1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn triết học vấn đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần

53 2,8K 35

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 353 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít, thoát thai từ sự đỗ vỡ truyền thống cổđiển, đã phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp với nhiều khuynh hướng chủ đạo.Trong dòng chảy của Tr

Trang 1

MỤC LỤC

TRANG

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÂN NHÁNH CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 4

1.1 Quá trình hình thành của chủ nghĩa hiện sinh 4

1.1.1 Điều kiện lịch sử dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa hiện sinh 4

1.1.2 Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa hiện sinh 7

1.2 Thực chất sự phân nhánh của chủ nghĩa hiện sinh 13

1.2.1 Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần 14

1.2.2 Chủ nghĩa hiện sinh vô thần 16

CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO CON NGƯỜI TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÔ THẦN 19

2.1 Sự mâu thuẫn trong vấn đề con người 19

2.1.1 Con người như cá nhân độc đáo và tự do 20

2.1.2 Con người với tâm trạng lo âu, cô đơn giữa “tha nhân” và đồng thời như một dự phóng 24

2.2 Mối quan hệ cá nhân – xã hội trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần 29

2.2.1 Tính quy định xã hội đối với cá nhân 29

2.2.2 Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội 30

2.3 Quan niệm về tha hóa và tính chất hai mặt của chủ nghĩa hiện sinh vô thần 32

2.3.1 Quan niệm về tha hóa trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần 32

2.3.2 Tính chất hai mặt của chủ nghĩa hiện sinh vô thần 36

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Triết học Phương Tây hiện đại ngoài mácxít ra đời từ khoảng giữa thế ký XIX, tạothành một giai đoạn mới trong tiến trình lịch sử triết học thế giới Cho đến nay, khôngthể phủ nhận những đóng góp to lớn của nó vào kho tàng tri thức của nhân loại Khibàn về công tác lý luận, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhận định: “Trong nhiều năm qua,nội dung đào tạo đội ngũ lý luận hầu như chỉ bó hẹp trong các bộ môn khoa họcMác – Lênin, chưa coi trọng việc nghiên cứu các trào lưu khác ”[21] Do đó, tìm hiểu,nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít là cần thiết, quan trọng nhằmphát triển trình độ tư duy lý luận và nâng cao năng lực nhận thức của con người; hơnthế nữa là chắt lọc những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại

Triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít, thoát thai từ sự đỗ vỡ truyền thống cổđiển, đã phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp với nhiều khuynh hướng chủ đạo.Trong dòng chảy của Triết học phương Tây hiện đại ấy, chủ nghĩa hiện sinh( Existentialism) là một trào lưu phi lý, nhân bản nổi trội, tiểu biểu bậc nhất xuất hiện

vào năm 1927 với tác phẩm “Hữu thể và thời gian”của Martin Heidegger, và kết thúc vào năm 1960 như một triết thuyết lớn với “Phê bình lý trí biện chứng” của Jean Paul

Sartre Trước hết, chủ nghĩa hiện sinh là triết học tâm trạng, đặc trưng cho bầu khôngkhí tinh thần của xã hội tư sản trong thời đại khủng hoảng qua hai cuộc đại chiến thếgiới Đó là thời đại con người bị kẹt trong những mâu thuẫn lịch sử, hoang mang, lạcloài Chủ nghĩa hiện sinh tự nhận là cứu cánh, có thể kéo con người khỏi hậu trườngtối tăm trong nhiều thế kỷ Với sự tiếp nối tuyên ngôn “con người là thước đo của vạnvật”, chủ nghĩa hiện sinh với việc đưa con người lên vị trí độc tôn đã được tán dương,

ưa chuộng và trở thành trào lưu “mốt” những năm 40- 60 thế kỷ XX Chính vì vậy, cóthể nói chủ nghĩa hiện sinh là thứ triết học tâm trạng, tâm trạng con người về thực tạihay nói cách khác là về tồn tại người

Chủ nghĩa hiện sinh vô thần là nhánh triết học không cầu cứu tới Thượng đế haythần thánh Nó nhìn nhận con người, khuếch trương chủ quan tính con người qua lăngkính phi tôn giáo Vì vậy, vấn đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần mangmàu sắc nổi bật, đa diện và phức tạp Nhằm thể hiện đúng tinh thần của Đảng ta:

“Đối với học thuyết khác – ngoài chủ nghĩa Mác- Lênin – về xã hội, cần được nghiêncứu trên quan điểm khách quan, biện chứng”[21] vì vậy tác giả chọn đề tài

Trang 3

“ Vấn đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần” với mong muốn và hi vọng

làm phong phú thêm nguồn hiểu biết về triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít;nhất là trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế mà trong đó có giao lưu vănhoá, tư tưởng Đồng thời, việc tìm hiểu những giá trị và hạn chế của chủ nghĩa hiệnsinh vô thần riêng ở vấn đề con người càng khẳng định hơn nữa tính ưu việt của triếthọc Mác – Lênin đối với triết học phương Tây hiện đại, khẳng định giá trị quý báu củachủ nghĩa Mác – Lênin ở lý tưởng cao cả - lý tưởng giải phóng con người

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này, chẳng hạn:

- Samuel Enoch Stumf, “Lịch sử triết học và các luận đề ”, Nhà xuất bản(Nxb)

Lao Động, Hà Nội, 2004, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch

- Bryan Magee, “Câu chuyện triết học”, Nxb Thống Kê, Hà Nội, 2003, Huỳnh Phan Anh

và Mai Sơn dịch

- Lưu phóng Đồng, “Triết học Phương Tây hiện đại”, Nxb Lý Luận Chính Trị,

Hà Nội, 2004, Lê Khánh Trường dịch

- P.Foulquie, “Chủ nghĩa hiện sinh”, Thế Sự xuất bản, Sài Gòn, 1968, Thụ Nhân dịch.

