu xí lại trở thành ăn diện, nghèo kiết xác lại muốn tiêu hoang:
"Chí cha chí chát khua giày dépĐen thủi đen thui cũng lượt là”
(Xuân)Hoặc là trong bài "Chú Mán", tác giả đã ghi lại hình ảnh "Váy lĩnh côkia quét sạch hè" Sư sãi thì đua đòi chạy theo vinh hoa giả dối bỏ cả đức tínhkhiêm tốn từ bi "Công đức tu hành sư có lọng", còn chú Mán thì "Xu hào xủngxoảng Mán ngồi xe" Tú Xương đã điểm ra trên trang giấy của mình hình ảnhnhững con người mới của xã hội lúc này, tất cả đều rõ nét và chân thực
Trong bức tranh chung mà nhà thơ đã vẽ lên có những mảng đậm nétphác hoạ đầy đủ Nhưng có mảng nhạt chưa được rõ nét, nó chỉ thấp thoánghình bóng về bọn thực dân xâm lược Lý do là vì Tú Xương chưa đủ dũngkhí Đây cũng là điểm yếu chung của thơ ca thời này so với thơ ca của các sĩphu yêu nước vừa cầm gươm vừa cầm bút để chống lại thực dân Pháp trongkhuynh hướng văn học yêu nước Lúc đó Pháp thắng ta nhưng chưa đủ mạnh
để đè bẹp ý chí của nhân dân Vì thế, chúng phải ráo riết đối phó bằng cáchgây một không khí căng thẳng để uy hiếp dân chúng Ở thành phố Nam Địnhcũng như các thành thị khác chúng cho đủ các thứ lính: lính Pháp, lính khố
đỏ, lính khố xanh rầm rập giễu qua trước mặt nhân dân như "đèn kéo pháo".Bọn chúng thiết quân luật, cứ 8 giờ tối là cấm mọi người đi lại ngoài đường
Ai mà lỡ việc phải đi ra đường là bị bắt nhốt vào đồn Ban ngày chúng thảcảnh sát chặn các đường ai không mang thẻ là phạt Chúng phạt bừa bãi, chóchạy ra đường phạt, lớ ngớ không biết chổ để xe cũng phạt Để chiếm đất làmcông sở hay mở đường xá, chúng cấm nhân dân có nhà dột không được sửachữa đến khi nào không dùng được nữa thì đâu thì đi chúng chiếm luôn TúXương đã phản ánh lại cái hiện thực đó, lại trả đũa bọn cảnh sát bất lương kiabằng cách như giải phân vào miệng chúng:
Trang 21"Ngớ ngẩn đi xia may vớ đượcChuyến này ắt hẳn kiếm ăn to"
(Ông cò)Hình ảnh tên quan Pháp ấy chỉ mới thấp thoáng hiện lên nhưng là tư thếcủa bọn thống trị Một tên Tây cẩm (cảnh sát Tây) theo dõi việc đăng kí xetay cũng đủ tác oai tác quái, gây nên cảnh thầy kí Việt Nam phải đưa cô vợ trẻđẹp dâng cho quan Thầy kí trông vào quyền hành của ông Tây nên làm ănphát đạt hẳn lên (Mồng hai tết viếng cô Ký) Đó là chưa nói đến vợ chồng têntoàn quyền Đume (Doumer) tới xướng danh tại trường thi Nam Định mà nhưchoáng hết cả trời đất nước Nam, chúng nghênh ngang, bất chấp tất cả (Lễxướng danh khoa thi Đinh dậu)
Mặc dù, ngòi bút của Tú Xương chưa vạch trần hết bộ mặt của thực dânPháp nhưng ông đã phần nào tố cáo được tính chất xấu xa bỉ ổi của bọn chúng
Nội dung trong thơ Tú Xương đã đề cập đến rất nhiều chuyển biến của
xã hội thực dân, bức ký hoạ có cái đa dạng về số lượng và cũng đã đi sâuđược về bản chất của vấn đề tất cả đều là hiện thân của cuộc sống trước kiacủa dân tộc ta Những hình tượng văn học ông xây dựng nên không những cógiá trị về mặt văn học mà còn có giá trị như những tư liệu chính xác về xã hội.Chỉ cần đọc môt câu thơ "cô hàng bán sách lim dim ngủ Thầy khoá tư lươngnhấp nhổm ngồi"cũng đủ cho người đọc thấm thía hình dung ngay ra trướcmắt quang cảnh tiêu điều thưa thớt của Nho học lúc bây giờ, nó không kém gìmột công trình nghiên cứu tình hình xã hội lúc bấy giờ Tuy nhiên cũng phảithấy rằng cái nhìn của Tú Xương trước hiện thực vẫn là phiến diện Hình ảnhcon người chân chính ở đây quá hiếm Nhưng nó vẫn chưa là thiếu xót quantrọng Trong thơ Tú Xương thiếu xót quan trọng là ông vẫn chưa phản ánhđược hiện thực trong cuộc sống thực lúc bấy giờ mà văn học muốn đạt tớiđỉnh cao nhất, đó chính là cuộc đấu tranh giữa dân tộc ta với thực dân Pháp
