HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” 1.1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” 1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác
Trang 2MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ởAnh và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nước khác làm cho lực lượng sản xuất có bướcphát triển nhảy vọt Giai cấp vô sản trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong xãhội Phong trào công nhân chống giai cấp tư sản diễn ra gay gắt nhưng liên tiếp thất bại.Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một lý luận khoa học và thực sự cách mạng soi đường chophong trào công nhân
Kế thừa có chọn lọc những trào lưu tư tưởng tiến bộ (Triết học Cổ điển Đức,Kinh tế chính trị học Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp…) và tiếp nhận sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên (sự ra đời của thuyết tế bào, quy luật bảo toàn vàchuyển hoá năng lượng, học thuyết tiến hoá…) cùng với việc tham gia vào phong tràocông nhân, Các Mác (Karx Marx) và Phriđrich Ăngghen (Fiedrich Engels) đã xây dựngnên học thuyết của mình, hình thành thế giới quan duy vật và phương pháp luận biệnchứng Bằng lịch sử đấu tranh cách mạng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận ra rằng,chính giai cấp vô sản là người tự giải phóng mình, đồng thời giải phóng toàn nhân loại.Trên cơ sở quan niệm đúng đắn về vai trò hoạt động thực tiễn và sứ mệnh lịch sử của
giai cấp vô sản, hai ông đã tích cực tham gia phong trào công nhân và gia nhập “Đồng minh những người chính nghĩa” (sau đổi tên thành “Đồng minh những người cộng sản”)
và được giao nhiệm vụ viết “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (TNCĐCS) TNCĐCS (sau đây gọi tắt là Tuyên ngôn) đã chỉ ra nhiệm vụ, con đường, cách thức, phương
hướng đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Do những nội dung
khoa học và cách mạng của Tuyên ngôn mà giai cấp vô sản toàn thế giới đã nghiên cứu
nó và coi đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình Từ khi TNCĐCS ra đời cho
đến nay, phong trào cách mạng thế giới đã có những bước tiến rất quan trọng Nhữngthắng lợi mà phong trào vô sản và công nhân quốc tế đạt được từ đó không tránh khỏi
ảnh hưởng của nó Những nguyên lý mà Tuyên ngôn vạch ra luôn được giai cấp vô sản
vận dụng triệt để và phát triển sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh ở mỗi nước
Ở Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác – Lênin nóichung, TNCĐCS nói riêng đã được các đồng chí cộng sản nghiên cứu và truyền bátrong quần chúng Sự ra đời chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩmcủa sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào
Trang 3yêu nước Việt Nam Cách mạng Việt Nam có được những thắng lợi như ngày hôm nay
là nhờ có vai trò định hướng của TNCĐCS và sự vận dụng một cách linh hoạt, đầy trí
tuệ và sáng tạo các nguyên lý của nó
Ngày nay, khi chủ nghĩa tư bản đang phát triển mạnh mẽ thành một hệ thống hoànchỉnh, các đế quốc đầu sỏ đã bắt tay với nhau, các tập đoàn xuyên quốc gia liên tục rađời thì phong trào cộng sản và công nhân quốc tế càng gặp nhiều khó khăn hơn Trướcnhững biến động của thế giới hiện nay, giai cấp vô sản cần nghiên cứu, nhìn nhận lạinhững giá trị mà TNCĐCS đã để lại nhằm vận dụng tốt những nguyên lý của nó đểlãnh đạo phong trào cách mạng thế giới
Với ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn đề tài “Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và vai trò của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp của mình
- Vụ huấn học – Hà Nội (1977), Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, Nxb Giáo khoa Mác Lênin.
Qua các công trình trên, ta thấy rằng, tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được các tác giả xem xét ở nhiều khía cạnhkhác nhau Tuy nhiên, ở từng công trình riêng rẽ, chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu
Trang 4phân tích ảnh hưởng của Tuyên ngôn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế Vì vậy, trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu, tác giả muốn thôngqua khoá luận này trình bày những nội dung cơ bản trong tác phẩm TNCĐCS và vai tròcủa nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích của khoá luận là trình bày những nội dung cơ bản của tác phẩmTNCĐCS và vai trò của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
- Để đạt được mục đích đó, khoá luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày hoàn cảnh ra đời của tác phẩm TNCĐCS.
Hai là, trình bày những nội dung cơ bản của tác phẩm TNCĐCS.
Ba là, phân tích, đánh giá vai trò của TNCĐCS đối với phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu những nội dung cơ bản trong tác phẩm
TNCĐCS Vai trò của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tác phẩm TNCĐCS và những nội dung của nó ảnh
hưởng đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Đồng thời sử dụng và phối hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:phương pháp quy nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, đối chiếu
Khoá luận có thể làm tài liệu cho các bạn sinh viên khi muốn tìm hiểu về tác phẩm
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và ý nghĩa thực tiễn của nó.
7 KẾT CẤU KHOÁ LUẬN
Trang 5Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận có kết cấu gồm 2chương và 4 tiết.
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
1.1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.1.2 Mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2.1 Vấn đề sở hữu
1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong của chủ nghĩa tư bản
1.2.3 Quá trình hình thành, phát triển và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
1.2.4 Vai trò của Đảng Cộng Sản và mối quan hệ giữa nó với giai cấp vô sản
Chương 2 VAI TRÒ CỦA TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ 2.1 Vai trò của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với phong trào cách mạng thế giới từ 1848 đến 1917
2.1.1 Phong trào công nhân từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
2.1.2 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế I (1864 – 1876)
2.1.3 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế II (1889 – 1914)
2.1.4 Phong trào công nhân từ sau Công xã Pari đến năm 1917
2.2 Vai trò của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với phong trào cách mạng thế giới từ 1917 đến nay
2.2.1 Phong trào công nhân từ sau Cách mạng tháng Mười Nga đến Chiến tranh thế giới thứ hai
2.2.2 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế III (1919 – 1943)
2.2.3 Phong trào cộng sản quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
1.1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX đã đưa lại một nềnsản xuất công nghiệp cơ khí và cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp vô sản côngnghiệp - giai cấp khác hẳn với tất cả những giai cấp bị nô dịch đã có trong lịch sử.Những năm đầu thế kỷ XIX, ở một số nước Châu Âu, trước hết là ở Anh, Pháp vàĐức, những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản, trước hết là mâu thuẫn giữa giai cấp
vô sản (GCVS) và giai cấp tư sản (GCTS) ngày càng trở nên gay gắt
Phong trào đấu tranh của công nhân dưới hình thức các “công liên” đã ra đời, chịuảnh hưởng của rất nhiều quan điểm của các nhà tư tưởng đương thời như XanhXimông, Phuriê, Ôoen, với tính tự phát, thiếu tổ chức chặt chẽ, chưa giác ngộ được địa
vị của mình trong tiến trình lịch sử
Những năm 30 và 40 của thế kỷ XIX, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã pháttriển lên một bước mới, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phốLiông (Pháp) năm 1831, cuộc nổi dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức) năm 1844
và phong trào Hiến chương ở Anh bắt đầu từ năm 1838, các cuộc đấu tranh tuy vẫnmang tính tự phát nhưng bắt đầu thể hiện quy mô liên vùng, liên quốc gia
Nhu cầu đấu tranh của công nhân đòi hỏi bức thiết phải có một tổ chức chặt chẽlãnh đạo, phải có một lý luận tiên tiến soi đường, phải có một cương lĩnh mang đầy đủtính cách mạng và tính khoa học làm kim chỉ nam cho hành động của quần chúng
Đáp ứng nhu cầu ấy, năm 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thành lập Ủy ban thông tin cộng sản ở Bỉ, sau đó ở Anh, Pháp, Đức để thống nhất về tư tưởng, tổ chức của
những người xã hội chủ nghĩa (XHCN) và công nhân tiên tiến của tất cả các nước
Mùa xuân 1847, Mác và Ăngghen tham gia “Đồng minh những người chính nghĩa” Tháng 6 năm 1847, Ph.Ăngghen tham gia tích cực vào công việc của Đại hội lần thứ nhất “Đồng minh những người chính nghĩa” ở Luân Đôn và đề nghị đổi tên
“Đồng minh những người chính nghĩa” thành “Đồng minh những người cộng sản” (sau đây gọi tắt là Đồng minh), và thay khẩu hiệu của Liên đoàn “Tất cả mọi người
đều là anh em!” thành “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”
Trang 8Tháng 11 năm 1847, Đại hội lần thứ hai đã giao cho C.Mác và Ph.Ăngghen soạn
thảo cương lĩnh của Đồng minh dưới hình thức “Tuyên ngôn” Cuối tháng Giêng năm
1848, C.Mác hoàn thành việc biên soạn Bản thảo được gửi đi Anh
Cuối tháng 2 năm 1848, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được xuất bản lần thứ
nhất tại Luân Đôn, sau đó được tái bản nhiều lần và được dịch ra hầu hết các thứ tiếngtrên thế giới
1.1.2 Mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
Mục đích của Tuyên ngôn là “công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của những người cộng sản” [25; tr.595].
Giá trị đích thực của Tuyên ngôn không phải ở chỗ nó cung cấp những lời giải có
sẵn cho mọi vấn đề của thực tiễn cách mạng hôm nay, mà ở chỗ nó đã phản ánh mộtcách khái quát xu hướng vận động khách quan của xã hội, chỉ ra những nhiệm vụ lịch
sử cần giải quyết để từng bước giải phóng giai cấp công nhân và các tầng lớp lao độngkhác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng xã hội và giải phóng con người
Vừa là một tác phẩm lý luận, vừa là một bản tuyên ngôn chính trị, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã trình bày cô đọng, có hệ thống nhiều vấn đề lý luận cơ bản nhất, mà
đầu tiên là vấn đề sở hữu
1.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2.1 Vấn đề sở hữu
Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu cả về lý luận
và thực tiễn của CNXH Về lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin coi việc xóa bỏ chế độ tưhữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của CNXH
“Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quan nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội” [25; tr.467].
Xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu là một quan điểm cơ bản trong cáchọc thuyết xã hội chủ nghĩa (XHCN) trước Mác, đặc biệt là trong CNXH không tưởngPháp với tính cách là một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác
Quan điểm về xóa bỏ chế độ tư hữu của TNCĐCS khác với CNXH không tưởng.Trong khi luận chứng một cách khoa học tính tất yếu của sự xóa bỏ chế độ tư hữu nóichung, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, đó phải là sự tự phủ định với những tiền đề do
sự phát triển của xã hội dựa trên chế độ tư hữu đã tạo ra Ngay từ tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”, C.Mác đã thể hiện tư tưởng đó khi cho rằng, sở hữu tư
Trang 9nhân do lao động bị tha hóa sinh ra; nhưng đến lượt mình, nó lại là nguyên nhân làmcho lao động bị tha hóa phát triển Khi đạt trình độ cao nhất với sở hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa (TBCN) thì lao động bị tha hóa lại tạo tiền đề để tự phủ định bằng cách thủtiêu sở hữu tư nhân tư bản Tư tưởng đó được trình bày một cách khoa học và rõ ràng
hơn trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Đối với chúng
ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải
là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay Những điều kiện của phong trào
ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra ” [26; tr.51]. Sự tha hóa con người dolao động bị tha hóa trong hình thức sở hữu tư nhân chỉ có thể được khắc phục vớinhững tiền đề nhất định mà trình độ phát triển cao của sức sản xuất được các ông gọi
là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” vì nếu không có tiền đề đó thì “tất cả sẽ chỉ là
sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để lại giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây ” [26; tr.49] Như vậy là không thể xóa bỏ
chế độ tư hữu ở bất kỳ trình độ phát triển nào của nền sản xuất xã hội theo ý muốn chủquan của con người; những người cộng sản chỉ đặt ra cho mình nhiệm vụ xóa bỏ tưhữu bằng cách xóa bỏ sở hữu tư sản mà thôi Và ngay cả khi nhiệm vụ đó được đặt rathì việc xóa bỏ tư hữu cũng không thể thực hiện ngay lập tức
Trong vấn đề sở hữu, Tuyên ngôn đã chỉ rõ, đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản
(CNCS) là xóa bỏ sở hữu tư sản Giai cấp tư sản đã xuyên tạc rằng những người cộngsản xóa bỏ cái riêng của cá nhân, tức là xóa bỏ sở hữu do cá nhân của mỗi người làm
ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi
hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân Tuyên ngôn đã giải thích rằng tư bản không
phải là lực lượng cá nhân, nó là lực lượng xã hội, nó có thể vận động được là nhờ sựhoạt động chung của nhiều người Người sở hữu thì không lao động, người lao độngthì không được quyền sở hữu, xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy, chỉ có xóa bỏchế độ tư hữu mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội Điều đó có nghĩa là xóa bỏ
tư hữu ở đây không phải là xóa bỏ sở hữu mang tính chất cá nhân mà là xóa bỏ tư hữu
về tư bản Trong thực tế lịch sử chế độ tư hữu ra đời từ sự phát triển của sở hữu cánhân Nhưng sự khác nhau giữa hai loại sở hữu đó thì rất rõ ràng Sở hữu cá nhân là
“sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân” [25; tr.616]; còn
Trang 10chế độ tư hữu lại là “Phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia” [25; tr.615],
mà chế độ sở hữu tư sản là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất
Trong các xã hội dưạ trên chế độ tư hữu, sở hữu cá nhân của một số ít người đượcphát triển bằng cách tước đi sở hữu cá nhân của đa số những người khác CNCS làm cho
“sở hữu cá nhân không còn có thể biến thành sở hữu tư sản được nữa” [25; tr.618].
Đương nhiên, trong TNCĐCS, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể làm sáng tỏ vấn
đề sở hữu cá nhân trong CNCS; bởi vì, một vấn đề phức tạp như vậy thì cũng nhưnhiều vấn đề khác của CNCS, các ông chỉ có thể chờ kinh nghiệm của thực tiễn màthôi Không những thế, khi mà sở hữu cá nhân tồn tại dưới những hình thức tư hữu
khác nhau, nhất là trong những điều kiện hiện tại của sản xuất tư sản, khi mà “ tự do
có nghĩa là tự do buôn bán, tự do mua và bán” [25; tr.618] thì quan điểm xem sở hữu cá nhân là “cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân” [25; tr.616] lại được sử dụng để biện hộ cho chế độ tư hữu, một quan điểm tư
sản cần được vạch trần
Vẫn dòng tư tưởng ấy, các ông viết tiếp: Đối với những sở hữu được “làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân”, những “hình thức sở hữu có trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông” thì chúng ta “cần gì phải xóa bỏ cái đó” mà chính “sự phát triển của công nghiệp đã xóa
bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xóa bỏ cái đó rồi” [25; tr.616], còn đối với người công
nhân thì chỉ có thể chiếm hữu những sản phẩm cần thiết để tái sản xuất ra đời sống mà
thôi Không dừng lại ở đó, Tuyên ngôn đanh thép khẳng định: “CNCS không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả CNCS chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” [25; tr.618].
Phân tích tiếp về mâu thuẫn giữa chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất với
tính cách xã hội hóa của lực lượng sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong
xã hội hiện nay của các ông, chế độ tư hữu đã bị xóa bỏ chín phần mười số thành viên của xã hội đó rồi; chính vì nó không tồn tại đối với số chính phần mười ấy, nên nó mới tồn tại được” [25; tr.618].
Từ những viện dẫn trên cho thấy, trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
phân biệt rất rõ giữa chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu trong chủ nghĩa tư bản(CNTB) Cái mà những người cộng sản sau khi giành được chính quyền cần phải xóa
Trang 11bỏ là chế độ sở hữu tư bản - với tư cách chế độ sở hữu của chế độ chính trị TBCN.Còn các hình thức sở hữu tư nhân trong lòng CNTB, những người cộng sản phải có
thái độ đúng mực Điều này trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, dưới hình thức câu hỏi và đáp, trả lời câu hỏi thứ mười bảy “ Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?”, Ph.Ăngghen đã không ngần ngại trả lời:
“Không, không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ
ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã cải tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu” [25; tr.469].
Như vậy là, chế độ công hữu XHCN không những không loại trừ sở hữu cá nhân
mà lại là sự khôi phục sở hữu cá nhân của người lao động đã bị chế độ tư hữu phủđịnh Sở hữu cá nhân ở đây không phải chỉ là những sản phẩm lao động với tính cách
là tư liệu tiêu dùng mà phải bao gồm cả sở hữu về tư liệu sản xuất nhưng không cònmang hình thức tư nhân mà tồn tại trong sự thống nhất với sở hữu xã hội Nói cáchkhác, đó là sở hữu cá nhân được khôi phục trên cơ sở cao hơn vì không còn bị phủđịnh một cách tất yếu như trong chế độ tư hữu trước đây Trong chế độ công hữuXHCN, sở hữu xã hội phải được hiểu là sở hữu của những cá nhân đã liên hiệp với
nhau, “toàn bộ sản xuất đã tập trung trong tay những cá nhân đã liên hiệp với nhau, một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người” [25; tr.628].
Chế độ công hữu (XHCN) như vậy sẽ ra đời với những hình thức và bước đi nhưthế nào? Với cách tiếp cận chủ nghĩa cộng sản một cách khoa học, TNCĐCS chỉ rarằng, công cuộc xây dựng CNXH nói chung, xác lập chế độ công hữu nói riêng, phải
được thực hiện với những biện pháp phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể “Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều” [25;
tr.627] C.Mác và Ph.Ăngghen có vạch ra một số biện pháp mà các ông cho là “có thểđược áp dụng” đối với những nước tiên tiến Nhưng đó lại là những điều mà hai mươi
năm sau các ông cho rằng “ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi” [28; tr.128].
Trang 12Trong tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đập lại những luận điệu vu khống củagiai cấp tư sản đối với những người cộng sản về một loạt vấn đề xã hội - chính trị
- văn hóa - tinh thần Đồng thời các ông cũng phác họa những nguyên tắc cơ bản củaCNCS trong việc giải quyết các vấn đề này Giai cấp tư sản cố gán cho những ngườicộng sản ý đồ muốn thủ tiêu tự do cá nhân, văn hóa, pháp luật, triết học, tôn giáo, đạođức, muốn xóa bỏ gia đình và tổ quốc… Các tác giả đã chỉ ra thực chất những lời vukhống đó chỉ nhằm bảo vệ, duy trì lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ sở hữu tưsản và việc bóc lột lao động làm thuê Các ông đã vạch trần tội lỗi của giai cấp tư sản,trách nhiệm của nó đối với thực trạng xã hội và khẳng định lập trường có tính nguyêntắc của những người cộng sản là xóa bỏ tính chất tư sản của các quan hệ này, thủ tiêu
tận gốc rễ những cơ sở nảy sinh ra nó Các ông khẳng định: “Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền, không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt
để nhất với những tư tưởng cổ truyền” [25; tr.567].