- Bùi Giáng, “Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại”, Nxb Vĩnh Phước, 1963,

Sài Gòn, 2 tập

- Tam Ích, “Sartre và Heidegger trên thảm xanh”, Hồng Đức Xuất bản, Sài Gòn, 1969

- Lê Tôn Nghiêm, “Những vấn đề triết học hiện đại”, Ra Khơi Xuất bản, Sài Gòn,

- Nguyễn Hào Hải, “Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại”,

Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001

Trang 4

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

Mục đích nghiên cứu:

Đề tài khóa luận nhằm phân tích một cách cụ thể, rõ nét những nội dung cơ bản vềvấn đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, qua đó bước đầu nêu bật vàđánh giá những giá trị cũng như hạn chế của nó Thông qua nghiên cứu vấn đề conngười trong chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, đề tài khóa luận nhằm khẳng định tínhkhoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin trong quan điểm về con người, đồng thời chỉ ra

sự cần thiết phát triển quan điểm đó trong điều kiện hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khái quát sự hình thành và quá trình phân nhánh của chủ nghĩa hiện sinh

Từ đó, thấy được những khác biệt giữa hiện sinh vô thần và hiện sinh hữu thần trongquan niệm về con người

Thứ hai, trình bày và phân tích những nội dung cơ bản trong vấn đề con ngườitrong chủ nghĩa hiện sinh vô thần

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Khóa luận tập trung tìm hiểu những nội dung cơ bản trong vấn đề con người củachủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần

Trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung trực tiếp khảo cứu

tư tưởng những đại biểu hiện sinh vô thần như Nietzsche, Heidegger, Sartre, thông quamột số tác phẩm tiêu biểu của họ

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, khóa luận còn kếthợp phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp – diễn dịch,phương pháp so sánh…

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống và cụ thể những nội dung cơ bản của vấn

đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần, khóa luận nêu bật và đánh giá kháchquan những giá trị, hạn chế của nó Từ đó, khóa luận góp thêm một cách nhìn về thựcchất của chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, nhất là vấn đề con người

Trang 5

7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết:

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÂN NHÁNH

CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 1.1 Qúa trình hình thành chủ nghĩa hiện sinh

1.1.1 Điều kiện lịch sử dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học xuất phát từ việc biểu thị ý nghĩa tồntại thật sự của con người, tiến tới vạch ra mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội và thếgiới Nó được coi là một trong các học thuyết Triết học phương Tây hiện đại ngoàimácxít nổi trội nhất; là triết học của thời đại khủng hoảng, thể hiện sự khủng hoảngcủa xã hội sau hai cuộc đại chiến thế giới Trong chủ nghĩa hiện sinh, khuynh hướngphi duy lý (irrationalism) chiếm ưu thế, thể hiện rõ tâm trạng bi quan và thất vọng củacon người đối với nền văn minh tư sản trong thế kỷ XX Vì vậy, muốn hiểu cặn kẽ vàchính xác về chủ nghĩa hiện sinh không thể không đặt nó vào bối cảnh thời đại cụ thể -

xã hội phương Tây thế kỷ XX mà nó là đứa con tinh thần tiêu biểu

Chủ nghĩa hiện sinh được ra đời chính thức vào năm 1927, người mở đầu chotrào lưu này là Martin Heidegger với tác phẩm nổi tiếng của ông là “Hữu thể và thờigian” và kết thúc vào năm 1960 với tác phẩm “Phê bình lý trí biện chứng” của JeanPaul Sartre

Với tư cách là một trào lưu triết học, chủ nghĩa hiện sinh bắt đầu hình thành tạinước Đức ngay sau đại chiến thế giới thứ nhất kết thúc Những biến cố xã hội khôngđồng nhịp gắn liền với chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, gắn liềnvới cuộc chiến,… đã tạo ra thay đổi sâu sắc trong ý thức xã hội của giai cấp tư sản.Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) là kết quả tất yếu từ sự phát triểnkinh tế của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX – khi nó đãchuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Từ góc độ chính trị, chiếntranh thế giới lần thứ nhất là kết quả của sự gãy đổ cán cân quyền lực quốc tế Trongtác phẩm “Chủ nghĩa đến quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Lênin đã nhậnđịnh: “…bước chuyển của chủ nghĩa tư bản, giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền,sang tư bản tài chính, là gắn liền với cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt nhằm phân chialại thị trường thế giới” [12; tr475]