1.2.2 Giá Trị nghệ thuật
Thơ văn Tú Xương một phần tố cáo hiện thực sâu sắc sâu sắc với bức
Trang 22tranh xã hội đầy nhố nhăng lố bịch trong buổi giao thời đầy bi kịch bên cạnh
đó có một phần tâm sự yêu nước đậm đà của ông nhưng nếu không có sứcmạnh của nghệ thuật với ngòi bút sắc sảo Đương thời nhà thơ NguyễnKhuyến đã nói rằng "Kế dư chi hậu Kỳ Xương hồ", và đến khi Tú Xương mấtông đã viết những câu điếu khẳng định tài năng của nhà thơ:
"Kìa ai chín suối Xương không nát
Có nhẽ nghìn thu tiếng hãy còn"
Thơ văn Tú Xương đã kết hợp tài tình hai yếu tố hiện thực và trữ tình.Vấn đề kết hợp hai yếu tố này trong thơ ca nói chung và thơ ca trào phúng nóiriêng là một trong những vấn đề tiêu chuẩn để đánh giá nghệ thuật đạt haykhông đạt Nguyễn Tuân đã cắt nghĩa sở dĩ thơ trào phúng Tú Xương không
"tắt gió" trong Nguyễn Tuân, không "bay ra khỏi" Nguyễn Tuân là vì " thơ TúXương đi bằng cả hai chân hiện thực và lãng mạn" bởi vì "thi pháp Tú Xươngphối hợp cả hiện thực và trữ tình"
Tú Xương đã kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và trữ tình Sựkết hợp trước hết là giữa bài này và bài nọ Trong thơ văn ông bên cạnhnhững bài thơ hiện thực trào phúng thì lại có những bài trữ tình thuần tuý
(Đêm dài, Đêm hè, Đau mắt, Chiêm bao, Dạ hoài, Chợt giấc, Nhớ bạn phương trời, Gửi ông thủ khoa Phan …) Qua những bài trữ tình đó người ta
thấy Tú Xương không chỉ giỏi về thơ mà còn giỏi về thơ trữ tình Thơ trữ tìnhcủa Tú Xương đề tài không mở rộng Ông chỉ có một số bài nói về tâm sự củamình trước tình cảnh đau xót của đất nước, một số bài viết về tình cảm củanhà thơ đối với bà vợ tảo tần, và cuộc sống nghèo khổ của bản thân, gia đìnhmột vài nét về nhà chí sĩ họ Phan Nhà thơ hay châm biếm và cười này khôngphải lúc nào cũng cười cợt, đã kích Một khi để cho lòng mình lắng lại, tiếngthơ của ông lại vang lên từ những cung bậc khác nhau của tiếng cười, mà từcái âm vang sâu xa của một tâm hồn đầy cảm xúc chân thành, lời thơ tựnhiên Ông đã viết ra được những bài thơ trữ tình đậm đà
Sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong thơ Tú Xương
Trang 23còn là sự kết hợp trong phạm vi một bài thơ Trong những bài thơ của ông màlâu nay thường gọi là trào phúng nhưng không phải là vắng mặt chất trữ tình.Trái lại, ở những bài trào phúng của ông, đặc biệt những bài thành công nhấtthì yếu tố trữ tình lúc này đã hỗ trợ cho yếu tố trào phúng thêm sâu sắc đầy ýnghĩa Ta có thể thấy rõ trong bài "Lễ xướng khoa thi Đinh dậu":
"Nhà nước ba năm mở một khoa ,Trường Nam thi lẫn với trường HàLôi thôi sĩ tử vai đeo lọ ,
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa Lọng cắm rợp trời quan sứ đếnVáy lê quét đất mụ đầm raNhân tài đất bắc nào ai đóNgoảnh cổ mà trông lại nước nhà !"
