1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tốt nghiệp Triết học Mác Lê Nin với tính cách là một hệ thống mở

46 600 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 301 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những quan điểm trên đây có thể nói rằng, tính hệ thống trong triết học Mác, là một logic phát triển tất yếu trong sự phát triển biện chứng của sự vật, hiện tượng.. Tómlại, tính hệ th

Trang 1

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG

1.1 Lý luận về hệ thống

1.1.1 Lịch sử hình thành khái niệm hệ thống

Trong thế giới không thể có các sự vật, hiện tượng tồn tại mà không có tham số

về tính hệ thống Việc xem xét các sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất,trong tính hệ thống của nó là một nguyên tắc quan trọng từ xưa đến nay và nhất làtrong khoa học hiện đại Ngày nay, khái niệm hệ thống được sử dụng phổ biến Người

ta phân biệt hệ thống theo các hình thức, các loại hình của tồn tại, theo mối quan hệvới vận động, theo trình độ, theo cơ cấu cũng như theo các thông số riêng lẻ…Tất cảnhững quan niệm ấy đều thể hiện một cách đúng đắn về nguyên tắc mặt này hay mặtkhác của hiện thực và hoàn toàn có căn cứ phân tích các hình thức hệ thống này hay hệthống khác Vì vậy, khái niệm hệ thống cũng khá bất định Có quan điểm cho rằng nóchỉ là khái niệm của các khoa học chuyên nghành, nhưng cũng có rất nhiều nhà nghiêncứu khẳng định hệ thống là một trù triết học có nội dung vô cùng phong phú, có mốiquan hệ với các phạm trù khác và có giá trị to lớn trong hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn Do đó, yêu cầu đặt ra là cần có một quan điểm có tính hệ thống về hệthống Trong phạm vi khoá luận tốt nghiệp này tôi đề cập đến một số quan niệm về hệthống như sau:

Trong lịch sử triết học vấn đề hệ thống đã được nhiều nhà triết học đề cập đến, từAritxtốt thời Hy Lạp cổ đại, đến Bêcơn, Đềcáctơ thời Tây Âu cận đại, tiếp đó là Cantơ,Hêghen trong triết học cổ điển Đức…Nhưng chỉ đến khi triết học Mác ra đời phạm trù

hệ thống mới có được một cách nhìn biện chứng duy vật Đặc biệt hiện nay, hệ thốngđược coi là một phạm trù triết học có nội dung phong phú mang ý nghĩa phương phápluận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc của tư duybiện chứng

Chính bởi các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực có sự ràng buộc, phụthuộc, quy định lẫn nhau nên đã hình thành quan niệm về tổng thể để chỉ một tập hợpnhất định Cái tổng thể ấy được cụ thể hoá trong triết học Aritxtốt với tính cách làgiống, loại, ở Êpiquia là sự tồn tại của các khách thể cần phải được xem xét trong quátrình nhận thức Trong những thế kỷ tiếp theo, các nhà triết học và khoa học tự nhiên

Trang 2

đã sử dụng khái niệm hệ thống để chỉ tổng số các tri thức và tổng số các vật thể của thế

giới hiện thực Chẳng hạn, Hônbách khẳng định: “Thế giới khách quan tồn tại với tính cách là hệ thống của các hệ thống” Nhưng ông đã đồng nhất hệ thống với cái toàn thể

coi nó là tổng số đơn giản của các bộ phận cấu thành Ở thời kỳ Khai Sáng, các nhàtriết học đã cố gắng tìm hiểu nội dung và ý nghĩa khoa học của khái niệm hệ thống,tiêu biểu là Côngđiđắc Ông đã gắn khái niệm hệ thống với khoa học và nghệ thuậtcùng những điểm tiến bộ hơn thời cổ đại Song, nó vẫn nằm trong khuôn khổ cách tiếpcận siêu hình về hệ thống Mặc dù vậy, việc ông giải thích hệ thống như một trật tự, sựthống nhất của tồn tại ở phương diện bản thể luận được coi là phôi thai của quan điểmduy vật đúng đắn về khái niệm hệ thống sau này

Cùng với việc khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào cấu trúc của thế giới vậtchất và mở rộng phạm vi nghiên cứu của nó, trong triết học cũng xuất hiện quan điểmcho rằng, vũ trụ là một hệ thống biến đổi và phát triển không ngừng tuân theo các quyluật vốn có của nó Hai tác phẩm: “Lịch sử tự nhiên đại cương và học thuyết về bầutrời” và “Giả thuyết về nguồn gốc vũ trụ” của I.Cantơ là những bước đi đầu tiên chứngminh cho khuynh hướng đó Với quan điểm này I.Cantơ đã giáng một đòn mạnh mẽvào tư duy siêu hình về vấn đề hệ thống, bởi tư duy siêu hình chỉ xem xét hệ thốngtrong trạng thái tĩnh, tách rời mâu thuẫn, tách rời sự vận động, phát triển Cũng từ đâytriết học đặt ra các vấn đề mối quan hệ qua lại, mâu thuẫn, vận động, phát triển lànhững nhân tố quan trọng nhằm khám phá tính chất biện chứng của hệ thống

Tư tưởng hệ thống được phát triển và hoàn thiện hơn trong triết học Hêghen Tuy

ở đây hệ thống chưa được xem xét với tính cách là một phạm trù triết học, nhưng tất cảmọi đối tượng mà ông đề cập đến đều thể hiện đó là một hệ thống tự phát triển và tất

cả đều được xuyên suốt bởi tư tưởng phát triển Hêghen viết, ý niệm tự nó là cụ thể, làphát triển, là một hệ thống hữu cơ, là một chỉnh thể chứa các yếu tố Tất cả đều mangtính hệ thống, thế giới là thế giới của các hệ thống Hêghen khẳng định cần phảinghiên cứu thế giới như hệ thống các nấc thang mà nấc thang này được suy diễn từ nấcthang khác Song ở đây, không có quá trình sản sinh vật lý tự nhiên, mà chỉ là sự sảnsinh trong lòng ý niệm và ý niệm ấy tạo ra cơ sở của giới tự nhiên

Như vậy, Hêghen đã khẳng định tính hệ thống của hiện thực, nhưng hiện thực ấychỉ là là hệ thống những nấc thang khác nhau của ý niệm vận động Mặc dù, Hêghenkhông chú ý đến việc định nghĩa khái niệm “hệ thống”, chỉ ra vị trí, vai trò của nó

Trang 3

trong mối quan hệ với các phạm trù khác của triết học, nhưng ông đã đòi hỏi quá trìnhnhận thức của con người cũng phải mang tính hệ thống Hêghen từng viết bất kỳ sựnghiên cứu khoa học nào cũng đều mang tính hệ thống, bởi vì hình thức chân lý chỉ cóthể là hệ thống của các chân lý khoa học.

Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng của hệ thống các ý niệm, mặc

dù đó là “phép biện chứng lộn ngược”, nhưng nó đúng về phương pháp Nó đòi hỏi

logic của mọi nghiên cứu phải mang tính hệ thống, “triết lý mà không có hệ thống thì không thể chứa đựng một tính khoa học nào” Nếu bỏ qua bức màn duy tâm, thần bí

thì Hêghen đã để lại một kho tàng các giá trị tinh thần vô cùng quý báu cho nhân loại.Phương pháp nghiên cứu các hệ thống của Hêghen đã được C.Mác và Ph.Ăngghentiếp thu, cải tạo và phát triển theo lập trường duy vật của mình Các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác không để lại cho chúng ta những định nghĩa trực tiếp về “hệ thống”,nhưng trong tác phẩm của các ông chúng ta đều thấy rõ hệ thống với tính cách là mộtphạm trù triết học

C.Mác và Ph.Ăngghen đã là người đầu tiên đứng trên lập trường duy vật biệnchứng để nghiên cứu một trong các hệ thống phức tạp - xã hội loài người Theo C.Mác

xã hội là một hệ thống tự phát triển, trải qua các giai đoạn khác nhau và các giai đoạn

đó được gọi là các hình thái kinh tế xã hội C.Mác đã nghiên cứu hình thái kinh tế - xãhội tư bản chủ nghĩa với tư cách là một hệ thống rất phức tạp, được hình thành từnhiều yếu tố và các hệ thống con trong sự tác động qua lại giữa chúng, với những mâuthuẫn nội tại đa dạng và sâu sắc Trong các tác phẩm chuẩn bị cho sự ra đời của bộ

“Tư bản”, C.Mác đã chỉ ra rằng hình thức, kết cấu nội tại, tương đồng với tính hệthống là một thuộc tính đặc trưng cho tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình của giới

tự nhiên cũng như đời sống xã hội Ông viết: “Xã hội ngày nay không phải là một khối kết tinh vững chắc, mà nó là một cơ thể có khả năng biến đổi và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi” [8; tr.22] Hơn nữa trong “Bản thảo kinh tế - triết học 1857 - 1859” C.Mác viết: “… bản thân hệ thống hữu cơ ấy với tính cách là một tổng thể cũng có những tiền đề của mình và sự phát triển của nó nhằm trở thành một chỉnh thể là ở chỗ

nó bắt tất cả các yếu tố xã hội phục tùng mình hoặc từ xã hội đó tạo ra những cơ quan

mà nó chưa có Bằng con đường đó, trong quá trình phát triển lịch sử hệ thống biến thành cái chỉnh thể, sẽ tại ra yếu tố của nó, tạo ra hệ thống, quá trình, sự phát triển của nó” [7; tr.380].