Trang 6

Đế quốc Đức hung hăng nhất vì Đức có tiềm lực kinh tế và quân sự nhưng lại có ítthuộc địa Lúc đó, châu Âu hình thành hai tập đoàn gây chiến, chống đối nhau : một bên làĐức, Áo – Hung, và Thổ Nhĩ Kỳ; một bên là Anh, Pháp, Nga Cả hai tập đoàn này đều ômmộng xâm lược và điên cuồng chạy đua vũ trang Đức cũng như các nước tham chiến khácđều muốn cầm bút vẽ lại bản đồ thế giới Nhưng hậu quả là một nước Đức bại trận và kiệtquệ sau chiến tranh khiến con người trở nên mơ hồ, hoang mang và dao động Chiến tranhthế giới lần thứ nhất đảo lộn cả châu Âu cà cũng đảo lộn cả đời sống kinh tế - xã hội – chínhtrị - tư tưởng các nước tham chiến Chính điều này đã làm thay đổi một cách sâu sắc trong ýthức hệ của giai cấp tư sản lúc bấy giờ, một bộ phận không nhỏ người dân Đức ý thức mơ

hồ về sự cáo chung của lịch sử, dẫn đến hình thành tâm trạng lo âu về một cuộc sống vớithân phận nhỏ bé của con người ngày càng rõ rệt hơn

Làn sóng mới của chủ nghĩa hiện sinh lại nổi lên ở Pháp vào thời kỳ trong và sauđại chiến thế giới thứ hai (1939 - 1945) Nguyên nhân của cuộc chiến tranh thế giới thứhai là do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 1929-1933 Trận đạisuy thoái làm những mâu thuẫn vốn có giữa các nước đế quốc thêm phần gay gắt.Nhân loại tưởng như sẽ ổn định khi vừa thoát ra khỏi bốn năm súng đạn nay lại tiếptục bị đeo bám bởi cuộc đại khủng hoảng, bởi một đại chiến khốc liệt hơn… Cuộcchiến tranh thế giới lần hai đã thiêu rụi mọi thành quả của xã hội tư sản, lớp son cuốicùng đã cháy tan thành tro bụi để lộ ra những vết loét của một cơ thể kinh tế - chính trịnhiều khiếm khuyết Chiến tranh thế giới lần hai là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệtnhất tàn phá nhất trong lịch sử loài người Chỉ cần so sánh, đối chiếu giữa hai cuộcchiến tranh cúng đủ thấy tính chất, quy mô, phạm vi của đại chiến lần hai so với lầnmột: số nước tham chiến đông hơn, số người chết, bị thương và tàn tật nhiều hơn gấpbội… Những tiếng súng đầu tiên của cuộc chiến cũng gắn liền với lệnh tổng động viên

ở Pháp Những con người bị ném vào cuộc chiến ngoài ý muốn của mình Nhưng Phápbại trận vào mùa hè năm 1940, rơi vào sự chiếm đóng của Đức Quốc xã Kết thúcchiến tranh, phần thắng thuộc về phe Đồng minh Con người nhận thấy những gì?Chiến tranh phơi bày ra quá nhiều bi thảm, chết chóc, điêu linh Hiểm họa phát xít, diệtchủng như bóng mây đen ám ảnh bầu trời châu Âu những năm thế chiến thứ hai Người

ta có cảm tưởng rằng mình chỉ là những chi tiết vụn vặt, vô nghĩa trong guồng máy chếtchóc vô hình Chiến tranh đã không làm cho thế giới được phân định rõ ràng, tươi sánghơn như cái “ý muốn” ngộ nghĩnh, giả tạo của giới cầm quyền các cường quốc

Trang 7

Như vậy, có thể thấy điều kiện lịch sử phương Tây (cụ thể là nước Đức và nướcPháp) qua hai cuộc đại chiến chính là mảnh đất hiện thực vô cùng phù hợp với dòngtriết học nhân bản, phi duy lý của thế kỷ XX – Chủ nghĩa hiện sinh Trong thời đạikhủng hoảng với những đảo lộn, những biến cố, triết học hiện sinh xuất hiện để ghi lạiđậm nét tâm trạng của thời đại ấy Điều này giải thích vì sao triết học hiện sinh là triếthọc tâm trạng Đơn giản vì nó bầu chứa những lo âu, sợ hãi, hoang mang, dao động;những khiếp đảm, hoài nghi, bấn loạn của một thế hệ, của một thời đại.

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trên nền đổ nát của một châu Âu điêu tàn, mộtnước Đức bại trận, một nước Pháp từng bị phát xít chiếm đóng Những cuộc đại chiếntàn khốc, quy mô chính là nguyên nhân về mặt xã hội ra đời chủ nghĩa hiện sinh.Nhưng tại sao chiến tranh lại gia tăng và bành trướng vào ngay thời đại của tiến bộ vềkinh tế, khoa học và kỹ thuật Sự giàu có về vật chất của thế giới, tại sao, lại khôngtương đồng với hòa bình cho nhân loại, hạnh phúc cho mọi người ?

Chủ nghĩa hiện sinh phản ánh tâm trạng của một thời đại khủng hoảng; lo sợ,hoang mang bởi những cuộc chiến và cũng hoang mang, lo sợ bởi sự thay đổi đếnchóng mặt của khoa học - kỹ thuật!