1.2.2 Qúa trình hình thành, phát triển và tiêu vong của chủ nghĩa tư bản
Xã hội tư bản - điển hình nhất là ở các nước tư bản trên lục địa Châu Âu vànước Anh - giữa thế kỷ XIX là bức tranh phức tạp Trong sự phong phú của các môhình xã hội, các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận rõ
sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội TBCN như một tất yếu từ trong lòng xã hộiphong kiến đã tan rã Sau nhiều thế kỷ tồn tại, bắt đầu từ thời Phục hưng, chế độ phongkiến đã trở nên lỗi thời, thối nát, trở thành xiềng xích kìm hãm xã hội, tổ chức côngnghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không đáp ứng được yêu cầu của
sự phát triển sản xuất và mở rộng thị trường
Khác với quan điểm của các nhà kinh tế tư sản cho rằng, CNTB tồn tại vĩnh viễn,trong TNCĐCS, xuất phát từ kết cấu kinh tế - xã hội của CNTB; trên cơ sở phân tíchcác mâu thuẫn nội tại trong phương thức sản xuất TBCN, C.Mác và Ph.Ăngghen đãkhẳng định rằng, CNTB mang tính lịch sử, phù hợp với lý luận về hình thái kinh tế -
xã hội, coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên, CNTBtất yếu sẽ bị thay thế bằng một chế độ xã hội cao hơn đó là CNCS
Lịch sử chứng minh rằng, sự ra đời và tồn tại của mỗi giai cấp hoàn toàn khôngphải do giai cấp ấy quyết định mà do sự vận động của phương thức sản xuất đươngthời Sự ra đời của CNTB là một bước tiến vĩ đại trong lịch sử của nền văn minh
Trang 13nhân loại, bản thân giai cấp tư sản “cũng là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt những cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi” [25; tr.598].
Ở thời kỳ đầu, giai cấp tư sản đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử Nóđã:
“Đạp đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với “những
bề trên tự nhiên” của mình” [25; tr.599 - 600], “kéo theo một bộ phận lớn dân cư thoát khỏi vòng ngu muội của đời sống thôn dã”, “xóa bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư” [25; tr.602].
“Xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến, xóa bỏ tình trạng ngu muội của đời sống thôn dã ở một bộ phận lớn dân cư, tạo cho điều kiện vật chất và tinh thần của con người có tính toàn cầu” [25; tr.601 - 603], tạo ra được sự tập trung về dân chủ, kinh tế,
chính trị, hình thành nên những dân tộc thống nhất, có luật pháp thống nhất, có lợi íchthống nhất, có tính giai cấp và thuế quan thống nhất
Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống chính trị, đời sống tinh thần của xã hội,các quan hệ gia đình, quan hệ dân tộc, quan hệ giữa thành thị và nông thôn trong mộtnước và quan hệ giữa các nước có bước tiến bộ mới theo hướng văn minh
Bằng sự phân tích khách quan, khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng địnhtính cách mạng, tiến bộ, hợp quy luật của sự ra đời của CNTB, mà sự khởi đầu là từ sựphát triển của đại công nghiệp Nhờ sử dụng máy móc hiện đại, cải tiến kỹ thuật và tổchức sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh tự do, mở rộng thị trường, xã hội tư bản tạo ra mộtkhối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt khổng lồ Trong sự phát triển của mình,
CNTB đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
[25; tr.603] Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để giai cấp tư sản tồn
tại, “giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội” [25; tr.600 - 601] Guồng máy sản xuất và trao đổi vì
mục tiêu lợi nhuận không ngừng tăng tốc, vận hành hết công suất
Trang 14Với những cải biến về công cụ sản xuất, về phát kiến địa lý bằng việc tìm ra Châu
Mĩ và con đường vòng quanh thế giới, Tuyên ngôn cho rằng, “việc tìm ra Châu Mĩ và con đường biển vòng Châu Phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai cấp
tư sản vừa mới ra đời Những thị trường Đông - Ấn và Trung Quốc, việc thực dân hóa Châu Mỹ, việc buôn bán với thuộc địa, việc tăng thêm nhiều tư liệu trao đổi và nói chung tăng thêm nhiều hàng hóa, đã đem lại cho thương nghiệp, cho ngành hàng hải, cho công nghiệp, một sự phát đạt chưa từng có, và do đấy, đã đem lại một sự phát triển mau chóng cho yếu tố cách mạng trong xã hội phong kiến đang tan rã”
[25; tr.597 - 598]
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới quá trình kinh tế thế giới đã được các
ông nhìn nhận sâu sắc: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà việc tìm ra Châu Mĩ đã chuẩn bị sẵn Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường Sự phát triển này lại tác động trở lại đến việc mở rộng công nghiệp; mà công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải, đường sắt càng phát triển thì giai cấp tư sản càng lớn lên, làm tăng những tư bản của họ và đẩy các giai cấp do thời trung cổ để lại xuống phía sau” [25; tr.598].
Giai cấp tư sản cũng đã có công lao rất lớn trong việc mở rộng thị trường ra toàn thếgiới, đã làm cho sản xuất và tiêu dùng gắn bó mật thiết với nhau trên phạm vi vô cùng
rộng lớn mà các giai cấp trước kia không thể nào làm được “giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới” [25; tr.601] Điều đó
có nghĩa là để làm ra một sản phẩm cần sự hợp tác của rất nhiều quốc gia, rất nhiềucông đoạn khác nhau CNTB đã phát triển lực lượng sản xuất một cách không tự giác
Do quá trình chạy theo giá trị thặng dư nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của mình,
giai cấp tư sản đã tạo ra thị trường thế giới C.Mác và Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “vì luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu” [ ; tr 601], “Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc du nhập chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những vùng
xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong xứ, mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa Thay cho những nhu
Trang 15cầu cũ được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới đòi hỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn
tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc” [25; tr.601 - 602].
Sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế: “Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới” [25; tr.602].
Tuyên ngôn cũng đã chỉ rõ vai trò của sự cải biến công cụ sản xuất đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất mang tính toàn thế giới: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản đã lôi cuốn đến những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh”, “giai cấp tư sản bắt nông thôn phải phục tùng thành thị”, “sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tầu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, - có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội”
[25; tr.602 - 603]
Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, trong mối quan hệ hữu cơgiữa kinh tế và chính trị, mỗi bước phát triển về mặt kinh tế tạo ra một sự thích ứng vềchính trị và giai cấp tư sản, thông qua việc tạo dựng nền đại công nghiệp cơ khí, pháttriển thị trường thế giới, đã khẳng định, xác lập được quyền thống trị chính trị củamình đối với xã hội Thông qua bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản duy trì, củng cố quan
hệ sản xuất TBCN, tranh thủ những điều kiện tốt nhất cho giai cấp mình Với ưu thế vềhàng hóa cạnh tranh, phương thức sản xuất TBCN đã phá hủy cơ cấu truyền thống củacác nước lạc hậu, lôi cuốn nhiều dân tộc vào con đường phát triển TBCN và giai cấp
tư sản tạo ra cho nó một thế giới theo hình ảnh của nó Vai trò lịch sử của CNTB còn ởchỗ tạo lập cơ cấu xã hội, giai cấp theo hướng hình thành các giai cấp đối địch nhau,giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
Trang 16Hơn nữa, giai cấp tư sản cũng đã thiết lập được nền dân chủ tư sản, tuy là nền dânchủ cắt xén nhưng so với chế độ quân chủ chuyên chế thì đó là một tiến bộ trong lịchsử.
Mặt khác, giai cấp tư sản đã tạo điều kiện cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật.Đồng thời sẽ xóa bỏ tất cả những gì không phù hợp với lợi ích của bản thân giai cấp tưsản Giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử Chính giai cấp tưsản là giai cấp đàu tiên chỉ ra cho chúng ta thấy rõ loài người có khả năng làm đượcnhững gì
Đánh giá khách quan công lao của giai cấp tư sản đối với sự phát triển của xã hộiloài người, Tuyên ngôn cũng vạch ra những khuyết tật thuộc bản chất của phương thứcsản xuất TBCN, vạch ra những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi của phương thứcsản xuất này để tất yếu dẫn đến sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất khác Đồngthời với việc giải phóng con người khỏi những ràng buộc của xã hội phong kiến, giaicấp tư sản đã quàng lên họ sợi xích khắc nghiệt hơn - sợi xích nối liền giữa một bên làmáy móc của nhà tư bản với một bên là dạ dày của người lao động
Sản xuất công nghiệp trong phương thức sản xuất TBCN, do tính chất của việc làm
và tương ứng với nó là mức thu nhập đã dẫn đến việc phát triển què quặt của người
công nhân Tuyên ngôn chỉ rõ: “Người công nhân trở thành một vật phụ thuộc giản đơn của máy móc, người ta chỉ đòi hỏi người công nhân làm được một công việc đơn giản nhất, đơn điệu nhất, dễ học nhất mà thôi Do đó, chi phí cho một công nhân hầu như chỉ còn là số tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống và nòi giống của anh ta mà thôi” [25; tr.605].
Mục đích của phương thức sản xuất TBCN là lợi nhuận nên tất cả đã trở thànhhàng hóa, tất cả đều có thể mua được, bán được Phương thức sản xuất này đã “…
không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác ngoài lợi ích trần trụi và lối “tiền trao cháo múc” không tình không nghĩa” [25; tr.600].
Sự cách mạng hóa công cụ sản xuất làm cho giai cấp tư sản hoàn toàn chiến thắngchế độ phong kiến Việc xác lập chế độ TBCN đã dẫn tới sự phát triển chưa từng thấycủa lực lượng sản xuất, một sự tiến bộ về kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ về khoahọc, văn hóa Nhưng tới một giai đoạn phát triển nhất định, cũng như đã xảy ra với cácphương thức sản xuất trước đây, những quan hệ sản xuất TBCN đã không còn phù hợpvới những lực lượng sản xuất đã lớn mạnh; chúng bắt đầu trở thành những chướng
Trang 17ngại kìm hãm sự phát triển hơn nữa của các lực lượng sản xuất này C.Mác và
Ph.Ăngghen viết: “xã hội tư sản hiện đại, với những quan hệ sản xuất và trao đổi tư sản của nó, với chế độ sở hữu tư sản, đã tạo ra những tư liệu sản xuất và trao đổi hết sức mạnh mẽ như thế, thì giờ đây, giống như một tay phù thủy không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên… Những lực lượng sản xuất mà xã hội sẵn có, không thúc đẩy quan hệ sở hữu tư sản phát triển nữa, trái lại, chúng đã trở thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, các quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển của chúng” [25; tr.604].