Trang 4

Điều đó cho thấy, C.Mác đã xác định dấu hiệu biện chứng khách quan của hệthống, vạch ra động lực bên trong của sự vận động, phát triển, chỉ ra những tiền đề,

quy luật của sự phát triển khách quan ấy C.Mác viết tiếp: “Về mặt lịch sử, mỗi hệ thống cụ thể được quy định bằng những hệ thống khác, chúng thiết lập nên cơ sở của

sự phát triển, rằng mỗi yếu tố của hệ thống phụ thuộc vào những yếu tố khác, vào các chỉnh thể được xác lập, còn mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố được xem như động lực bên trong sự phát triển của toàn bộ hệ thống” [7; tr.332-333] Vấn đề hệ thống

cũng được thể hiện rõ nét ở quan điểm của Ph.Ăngghen Trong tác phẩm “Biện chứngcủa tự nhiên”, ông đã xác định khái niệm “hệ thống” khi coi giới tự nhiên là một hệ

thống Ph.Ăngghen viết: “Tất cả giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau, nhưng ở đây, chúng ta hiểu vật thể là tất cả những thực tại vật chất, từ tinh tú đến nguyên tử, cho đến cả những hạt ête, nếu chúng ta thừa nhận sự tồn tại của hạt ête” [13; tr.520] Như vậy, bản chất

của hệ thống theo Ph.Ăngghen, trước tiên là mối quan hệ qua lại của các vật thể trongtoàn bộ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô Khi xác định đặc trưng của hệ thống, ông đã nêu lênhai dấu hiệu cơ bản quyết định sự phát triển và tồn tại của hệ thống: Một là, mối liên

hệ giữa các vật thể, hai là, tính giới hạn của các vật thể đó Chính các dấu hiệu đặctrưng ấy làm cho hệ thống tồn tại với tính cách một chỉnh thể thống nhất có tính xácđịnh về chất

Tiếp tục công việc của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nghiên cứu chủnghĩa tư bản với tính cách là một hệ thống mà giai đoạn phát triển cao của nó là chủnghĩa đế quốc Như vậy hệ thống cho dù ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng có quy luật pháttriển khách quan của nó Hệ thống như một cơ thể có cấu trúc, tính chỉnh thể nhất định

và đặc biệt biểu hiện rất phức tạp trong đời sống xã hội Vì vậy để nghiên cứu bản chấtcủa các hệ thống xã hội V.I.Lênin yêu cầu phải xuất phát từ phương diện lịch sử vàbản thân quá trình nghiên cứu cũng thể hiện là một hệ thống chỉnh thể các tri thức

Từ những quan điểm trên đây có thể nói rằng, tính hệ thống trong triết học Mác,

là một logic phát triển tất yếu trong sự phát triển biện chứng của sự vật, hiện tượng Vàcũng có thể nói rằng việc tiếp nhận quan điểm về tính hệ thống của thế giới không có

gì khác hơn là thừa nhận tính biện chứng của chúng, thừa nhận những yếu tố, nhữngnăng lực nội tại và cội nguồn sự tự vận động của bản thân hệ thống

Trang 5

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của hệ thống

Khái niệm hệ thống đã được nghiên cứu trong suốt tiến trình phát triển của lịch

sử tư tưởng triết học, gắn liền với sự phát triển thế giới quan triết học, phù hợp với sựtiến bộ của khoa học và thực tiễn xã hội Các nhà triết học trước C.Mác đã đạt đượcnhững kết quả nhất định trong việc nghiên cứu vấn đề hệ thống khi xác định nội dung,

ý nghĩa của khái niệm “hệ thống” Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song nó đãgóp phần quan trọng vào việc làm phong phú thêm đối tượng nghiên cứu của triết học,làm cho tư duy triết học phát triển lên những trình độ cao hơn Trên cơ sở kế thừa cóphê phán những tư tưởng mà lịch sử triết học đã tạo ra, C.Mác, Ph.Ăngghen vàV.I.Lênin đã phát triển khái niệm “hệ thống” lên một đỉnh cao mới Tạo nên một cơ sởkhoa học vững vàng cho sự nghiên cứu và phát triển vấn đề hệ thống sau này

Với những thành tựu có tính chất thời đại của khoa học mà ở đó, thế giới baoquanh chúng ta được quan niệm là thế giới nhiều hệ thống, cả về mặt cấu trúc lẫnnguồn gốc lịch sử Bên cạnh đó, các bộ phận riêng lẻ, các lĩnh vực, các yếu tố của nócũng là nhiều hệ thống khác nhau Trong mỗi hệ thống nó vận động phù hợp vớinhững quy luật chung của thế giới vật chất và những quy luật đặc trưng của mình Do

đó mà trong giai đoạn hiện nay, nhiều nhà triết học và khoa học ở các lĩnh vực khácnhau đã tập trung nghiên cứu các khách thể với tính cách là một hệ thống và thậm chí

là các phức hợp hệ thống nhằm tìm ra bản chất và quy luật vận động, phát triển củachúng Khái niệm “hệ thống” đang được sử dụng rất rộng rãi và nó đã trở thành biểutượng có tính khoa học và tính logic để tiếp nhận chân lý Hơn thế nữa, khái niệm “hệthống” đã trở thành một phạm trù triết học mang ý nghĩa phương pháp luận thông quaviệc áp dụng phương pháp hệ thống hiện đã trở thành phổ biến trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn

Vậy, “hệ thống” được hiểu là tập hợp các yếu tố bằng cách này hay cách khác,liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Và được làm rõ qua một số định nghĩa sau:

“Hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố, bộ phận quan hệ tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp” [32; tr.4].

“Hệ thống là một tập hợp các yếu tố có tính độc lập tương đối và có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chỉnh thể thống nhất” (Bộ giáo dục đào tạo, triết

học, 1997; tr.94)

Trang 6

“Hệ thống là một tập hợp các yếu tố tương quan lẫn nhau tạo thành cấu trúc và

tổ chức” [Nhập môn triết học-phần II, 1989; tr.124] và [22; tr.295-296].

“Hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể có những thuộc tính và những quy luật tổng hợp” [22; tr.20].