Sáu câu đầu Tú Xương đã vẽ lên quang cảnh trường thi với đầy đủ cácthành phần tham dự nhưng nó mất đi tính chất trang nghiêm cổ kính của trườngthi, tất cả bây giờ là bệ rạc, đảo lộn đối lập gay gắt với nhau để tạo ra tiếng cườichua chát mỉa mai Đây chính là hiện thực của xã hội bây giờ Nhưng hai câukết không còn châm biếm đã kích nữa mà đã nói lên tâm sự đau xót uất hận củanhà thơ trước cảnh tượng trường thi trong buổi đầu mất nước
Trong thơ Tú Xương có những bài hiện thực mà trào phúng ,có nhữngbài hiện thực mà không trào phúng nhưng dù ở thể loại nào đi chăng nữa vẫnkhông thiếu chất trữ tình Ở Tú Xương sự kết hợp giữa hiện thưc và trữ tình
có nhiều trường hợp ngay trong một câu thơ:
"Học đã sôi cơm nhưng chửa chín,Thi không ăn ớt thế mà cay !"
(Buồn thi hỏng)
Rõ ràng nhà thơ đang đùa cợt về chuyện hỏng thi của mình, lại chính làlúc nhà thơ thơ đớn đau tủi hổ cho bản thân Ta có thể lấy thêm những câu thơkhác để thấy được sự tài tình của nhà thơ trong việc kết hơp hai yếu tố này:
Trang 24"Cái khó theo nhau mãi thế thôi.
Có ai hay chỉ một mình tôi ?"
(Than nghèo)
Ở câu thơ này với bốn chữ đầu "cái khó theo nhau", nhà thơ nói đến cáinghèo khó mà tưởng chừng như đang đùa bỡn chạy theo nó nhưng đến ba chữtiếp theo "mãi thế này" thì cái nghèo khó đã đè nhà thơ xuống không cho ôngđùa bỡn ông kêu lên "Có ai không hay chỉ một mình tôi"
Nói đến sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực trào phúng và yếu tố trữtình trong thơ Tú Xương qua phần phân tích ở trên nếu cứ tính câu nào là hiệnthực, câu nào là trữ tình, rồi đi phân tích có mấy câu hiện thực, mấy câu trữtình thì dễ thường sẽ lầm tưởng rằng mặt hiện thực là mặt chủ yếu, còn trữtình là thứ yếu Thực ra hai chất đó quyện vào nhau nên khó nói cái nào làchủ yếu, cái nào là thứ yếu Theo nhà văn Nguyễn Tuân thì còn ngược lại,ông cho rằng "Cái chân hiện thực ở người Tú Xương là cái chân trái TúXương lấy cái chân phải lãng mạn mà khiến cái chân trái tả thực Chủ đạo cho
đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã băng được mình, đưa thơ tới chúng tabằng nước bước lãng mạn trữ tình"
Sức mạnh nghệ thuật trong thơ ông còn là sức mạnh của ngôn ngữ vàhình ảnh Cùng với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao BáQuát, Nguyễn Khuyến Tú Xương là bậc thầy về ngôn ngữ trong thơ Ngônngữ trong thơ Tú Xương có đầy đủ đặc tính của ngôn ngữ kết tinh: vừa giản