Những cuộc khủng hoảng sản xuất “thừa” đã chứng tỏ điều đó Khủng hoảng sảnxuất “thừa” gây ra những hậu quả tai hại ghê gớm trong đời sống kinh tế - xã hội Giaicấp tư sản phải đối phó với nó bằng cách: một là, cưỡng bức phá hủy một số lớn lựclượng sản xuất; mặt khác, chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để thị trường cũ.Nhưng như Mác và Ăngghen khẳng định, điều đó dẫn đến chỗ sửa soạn cho nhữngcuộc khủng hoảng toàn diện hơn, ghê gớm hơn và làm giảm bớt những biện pháp ngănngừa cuộc khủng hoảng ấy
Trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “xã hội tư sản hiện đại, sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xóa bỏ được những đối kháng giai cấp Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi” [25; tr.597].
Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của CNTB đều không giải quyết triệt
để những mâu thuẫn chủ yếu của nó, không làm thay đổi bản chất của xã hội tư bản vàgiai cấp tư sản Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt vong của quan hệ sở hữu tư sản, sựdiệt vong của phương thức sản xuất TBCN cũng như sự diệt vong đã xảy ra với cácphương thức sản xuất trước đó
Như vậy là, giai cấp tư sản đã làm cho nền sản xuất mang tính chất xã hội Nhưngchế độ tư hữu TBCN lại mâu thuẫn không thể điều hòa với tính chất xã hội của nềnsản xuất ấy Đến một giai đoạn phát triển nào đó, quan hệ sản xuất TB trở nên khôngphù hợp với lực lượng sản xuất ngày càng lớn mạnh và những quan hệ đó bắt đầu kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất “những lực lượng sản xuất mà xã hội sẵn có không thúc đẩy quan hệ sở hữu tư sản phát triển nữa; trái lại, chúng đã trở thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, cái quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển
Trang 18của chúng … những quan hệ tư sản đã trở thành quá hẹp, không đủ để chứa đựng những của cải đã được tạo ra trong lòng nó nữa” [25; tr.604 - 605] Sự phát triển của
nền sản xuất TBCN đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ tư hữu tư sản đó và đã chuẩn bị nhữngtiền đề khách quan cho quá trình đó Mác và Ăngghen chỉ ra rằng, quá trình đó khôngdiễn ra một cách tự động, người đào huyệt chôn chế độ TBCN là giai cấp vô sản do
chính xã hội tư bản đẻ ra “Giai cấp tư sản không những đã rèn vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, - đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản” [25; tr.605].
Đương nhiên, những nhận định của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn về sựdiệt vong của CNTB là một sự khái quát lôgic cao Về sau, mỗi lần trở lại vấn đề này
trong Lời tựa cho mỗi lần xuất bản, các ông đều thừa nhận CNTB còn có điều kiện
nhất định để kéo dài sự tồn tại của mình
1.2.3 Quá trình hình thành, phát triển và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
Những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế của xã hội tư bản dù có gay gắt đến mấycũng không làm cho CNTB tự sụp đổ, mà phải có một lực lượng xã hội lớn mạnh đứnglên làm cách mạng lật đổ chế độ tư bản Trong xã hội tư bản, lực lượng xã hội nàykhông ai khác ngoài giai cấp công nhân hiện đại - con đẻ của nền đại công nghiệp doCNTB sinh ra, người đại biểu cho phương thức và lực lượng sản xuất mới đã hìnhthành, giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất trong chế độ làm thuê TBCN
Giai cấp vô sản, như Ph.Ăngghen giải thích trong Lời tựa của Tuyên ngôn viết cho
lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888, là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại,
vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình đểsống
Tuyên ngôn nêu rõ, cùng với sự ra đời của nền tảng công nghiệp là sự ra đời của giai cấp vô sản: “cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên
đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản Trước hết, giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó” [25; tr.613] Cùng với sự lớn lên của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản cũng phát triển không ngừng: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo” [25; tr.605].
Trang 19Theo dõi quá trình hình thành của giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêulên một số giai đoạn Trong giai đoạn đầu, bản chất của quá trình là biến đông đảo dân
cư thành công nhân Sự thống trị của tư bản san bằng những điều kiện sinh sống, trong
đó có điều kiện lao động của khối quần chúng này, thúc đẩy sự hình thành sự cộng táclợi ích khách quan của khối quần chúng ấy Xét về mặt ý nghĩa xã hội thì đấy đã làmột giai cấp rồi, vì nó là một lực lượng xã hội đối lập với tư bản Song xét về mặtchính trị và tư tưởng thì nó chưa hình thành hẳn hoi, vì nó chưa ý thức được mình làmột lực lượng độc lập, chưa ý thức được vị trí của mình trong quá trình lịch sử Giaiđoạn thứ hai là giai đoạn giai cấp vô sản (hoặc ít ra là đội tiên phong của nó) ý thứcđược vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ xã hội, hiểu được sứ mệnh lịch sử củamình, tham gia đông đảo vào cuộc đấu tranh có tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử
ấy Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Bị giai cấp tư sản bóclột, áp bức nên cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc giai cấp vôsản mới ra đời, trải qua các giai đoạn từ tự phát đến tự giác C.Mác và Ph.Ăngghen đãchỉ rõ địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản quy định một cách khách quan sứmệnh lịch sử của nó Giai cấp vô sản bao gồm những người lao động làm thuê cho cácnhà tư bản, không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động để sống hàng ngày
“những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau” [25; tr.605] “Họ không những là nô lệ của giai cấp tư sản, của nhà nước
tư bản mà hàng ngày, hằng giờ còn là nô lệ của máy móc, của đốc công và chủ công xưởng” [25; tr.606] Giai cấp vô sản là sản phẩm của chính nền đại công nghiệp, - là
một bộ phận của lực lượng sản xuất TBCN, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến
Do vậy, chỉ có giai cấp vô sản mới thực sự là giai cấp cách mạng triệt để nhất trongtiến trình giải phóng lao động, giải phóng nền sản xuất khỏi sự kìm hãm của nền sảnxuất tư nhân TBCN
Cũng giống như trong “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”, Mác và Ăngghen cũng
xuất phát từ mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm đối tượng nghiên cứu Nó đượcxem là mâu thuẫn cơ bản của thời đại Mâu thuẫn đó thể hiện trước hết là ở chỗ laođộng của công nhân tạo ra tư bản, nghĩa là tạo ra sở hữu, là cái mà nó sẽ bóc lột laođộng của công nhân, được luân chuyển và lớn lên chỉ nhờ có sự bóc lột này để rồi lại
Trang 20được luân chuyển, lớn lên và bóc lột trong những khuôn khổ mới, càng to lớn hơn.Theo nghĩa đó, sự luân chuyển của tư bản nói lên sự tăng len không bị một cái gì cheđậy và hạn chế của chế độ tư hữu bằng cách bóc lột người lao động một cách vô nhânđạo và ngày càng tinh vi bằng cách không ngừng và ngày càng mở rộng việc sử dụngxương máu của công nhân, cũng như bằng cách tư bản lớn nuốt tư bản nhỏ trong cuộcxâu xé, cạnh tranh không kém phần tàn khốc Bằng cách đó, tư bản nắm lấy quyềnthống trị thế giới và thâu tóm vào trong phạm vi thống trị của nó những vùng đất mớivới những tài nguyên và dân cư ở đó Thế là hình thành sự thống trị thế giới của tưbản Nhưng chính sự lớn lên không thể kìm hãm ấy của tư bản lại chứa đựng ở nónhững mầm mống diệt vong của chính nó và biểu hiện thành cái bệnh bên trong, kínđáo đưa nó đến chỗ chết và thế nào cũng sản sinh ra một trạng thái xã hội mới, thùđịch với CNTB Thế là CNTB đang gieo trồng những hạt giống cách mạng, bằng cáchbiến số đông người thành những kẻ nô lệ làm thuê, thành giai cấp vô sản - giai cấp màtất cả những điều kiện tồn tại của nó đều bắt buộc nó phải tấn công thế giới cũ.
Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, sự đoàn kết liên hợp của công nhânngày càng tăng lên thay cho sự cô lập và cạnh tranh lẫn nhau Do đó chế độ làm thuêkhông còn cơ sở tồn tại, CNTB cũng mất cơ sở tồn tại và sự sụp đổ của nó là khôngtránh khỏi Sự phát triển của giai cấp vô sản nói chung không những do sự thay đổi cácđiều kiện bên ngoài, mà còn do sự tham gia tích cực vào sự hình thành và biến đổinhững điều kiện ấy quyết định Sự tham gia tích cực ấy trước hết được thực hiện dưới
hình thức đấu tranh giai cấp Tuyên ngôn đã chỉ ra cuộc đấu tranh đó đã biến đổi như
thế nào - cả về mặt quy mô, nội dung, nó đã trải qua những giai đoạn khác nhau nhưthế nào - từ những trình độ muôn màu muôn vẻ của cuộc đấu tranh kinh tế đến đấutranh chính trị ra sao và vì sao mà cuối cùng cuộc đấu tranh đó ắt dẫn đến chỗ xác lập
sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản bằng con đường cách mạng, dẫn đến chỗcải tạo căn bản toàn bộ xã hội
Đồng thời, khi phân tích quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhânvới tư cách là một lực lượng duy nhất triệt để cách mạng, là người đào mồ chôn CNTB
và người xây dựng tương lai của xã hội cộng sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đãnêu rõ tính chất phức tạp của quá trình này, sự tồn tại các mâu thuẫn biện chứng trongbản thân địa vị của giai cấp công nhân Một mặt, giai cấp vô sản không có của riêngnào, nó bị giai cấp tư sản bóc lột và áp bức, đối lập với tư bản với tư cách là một lực
Trang 21lượng thù địch Mặt khác, nó do nền sản xuất TBCN tư hữu sản sinh ra, gắn với nềnsản xuất ấy bằng tất cả mọi điều kiện lao động và sinh sống Mọi sự thay đổi tronghoạt động của tư bản và trong việc tổ chức nền sản xuất TBCN đều động chạm đến lợiích thiết thân của giai cấp vô sản Hơn nữa, như Mác nói, giai cấp công nhân tham gianền sản xuất TBCN do sự phát triển tự nhiên của nền sản xuất ấy.