Trên cơ sở những khái niệm được đề cập ta có những đặc trưng cơ bản sau của hệthống:

Một là, mọi khách thể (sự vật, hiện tượng, quá trình) tồn tại trong thế giới đều được

coi như những hệ thống Mà trong đó, mỗi khách thể hệ thống là một tập hợp gồm nhiềuyếu tố có mối quan hệ, liên hệ với nhau và với môi trường xung quanh tạo nên một trật tự,

tổ chức nhất định, có cấu trúc ổn định và luôn thực hiện những chức năng xác định nhằmduy trì sự tồn tại và phát triển của chính mình Sự tác động qua lại giữa các yếu tốtrong hệ thống tạo nên thuộc tính tổng hợp - tính chỉnh thể - đặc trưng cho hệ thống.Trong đó, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số các bộ phận hay yếu tố cấu thành.Như vậy, đặc trưng cơ bản của hệ thống là tính tổng thể, nó là kết quả của sự liên kết,tác động qua lại giữa các bộ phận để tạo nên sự thống nhất, bền vững, ổn định của hệthống, giúp phân biệt cái toàn thể này với cái toàn thể khác

Hai là, bản thân mỗi khách thể hệ thống vừa là một hệ thống vừa là một yếu tố

hay bộ phận của một hệ thống khác lớn hơn Mỗi yếu tố vừa là yếu tố đồng thời vừa là

hệ thống của các yếu tố khác có cấp độ hẹp hơn Trong thế giới tồn tại tính xếp cấpcủa hệ thống, khái niệm khách thể là hệ thống hay là yếu tố chỉ mang tính tương đồng

Ba là, khi khách thể là hệ thống đã được xác định, sự tác động qua lại giữa các

yếu tố với nhau hay với môi trường tạo nên cội nguồn của mọi sự biến dạng, thay đổicủa khách thể hệ thống theo xu hướng nhất định tạo nên tính hướng đích của hệ thống.Làm cho trật tự, tổ chức của hệ thống không ngừng được đổi mới, khách thể của hệthống không ngừng tiến lên

Bốn là, yếu tố của hệ thống - là đơn vị trong thành phần của hệ thống, một thực

tại tương đối bền vững được xác định về mặt chất lượng, nằm trong mối liên hệ qua lạivới các thực tại khác và cùng với chúng hình thành nên một hệ thống chỉnh thể Đượcphản ánh rõ nét trong khái niệm “cấu trúc” - là hệ thống các mối liên hệ tương đối bềnvững giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và nó xác định đặc trưng về chất của hệthống với tính cách là một chỉnh thể

Trang 7

Năm là, chức năng của hệ thống - là sự tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố

của hệ thống này với hệ thống khác, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại bền vững của hệthống, cũng cố, duy trì tính chỉnh thể của hệ thống, đảm bảo cho sự hoạt động và tiếptục phát triển của hệ thống

Trong hệ thống chính sự vận động của các yếu tố, cấu trúc đã quy định sự pháttriển của khách thể hệ thống, làm cho chúng ngày càng được mở rộng, hoàn thiện hơntrước sự thay đổi của các điều kiện hiện thực Không chỉ thế nó còn làm cho các mặt,các đặc điểm, tính chất của khách thể hệ thống không ngừng được tăng lên và thể hiệnmột cách phong phú, đa dạng Chúng ta còn thấy được một vai trò to lớn của hệ thống

là nó phản ánh tính chất phức tạp ngày một tăng lên của tri thức về sự vật, hiện tượng

và các quá trình trong thế giới hiện thực theo những quy luật phức hợp của mình Tómlại, tính hệ thống là một trong những nguyên tắc tồn tại cơ bản của hiện thực, trong thếgiới không thể có các sự vật, hiện tượng tồn tại không có tham số về tính hệ thống.Triết học Mác chứng minh một cách khoa học rằng, các khách thể của thế giới rất đadạng và phức tạp, chúng là các hệ thống hay các phức hợp hệ thống Vì vậy, trongnhận thức và hoạt động thực tiễn không thể không chú ý đến nguyên lý tính hệ thống.Như vậy, trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm và đặc trưng của hệ thống ta có thểhiểu: Hệ thống - là một tổng thể có tổ chức nội tại, mà trong đó các yếu tố, cấu trúc có

sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể có những thuộc tính, nhữngquy luật tổng hợp và biểu hiện trong mối quan hệ với môi trường xung quanh như mộtchỉnh thể thống nhất

Trên cơ sở xem xét khái niệm và nội dung phạm trù hệ thống, với đề tài nàyngười viết tiếp tục làm rõ “hệ thống mở” là như thế nào

1.1.3 Hệ thống mở (Open systems internection)

Hệ thống với tư cách là một phương thức tồn tại cụ thể của hiện thực, nó luônnằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Trong từng hệthống luôn luôn diễn ra những biến đổi đa dạng, những quá trình chuyển hoá vô tậncủa các yếu tố cấu thành Có nguồn gốc sâu xa từ các mối liên hệ, tác động qua lại lẫnnhau giữa các yếu tố, giữa hệ thống với môi trường, mà trước hết là bởi sự thống nhất

và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong hệ thống Ngay chính bản thân mỗi hệthống cũng luôn luôn nằm trong sự vận động, biến đổi và phát triển liên tục nhằm tạonên những mắt khâu trong chuỗi vô tận của thế giới Chính vì vậy mà trong bất kỳ hệ

Trang 8

thống nào cũng đều mang tính mở của nó Các yếu tố, cấu trúc của hệ thống mở luônđược mở rộng, hoàn thiện và phát triển theo khuynh hướng của những quy luật đã cósẵn trên cơ sở có sự kế thừa và phát triển cao hơn, phù hợp hơn với sự vận động củahiện thực Trong hệ thống mở không có yếu tố nào cùng tận, trong mối liên hệ này nó

là hệ thống nhưng trong mối liên hệ khác nó lại là yếu tố Như vậy, một hệ thống mởluôn luôn đối lập với một hệ thống đóng bởi các yếu tố, cấu trúc tri thức cấu thành hệthống đóng luôn khép kín, bất biến và không còn khả năng được tiếp tục mở rộng,hoàn thiện và phát triển

Hiểu hệ thống với tính cách mở của nó sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trong việc xemxét các yếu tố, cấu trúc của một chỉnh thể hệ thống nào là mở hay đóng và có khả nănghoàn thiện, phát triển nữa hay không Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc cáchmạng khoa học - kĩ thuật và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ thì nhu cầu mở rộngthông tin và đa dạng hoá các tri thức khoa học đã mang lại một bức tranh chung về thếgiới vô cùng phong phú và phức tạp Làm cho việc xem xét các hệ thống với tính cách

là một hệ thống mở trở nên vô cùng cần thiết và bức bách

1.2 Hệ thống triết học

Có nhiều cách tiếp cận và phân chia hệ thống triết học, như cách phân chia theođồng đại và lịch đại, cách phân chia theo trình độ phát triển của triết học, theo cáctrường phái triết học…Để làm rõ vấn đề hệ thống triết học người viết khóa luận đãchọn cách phân chia theo cấu trúc triết học

Để tồn tại loài người phải thích nghi với môi trường sống của mình nhưng conngười không thích nghi với thế giới bên ngoài một cách thụ động, mà luôn tìm cáchbiến đổi thế giới theo những yêu cầu cuộc sống của mình Muốn vậy, con người phảihiểu biết thế giới xung quanh cũng như về chính bản thân con người Thúc đẩy triếthọc ra đời như một sự giải quyết mâu thuẫn giữa bức tranh huyền thoại về thế giới,được xây dựng dựa trên trí tưởng tượng với nhận thức và tư duy mới, như sự phổ biến

tư duy từ diện hẹp ra diện rộng, từ tản mạn đến hệ thống Khi nhận thức thế giới xungquanh vượt lên trên những suy nghĩ thường nhật, con người vươn tâm hồn mình lênsuy nghĩ thêm những vấn đề về thế giới, về cuộc sống ở những khía cạnh sâu sắc hơn,toàn diện hơn Với việc tìm kiếm câu trả lời cho hàng loạt câu hỏi về bản thể luận như:thế giới này là gì? Điều gì đang diễn ra trong thế giới này? Bản chất thế giới này ởđâu? Thế giới được hình thành và biến đổi ra sao? Quy luật nào chi phối sự vận động

Trang 9

thế giới này? Và những câu hỏi về nhận thức luận như: con người có khả năng nhậnthức được thế giới này hay không? Mối quan hệ của con người với thế giới này ra sao?Cùng với những câu hỏi về lý luận học như: ta nên sống vì cái gì? Làm thế nào đểđược sống hạnh phúc? mỗi thành quả của kinh nghiệm xã hội, mỗi mốc đánh dấu sựtiến bộ trong lịch sử khoa học đều mở ra trước lý tính triết học những giới hạn hiệnthực mà trước đó chưa được biết đến, tạo khả năng phát hiện ngày càng nhiều luận cứquan trọng trong mỗi hệ thống triết học Với những quan điểm đầu tiên thường mangtính chất ngây thơ, chất phác, kém khoa học được thể hiện rõ nét trong hệ thống triếthọc Hy Lạp cổ đại Cùng quá trình phát triển của lịch sử, những tri thức cụ thể của conngười về thế giới ngày càng tăng lên, các lý thuyết trở nên phức tạp hơn, các nhà triếthọc cố gắng xây dựng từ những tài liệu tích lũy được, một bức tranh về thế giới hoànchỉnh và trọn vẹn Tạo nên những hệ thống triết học có đầy đủ những cấu trúc về thếgiới quan, nhận thức luận và nhân sinh quan.