Khi trở thành lực lượng thống trị, giai cấp tư sản hầu như không cần đến cáchmạng xã hội nữa, mà tập trung vào các cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật với mụcđích phát triển nhanh chóng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và cũng để củng cố đại vịcủa mình Bằng cuộc cách mạng công nghiệp (và sau đó là cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ), chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bỏ lại phía sau thời kỳ cổ điển đểbước sang thời hiện đại Lúc đầu, khoa học – kỹ thuật được coi như là chiếc chìa khóavạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề của xã hội, khắc phục những mâu thuẫn Thếnhưng, chiến tranh xảy ra liên tiếp Hai cuộc chiến với hàng triệu người thương vong,với những tổn thất trầm trọng thực sự làm châu Âu chao đảo Khoa học – kỹ thuật pháttriển nhưng kinh tế vẫn rơi vào thời kỳ suy thoái (1923 – 1933) Bom nguyên tử vànhững hậu quả tàn phá khủng khiếp khi sử dụng nó đã gieo vào con người mối hồ nghi:khoa học tiêu diệt con người? Đối với chiến tranh, con người bị đặt vào thế hy sinh nhưnhững quân tốt thí mạng trên một ván cờ lụn bại Đối với khoa học – kỹ thuật, con người

bị “vật hóa”, trở thành những chi tiết nhỏ nhặt, “sống” như một cỗ máy hết phầnsinh động Dường như, ở bất kỳ đâu, vào bất cứ lúc nào con người cũng chỉ thừa thãi,

mờ nhạt, bị che lấp Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện với “sứ mệnh” đưa con người ra khỏi

Trang 8

những nơi chốn cũ kỹ, đặt con người vào vị trí trung tâm – không có chiến tranh, không

có khoa học kỹ thuật Thế nên, chủ nghĩa hiện sinh không phải là trào lưu duy khoa học

Nó là trào lưu phi duy lý, nhân bản tiêu biểu, điển hình Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng,trong một thời đại vô vàn biến cố, đổi thay thì những công thức của chủ nghĩa duy lý trởnên lỗi thời, lạc hậu; những phạm trù của triết học duy lý trở nên chật hẹp, không đủ tảichứa nội tâm con người; ngòi bút duy lý sẽ bất lực trước nỗi đau Chủ nghĩa hiện sinh còn

là một tâm tính xác định trong con người của thời hiện đại ở phương Tây

Tóm lại, xã hội với những biến đổi chóng mặt theo chiều hướng không đồngnhịp, làm xuất hiện trên nền những biến cố của thời đại những con người luôn rơi vàotâm trạng lo âu, mang đầy tâm trạng Việc phân tích chủ nghĩa hiện sinh còn cho phépchúng ta hiểu rõ hơn những chuyển biến văn hoá ở thế kỷ XX, những chuyển biến vẫnđang có tác động mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của con người phương Tây hiện đại.Lúc này, triết học hiện sinh chiếm ưu thế trong khuynh hướng phi duy lý của phươngTây hiện đại thế kỷ XX

1.1.2 Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa hiện sinh

Bất kỳ một nhân vật lịch sử nào, một nhà tư tưởng, một học thuyết triết học nàocũng gắn với điều kiện lịch sử xã hội Đúng như C.Mác nói: “Các triết gia không mọclên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà dòng sữatinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong một trong những dòng tưtưởng triết học” [12; tr156] Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện và phát triển với tư cách làtrào lưu triết học trong triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít, không thể không

kế thừa những tư tưởng trước đó

Nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa hiện sinh là Socrates (469-339 tr.CN) với khẩuhiệu “Hãy tự nhận biết chính mình” [4; tr131]; kinh thánh với những lời huyền nhiệm

về Chúa cứu thế và về thân phân con người St.Augustin (354-430) với tư tưởng về sựgiằng xé tâm hồn, nỗi ưu tư khi trước Chúa Vực sâu trong lương tâm con người bịphơi bày trần trụi; Blaise Pascal (1623-1662) với câu nói: “Hãy để cho con người,bằng cách trở lại với mình, xem xét những gì mà họ đang so sánh với cái đang hiệnhữu; hãy để cho họ xem mình như đã lạc loài…”[25; tr131]

Những bậc tiền bối trực tiếp chuẩn bị cho chủ nghĩa hiện sinh, ra đời làS.Kierkegaard và Nietzsche S.Kierkegaard là ông tổ của hiện sinh hữu thần (hiện sinhtôn giáo) còn Nietzsche là ông tổ của hiện sinh vô thần Họ chính là những người trực

Trang 9

tiếp đưa ra tư tưởng cốt lõi của thuyết hiện sinh Các nhà hiện sinh sau này đã kế thừa,phát triển và làm phong phú hơn những tư tưởng đó, để xây dựng nên một triết học hiệnsinh hoàn chỉnh, tồn tại với tư cách là một triết thuyết nhân bản, phi duy lý tiêu biểu Soren Kierkegaard (1813 - 1855) là một triết gia nổi tiếng Đan Mạch, được xem

là người mở đầu cho chủ nghĩa hiện sinh Ông sống vào thời đại mà triết học củaHêghen như một đỉnh cao, và bản thân Hêghen là một cái bóng vĩ đại S.Kierkegaard,với tư cách là người khai mở dòng triết học mới nhất định phải tấn công vào hệ thốngtriết học cũ – triết học duy lý, mà con đường ngắn nhất là công phá Hêghen.S.Kierkegaard cho rằng triết học Hêghen đã không đưa ra hướng dẫn nào về điều màmột cá nhân phải làm Hêghen, theo Kierkegaard, chỉ giải thích mọi điều dưới dạngnhững tầm bao quát rộng lớn của ý niệm tuyệt đối trong đó những sự việc có thực,những thực thể cá nhân không được nhắc đến Sự phê phán của Kierkegaard đối vớiHêghen là sự phê phán đối với chủ nghĩa duy tâm Nhưng điều đó cũng không đưaKierkegaard đến lập trường duy vật