Do địa vị khách quan của giai cấp vô sản, với tư cách là giai cấp gồm những ngườikhông có tư hữu, bán sức lao động của mình và bị bóc lột, nên đã nảy sinh xu hướngphát triển chủ đạo, cách mạng của giai cấp đó Đó là xu hướng đấu tranh kiên quyết,không thỏa hiệp với CNTB Do sự tham gia khách quan vào nền sản xuất TBCN vàthừa nhận những điều kiện của phương thức sản xuất ấy, nên phong trào công nhân có
xu hướng thỏa hiệp về mặt xã hội dưới những hình thức này hay những hình thứckhác; trong những giai đoạn nhất định và trong những điều kiện nhất định, xu hướng
ấy có thể thu hút bộ phận này hay bộ phận khác của giai cấp công nhân Rốt cuộc, xuhướng chiến thắng vẫn là xu hướng cách mạng, nhưng nó chiến thắng trong cuộc đấutranh chống thỏa hiệp
Gắn chặt và quyện chặt với mâu thuẫn kể trên có một mâu thuẫn khác nữa: Một mặt, những người vô sản được toàn bộ quá trình sản xuất TBCN, sự tổ chức lao động
trong các xí nghiệp lớn và cuộc đấu tranh giai cấp được tổ chức, đoàn kết, giáo dục,rèn luyện, tập hợp lại Trong quá trình đó, giai cấp vô sản ý thức được rằng mình làmột lực lượng cách mạng hùng hậu, thắng lợi của cuộc đấu tranh của nó tùy thuộc vào
sự đoàn kết giai cấp Sự lớn mạnh, sự đoàn kết của giai cấp vô sản là một quy luật
lịch sử Mặt khác, như đã nói trong Tuyên ngôn: “Sự tổ chức như vậy của những người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh với nhau giữa công nhân phá vỡ” [25; tr.609] Sự cạnh tranh như vậy là công cụ cho
giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản Nó tạo ra môi trường nuôi dưỡng chính sáchchia rẽ giai cấp công nhân thuộc các nhóm nghề nghiệp khác nhau, để giai cấp tư sảnthực hiện những mánh khóe mị dân về mặt xã hội
Những quá trình khách quan, và trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất,góp phần khắc phục xu hướng chia rẽ; song điều đó đòi hỏi phải có những hành động
có ý thức và có mục đích rõ rệt
Trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra giai cấp vô sản là lực lượng có
thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình vì:
Trang 22Giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên trong khi các giai cấpkhác suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, thì ngượclại, giai cấp vô sản lớn mạnh cùng với sự lớn mạnh của nền đại công nghiệp Giai cấp
vô sản vừa là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong nền sản xuất xã hội, vừa
mang tư cách là một giai cấp có lợi ích đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [25; tr.610] Mặt khác, do giai cấp đó là tầng lớp bị áp bức,
bóc lột nặng nề nhất trong xã hội tư bản Cả hai đặc điểm đó hợp lại, hun đúc nên ýchí, dũng khí cách mạng vô song không thế lực nào dập tắt được của giai cấp vô sản
“Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp
vô sản là giai cấp thực sự cách mạng” [25; tr.610], triệt để cách mạng, vì “những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá hủy hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu” [25; tr.611], họ đại
diện và tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới, tiên tiến của toàn xã hội, cho mộtphương thức sản xuất tiên tiến của lịch sử, nó đại biểu cho xu thế triển vọng của tương
lai, là “giai cấp đang nắm tương lai trong tay” [25; tr.605]; đại công nghiệp càng phát
triển, giai cấp này càng trưởng thành Nó không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu
Nó đại biểu cho lợi ích của toàn xã hội Chỉ bởi điều đó mà giai cấp vô sản mang đượcmột phẩm chất cao quý là triệt để cách mạng, cùng với tinh thần quốc tế cao cả, phấnđấu cho lợi ích chung, không chỉ giải phóng mình mà cho toàn thể loài người, xóa bỏ
sự thống trị, nô dịch của CNTB không chỉ trong phạm vi dân tộc mà trên toàn thế giới.Đại công nghiệp đã rèn cho giai cấp vô sản những đức tính tổ chức và kỷ luật để thựcthi sứ mệnh lịch sử của nó Còn các giai cấp trung gian khác mang tính bảo thủ, hơnthế họ còn là phản động, tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại Họ cóđấu tranh chống giai cấp tư sản thì chẳng qua họ đấu tranh với tư cách là những tầnglớp trung gian, nếu họ có thái độ cách mạng thì chẳng qua họ nhìn thấy nguy cơ mình
sẽ rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản, “lúc đó, họ bảo vệ lợi ích tương lai của họ, chứ không phải lợi ích hiện tại của họ” [25; tr.610].
Tất cả các phong trào đấu tranh trong lịch sử trước kia đều do thiểu số thực hiện
nhằm mưu cầu lợi ích cho thiểu số Còn “phong trào vô sản là phong trào độc lập
Trang 23của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội”
[25; tr.611].Chỉ có giai cấp vô sản mới thực hiện được cuộc cách mạng nhân dân sâusắc nhất trong lịch sử Các cuộc cách mạng xã hội trước đây mưu lợi chủ yếu cho mộtthiểu số, và sau khi giành được chính quyền, giai cấp thống trị lập tức phản bội lạinhân dân Cách mạng XHCN mưu lợi cho đại đa số nhân dân lao động, lôi cuốn đa sốnhân dân tham gia và đi cùng nhân dân cho đến khi lao động và nhân loại được giảiphóng một cách triệt để Điều đó có thể thực hiện được do lợi ích của giai cấp côngnhân - giai cấp lãnh đạo cách mạng - về cơ bản, thống nhất với lợi ích của đa số nhândân lao động Rõ ràng, khi giai cấp vô sản vùng lên đấu tranh là họ đấu tranh choquyền lợi của toàn thể những người lao động trong xã hội chứ không chỉ giành quyềnlợi, lợi ích cho mỗi giai cấp mình Chính vì vậy, phong trào vô sản sẽ được đông đảoquần chúng ủng hộ, tham gia
Mặt khác, giai cấp vô sản được nền đại công nghiệp “tuyển lựa” từ tất cả các giai
cấp trong dân cư mà chủ yếu là nông dân “Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của tầng lớp trung đẳng xưa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp đại công nghiệp, nên họ
bị sự cạnh tranh của bọn tư bản lớn hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi” [25; tr.606].Cùng với
sự phát triển không ngừng của sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân khôngngừng lớn lên về mặt số lượng và chất lượng, là giai cấp gắn liền với nền đại côngnghiệp và được nền đại công nghiệp rèn luyện, tập hợp lực lượng, biểu thị sức mạnhcủa mình Điều kiện làm việc và hoàn cảnh sống đã tạo cho họ không chỉ có ý thức tổchức, kỉ luật mà còn có sự cảm thông sâu sắc với nhau Họ là những người không cóhoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giaicấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Bị áp bức bóc lột lại có lợi ích đối lập trực tiếp vớigiai cấp tư sản, giai cấp công nhân kiên quyết đấu tranh chống giai cấp tư sản, và cókhả năng đoàn kết cùng với quần chúng bị áp bức bóc lột trong cuộc đấu tranh chung.Khi cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến mức quyết liệt, báo hiệu giờ tận số củaCNTB thì trong nội bộ của giai cấp tư sản sẽ có sự phân hóa và một bộ phận chạy
Trang 24sang hàng ngũ giai cấp vô sản Đó là một bộ phận những nhà tư tưởng đã có đượcnhận thức (về mặt lý luận) toàn bộ cuộc vận động lịch sử.
Mặt khác, giai cấp vô sản là lực lượng có tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần đoàn kếtchặt chẽ Điều đó có cơ sở sâu xa từ những đòi hỏi tất yếu về kỹ thật và tổ chức sản
xuất của nền đại công nghiệp C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn; lực lượng của những người vô sản tăng thêm và họ thấy rõ lực lượng của mình hơn” [25; tr.607] Tư bản là một lực lượng tập thể, ở ngành
nào, lĩnh vực nào nó cũng bóc lột công nhân, khiến cho lợi ích và điều kiện sinh hoạtcủa những người vô sản dần dần trở nên ngang bằng nhau, không còn sự phân cáchgiữa công nhân ngành này với công nhân ở ngành kia, xí nghiệp ngành kia Thêm vào
đó, việc tăng thêm phương tiện giao thông do đại công nghiệp tạo ra giúp công nhâncác địa phương tiếp xúc với nhau dễ dàng hơn, sự đoàn kết giữa họ chặt chẽ hơn.Tuy chưa thật đầy đủ nhưng GCVS đã có tri thức về cuộc đấu tranh chính trị, vì: Khi chống lại quý tộc, chống lại các giai cấp khác có quyền lợi xung đột với sựtiến bộ của công nghiệp, giai cấp vô sản đã buộc phải kêu gọi giai cấp vô sản giúpsức, lôi cuốn họ vào phong trào chính trị Chính lúc đó, giai cấp tư sản đã cung cấpcho những người vô sản một phần tri thức của bản thân giai cấp tư sản, đã cung cấpcho họ những tri thức chính trị phổ thông và kinh nghiệm đấu tranh để lật nhào chính
giai cấp tư sản và chế độ TBCN C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản” [25; tr.605] và “giai cấp tư sản đã cung cấp cho những người vô sản những tri thức chính trị và tri thức phổ thông của bản thân nó, nghĩa là những vũ khí chống lại bản thân nó” [25; tr.609].