Triết học cung cấp câu trả lời tốt nhất cho các vấn đề cơ bản của thế giới quan.Bởi triết học không chỉ đứng bên ngoài để xem xét thế giới mà con đi sâu nghiên cứuthế giới bên trong con người và xã hội nhân loại Mối quan hệ giữa con người và thếgiới, tư duy và tồn tại, chủ thể và khách thể…nhằm tìm tòi bản tính khách quan và quyluật phổ biến của thế giới Từ đó xem xét, nghiên cứu và nhận thức thế giới, nhận thứckhả năng, con đường và phương pháp phổ biến để cải tạo thế giới Xác định nên thếgiới quan - là toàn bộ những quan niệm, quan điểm của con người về thế giới xungquanh, về bản thân con người, về cuộc sống và về vị trí của con người trong thế giới.Thế giới quan triết học với hệ thống lý luận được thể hiện thông qua hệ thống các kháiniệm, phạm trù, quy luật Nó không chỉ nêu lên những quan niệm, quan điểm của conngười về thế giới, về bản thân con người mà còn chứng minh tính xác thực, khoa họccủa những tri thức đó Thế giới quan triết học chỉ hình thành khi nhận thức của conngười đã đạt đến trình độ cao của sự khái quát hoá, trừu tượng hoá và khi các lựclượng xã hội đã có ý thức về sự cần thiết phải có những định hướng tư tưởng để chỉđạo cuộc sống Phân biệt thế giới quan triết học với thế giới quan khác C.Mác viết:

“các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí; các vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo; các vị hứa hẹn thiên đường và toàn bộ thế giới, triết học không hứa hẹn

gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tín ngưỡng của các vị, triết học đòi hỏi kiểm nghiệm những điều hoài nghi; các vị doạ dẫm, triết học an ủi ”[10; tr.159].

Trang 10

Với phương thức tư duy đặc thù của mình, triết học tạo nên hệ thống triết học baogồm những quan niệm chung nhất về thế giới theo một tiền đề hay một chỉnh thể,trong đó có con người và mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh Xây dựng nênthế giới quan đúng đắn là tiền đề hình thành nhân sinh quan tích cực, tiến bộ Với tưcách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, triết học đóng vai trò định hướng cho quátrình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

Có mối quan hệ chặt chẽ với thế giới quan là vấn đề nhận thức luận, nó nghiêncứu bản chất, mối liên hệ qua lại giữa chủ thể với khách thể trong quá trình hoạt độngnhận thức, quan hệ tri thức đối với hiện thực, khả năng nhận thức thế giới của conngười, tiêu chuẩn của chân lý và tính đáng tin của tri thức Bất cứ lý luận triết học nàokhi lý giải về thế giới xung quanh và bản thân con người cũng đồng thời thể hiện mộtphương pháp luận nhất định - là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo conngười tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn

Từ thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn sẽ hình thành nên một nhân sinhquan phù hợp Tạo nên ở mỗi cá nhân, mỗi tập đoàn, mỗi giai cấp một lẻ sống, lýtưởng sống phù hợp, hình thành nên những nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức giúpđịnh hướng, điều chỉnh mối quan hệ và hành vi của con người

Thông qua những vấn đề nêu trên cho phép ta khẳng định triết học với tính cách

là một khoa học độc lập, nó thể hiện mình là một hệ thống với đầy đủ cấu trúc và yếu

tố liên quan chặt chẽ với nhau Bao gồm các khái niệm, nguyên lý, quy luật…tạo nêntổng thể các hình thức logic liên quan mật thiết với nhau, cái này được rút ra từ cái kia,cái này là sự cụ thể hoá của những cái khác

Như vậy, hệ thống triết học - là hệ thống các quan điểm, quan niệm của conngười về tự nhiên, xã hội và về chính con người Trên phương diện cấu trúc nó đượcxếp thành hệ thống lý luận chặt chẽ có mối quan hệ và chi phối lẫn nhau Hệ thốngtriết học khác với các hệ thống khác ở chỗ:

Thứ nhất: nó là hệ thống tri thức mang tính khái quát hoá và trừu tượng hoá cao Thứ hai: triết học nắm lấy cái vĩ mô của thế giới bao gồm tự nhiên, xã hội và tư

duy con người

Thứ ba: mọi hệ thống triết học đều không thể thoát ly khoa học tự nhiên và khoa

học xã hội, không thể thoát ly hiện thực cuộc sống Bởi chỉ có thể thông qua những tri

Trang 11

thức này hệ thống triết học mới có thể tiến hành phương thức khái quát, tổng kết, nắmbắt bản chất thế giới và nêu lên các quy luật chung.

Thứ tư: hệ thống triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình

với những khoa học cụ thể bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và của bảnthân tư tưởng triết học

Thứ năm: hệ thống triết học là thế giới quan, phương pháp luận cụ thể trong việc

đánh giá các thành tựu đạt được, cũng như vạch ra phương hướng, phương phápnghiên cứu khoa học cụ thể

Thứ sáu: mỗi quan điểm trong triết học đồng thời là một nguyên tắc phương pháp

luận, là lý luận về phương pháp

Thứ bảy: hệ thống triết học đóng vai trò định hướng cho con người trong quá

trình tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn

Như vậy, khi thuật ngữ triết học được sử dụng là khi con người xác định phảixem xét, nghiên cứu những tư tưởng, quan điểm…trong hệ thống nội tại của chúng

1.3 Hệ thống triết học Mác

Những năm 40 của thế kỷ XIX được đánh dấu bằng cuộc cách mạng vĩ đại mangtính chất bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng thế giới, với sự ra đời của hệ thống triếthọc Mác Như bất kỳ một học thuyết triết học nào, triết học Mác thể hiện mình là một

hệ thống chặt chẽ với đầy đủ các yếu tố, cấu trúc tạo thành một chỉnh thể bao gồm cácnguyên lý, quy luật, phạm trù, các khái niệm, phán đoán và suy luận…triết học Mácđược xây dựng trên cơ sở kế thừa toàn bộ tinh hoa tinh thần nhân loại, với tính hệthống được thể hiện ở bình diện thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh quan Cóthể nói triết học Mác là một vòng khâu trong chuỗi các vòng khâu kế tiếp nhau qua cácthời đại Với sự mở rộng không ngừng tri thức triết học trong mối quan hệ với hoạtđộng thực tiễn với khoa học và trình độ nhận thức chung Chủ nghĩa Mác thể hiệnmình qua ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoahọc Trong đó, triết học đóng vai trò là hạt nhân thế giới quan Sự ra đời của triết họcMác được đặt trên nền tảng của tư duy lý luận nhân loại, của khoa học tự nhiên vàthực tiễn Mối liên hệ ấy thể hiện rất rõ ràng cơ sở xã hội và mang lại cho triết học tính

hệ thống

Trang 12

Triết học Mác là thế giới quan duy vật biện chứng bởi nó chỉ ra việc lấy hoạtđộng khoa học và thực tiễn của nhân loại làm căn cứ, khắc họa bức tranh toàn cảnhtriết học về toàn bộ thế giới vật chất Chính thế giới quan duy vật biện chứng đó đãphản ánh đầy đủ hiện thực khách quan, đem đến một cái nhìn mới mẻ về con người,khẳng định vị thế con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử xã hội Nó không chỉ làphương thức định hướng con người trong thế giới, phương thức cải tạo hiện thực màcon là phương thức con người tự ý thức về bản thân mình.