dị trong sáng, gợi cảm lại giàu hình ảnh Ngôn ngữ của ông bắt rễ từ trongvăn học dân gian, tiếp thu từ ngôn ngữ văn thơ cổ điển và được nâng lên nhờ
cá tính sáng tạo của mình Giữa Tú Xương và ngôn ngữ quần chúng có một
sự giao lưu rất tự nhiên, nhiều thành ngữ, tục ngữ của quần chúng nên khi đọclên ta có một cảm giác rất là quen thuộc:
"Nào ai có tiếc ai đâu
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô"
(Áo bông che bạn )
Trang 25Có khi là:
"Chỉn e rày gió mai mưaLấy gì đi sớm về trưa với tình"
(Đi hát mất ô)Ngược lại cũng có nhiều ngôn ngữ của ông như có khả năng chạy ranhập vào kho tàng thành ngữ của quần chúng Sở dĩ Tú Xương đã có sự đónggóp trở lại chính là vì ông đã có được lối suy nghĩ, lối diễn đạt theo thành ngữcủa quần chúng nhân dân: thi không ăn ớt, đau quá đòn hằn, học đã sôi cơm,quắc mắt khinh đời…
Lại có nhiều khi câu thơ của tác giả sáng tác có vẻ giống như một câu
ca dao, tục ngữ hay thành ngữ ví dụ:
Sáng vác ô đi chiều vác về
- Sáng rượu sâm banh tối sữa bò-Không dày mặt phấn quan không hỏi,-Chẳng đủ phù trang gái chẳng về-Nào có ra chi phường khố lúa-Dù là cũng tủi kiếp hồng nhan
Tú Xương có khả năng vận dụng ngôn ngữ tài tình đi đôi với việc xâydựng hình ảnh Tú Xương có tài quan sát hiện thực, ông lại có tài chọn lựacác sự kiện nên hình ảnh mà Tú Xương dựng lên vừa sinh động, vừa cô đọngnói chung là có tính chất điển hình Có thể nói ít có bài nào trong thơ TúXương mà vắng hẳn cái nhịp điệu, cái âm nhạc, cái tinh thần dân tộc Hìnhtượng màu sắc âm thanh dân tộc hiện ra trong từng câu, từng chữ của ông.Chúng ta thấy hình ảnh một người vợ tảo tần lam lũ: "lặn lội thân cò" để nuôichồng con, hình ảnh những anh học trò "lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ" và hình ảnhbọn thực dân Pháp "lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quyét đất mụ đầmra"… Ông đã khéo léo dùng các hình tượng: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, ậm ẹoquan trường miệng thét loa, một tuồng rách rưới, ba chữ nghêu ngao…
Trang 26Lại có những hình ảnh rất bình dđn, rất dđn tộc khi đọc lín chúng ta sẽthấy được cuộc sống thanh đạm của xóm lăng, của đồng ruộng:
"Vẳng nghe tiếng ếch bín taiGiật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò"
Hễ cắn ai thì sĩt mới tha !"