Trên một mức độ không nhỏ, sự phát triển tinh thần của giai cấp vô sản được thúcđẩy bởi những biến chuyển trong kết cấu xã hội của xã hội do sự phát triển của CNTBđưa lại Một mặt, sự xói mòn của các tập đoàn xã hội trung gian đông đảo và mặt khác,
sự mở rộng không ngừng số lượng của giai cấp công nhân dẫn đến chỗ một số đạibiểu, cũng như toàn bộ tầng lớp, giai cấp những kẻ sở hữu bị đẩy vào hàng ngũ giaicấp vô sản Họ mang theo những yếu tố học vấn, quá trình này càng sâu thì những yếu
tố đó càng lớn
Trang 25Do phá sản, do không theo kịp sự phát triển của nền đại công nghiệp nên từng bộphận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản Lực lượng
này cũng góp một phần không nhỏ vào hoạt động chính trị của giai cấp vô sản “Từng
bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản, hay ít ra thì cũng bị đe dọa về mặt những điều kiện sinh hoạt của
họ Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri thức” [25; tr.609].
Một điều nữa có ý nghĩa quan trọng là trong những thời kỳ mà cuộc đấu tranhgiai cấp đạt đến chỗ ác liệt nhất, thì quá trình phân hóa trong nội bộ giai cấp thống trịmang tính chất mãnh liệt và dữ dội đến nỗi một bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị táchkhỏi giai cấp này và đi theo giai cấp cách mạng là giai cấp nắm tương lai trong tay.Vậy là có một bộ phận của giai cấp tư sản chuyển sang lập trường giai cấp vô sản, đó
là bộ phận những nhà tư tưởng tư sản đã vươn lên nhận thức được về mặt lý luận toàn
bộ quá trình vận động lịch sử đã đứng sang hàng ngũ của giai cấp vô sản Lực lượngnày cũng góp một phần không nhỏ vào hoạt động chính trị của giai cấp vô sản
Giai cấp vô sản luôn bị áp bức cùng cực bởi giai cấp tư sản Vì giai cấp vô sản làlực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội tư bản, sản xuất ra phần lớn của cải vật chất cho
xã hội nhưng lại bị giai cấp tư sản bóc lột và tước mất quyền sử dụng và kiểm soát
việc sử dụng nguồn của cải do chính họ làm ra “Nhưng muốn áp bức một giai cấp nào
đó thì cần phải đảm bảo cho giai cấp ấy những điều kiện sinh sống khiến cho họ, chí
ít, cũng có thể sống được trong vòng nô lệ” [25; tr.612], nhà tư bản “không thể đảm bảo cho người nô lệ của nó ngay cả một mức sống nô lệ, vì nó đã buộc phải để người
nô lệ ấy rơi xuống tình trạng khiến nó phải nuôi người nô lệ ấy, chứ không phải người
nô lệ ấy nuôi nó Xã hội không thể sống dưới sự thống trị của giai cấp tư sản nữa, như thế có nghĩa là sự tồn tại của giai cấp tư sản không còn tương dung với sự tồn tại của
xã hội nữa” [25; tr.612] Khi giai cấp tư sản không còn vai trò cách mạng, xã hội
không thể tiếp tục sống dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, sự tồn tại của giai cấp tưsản không còn phù hợp với sự tồn tại của xã hội nữa, các giai cấp khác đều suy tàn đicùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp thì - với tất cả những đặc trưng quantrọng kể trên - giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất đối lập thật sự với giai cấp tư sản và
đủ sức đứng lên chống lại giai cấp tư sản cùng thiết chế nhà nước của nó, xóa bỏ chế
độ TBCN
Trang 26Tuyên ngôn còn chỉ rõ, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản là cuộc đấu tranh mang
tính quốc tế, mặc dù lúc đầu nó mang hình thức dân tộc vì giai cấp vô sản mỗi nướctrước hết phải lật đổ giai cấp tư sản ở ngay trong nước mình Cuộc đấu tranh đó sẽthành một cuộc cách mạng mà giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằngcách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản
Giai cấp tư sản càng phát triển mạnh thì càng tinh vi và liên kết chặt chẽ vớinhau Vì vậy, để lật đổ được CNTB thì giai cấp vô sản phải đoàn kết lại với nhau như
Tuyên ngôn đã kêu gọi “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [25; tr.646], nhưng để làm được điều đó, trước hết, “cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã” [25; tr.611] Nhiệm vụ đó
được thực hiện trong khuôn khổ dân tộc, về thực chất là nhiệm vụ xã hội, có tính chấtchung, quốc tế, do chỗ giai cấp công nhân có địa vị kinh tế - xã hội giống nhau, cóđiều kiện giải phóng giống nhau Dưới chế độ TBCN, đứng về mặt xã hội mà nói, giaicấp vô sản hoạt động trong xã hội trước hết và chủ yếu với tư cách là một đối tượng bịbóc lột Điều kiện sinh sống khiến họ không làm chủ được của cải vật chất của dân tộc
đã bị giai cấp tư sản chiếm đoạt và không được lãnh đạo đời sống dân tộc, không đượcquyết định vận mệnh dân tộc, quyền lãnh đạo này đã bị giai cấp thống trị cướp mất
Đứng trên ý nghĩa này - ý nghĩa xã hội - mà xét thì “công nhân không có tổ quốc” Nhưng chính vì vậy, giai cấp vô sản phải “tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” [25; tr.624] Giai cấp vô sản ở mỗi nước phải tự mình
làm yếu đi giai cấp tư sản trong nước mình, không phải bằng con đường thỏa hiệp màbằng con đường đấu tranh chính trị, con đường bạo động
Giai cấp vô sản, giai cấp bác bỏ tư tưởng về tổ quốc dân tộc chủ nghĩa tư sản, có
sứ mệnh phải dẫn dắt quần chúng lao động trong cuộc đấu tranh chống CNTB, phải trởthành giai cấp chủ đạo của dân tộc, để đưa dân tộc lên CNXH Như vậy là, trong cuộcđấu tranh cách mạng của công nhân, cái dân tộc thể hiện thành cái quốc tế, biểu hiệndưới một hình thức phù hợp với những điều kiện cụ thể mỗi nước, những lợi íchchung, không tùy thuộc vào dân tộc, của giai cấp vô sản quốc tế
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, những người vô sản phải tự tổ chức thành giai cấp
và chính đảng, tiến hành cách mạng vô sản lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản,
Trang 27“thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị” [25; tr.626] và với
tư cách là giai cấp thống trị tiến hành tổ chức, xây dựng xã hội mới Nói cách khác,
“bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ” [25; tr.628] Mặc dù trong Tuyên ngôn có nhấn mạnh việc “dùng bạo lực để tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ” [25; tr.628] với
những biện pháp cứng rắn, như tước đoạt sở hữu ruộng đất, xóa bỏ quyền thừa kế; tậptrung tín dụng và các phương tiện vận tải vào tay nhà nước… nhưng ngay từ hồi đó,
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã ý thức được rằng: “.Những biện pháp, mà về mặt kinh
tế thì hình như không được đầy đủ và không có hiệu lực” [25; tr.626], đó chỉ là những
biện pháp không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất TBCN đã hình
thành khá hoàn thiện Hơn nữa, “trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều” [26; tr.627] Trong Lời tựa cho lần xuất bản năm 1872, các ông đã khẳng định: “Đoạn này, ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi” [28, tr.37] Như thế đủ thấy, các ông vừa khẳng định tính bắt buộc phải
tiến hành cách mạng vô sản, vừa không bắt buộc nhất thiết phải sử dụng các biện phápcứng rắn, nhất loạt ở tất cả các nước
Trong Tuyên ngôn cũng chỉ rõ: nhà nước của xã hội cộng sản tương lai chính là
hình thức giai cấp vô sản tự tổ chức thành giai cấp thống trị Quá trình tự tổ chức thànhgiai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đã làm cho giai cấp vô sản đươngnhiên trở thành giai cấp thống trị sau khi cách mạng vô sản thành công Giai cấp vôsản sẽ dùng sự thống trị của mình - biểu hiện tập trung ở bộ máy nhà nước vô sản, cácthiết chế pháp quyền của nó - để quản lý xã hội, phát triển sản xuất và thực hiện
phương thức phân phối theo nguyên tắc mới “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh
số lượng những lực lượng sản xuất” [23; tr.567] Tuyên ngôn khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc với nguyên lý nổi tiếng: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ” [23; tr.565] Tư bản là một lực lượng quốc tế, toàn bộ giai cấp tư
sản các nước cấu kết với nhau bóc lột toàn bộ giai cấp vô sản, vì vậy, khẩu hiệu hành
động của giai cấp vô sản là “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [25; tr.646].