Trong hệ thống triết học Mác, phép biện chứng duy vật đóng vai trò là học thuyếttriết học về nhận thức, đóng vai logic và lý luận nhận thức phản ánh tính quy luật phổbiến của thế giới khách quan Do đó, triết học cũng là hình thức phổ biến của tư duynhận thức Bởi nhận thức luận của triết học Mác còn đóng vai trò là kết quả, tổng số,kết luận của lịch sử nhận thức luận Trong học thuyết của triết học Mác các vấn đề vềnhận thức luận mang đặc thù là bản chất mối quan hệ nhận thức của con người với thếgiới

Với sự định hướng khoa học của thế giới quan và công cụ vĩ đại là phép biệnchứng duy vật trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, triết học Mác đã hình thành nênnhân sinh quan đúng đắn cho con người Được thể hiện rõ nét và toàn diện trong chủnghĩa nhân văn Mácxít khi xem con người là điểm xuất phát và việc giải phóng conngười là mục đích cuối cùng Khác với chủ nghĩa nhân văn trừu tượng, chủ nghĩa nhânvăn không tưởng về cả nội dung và phương thức biến khả năng thành hiện thực, biến ýtưởng giải phóng thành lý luận khoa học về sự giải phóng Đã làm cho triết học Mácngay từ khi ra đời đã thâm nhập vào các phong trào quần chúng, tạo nên một họcthuyết có ảnh hưởng sâu sắc trong thế giới đương đại

Như vậy, hệ thống triết học Mác là toàn bộ các quan điểm, quan niệm giúp conngười nhận thức và cải tạo thế giới Về mặt cấu trúc nó đảm bảo sự thống nhất và tácđộng qua lại giữa thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh quan Tạo nên sự khácbiệt của hệ thống triết học Mác với các hệ thống khác ở những điểm sau:

Thứ nhất: mọi sự phát triển của khoa học tự nhiên đều được triết học Mác xem là

những chất liệu sống quý giá để luận chứng cho các quan điểm trong hệ thống củamình Đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của khoa học hiện đại khi:chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan và phương pháp luận thật sự khoa học

Trang 13

để các khoa học cụ thể đánh giá những thành tựu đã đạt được cũng như xác định đúngđắn phương hướng và phương pháp trong nghiên cứu.

Thứ hai: triết học Mác đưa vào trong hệ thống của mình quan điểm thực tiễn với

vai trò là cở sở, là động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, cùng ýnghĩa thực tiễn cao nhất của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóng conngười Chính thực tiễn đã đem vào hệ thống của triết học Mác sinh khí, hơi thở của sựsống và làm cho triết học Mác thể hiện mình là một hệ thống mở

Thứ ba: toàn bộ hệ thống triết học Mác là sự thống nhất biện chứng giữa thế giới

quan và phương pháp luận

Thứ tư: hệ thống triết học Mác đã phát triển và đã thực hiện triệt để nguyên lý

duy vật cùng phép biện chứng trong quan niệm về thế giới khách quan và tư duy Đãxây dựng logic hình thức và các tính quy luật với tính cách là các quá trình tự nhiên vàlịch sử - xã hội đã được toàn bộ thực tiễn của loài người nhận thức và khảo nghiệm.Triết học Mác đã thủ tiêu sự phân biệt giữa bản thể luận, logic học và lý luận nhận thức.Với hệ thống lý luận chặt chẽ như vậy, triết học Mác thể hiện mình là một hệthống mở Bởi trong hơn nửa thế kỷ qua, trước những biến đổi mạnh mẽ và to lớn củakinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật và công nghệ thế giới Triết học Mác vẫn khôngngừng phát triển, hoàn thiện Triết học Mác không chỉ trở thành nguyên tắc chỉ đạocông cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học

mà còn liên hệ chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu khoa học và sản sinh đời sống tinhthần của nhân loại, thâm nhập vào các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.Trở thành triết học của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và cảitạo thế giới

Triết học Mác không giống với nội dung của bất kỳ một chủ nghĩa giáo điều và

sơ cứng nào V.I.Lênin từng nói: “lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chứng

tỏ hết sức rõ ràng rằng, chủ nghĩa Mác không có gì giống “chủ nghĩa bè phái” hiểu theo nghĩa một cách đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã nêu ra.” [8; tr.49].

Trong tác phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” V.I.Lênincũng chỉ rõ, mọi toan tính xem chủ nghĩa Mác đứng bên ngoài con đường phát triểncủa văn hoá thế giới, biến nó thành một học thuyết biệt phái, khép kín nào đó, là biểu

Trang 14

hiện cách tiếp cận có tính xuyên tạc, trái với chân lý Khi chúng ta nói rằng, học thuyếtMác “đang phát triển” thì tức là hàm chứa ý nói rằng học thuyết Mác không phải xâydựng một lần là xong xuôi C.Mác không phải là đấng chúa trời tối cao và chủ nghĩaMác không phải là kinh thư Bản thân triết học Mác cần phải được bổ sung và pháttriển cho phù hợp với sự vận động của lịch sử - xã hội Vì vậy, cần hiểu đúng tính mở

và tính sáng tạo của triết học Mác bởi sự bền vững của một học thuyết cần được khẳngđịnh sức sống thực sự của nó, chứ không chỉ bằng suy đoán logic và những mệnh đềthiên về giáo huấn thuần tuý

Ngay từ những năm 1924, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một lý thuyết nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại” [28; tr.465].

“chủ nghĩa Mác không phải là một tín đồ bất biến, cũng không phải là phương thuốc thần diệu có tác động trong mọi hoàn cảnh mà cần phân biệt đối tượng cụ thể Để chủ nghĩa Mác phát huy tác dụng của mình ở bên ngoài châu Âu, cần bổ sung những cơ sở lịch sử của nó bằng dân tộc phương Đông” [28; tr.465-466].

Như vậy, tìm hiểu các vấn đề trong hệ thống triết học Mác, từ vấn đề bản thểluận, nhận thức luận đến nhân sinh quan, từ những quan điểm cách mạng, hiện thựcđến những dự báo khoa học, từ cách tiếp cận thế giới quan đến cách tiếp cận giá trị.Với mong muốn bổ sung, phát triển nó trên cơ sở tiếp thu thành quả mới nhất của trithức khoa học và hoạt động thực tiễn luôn là đòi hỏi khách quan của cuộc sống

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Thông qua sự phân tích sâu sắc đi từ những lý luận về hệ thống, đến lý luận hệthống triết học và làm rõ rính mở của hệ thống triết học Mác Cho phép ta khẳng địnhtriết học Mác trên phương diện cấu trúc là một hệ thống chặt chẽ bao gồm thế giớiquan, nhận thức luận và nhân sinh quan trong mối liên hệ và tác động qua lại giữachúng và tác động với môi trường bên ngoài Với tư cách là một hệ thống mở, đứngtrước những vận động, biến đổi và phát triển liên tục, tạo nên những mắt khâu vô tậntrong bức tranh vô cùng của thế giới Việc nhận thức triết học Mác với tính cách làmột hệ thống mở luôn là một yêu cầu bức thiết và là một đòi hỏi thường xuyên của vậnđộng hiện thực Điều này sẽ được người viết làm rõ ở một số nội dung trong phần sau

Trang 15

tự nhiên, xã hội và tư duy con người Được khái quát trong quy luật phát triển chungcủa mọi vật tồn tại là quy luật biện chứng Cùng với những thành tựu mới của conngười trong thực tiễn xã hội, phép biện chứng cũng mang những hình thức mới Đầutiên, phải kể đến là phép biện chứng cổ đại với đặc trưng là còn mang nặng tính ngâythơ, chất phác Là những quan niệm biện chứng mộc mạc, mang tính suy diễn, phỏngđoán dựa trên cơ sở kinh nghiệm trực giác mà chưa được chứng minh bằng tri thứckhoa học Sau đó, là phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức với hệ thống

lý luận tương đối hoàn chỉnh và trong một chừng mực nhất định, đã trở thành phươngpháp tư duy triết học phổ biến Bước sang giai đoạn khoa học nghiên cứu quá trìnhphát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng dựa trên quan điểm duy vật, phép biệnchứng duy tâm lỗi thời tất yếu bị phủ định

Sự ra đời của phép biện chứng duy vật Mác xít là đỉnh cao trong việc nhận thứchiện thực khách quan C.Mác và Ph.Ăngghen trên cơ sở kế thừa và phát triển nhữnghạt nhân hợp lý trong lịch sử tư tưởng phép biện chứng, mà trực tiếp là phép biệnchứng duy tâm của Hê ghen Cùng việc đặt nó trên nền tảng chủ nghĩa duy vật, C.Mác

đã chỉ ra sự đối lập có tính nguyên tắc giữa phương pháp của mình và phương pháp

của Hê ghen: “Đối với Hêghen quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, mà

Trang 16

chẳng qua là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến trong nó.” [8; tr.35].