Muốn hiểu được tư tưởng của Kierkegaard không thể không phác họa đôi nét vềcuộc đời ông Bởi nét độc đáo để phân biệt tư tưởng Kierkegaard là ở chổ ông sống vớinhững tư tưởng ấy, hay nói đúng hơn chúng được rút ra từ cuộc sống của bản thân ông

S Kierkegaard sinh ngày 5 – 5 – 1813 trong một gia đình gồm ba chị em gái và

ba anh trai Kierkegaard là con út, là người con thứ bảy trong gia đình Cha củaKierkegaard là ông Mikael Pederson Kierkegaard Ông đã thông truyền cho cho cậu béKierkegaard một tình cảm tôn giáo mạnh mẽ Thời tuổi trẻ, Kierkegaard sống mộtcuộc sống phóng túng của một cậu sinh viên giàu có Nhưng ông vẫn nghiên cứu thầnhọc và tham gia vào một số phong trào tôn giáo Nói theo cách khác, cảm thức tôngiáo nơi ông không hề mất đi

Trong vài năm, những người anh chị của Kierkegaard đều qua đời (khi còn rấttrẻ) Chỉ còn lại Kierkegaard và người anh cả, sau đó cha của Kierkegaard cũng quađời Thời gian như hối thúc Kierkegaard rằng cuộc sống còn rất ngắn ngủi Cuộc sốngnhư nhắc nhở ông hãy dùng những ngày tháng còn lại để phụng sự cho Thượng đế.Gia đình và hoàn cảnh sống của Kierkegaard đã tạo nên những nét riêng biệt trong tưtưởng của ông Những tác phẩm của ông để lại, đọc lên có vẻ như là những lời tự sựcủa một con người ý thức sâu sắc với thời đại Có một bóng tối vĩnh hằng nằm sâuthẳm trong tâm hồn ông

Trang 10

Cuốn sách đầu tiên của Kierkegaard nhan đề “hoặc là…hoặc là” (1843) lập tứctrở thành một sự kiện văn học Cuốn sách là sự hoà trộn kỳ lạ của những lời tựa, lờinói đầu, những đoạn chêm, tái bút, phụ lục, những thư từ, thơ và nhật ký Đây là mộttác phẩm rất phong phú, đầy những tư tưởng hết sức mâu thuẫn về tôn giáo, siêu hình

và nghệ thuật, “Tác giả” của sách không phải một người mà là nhiều người Việc rasách dưới nhiều bút danh đã thành một thói quen của Kierkegaard Ông muốn tạo ramột chuỗi sự “gián tiếp”, kể bằng các giọng điệu khác nhau với nhiều cuộc đời khácnhau và những giá trị đạo đức đối lập nhau Với Kierkegaard, cá nhân có nhiều cáibóng của mình, tất cả chúng đều giống mình và thỉnh thoảng lại đòi là chính bản thânmình Và cũng trong tác phẩm này, Kierkegaard đã đưa ra một lược đồ các giai đoạncủa hiện sinh con người: Thẩm mỹ - đạo đức – tôn giáo Kết thúc tác phẩm,Kierkegaard nhắc đến một chủ đề (được lặp đi lặp lại như điệp khúc): Trước mặtThượng đế, chúng ta luôn luôn sai lầm Mọi hy vọng về một sự biện chứng cho conngười nhờ vào con người đã bị phủ nhận Có thể nói, ngay ở tác phẩm đầu tiên này,Kierkegaard đã thể hiện rất rõ thái độ tôn sùng của ông đối với Thượng đế TheoKierkegaard, tội lỗi đã ngăn cách con người với Thượng đế, với tha nhân và với chínhmình Và tội lỗi chỉ có thể cứu chuộc bằng hy sinh Luận đề này đã chi phối toàn bộcuộc đời cũng như tác phẩm của ông Nói về điều này, Kierkegaard phụng sự cho chân

lý cũng là một sự hy sinh lớn nhất với Kierkegaard, ý nghĩa của chân lý chính là dânghiến đời mình cho chân lý Và vào thời đại Kierkegaard sống, Kytô giáo đã bị làm biếndạng trong đời sống tôn giáo Đan Mạch Thế nên, cần phải có một người dám chết vìKytô giáo, dám chết vì chân lý Hiến mình cho Thượng đế là một chỉ dẫn hiện sinh cao

cả nhất

Sau tác phẩm đầu tiên vài tháng, “Sợ hãi và run rẩy” ra đời, được đánh giá là

một trong tác phẩm hoàn hảo nhất của Kierkegaard Tác phẩm là sự suy niệm về tôngiáo, lý giải về đức tin, tập trung chú giải một câu chuyện trong Kinh thánh: Abrahamhiến người con Issac cho Thượng đế Abraham là “hiệp sĩ đức tin” của Kierkegaard.Tại sao Abraham lại hiến con người cho Thượng đế? Kierkegaard trả lời: “Vì Thiênchúa và vì chính bản thân ông - cả hai cũng là một Ông làm thế vì Thiên chúa, bởi vìThiên chúa đòi hỏi bằng chính đức tin này của ông” [11; tr 526]

Trong sự nghiệp phụng sự cho tôn giáo, hiến mình cho Thượng đế, Kierkegaard

đã sáng tạo ra khối lượng đáng kể các tác phẩm: “sự hồi khởi”, “ý niệm xao xuyến”…