Trang 28Từ đó, Tuyên ngôn khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau” [25; tr.613] Song để đảm bảo cho sự thắng lợi
đó, giai cấp vô sản phải có những điều kiện đảm bảo cho công cuộc tự giải phóng
mình Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph.Ăngghen đã chỉ ra
điều đó, do bản thân các sự biến và do những thành bại trong cuộc đấu tranh chống tưbản - do những thất bại nhiều hơn là do những thành công mà công nhân không thểkhông cảm thấy rằng tất cả các môn thuốc vạn ứng của họ đều vô dụng, họ không thểkhông đi tới chỗ nhận thấy tường tận những điều kiện thực sự của công cuộc giảiphóng giai cấp công nhân Điều kiện đó là sự lãnh đạo của đảng cộng sản
Sự ra đời của đảng cộng sản là tất yếu để đảm bảo cho giai cấp vô sản hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình
1.2.4 Sự ra đời của đảng cộng sản và mối quan hệ của nó đối với giai cấp vô sản
Với Tuyên ngôn, Mác và Ăngghen không những đã đi từ việc nghiên cứu phép biện
chứng nội tại vốn có một cách khách quan của bản thân xã hội tư bản, của bướcchuyển từ CNTB “sang mặt đối lập của nó” đến việc phân tích một cách sâu sắc vềphép biện chứng của cái khách quan và cái chủ quan, của sự tất yếu và tự do Từnhững bước đột phá trong tư duy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chỉ có giai cấp
vô sản liên kết lại thành giai cấp và được đảng cộng sản lãnh đạo mới có thể thực hiệnđược bước chuyển từ phương thức sản xuất TBCN sang phương thức sản xuất xã hộichủ nghĩa (XHCN) Bước chuyển đó - con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội mànhiệm vụ hàng đầu và trước hết là biến giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị, traonhiệm vụ giành chính quyền cho giai cấp này và đảng chính là điều kiện tiên quyết choviệc xây dựng thế giới mới
Giai cấp vô sản chỉ có thể thực hiện được vai trò lịch sử của mình trong quá trìnhcải tạo căn bản các quan hệ xã hội bằng cách mạng khi nào trong quá trình đấu tranhvới CNTB họ nhận thức được những nhiệm vụ giai cấp của mình và đoàn kết dưới sựlãnh đạo của đội tiên phong
Trong khi chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghenđồng thời đã nhấn mạnh đến vai trò của đảng, đảm bảo cho giai cấp này có thể hoànthành được sự nghiệp của mình Hai ông coi đảng cộng sản không phải là một đảngriêng biệt mà nó là bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản, lợi ích của đảngthống nhất với lợi ích giai cấp, mục đích của đảng là mục đích của giai cấp, đảng là bộ
Trang 29tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, đảng là người đại biểu và bảo vệ triệt đểnhất cho lợi ích của toàn bộ phong trào vô sản Bởi những người cộng sản trên thực tế
“tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”
[25; tr.614] Về cả lý luận và thực tiễn, đảng cộng sản luôn luôn đại biểu cho quyền lợicủa giai cấp vô sản và nhân dân lao động Không thể tách rời đảng cộng sản ra khỏigiai cấp, hoặc ngược lại, lẫn lộn đảng cộng sản với giai cấp vô sản Đảng đưa vàophong trào công nhân các tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, tổ chức giai cấp công nhân,lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và xây dựng xã hội XHCN
Trong Tuyên ngôn, hai ông đã chỉ rõ: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp
vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào
vô sản” [23; tr.558] Từ đó có thể thấy, hai ông đã chỉ ra rõ ràng rằng, đảng cộng sản là
một bộ phận không tách rời với giai cấp vô sản, đảng cộng sản và giai cấp vô sảnkhông phải là một Chúng vẫn chứa đựng những điểm khác nhau cả về lý luận và thựctiễn
Mác và Ăngghen cũng chỉ ra rằng, chỉ có những người vô sản liên kết lại thành giaicấp và được đảng cộng sản lãnh đạo mới có thể thực hiện được bước chuyển từphương thức sản xuất TBCN sang phương thức sản xuất XHCN
Tuyên ngôn đặt cơ sở cho học thuyết về đảng của giai cấp công nhân với tư cách là
người tổ chức và lãnh đạo của giai cấp công nhân Việc thành lập đảng cộng sản làđiều kiện cần có và phải có để giai cấp công nhân giành lấy chính quyền và cải tạo xãhội C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, những người cộng sản cần phải hànhđộng tùy theo những điều kiện lịch sử chứ không phải theo những khuôn mẫu cứngnhắc, vì lý luận của chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản không phải là phương thuốcvạn năng Khi đề xuất một đường lối cụ thể, đảng phải tính đến mục tiêu trước mắtphục tùng mục đích cuối cùng; kết hợp hài hòa mục đích quốc tế và nhiệm vụ dân tộc,ủng hộ các trào lưu tiến bộ và cách mạng, đồng thời tỏ rõ thái độ phê phán đối vớinhững ảo tưởng của những đồng minh của mình
Tác giả của Tuyên ngôn cũng khẳng định rằng, đảng cộng sản chẳng những là một
bộ phận mà còn là đội tiên phong của giai cấp vô sản Đảng giữ vai trò tiên phongtrong chính trị cũng như lý luận và trong hành động, có nhiệm vụ đề ra mục tiêu,
Trang 30phương hướng, đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của đấtnước và phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu đó Đồng thời đảng có vai trò giáo dục, tổchức, lãnh đạo giai cấp, toàn dân tộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giảiphóng dân tộc, xây dựng xã hội mới Nhưng người cộng sản khác với những người vôsản bình thường khác ở chỗ, họ có tư tưởng cách mạng tiên tiến và bao giờ cũng đứng
ở hàng đầu của phong trào cộng sản Họ nhận thức rõ những bước phát triển tất yếucủa quá trình lịch sử và mục tiêu tiến tới của phong trào vô sản Do đó, họ có khả năngđộng viên, hướng dẫn, lôi kéo những người còn lại của giai cấp vô sản cùng với cáctầng lớp nhân dân lao động khác vào cuộc đấu tranh tự giải phóng Với tính chất nhưthế, những người cộng sản là những phần tử ưu tú nhất, giác ngộ và tích cực cáchmạng nhất trong các tầng lớp nhân dân lao động Không có đảng cộng sản thì cáchmạng không thể thành công, sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân cũngkhông thể thực hiện được
Mặt khác, Tuyên ngôn cũng vạch rõ con đường đấu tranh của giai cấp vô sản Để
đấu tranh giành thắng lợi thì giai cấp vô sản cần có một đảng thực sự sáng suốt lãnhđạo Đảng tập hợp trong hàng ngũ mình những người ưu tú nhất của giai cấp vô sản.Đảng đi đầu quần chúng vô sản trong đấu tranh Sự ra đời của đảng cộng sản là tất yếu
để đảm bảo cho giai cấp vô sản hoàn thành sứ mệnh lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen đãvạch rõ mục tiêu của giai cấp vô sản và đảng của nó là tổ chức những người vô sảnthành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chínhquyền, trở thành một giai cấp thống trị, tức là nắm chính quyền để cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới Kết quả của phong trào vô sản không dừng lại ở sự ra đời củachính đảng mà còn biểu hiện ở chỗ giai cấp vô sản biết hành động theo sự lãnh đạo củađảng Con đường phát huy sức mạnh của đảng cộng sản là trước hết phải giữ vững vàcủng cố mối quan hệ giữa đảng, giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động
Tuyên ngôn đã đưa ra một nhận định sắc bén và đầy tinh thần lạc quan cách mạng: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
[25; tr.613]
Với một đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đảng chính là sự lãnh đạocủa giai cấp công nhân Lý luận tiên phong của đảng đem lại sự giác ngộ giai cấp, sứcmạnh đoàn kết, nghị lực và đường lối cách mạng cho giai cấp Đồng thời, đảng lại dựavào sự giác ngộ giai cấp, sức mạnh đoàn kết, nghị lực cách mạng, trí tuệ và hành động
Trang 31của toàn bộ giai cấp để lôi kéo tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác và cả dântộc đứng lên hành động theo đường lối chiến lược, sách lược của đảng Chính bằngphương pháp đó, giai cấp công nhân thông qua đảng tiên phong của giai cấp mình đểthực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp côngnhân trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là giai cấp công nhân tự xây dựng thànhgiai cấp thống trị, là giai đoạn giành lấy dân chủ; giai đoạn thứ hai là khi đã trở thànhgiai cấp thống trị, giai cấp công nhân phải sử dụng quyền thống trị đó để xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa cộng sản để “tăng thật nhanh những lực lượng sản xuất” bằng cách “dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn
bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị” [25; tr.627] Và chỉ khi đó, tính tự phát, tình trạng vô chính phủ, sự cạnh
tranh khốc liệt vốn có ở CNTB mới được khắc phục và cũng chỉ khi đó, giai cấp vô sản
mới tổ chức được chế độ quản lý sản xuất một cách có kế hoạch Trong Tuyên ngôn các
ông đã đưa ra mười biện pháp để giai cấp công nhân thực hiện công cuộc cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, khi đưa ra mười biện pháp đó, hai ông cũng đãnhắc nhở rằng, những biện pháp này “có thể được áp dụng khá phổ biến” đối với những
nước tiên tiến nhất, còn “trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều” [25; tr.627].
Mục đích cuối cùng của những người cộng sản là xây dựng CNCS Để làm đượcđiều đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nhiệm vụ hàng đầu của đảng cộng sản là biếngiai cấp vô sản thành giai cấp thống trị, nghĩa là nhiệm vụ giành chính quyền cho giaicấp vô sản; và chỉ có chính quyền đó mới có khả năng xây dựng thế giới mới Mụcđích cuối cùng của đảng cộng sản là xây dựng thành công CNCS
Song giai cấp vô sản giành được địa vị thống trị không có nghĩa là vĩnh viễn hóacác giai cấp và sự đối kháng giai cấp, trái lại, giai cấp công nhân giành được chínhquyền sẽ dẫn đến việc dần dần thủ tiêu tất cả các giai cấp và những đối kháng giai cấp.Cuộc cách mạng chính trị của giai cấp vô sản nhằm đánh đổ giai cấp tư sản vàgiành lấy chính quyền nhà nước chỉ là bước đầu của tiến trình cách mạng vô sản Cuộccách mạng vô sản không chỉ là cuộc cách mạng chính trị, mà còn là và thực chất là
Trang 32cuộc cách mạng về kinh tế nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tưliệu sản xuất, mở đường cho tư liệu sản xuất phát triển mạnh mẽ hơn.