Chỉ có phép biện chứng duy vật của C.Mác - khoa học về quy luật phổ biến của

sự phát triển mới liên kết được mọi phát kiến về khoa học tự nhiên và khoa học xã hộithành một hệ thống chỉnh thể các hình thức logic với các yếu tố, cấu trúc, chức năng nhấtđịnh Cùng mối quan hệ qua lại với môi trường không nằm ở chính nó mà là ở trong hiệnthực, trong thực tiễn, thể hiện nó là một hệ thống mở, một hệ thống phát triển

Bởi vậy, phép biện chứng duy vật còn thể hiện mình như logic học, như là khoa họccủa sự nắm bắt, khám phá lý luận và thực tiễn về thế giới bởi con người xã hội ĐượcV.I.Lênin nhấn mạnh, phép biện chứng duy vật tựu trung không phải là ở chỗ nó là tổngthể “cái khẳng định chung hơn cả” về “thế giới trong chỉnh thể” mà ở chỗ nó là logic pháttriển của thế giới quan khoa học Phép biện chứng duy vật là một hệ thống đa diện, đachiều, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Vì thế, có thể khẳng định, phép biện chứng duyvật là khoa học về mối liên hệ phổ biến, là khoa học về sự vận động, phát triển

Cơ sở thống nhất tất cả các khía cạnh, các mặt, các đặc điểm, các nguyên lý,phạm trù của phép biện chứng duy vật - là thực tiễn Nhờ đó mà phép biện chứng duyvật mới xuất hiện và phát triển, mang tính chân lý, phản ánh hiện thực khách quan mộtcách đúng đắn, xác thực Hợp phép biện chứng với chủ nghĩa duy vật thành một chỉnhthể thống nhất vận động và phát triển Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triếthọc, phép biện chứng duy vật vạch ra con đường nhận thức và cải tạo nó, trở thànhphương pháp luận phổ biến và là một trong những đặc trưng để phân biệt nó với các hệthống khoa học khác

Các yếu tố của phép biện chứng duy vật mang tính chất bản thể luận như: sự vật,hiện tượng với tính cách là hiện thực tồn tại khách quan, sự thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập, lượng đổi dẫn đến chất đổi…các yếu tố nhận thức luận như: quyluật, phạm trù, phán đoán, suy luận…số lượng cùng bản chất các yếu tố của phép biệnchứng duy vật luôn thay đổi theo hướng ngày càng chính xác, đầy đủ và cụ thể hơncùng với mức độ phát triển của tri thức khoa học

Chức năng thế giới quan của phép biện chứng duy vật còn được gọi là chức năngphản ánh - thông tin Bởi, cũng như các khoa học khác, phép biện chứng duy vật làmột hệ thống thông tin phức tạp bao gồm các phương thức thu nhận thông tin, phân

Trang 17

tích, sử lý thông tin, nhằm thu được các tri thức mới, các cách tiếp cận thực tiễn mới.Trong phạm vi chức năng thế giới quan ta có thể chia thành hai chức năng nhỏ cơ bản.

Là chức năng bản thể luận thể hiện ở chỗ, phép biện chứng duy vật vẽ nên một bứctranh tổng hợp về thế giới, đem đến hệ thống các quan niệm về thế giới Và chức năngnhận thức luận thể hiện ở chỗ, nó tạo ra học thuyết mối quan hệ giữa chủ thể và kháchthể, vật chất và ý thức…

Chức năng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, đem lại cho khoa họchiện đại phương pháp luận trong việc xem xét, lý giải bản thân sự phát triển Khôngchỉ có thế, với bản chất khoa học triết học Mác còn đem lại một cơ sở khoa học đúngđắn cho việc luận chứng và giải thích những hiện tượng của đời sống xã hội, giúp conngười tiến hành khai thác và cải tạo thế giới hiện thực

Ngoài hai chức năng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật còn thực hiện chứcnăng giá trị luận - cung cấp cho con người hệ thống các giá trị nhằm xác định, địnhhướng, điều chỉnh các hành vi, từ đó hình thành nhân sinh quan trong sự tồn tại ngàycàng hợp lý của con người

Tất cả các chức năng nêu trên của phép biện chứng duy vật thống nhất, liên hệ,tác động qua lại lẫn nhau tạo cơ sở để con người nhận thức, hoạt động thực tiễn Vậndụng phép biện chứng duy vật không chỉ đơn giản là vạch ra các quy luật, nguyên lý,phạm trù mà quan trọng hơn nó phải làm rõ bản chất, cốt lõi của nó, áp dụng nó trongnhững vấn đề cụ thể mà hiện thực cuộc sống đặt ra Như trong lời tựa lần xuất bản thứ

hai bộ “Tư Bản”, khi tiến hành phân tích xã hội Tư bản chủ nghĩa C.Mác viết “Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng duy vật chỉ đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng giáo điều Vì trong quan điểm tích cực về cái hiện đang có, phép biện chứng cũng đồng thời bao hàm quan niệm về sự phủ định cái đang hiện tồn, về sự diệt vong tất yếu của nó: vì mỗi hình thái xã hội được phép biện chứng xem xét trong sự vận động, vì phép biện chứng không khuất phục cái gì cả và về thực chất nó có tính phê phán và tính cách mạng.”[8; tr.35-36]

Tóm lại, phép biện chứng duy vật là hệ thống cái quan điểm của con người về thế

giới, là hệ thống các phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ giá trị để conngười đánh giá và điều chỉnh hoạt động của mình Nó là khoa học về các quy luậtchung nhất về sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người trong

Trang 18

một hệ thống chỉnh thể nhất định Do vậy, phép biện chứng duy vật cũng là một hệthống mở và phát triển, được thể hiện:

Thứ nhất: các chức năng, cấu trúc và yếu tố cấu thành nó luôn được bổ sung bởi

những thành tựu của sự phát triển của khoa học và thực tiễn Các nguyên lý, quy luật

và phạm trù của phép biện chứng tuy là cái phổ biến nhưng trong những điều kiện,hoàn cảnh khác nhau thì biểu hiện ra những hình thức khác nhau

Thứ hai: thể hiện ở lập trường duy vật biện chứng, khi nó liên tục xem xét sự vật

trong mối liên hệ phổ biến, trong quá trình vận động và biến đổi của thế giới, phản đốiviệc tuyệt đối hoá và ngưng đọng.là lập trường đối lập với chủ nghĩa duy tâm và mọichủ nghĩa giáo điều

Thứ ba: phép biện chứng duy vật thể hiện là phương pháp luận nhận thức khoa

học nằm trong sự thống nhất không thể tách rời với khoa học cụ thể Trang bị cho conngười những công cụ, phương tiện, phương pháp để nhận thức và hoạt động thực tiễncải tạo thế giới Biến những thành tựu của khoa học cụ thể thành chất liệu sống độngcho phép biện chứng duy vật

Thứ tư: nó đem lại cho khoa học hiên đại những chức năng có ý nghĩa phương

pháp luận trong việc xem xét, lý giải bản thân sự phát triển của mình Bên cạnh đó, nócòn đem lại một cơ sở khoa học đúng đắn cho việc luận chứng và giải thích nhữnghiện tượng của đời sống xã hội

Như vậy, chỉ khi nhìn nhận tính mở của phép biện chứng duy vật trong hệ thốngtriết học Mác mới có thể chẳng những phân tích, đánh giá được ý nghĩa những hiệntượng xã hội đã, đang xảy ra mà còn thấy được tiến trình phát triển của nó trong tươnglai Nhằm vạch ra hướng tác động tích cực vào quá trình phát triển của toàn bộ lịch sử.Tránh xa chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, khuynh hướng chiết trung tưtưởng Với tư cách là tri thức lý luận tổng quát, phép biện chứng duy vật Mác xíthướng vào những điểm nóng của hoạt động thực tiễn, trở thành một phương pháp khoahọc ưu việt để nhận thức những hiện tượng xung quanh chúng ta, là công cụ có tácđộng mạnh mẽ giúp đi sâu vào bản chất hiện tượng, các quá trình, các quy luật pháttriển của tự nhiên và đời sống xã hội Phép biện chứng duy vật luôn nuôi dưỡng trongmình những dòng nhựa sống của sự phát triển của khoa học và thực tiễn Chỉ riêngđiều này thôi cũng đã đủ khẳng định, phép biện chứng duy vật là một hệ thống mở