Trang 11

Kierkegaard được người ta ca tụng, nhưng đối với Kierkegaard lại là sự thất bại, vìngười ta không hiểu ông Người ta xem ông như một nhà văn nổi danh chứ không phảimột triết gia thức tỉnh cá nhân Nếu với tư cách là tác phẩm triết học, những sách củaông bị rơi vào lãng quên cũng như bản thân ông hoàn toàn cô độc giữa Đan Mạch khi

đó Triết học, theo như Kierkegaard, phải là một sự suy niệm về cuộc đời, một sự giảiminh về hiện hữu con người

Cùng với Kierkegaard, Friedrich Nietzsche (1844 – 1900) đã đặt nền móng

tư tưởng cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ XX Là con trai một mục sư, suốt thời niênthiếu nhà triết học người Đức cũng có niềm tin vào Kytô giáo, cũng là một kẻ mộ đạo

Về điểm này, Nietzsche cũng như Kierkegaard của Đan Mạch Nhưng dần dần lòng tin

ấy yếu đi và mất hẳn Rốt cuộc, Nietzsche chống lại cả Thượng đế Thế nên cũng tạobước ngoặc trong lịch sử, nhưng Nietzsche lại được nhắc tới như ông tổ của chủ nghĩahiện sinh vô thần Bằng tuyên ngôn “đảo lộn mọi giá trị”, Nietzsche đã khích lệ những

cá nhân hãy sống là mình, vượt lên trên tất cả mọi ràng buộc, chuẩn mực, kể cả đó làThượng đế

Tư tưởng của Nietzsche nổi bật hai mảng vấn đề trọng tâm Thứ nhất, Nietzsche

đã phê phán truyền thống một cách gay gắt Thứ hai, Nietzsche đòi hỏi xác lập nhữnggiá trị mới, đưa ra ý chí quyền lực để xây dựng hình ảnh con người siêu nhân

Để phê phán và lật đổ hết thảy các giá trị luân lý cổ truyền, Nietzsche hướngtrọng tâm vào việc phân tách đạo đức nhân loại thành đạo đức ông chủ và đạo đức nô

lệ Đạo đức ông chủ là đạo đức của giai cấp thống trị, giai cấp quý tộc, mang bản chấttốt đẹp và cao cả Giai cấp thống trị coi mình cao hơn quần chúng và khinh bỉ họ Giaicấp thống trị tự định nghĩa là tốt, họ không bị phán đoán bởi các giá trị hiện hữu độclập, nhưng họ là người sáng tạo ra các giá trị Đạo đức nô lệ thuộc về những kẻ bịkiềm chế, sống trong khổ đau, và không chắc chắn về bản thân mình Đạo đức ông chủ

là quyền lực, sức sống, kiêu hãnh; còn đạo đức nô lệ là sự hèn nhát, sợ sệt, khiêm tốn.Đạo đức nô lệ mang bản chất xấu Sự phân biệt giữa đạo đức ông chủ và đạo đức nô lệ

là giữa tốt và xấu, chứ không phải giữa thiện và ác

Nếu như Kierkegaard nhìn nhận sinh hoạt tôn giáo là hiện sinh cao quý nhất vàtrung thực nhất thì Nietzsche kịch liệt lên án tôn giáo và coi tôn giáo là hình thức hiệnsinh nô lệ Nietzsche rao giảng về cái chết của Thượng đế Ông kêu gọi con người giếtchết Thượng đế để có cơ may trở thành siêu nhân Con người không thể chịu đựng

Trang 12

trước một hoàn cảnh đáng thương là bao giờ mình cũng đầy tội lỗi Nên Thượng đếchết, thì con người sẽ không còn tội lỗi Giờ đây con người chỉ cần dựa vào bản thânmình, phải dám bắt đầu cuộc hành trình dấn thân Và ở đây, ý chí quyền lực trong tưtưởng triết học của Nietzsche được nêu bật lên một cách mạnh mẽ Triết học củaNietzsche là triết học “đảo lộn mọi giá trị” Nietzsche đã trao cho con người cá nhânkhả năng vượt qua những hạn định thông thường, với một ý chí tự quyết độc đáo vàvượt trội Ở Nietzsche, không chỉ còn là ý chí sinh tồn mà là một ý chí vươn lên quyềnlực, đạp lên trên tất cả, dẫm nát những luân lý thông thường và trở thành siêu nhân.Nietzsche đón chào thế hệ người siêu nhân như một thế hệ huy hoàng của nhân loại.Nietzsche dành rất nhiều tâm huyết xây dựng hình tượng siêu nhân Nhiệm vụ của lịch

sử, của thời đại theo Nietzsche chỉ là để sản sinh ra những mẫu người siêu nhân mà thôi.Kierkegaard và Nietzsche đã không chịu bước vào vòng thao túng của chủ nghĩaduy lý Sự nghiệp sáng tạo của hai ông lại rất hoà nhịp với thế kỷ XX Những phạm trùhiện sinh của Kierkegaard (âu lo, sợ hãi, đức tin) và tư tưởng về hình mẫu siêu nhân củaNietzsche ( thể hiện trong tác phẩm “Zarathoustra đã nói như thế”) đã đặt nền móng chochủ nghĩa hiện sinh hiện đại Trên nền tảng tư tưởng ấy, chủ nghĩa hiện sinh phát triểnnhư một triết thuyết bởi vì đã kế thừa phương pháp từ hiện tượng học