(Ông cử Ba)Ông cũng dùng lối nói lâi trong thơ để nguyền rủa những kẻ năo đê
"nhón" của tâc giả hai hăo trong một sòng bạc với từ "tử cù" nói lâi lă "củ từ"
"Bởn thì xin trả ngay cho tớChẳng trả thì xơi câi "tử cù" "
Không những thế ông còn rất tăi tình trong lối chơi chữ thể hiện rõ nhất
ở băi Ông thănh phâo Ở Nam Định có người thđn hăo tín lă Phâo, nhờ chạychọt đút lót được bổ lăm chđn phòng thănh, nhđn dđn thănh Nam quen gọi lẵng thănh phâo Ông đê lăm băi thơ đê kích hắn vă việc chính quyền lấyngười một câch thiín vị nhưng rất khĩo lĩo tăi tình không nói đến tín ai cả mă
Trang 27người ta đều biết bài thơ chỉ đích danh thành pháo, vì theo lối chơi cờ tamcúc, trong một ván cờ sĩ, tượng, xe, mã, tốt đều bị xé lẻ cả thì nhất định quânkết phải là cặp pháo, mà tiếng chuyên môn trong làng cờ gọi là "thành pháo":
"Tượng tượng, xe xe xé lẻ rồi,
Sĩ đen sĩ đỏ chẳng thành đôi
Đố ai mà biết quân nào kết,
Mã cũng chui tốt cũng chui"
(Thành Pháo)Ông lại đưa tiếng Pháp vào thơ văn của mình, nó làm cho vũ khí châmbiếm sắc cạnh mới tăng cường tác dụng của bài thơ Tiếng Pháp đây là tiếngPháp lai căng của bọn me Tây, bếp bồi, thông ngôn kí lục Các loại tiếng
"tây", "ta", "tàu" được Tú Xương sử dụng một cách khoé léo, thể hiên sâu sắcnhững hiện tượng oái ăm, lố lăng, dở cười dở khóc của thời đại có lúc: "Hẩulố" khách đà ba bảy chú, "Mét xì" Tây cùng bốn năm ông; nhưng có khi tácgiả lại sử dụng "Rứt cái "mề đay" quẳng xuống sông…"; lại có lúc ông dùng
"Thôi thời lạy mợ "xang cănh" lạy…" Có thể nói để phục vụ đắc lực cho ngòibút của mình nhà thơ có khá nhiều kỷ xảo vận dụng năng khiếu vốn có củamình Tất cả đều bổ xung cho nhau để nâng cao giá trị của văn thơ ông
Sức mạnh văn thơ Tú Xương có là ở những thủ pháp trào phúng, ônglàm thơ trong hoàn cảnh của người dân mất nước, vì thế thủ pháp trào phùng
là một vấn đề thiết thực Trong thơ ông có rất nhiều đối tượng bị châm biếm,nhà thơ đã tuỳ theo từng loại, đối tượng mà dùng những thủ pháp trào phúng.Trước hết Tú Xương lợi dụng sự đối ngẫu trong thơ Đường chuyển thanh lốitương phản để làm một thủ pháp trào phúng như:
"Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,Váy lê quét đất mụ đầm ra
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngỏng cao đầu"
Trang 28Tiếng cười ở đây toát lên từ chính sự vật hiện tượng với những con ngườithực Nổi lên trước măt cái cảnh ông cử tân khoa như phục dưới sân "ngỏng đầurồng" trước một mụ đầm "ngoi đít vịt" trên ghế cao tạo nên tính bi hài
Tú Xương còn sử dụng lối đánh bất ngờ Thường trong một bài thơĐường luật ở những câu đầu tác giả nói đến những đối tượng có vẻ tôn trọnglắm thì đến những câu cuối tác giả lại lột vỏ vạch trần mặt xấu xa của bọnchúng một cách bất ngờ sinh động, ông phóng đại vế thứ nhất lên, chính lúc
này mâu thuẫn lại bắt đầu căng thẳng như trong bài : Ông Cò, Vịnh tri phủ
Xuân Trường, Anh hàng sắt giả danh nhà nho, Hỏi ông tiến sĩ… Ở những bài
thơ này, người đọc cũng bất ngờ và hưởng tất cả thú vị, khoái trá, được cườisung sướng khi đọc mấy câu kết và cũng từ đó hiểu được dụng ý của nhà thơ,lúc này những câu trên sẽ hiểu khác hẳn mình hiểu lúc đầu