Trang 19

2.1.2 Vấn đề chân lý

Trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, vấn đề chân lý luôn chiếm một vị tríquan trọng, tuỳ theo mỗi hệ thống triết học cụ thể mà vấn đề chân lý được hiểu theonhững cách khác nhau

Trong hệ thống triết học duy tâm, chân lý được hiểu như là đặc trưng vĩnh cửu,bất biến của các khách thể tư tưởng (Platôn, Ôgustanh), hoặc như là sự phối hợp tươngứng giữa tư duy với những hình thức tiên nghiệm của nó (I.Cantơ) Theo Hêghen chân

lý là sự đồng nhất giữa tư duy với tồn tại, là quá trình biện chứng sự tự phát triển của ýniệm tuyệt đối Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan ( Hium, Ratxen) hiểuchân lý là sự tương ứng lẫn nhau giữa các cảm giác…hầu hết, các quan niệm trên vềchân lý đều chứa đựng những sai lầm về mặt này hay mặt khác trong cách tiếp cận,nhìn nhận và đánh giá Bởi, các quan niệm trên hoặc đã phủ nhận tính khách quan củachân lý hoặc dùng yếu tố chủ quan để xác định giá trị của những tri thức đã đạt được.Nên đã không đạt tới nhận thức đúng đắn, thật sự khoa học về mối quan hệ biện chứnggiữa chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối

Bác bỏ những quan niệm phiếm diện và sai lầm do bản chất học thuyết về chân lý

của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mácxít Được Lênin khẳng định: “những giới hạn nhận thức gần đúng của chúng ta so với chân lý khách quan, tuyệt đối đều là những giới hạn có điều kiện về mặt lịch sử, nhưng bản thân sự tồn tại của chân lý đó là vô điều kiện” [33; tr.159]

Như vậy có thể thấy rằng, quan điểm duy vật biện chứng thì chân lý - là những trithức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Khi xác định,chân lý là sản phẩm của quá trình nhận thức về thế giới của con người Nó được hìnhthành, phát triển dần dần, từng bước và phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể củanhận thức, vào hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người Vì thực tiễnluôn vận động, phát triển không ngừng và do quá trình nhận thức của con người luônmong muốn vươn tới chân lý tuyệt đối Nên khi chúng ta thừa nhận tính khách quancủa chân lý tức chúng ta đã thừa nhận tính mở của hệ thống triết học Mác về vấn đềnày Được thể hiện trong mối liên hệ biện chứng giữa chân lý tuyệt đối và chân lýtương đối Cùng với việc xác nhận thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

Trang 20

Chúng ta biết rằng, chân lý tuyệt đối là sự phản ánh chính xác, toàn diện hiệnthực khách quan Song kiến thức của con người ở mỗi thời đại luôn bị chi phối bởitrình độ hiện có của khoa học và hoạt động thực tiễn trong những điều kiện lịch sử - xãhội nhất định Chân lý tương đối do đó, thể hiện tính chế ước của nhận thức, sự hạnchế của nó trên từng chặng đường phát triển Vì vậy, không nên đối lập chân lý tuyệtđối và chân lý tương đối bởi hai mặt ấy luôn cùng thâm nhập vào nhau, chi phối lẫnnhau Trong chân lý tương đối luôn bao hàm những hạt nhân hợp lý tuyệt đối Đồngthời chân lý tương đối luôn thông qua chân lý tuyệt đối để thể hiện mình Mỗi mộtnhận thức chân lý của con người, đều chịu sự quy định dưới một điều kiện, một phạm

vi nhất định và dựa trên một trình độ hiểu biết nhất định nên có tính điều kiện, có tínhtương đối Nhưng với sự phản ánh chính xác hiện thực khách thể thì chân lý lại biểuhiện mang tính tuyệt đối Chân lý là một quá trình nhận thức của nhân loại, là quá trình

đi từ chân lý tương đối đến chân lý tuyệt đối Nên chân lý luôn là cụ thể chứ khôngtrừu tượng

Triết học Mác vạch ra rằng: “Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt nhân mới vào cái tổng thể ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối khi thì mở rộng ra khi thì thu hẹp lại tuỳ theo sự tăng tiến của tri thức”[33; tr.158].

Như vậy, trong quá trình nhận thức không phải ngay một lúc con người nhậnthức được chân lý khách quan một cách hoàn toàn vô điều kiện và tuyệt đối Bởi thếgiới vật chất là vô cùng, vô tận nên nhận thức con người cũng phải trải qua vô hạn cácgiai đoạn Mỗi bậc thang đó của quá trình nhận thức chỉ phản ánh một trình độ nhấtđịnh xâm nhập của con người vào thế giới khách quan Vì vậy, mỗi chân lý khoa họcvừa mang tính chất tuyệt đối, vừa mang tính chất tương đối

Mỗi người riêng lẻ và mỗi thế hệ riêng lẻ chỉ có thể đi sâu vào thế giới vật chất ởmột trình độ nhất định, phản ánh một số đối tượng, một số lĩnh vực nhất định Cho nênbức tranh khoa học về thế giới mà mỗi thế hệ đạt được chưa phải là hoàn hảo, triệt để;

do đó, nó mang tính tương đối Nhưng trong quá trình nhận thức con người luôn có xuhướng muốn bổ sung thêm vào bức tranh thế giới những phát hiện mới, làm cho nóngày càng trở nên sâu sắc hơn, toàn diện hơn Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển củakhoa học đều đem lại cho chúng ta những chân lý tương đối, có chứa đựng những trithức hoàn toàn đúng đắn về mặt nào đó, trong một phạm vi xác định Những tri thức

Trang 21

như thế được gọi là chân lý tuyệt đối theo nghĩa hẹp Còn những tri thức mà toàn bộnhân loại ngày nay đi sát tới nó để phản ánh toàn diện, triệt để thế giới hiện thực thìđược gọi là chân lý tuyệt đối theo nghĩa rộng Đó là quá trình phát triển biện chứngcủa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối, đồng thời cũng là câu trả lời đúng đắn về

mối quan hệ giữa chúng V.I Lênin viết: “Chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số chân lý tương đối, trong sự phát triển của chúng…Trong mỗi chân lý mặc dù luôn có tính tương đối của nó, song vẫn có một phần chân lý tuyệt đối”[34; tr.433]

Lịch sử nhận thức khoa học đã chứng tỏ rằng, mỗi khi có sự đảo lộn trong khoahọc thì không có nghĩa là những nguyên lý, quy luật mà khoa học phát hiện ra trước đó

là hoàn toàn sai lầm; tr.ái lại, điều đó chỉ nói lên giới hạn nhận thức của chúng ta vềđối tượng ấy, trong lúc ấy là chưa đủ

Về vấn đề thực tiễn là tiêu chuẩn để kiệm nghiệm chân lý Ngay từ những năm 1845,

C.Mác đã xác định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có đạt được tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng min h tính hiện thực và sức mạnh tính trần tục của tư duy mình Sự tranh cãi tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần tuý”[11; tr.9-10] Triết học Mác xem thực tiễn

là tồn tại có tính lịch sử - xã hội của con người, một tồn tại toàn thế giới như một hoạt độngtất yếu ngày càng thể hiện sự khác biệt giữa con người và loài vật Thực tiễn như quá trình

có mục đích hướng đến cải biến giới tự nhiên và xã hội, quyết định tất cả các yếu tố nhậnthức, là động lực và tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là mối dây liên hệ, là chiếc cầu hoặc

là điểm giao thoa mối liên hệ giữa chủ quan và khách quan Song thực tiễn kiểm nghiệmnhận thức luôn là một quá trình nên nó có tính hạn chế nhất định dưới sự chế định củanhững điều kiện lịch sử hiện có Mặt khác, điều kiện lịch sử lại vận động, biến đổikhông ngừng, nên thực tiễn cũng không ngừng phá vỡ tính hạn chế này

Tóm lại, thông qua sự phân tích các yếu tố của chân lý cho ta thấy tính mở của hệ

thống triết học Mác được thể hiện ở những vấn đề sau:

Thứ nhất, bản chất của chân lý là không thể chứa đựng tính chủ quan, xuyên tạc

thực tế khách quan

Thứ hai, thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý, không thể lấy lợi ích, ý chí,

nguyện vọng của bất cứ ai làm căn cứ tiêu chuẩn đánh giá Nhận thức sự vật hiệntượng phải phù hợp với quy luật của vận động khách quan Để tránh đi khuynh hướng

Trang 22

chủ nghĩa tương đối - phủ nhận khả năng đạt đến chân lý và tránh khuynh hướng giáođiều khi khẳng định chân lý là vĩnh cửu cho mọi thời đại Đòi hỏi chúng ta phải xemxét chân lý trong hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Thực tiễn giai đoạn sau là bổ sung đầy đủhơn cho giai đoạn trước, đồng thời nó cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra lại, đánh giá mộtcách đầy đủ hơn tri thức phản ánh thực tiễn khách quan của giai đoạn trước.