Chủ nghĩa hiện sinh kế thừa trực tiếp và phát triển những tư tưởng củaKierkegaard và Nietzsche Hiện tượng học của Edmund Husserl (1859-1938), một nhàtriết học Đức tiêu biểu của thế kỷ XX đã đưa lại cho nó một phương pháp, một cơ sở

lý luận để trở thành triết học Thế nên cũng hợp lý khi nhận định hiện tượng học Đứchợp với tư tưởng của Kierkegaard thành chủ nghĩa hiện sinh

Người có công khai sinh ra phương pháp hiện tượng học là Edmund Husserl(1859 – 1938), một nhà triết học Đức tiêu biểu của thế kỷ XX Hiện tượng học là mộthọc thuyết có tham vọng điều hòa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong lĩnhvực nhận thức luận Nhưng về thực chất, hiện tượng học của Edmund Husserl là mộtnhận thức luận duy tâm chủ quan, do đó ông kêu gọi phải giải phóng nhận thức củachúng ta ra khỏi những “hệ tư tưởng” đã được làm sẵn Ông dùng thuật ngữ “hiệntượng học” để gọi triết học của ông bởi sự từ chối vượt quá chứng cứ hiển nhiên hay

dữ kiện có sẵn đối với ý thức, và các dữ kiện rút ra từ các biểu hiện bề ngoài – các hiệntượng

Trang 13

Theo quan điểm của Edmund Husserl, ông từ chối khẳng định rằng thế giới tồntại hay không tồn tại, trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa chủ thể và kháchthể, Edmund Husserl không đưa ra thái độ đề cao yếu tố nào cả Ông cho rằng có mốiliên hệ tương hỗ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức Mối liên hệtương hỗ đó là do tính ý hướng trong quá trình nhận thức quy định Và cả chủ thể vàkhách thể cùng phối hợp với nhau trong quá trình nhận thức trong tính ý hướng đó.Bên cạnh đó, ông chủ trương khắc phục mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm Nhưng cứ xét theo cách trình bày học thuyết hiện tượng học của ông,

dễ thấy Husserl vẫn đứng trên lập trường duy tâm Theo quan niệm của ông trong hiệntượng học ý thức bao giờ cũng là ý thức về (một cái gì đó) và đối tượng chỉ là đốitượng cho ý thức Ý thức luôn là ý thức về một cái gì Ý thức không tự nó mà có được

Nó nhất định hướng đến một cái gì không phải nó Ý thức cần có đối tượng Và đốitượng thì phải là đối tượng của ý thức chứ không thể là đối tượng thuần tuý Nhận thứckhông còn là gián tiếp thông qua những hiện tượng để đạt tới một bản chất bị che dấu.Cần phải mô tả trực tiếp về đối tượng như nó xuất hiện trước ý thức, mô tả những gì

mà mình đã sống thực và chỉ mô tả những cái đó mà thôi

Thuyết hiện sinh nguyên bản là existentialisme, bắt nguồn từ chữ existence nghĩa

là tồn tại mà ra Nhưng tại sao lại gọi là thế vì nó quan niệm sự tồn tại của con người

có trước bản thể Trong các nước Thiên chúa giáo, người ta quan niệm con người là doChúa tạo ra Chúa tạo ra con người theo ý Chúa Đạo Thiên chúa gắn sự tồn tại củamỗi con người vào “cái ý của Chúa ” này Cái ý chung được thể hiện bằng giới luật,đạo đức,… phải tuân theo Nó chính là bản thể Vì nó vừa có trong mỗi người vừa làmục đính mà Chúa đưa ra bắt con người làm theo Như vậy, con người sinh ra đã cómục đích…, được quyết định bởi một quyền năng siêu phàm nằm ngoài vòng taymình Thuyết hiện sinh phủ nhận con người sinh ra bởi Chúa, như vậy nó phủ nhậncuộc sống bắt đầu bằng một chủ đích Đây chính là điểm khác nhau quan trọng bậcnhất giữa con người và các vật vô tri vô giác khác Nếu con người sinh ra hoàn toàn domột sự ngẫu nhiên, thì các vật vô tri vô giác khác lại được tạo ra từ chủ đích của conngười Ví dụ, trước khi cái cốc tồn tại thì nó phải được con người nghĩ ra cách nặn đấtrồi nung lên (đây là sáng tạo) để dùng đựng nước (đây là mục đích) Như vậy, cái cốckhông thể tồn tại nếu không có ý định của con người Ở đây ý định đi trước sự tồn tại.Ngược lại con người tồn tại rồi mới đi kiếm ý nghĩa cho cuộc sống của mình Ở đây

Trang 14

theo tôi, thuyết hiện sinh đã lý giải rất thông minh câu đố triết học “duy vật hay duytâm” thường được ví dụ bằng chuyện “con gà có trước hay quả trứng có trước” Đốivới con người thì đây là “Duy vật có trước duy tâm”, vì không ai tạo ra con người cả.Đối với các vật thể thì “Duy tâm có trước duy vật”, vì con người không tạo ra cái gì

mà không có mục đích Những vật con người tạo ra, đều được làm theo các quy luật

do con người tìm ra, tức là không phụ thuộc vào vật sẽ được tạo ra, cho nên những quyluật này được coi là khoa học, vì nó khách quan