Trong thơ Tú Xương lại có những bài tự trào, ông tự trào bằng cáchphóng đại bản thân mình lên để làm trò cười cho thiên hạ Ông đã thể hiệntrong bài Tự Vịnh: "Vị Xuyên có Tú Xương, Dở dở lại ương ương"
Ngoài ra, khi nói đến nghệ thuật trong thơ Tú Xương, còn phải nói đếncái tài làm thơ Đường luật Đây là thể thơ của Trung Quốc nhưng từ lâu đãthành thể thơ có địa vị thống trị trong sáng tác của các nhà Nho Tuy nhiên việcđánh giá nghệ thuật thơ Đường luật ở nước ta không phải là vấn đề đã sử dụngđạt hay không đạt mà là vấn đề việt hoá nhiều hay ít Trước đây Hồ XuânHương đã việt hoá thơ Đường luật một cách độc đáo phong phú phi thườngkhó mà học tập theo được Đến Tú Xương, ông lại việt hoá thể thơ Đường luậttheo tài năng độc đáo của mình thế nhưng nó vẫn ở dạng độc đáo mà vẫn bìnhthường, dễ làm mẫu mực chung cho mọi người Đọc thơ Tú Xương ta thấy mấthẳn cái cảm giác khó chịu về sự ràng buộc khắt khe của thơ Đường luật Khi tađọc bài thơ "Xuân" của ông ta có cảm giác nó gần gũi và thân thiện không trauchuốt dùng các hình ảnh tượng trưng ước lệ như thơ ca cổ:
"Xuân từ trong ấy mới ban ra Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà"
Trang 29Ông cũng dùng những hình ảnh mộc mạc dung dị, những so sánh ẩn dụkhá thú vị:
"Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng"
(Đất Vị Hoàng )Cái thói tham lam keo kiệt của người đời được cụ thể hoá bằng hìnhảnh "cứt sắt" và "hơi đồng" với cái màu đen, cái hơi lạnh, cái dáng nhàu nhò,khô khóc thì thật ghê tởm, đáng khinh ghét
Có lẽ có thể tóm lại rằng, trong thơ Đường luật của Tú Xương ngônngữ cuộc sống, hình ảnh, cuộc sống nói rộng ra là cuộc sống và tài năng sángtác cùng tình cảm nhà thơ được tồn tại một cách tự do, thoải mái trong yêucầu cô đọng, kết tinh của thể thơ Sau ông khó có nhà thơ nào thành công ởthể thơ nôm Đường luật đó nữa
1.4 Tiểu kết
Qua tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Tú Xương để thấyđược giá trị nội dung trong thơ Tú Xương, ông đã vẽ nên một bức chân dungcủa thời đại xã hội, ông viết một cách chân thực về thành phố nơi ông sống,
nó cũng điển hình nhiều hình ảnh của các đô thị Việt Nam lúc bấy giờ Xuấthiện hàng loạt hình ảnh những con người mới, sản phẩm của xã hội giao thời :thầy Phán, thầy Ký, cậu Bồi Ông đả kích không thương tiếc vào tầng lớpmình trong buổi xế chiều của nho học Đó là đặc trưng của xã hội Viêt Namcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đang bị thực dân hoá Thơ Tú Xương là sựchuyển tiếp từ nền văn học đương đại mang tính chất phong kiến ước lệ, sách
vở, phi ngã đang bước dần sang buổi đầu của nền văn học cận hiện đại đậm
đà chất hiện thực của xã hội Ông đã vận dụng ngôn ngữ của dân tộc trong thơcủa mình, dùng lối đánh bất ngờ để đả kích lại trật tự của xã hội phong kiến
Tú Xương đã việt hoá thơ Đường trong sáng tác của mình làm cho nó gần gũivới quần chúng nhân dân Ông cũng đã bộc lộ rõ nét cái tôi cá nhân của mìnhkhông bị gò bó trong khuân khổ xã hội