Thứ ba, mỗi bước tiến của nhận thức đều là sự tiếp cận thế giới khách quan trong

sự vận động, phát triển không ngừng Trên cơ sở này, thừa nhận con người có khảnăng nắm bắt được tri thức chinh xác về thế giới khách quan, tức thừa nhận chân lýtuyệt đối Mặt khác, chúng ta cũng thừa nhận chân lý tương đối dưới sự chế định củanhững điều kiện lịch sử nhất định

Thứ tư, vì thực tiễn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng; đồng thời

con người luôn muốn vươn tới chân lý tuyệt đối nên nhận thức phải thông qua nấcthang của các chân lý tương đối Vì vậy, mà luôn cần đến nổ lực của tư duy trước sựphát triển của tri thức nhân loại

Thứ năm, ta thừa nhận chân lý là sự tiếp cận gần đến bản chất khách quan được

đặt trong quá trình phát triển của lịch sử chứ không phải trong trạng thái đứng im, tĩnhtại Nên luôn cần xét đến tính mở của nó

Như vậy, việc nhận thức đầy đủ lý luận về chân lý của hệ thống triết học Mác làmột vấn đề mở có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nhìn nhận và cải tạo thế giới,thúc đẩy lịch sử nhân loại tiến vững chắc về tương lai

2.2 Vấn đề lý luận nhận thức và thực tiễn

2.2.1 Vấn đề lý luận nhận thức

Lý luận nhận thức là một trong những chủ đề lớn, đóng vai trò chủ yếu trong lịch

sử tư tưởng triết học nhân loại Cho thấy sự khác nhau giữa các trường phái triết họcthể hiện trong việc tìm hiểu nguồn gốc, quy luật nhận thức, tiêu chuẩn của chân lý vàvai trò của các phương pháp nhận thức Ngay từ thời cổ đại, khả năng và giới hạn củanhận thức đã được Platôn đặt ra khi nêu vấn đề: “tri thức là gì?” Có thể nói lý luậnnhận thức là bộ phận nghiên cứu mối quan hệ của chủ thể và khách thể trong quá trìnhhoạt động nhận thức, khả năng nhận thức của con người, tiêu chuẩn của chân lý và tínhđáng tin của tri thức

Được nêu trong quan điểm về nhận thức của các trào lưu triết học trước Mác nhưsau: xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủ nghĩa

Trang 23

duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức chỉ là những phức hợp cảm giác của con người.Còn chủ nghĩa duy tâm khách quan lại cho rằng, nhận thức là sự hồi tưởng lại của linhhồn bất tử về thế giới các ý niệm mà nó từng chiêm nghiệm nhưng đã bị lãng quên;hoặc cho rằng, nhận thức là tự ý thức về mình và ý niệm tuyệt đối Những người theothuyết hoài nghi biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắccủa nhận thức.

Đối lập với những quan điểm trên, những nhà duy vật trước Mác thừa nhận khảnăng nhận thức thế giới của con người thông qua quá trình phản ánh hiện thực kháchquan vào trong bộ óc con người Tuy nhiên, họ đã không hiểu hết ý nghĩa to lớn củaphép biện chứng đối với nhận thức V.I.Lênin từng nhận định, thiếu sót của chủ nghĩaduy vật trước Mác là ở chỗ các đại biểu của nó không biết áp dụng phép biện chứngvào lý luận nhận thức và do đó, biến nó thành siêu hình Đó chỉ là sự quan sát thụ độngcác sự vật, hiện tượng xung quanh, là sự phản ánh đơn giản, máy móc quy luật của thếgiới vào ý thức con người Theo ý kiến của họ thì sự vật không thể đồng thời mangtrong nó cái vừa cũ, vừa mới, cái khẳng định và cái phủ định mà muốn cho sự vậtkhông phá hoại trạng thái hoà hợp, cân bằng thì buộc nó chỉ mang một mặt đối lập màthôi

Tóm lại, thiếu sót cơ bản của tất cả lý luận nhận thức trước Mác, trừ Hêghenchính là ở chỗ, các đại biểu của nó đã tuyệt đối hoá phương pháp nhận thức siêu hình,cho nó là phương pháp duy nhất và phổ biến có khả năng nghiên cứu các hiện tượngxung quanh chúng ta Họ đã không tính đến bản chất phức tạp, tính muôn vẻ, tính mâuthuẫn của nhận thức, đã không xét đến tính biện chứng của quá trình nhận thức Nênquan điểm của các nhà triết học trước Mác đã không đạt tới nhận thức đúng đắn, thật

sự khoa học về vấn đề quan hệ giữa chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối và chân lýtương đối Nhiều người cũng đã không thể hiểu đúng cả những vấn đề quan trọng của

lý luận nhận thức như quan hệ giữa cảm tính và lý tính, cảm giác và tư duy…Mặtkhác, nó còn không đề ra một cách đúng đắn vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của lýluận nhận thức là xác nhận vai trò của thực tiễn là cơ sở của toàn bộ quá trình nhậnthức, là tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý và là mục đích cuối cùng của nhậnthức Bởi hạn chế cơ bản nhất của nó là mang tính chất trực quan trong khi, mối liên

hệ không thể tách rời giữa lý luận nhận thức và thực tiễn là điều không thể phủ nhận

Ngày đăng: 16/04/2015, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. A.Niel (1969): Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb.Tiến Bộ, Mátxcơva, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhận thức biện chứng
Tác giả: A.Niel
Nhà XB: Nxb.Tiến Bộ
Năm: 1969
7. C.Mác và Ph.Ăngghen (1998), toàn tập, t.46, phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), toàn tập, t.23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
9. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), toàn tập, t.42, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
10. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), toàn tập, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
12. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
14. C.Mác và Ph.Ăngghen (1998), toàn tập, t.37, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Phạm Văn Chung (2006): Triết học Mác về lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác về lịch sử
Tác giả: Phạm Văn Chung
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Trần Tiễn Đạt (chủ biên) (2006): Nguyên lý triết học chủ nghĩa Mác, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý triết học chủ nghĩa Mác
Tác giả: Trần Tiễn Đạt
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
21. Giắccơ Đêriđa (1944): Những bóng ma của Mác, Nxb. Chính trị quốc gia, tổng cục II bộ quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bóng ma của Mác
Tác giả: Giắccơ Đêriđa
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1944
30. Đặng Hữu Toàn (2002): Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
34. V.I.Lênin (1980), toàn tập, t.17, Nxb.Tiến Bộ, Mátxcơva, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb.Tiến Bộ
Năm: 1980
1. A-Lê-Xăng-Đờ-Rốp (1955): Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Nxb.Sự Thật, Hà Nội.(Phan Nam dịch) Khác
3. Nguyễn Trần Bạc (2005): Suy Tưởng, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Khác
4. Trương Lê Bắc - Tự Lập Bình (1997): Lịch sử, hiện tượng và tương lai của CNXH, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Bộ giáo dục và đào tạo (2006): Giáo trình triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không chuyên nghành triết học), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Khác
6. C.Mác và Ph.Ăngghen - V.I.Lênin (1986): Về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản (tập 1), Nxb. Sự Thật, Hà Nội Khác
11. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), toàn tập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. C.Mác và Ph.Ăngghen (1998), toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Dõan Chính - Đinh Ngọc Thạch (2003): Triết học Mác về Lịch Sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w