Ở giai đoạn đầu tiên, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản không thểkhông sử dụng những biện pháp kiên quyết về mọi mặt nhằm cải tạo xã hội cũ và xâydựng xã hội cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen nêu ra mười biện pháp cụ thể và chorằng có thể áp dụng ở các nước TBCN phát triển nhất lúc bấy giờ
Trong khi nêu ra mười biện pháp cụ thể cho giai đoạn đầu của hình thái CNCS,đồng thời C.Mác và Ph.Ăngghen cũng phác họa ra những nét cơ bản để tiến tới một xã
hội CSCN hoàn toàn Các ông chỉ ra rằng: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp.
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [25; tr.628].
Trong Tuyên ngôn, Mác và Ăngghen đã trình bày rõ ràng lập trường chiến lược và
sách lược của đảng cộng sản Đó là lập trường cách mạng không ngừng, là tinh thầncách mạng triệt để, là sách lược liên minh với các đảng dân chủ trong cuộc đấu tranh
nhằm thực hiện sự tiến bộ xã hội Hai ông chỉ rõ: “Những người cộng sản chiến đấu cho những lợi ích và những mục đích trước mắt của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời, trong phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào” [23; tr.584] Như vậy, ở khắp nơi, những người cộng sản đều ủng hộ mọi phong
trào cách mạng chống chế độ đương thời và tìm cách tập hợp tất cả các lực lượng dânchủ Mác và Ăngghen đã chỉ ra những ví dụ cụ thể ở Pháp, Ba Lan, Đức, nơi mà cácđảng dân chủ có những hành động mang tính chất dân chủ và do vậy, đảng cộng sảnliên minh với họ trong các hoạt động Nhưng đồng thời đảng cộng sản vẫn giành chomình quyền phê phán những mặt tiêu cực của phong trào, vẫn phải nhận rõ tính hạnchế của sách lược đó trong chừng mực nhằm chống lại các thế lực phản động, vì tiến
bộ xã hội
Trang 33Trong khi liên hợp với các đảng dân chủ vì mục đích chung trước mắt, đảng cộngsản luôn giữ vững tính độc lập về tư tưởng, chính trị và mục đích chiến lược Khi nói
về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở Đức lúc đó, trong điều kiện cuộc cách mạng
dân chủ tư sản đang chín muồi, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng: “Nhưng, không giờ phút nào, đảng cộng sản lại quên gây cho công nhân một ý thức sáng suốt
và rõ rệt về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, để khi có thời cơ thì có bao nhiêu điều kiện chính trị và xã hội do chế độ tư sản tạo ra, công nhân Đức biến đổi thành bấy nhiêu vũ khí chống lại giai cấp tư sản, để ngay sau khi tiêu diệt xong những giai cấp phản động ở Đức, là có thể tiến hành đấu tranh chống lại chính giai cấp tư sản” [23; tr.585].
Trong điều kiện lịch sử lúc đó, những người cộng sản ủng hộ tất cả các phong tràocách mạng chống lại trật tự xã hội và chính trị hiện có, phấn đấu cho sự đoàn kết vàliên hợp với các đảng dân chủ ở tất cả các nước Nhưng không vì thế mà những người
cộng sản lại giấu giếm ý kiến và dự định của mình “Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện có Mặc cho giai cấp thống trị run sợ khi nghĩ đến một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết ngoài những xiềng xích trói buộc họ Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành được cả thế giới cho mình
Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” [23; tr.586].
Khẩu hiệu chiến đấu của những người cộng sản kết thúc bản TNCĐCS, khẳng địnhniềm tin sắt đá vào thắng lợi tương lai của giai cấp vô sản quốc tế và CNCS
Những cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản đã tạo điều kiện cho giai cấp vô sảnđoàn kết thành tổ chức Sự tổ chức như vậy thành chính đảng Sự tồn tại, phát triển củađảng là vì sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Đảng kết thúc vai trò khi sứ mệnh lịch
sử thế giới của giai cấp vô sản hoàn thành
Trang 34Chương 2 VAI TRÒ CỦA TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế (PTCS&CNQT) ra đời gắn liền với quátrình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân hiện đại, một sản phẩm tất yếucủa lịch sử, khởi đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và sự xác lập vữngchắc của phương thức sản xuất TBCN vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Từ đóđến nay, PTCS&CNQT đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tiến trìnhlịch sử nhân loại, đặc biệt là kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời và đóng vai tròlàm hệ tư tưởng (vũ khí lý luận) của phong trào
Từ khi Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời và được coi là cương lĩnh đầu tiên
của GCVS quốc tế, lý luận của chủ nghĩa cộng sản khoa học được trình bày trong đóliền đi vào quá trình phát triển khách quan của lịch sử thế giới loài người
2.1 Vai trò của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với phong trào cách mạng thế giới từ 1848 đến 1917
2.1.1 Phong trào công nhân từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
2.1.1.1 Đồng minh những người cộng sản và cương lĩnh chính trị đầu tiên của giai cấp vô sản
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ởnhiều nước Châu Âu kéo theo sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất GCVSsinh ra từ nền đại công nghiệp ngày càng lớn mạnh, trở thành một lực lượng chính trịđộc lập và đấu tranh ngày càng quyết liệt với GCTS Tuy nhiên, vì chưa có một đườnglối đấu tranh khoa học và chính xác, chưa có một tổ chức lãnh đạo sáng suốt củaGCCN nên các phong trào vô sản liên tiếp thất bại
Mặc dù trước đó đã xuất hiện khá nhiều trào lưu tư tưởng tiến bộ như: Triết học Cổđiển Đức, Kinh tế chính trị học Anh, Chủ nghĩa không tưởng Pháp… nhưng vẫnkhông khắc phục nổi hạn chế của phong trào công nhân Chỉ đến khi có sự ra đời củaCNCS khoa học thì việc giải quyết những yêu cầu của cuộc đấu tranh của GCCN mớiđược thực hiện Trên cơ sở quan niệm đúng đắn về vai trò hoạt động thực tiễn và sứmệnh lịch sử của GCVS, Mác và Ăngghen tích cực tham gia phong trào công nhân.Trong phong trào công nhân khi đó, CNXH không tưởng tiểu tư sản của Vaitơlinh
được phổ biến rộng rãi Tổ chức Đồng minh những người chính nghĩa chịu ảnh hưởng
của tư tưởng Vaitơlinh được thành lập ở Pari năm 1836 Mác và Ăngghen từ chối
Trang 35không tham gia Đồng minh những người chính nghĩa vì không tán thành khuynh
hướng hoạt động của nó, nhất là đối với những hoạt động có tính chất âm mưu Songhai ông vẫn thường xuyên theo dõi và tìm cách gây ảnh hưởng tới quan niệm lý luậncủa những người tham gia phong trào bằng thư từ, báo chí
Để tạo điều kiện tuyên truyền CNCS vào phong trào công nhân và đặt sợi dây liên
lạc giữa những nhà hoạt động XHCN, Mác và Ăngghen thành lập các Uỷ ban thông tấn cộng sản Thông qua Uỷ ban, Mác và Ăngghen đã thường xuyên trao đổi với các
lãnh tụ cánh tả của phái Hiến chương và nhiều nhà XHCN các nước khác Công táctuyên truyền và đấu tranh của Mác và Ăngghen chẳng bao lâu đã có kết quả trong
phong trào công nhân Một số người lãnh đạo trong Đồng minh những người chính nghĩa bắt đầu tiếp thu những cơ sở lý luận của Mác và Ăngghen
Đầu năm 1947, xét những thay đổi sâu sắc trong quan niệm và ý muốn cải tổ củanhững người lãnh đạo, Mác và Ăngghen quyết định tham gia tổ chức với một số điều
kiện nhất định Đầu tháng 6 - 1847, Đồng minh những người chính nghĩa tiến hành Đại hội ở Luân Đôn Theo đề nghị của C.Mác và Ph.Ăngghen Đồng minh những người chính nghĩa được đổi tên thành Đồng minh những người cộng sản.
Đại hội thứ nhất của Đồng minh những người cộng sản (sau đây gọi tắt là Đồng minh) đánh dấu một bước thắng lợi lớn về mặt tư tưởng và tổ chức Nó chứng tỏ rằng
GCCN đã bước đầu tiếp thu học thuyết của chủ nghĩa Mác, dần dần thoát khỏi ảnhhưởng của CNXH tiểu tư sản để xây dựng nên tổ chức độc lập của mình
Đại hội lần thứ hai tiến hành từ 29 - 11 đến 8 - 12 - 1847 dưới sự lãnh đạo của Mác
và Ăngghen Sau khi thảo luận ở các cơ sở, Đại hội đã chính thức thông qua Điều lệ của Đồng minh Đại hội giao cho Mác và Ăngghen thảo ra cương lĩnh dưới hình thức
một bản tuyên ngôn Chấp hành nghị quyết đó, hai ông đã hoàn thành nhiệm vụ saumột thời gian nghiên cứu Tháng 2 - 1848, bản TNCĐCS lần đầu tiên được công bố ởLuân Đôn
TNCĐCS đã chỉ ra những nhiệm vụ chiến lược cơ bản của GCCN, khẳng định sựnghiệp giải phóng GCCN là sự nghiệp của bản thân GCCN và nó chỉ có thể thực hiệnđược với sự đoàn kết của vô sản tất cả các nước liên hiệp lại, đồng thời giải phóng cho
toàn nhân loại Tuyên ngôn chỉ ra rằng, trong công cuộc đấu tranh để tự giải phóng,
GCVS phải lập ra chính đảng độc lập của mình và sử dụng con đường cách mạng bạolực GCVS trước hết phải tiêu diệt giai cấp tư sản nước mình Ở những nước chưa làm