Hiện tượng học đã “mở ra một chương mới vẻ vang trong lĩnh vực tư tưởng triếthọc thế kỷ XX” [8; tr56], giúp con người “thấy được bên trong cái thế giới bên ngoài”[8; tr56] Hiện tượng học của Husserl là một học thuyết mang nhiều ý nghĩa và rấtphức tạp Các nhà chủ nghĩa hiện sinh hiện đại đã trực tiếp sử dụng phương pháp hiệntượng học để mô tả những cơ cấu của tình cảm, của ý thức Chủ nghĩa hiện sinh thấmnhuần phương pháp hiện tượng học của Husserl Phương pháp hiện tượng học là cơ sở

lý luận của chủ nghĩa hiện sinh

1.2 Thực chất sự phân nhánh của chủ nghĩa hiện sinh

Quá trình phát triển của chủ nghĩa hiện sinh có thể phân ra giai đoạn Đức vàgiai đoạn Pháp Lúc đầu, chủ nghĩa hiện sinh phát triển tập trung tại Đức Bên cạnhM.Heidegger, Karl Jaspers (1883 – 1969) cũng được xem là một đại biểu lớn của chủnghĩa hiện sinh Đức Nói chung, triết học hiện sinh Đức mang màu sắc tâm trạng củanước Đức trong cuộc đại chiến thứ nhất Khi thế lực Quốc xã lên cầm quyền, sự cuồngnhiệt phát xít bao trùm nước Đức, thì chủ nghĩa hiện sinh tạm thời lắng xuống Sau đạichiến thế giới lần hai, chủ nghĩa hiện sinh ở Đức được lưu hành trở lại Nhưng dưới sựthống trị điên cuồng của phát xít rộng khắp nước Đức thì chủ nghĩa hiện sinh tạm thờilắng xuống, và trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh dời từ Đức sang Pháp

Ở Pháp đại biểu chủ yếu của hiện sinh gồm có: Marcel (1889-1978), Jean PaulSartre (1905-1980), Camus (1908-1961), Simone De Beauvoir (1908-1986), Ponty(1908-1961) Đa số họ đều là triết gia kiêm nhà văn, kịch tác gia và nhà chính luận,giỏi vận dụng hình thức văn học nghệ thuật và lối diễn tả dễ hiểu để truyền bá quanđiểm của mình

Chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp trở thành một thứ triết học thời thượng, gắn liền vớitâm trạng bi quan, chán chường, thất vọng của xã hội Pháp trong và sau đại chiến lầnthứ hai Chỉ cần liệt kê những tác phẩm triết học, văn học của các tác gia tiêu biểu

Trang 15

cũng đủ thấy sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp khi đó Nhữngtruyện, kịch, tiểu thuyết văn học mang tính triết lý được người ta đua nhau đọc Những

tác phẩm nổi tiếng như “Buồn nôn”, “Sa đoạ” trở thành kinh thánh của những “con

chiên hiện sinh” chân chính

Như vậy, về quá trình phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, có thể phân ra giai đoạnĐức và giai đoạn Pháp Việc phân ra hai giai đoạn thực chất gắn với bối cảnh cụ thểcủa mỗi đất nước, bối cảnh cụ thể sẽ sản sinh ra những quan điểm cụ thể Nhưng ngaytrong mỗi giai đoạn Đức hay Pháp, chủ nghĩa hiện sinh cũng không hề thuần nhất vàđơn giản

Khi bàn về chủ nghĩa hiện sinh, giới nghiên cứu đều cho rằng đây không phải làmột trào lưu triết học thuần nhất mà là một triết học khá phức tạp ở nội dung những lýthuyết cũng như trong những biến thể của chúng Thế nên điều dễ hiểu khi có nhậnđịnh: mỗi triết gia là một chủ nghĩa hiện sinh Những đại biểu khác nhau, những tưtưởng không hẳn đồng nhất Nhưng do cách giải quyết khác nhau của các nhà triết họchiện sinh về sự tồn tại của Thượng đế nên có thể phân chia chủ nghĩa hiện sinh thànhhai nhánh: hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần

1.2.1 Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần

Kierkegaard là người khai mở cho chủ nghĩa hiện sinh và còn được xem là ông tổcủa chủ nghĩa hiện sinh hữu thần Rất nhiều quan điểm của Kierkegaard đã được cáctriết gia hiện sinh về sau kế thừa Nhưng với một xác tính tối cao dành cho Thượng đế,Kierkegaard đặc biệt được các nhà hiện sinh hiện đại nhánh hữu thần khai thác TheoKierkegaard thực tại hiện sinh phải chiếm chỗ chính yếu mà từ trước tới nay vẫn dànhcho lý trí Và hiện sinh chỉ có ý nghĩa trong sự mặc khải Kitô giáo Hiện hữu cao nhất

là hiện hữu của Thượng đế Cả cuộc đời mình, Kierkegaard đã lớn tiếng thức tỉnhnhững cá nhân, mạnh bạo đứng trên một chiến tuyến cô lập và kêu gọi tất cả hãy quay

về với tôn giáo đích thực, hiến mình cho Thượng đế Nhưng sinh thời, không ai hiểuông, người ta lãng quên ông cùng những quan điểm triết lý của ông Gần một thế kỷsau khi Kierkegaard mất đi người ta mới khêu lại ngọn đèn mà ông đã đốt

Các tác gia hiện sinh nhánh hữu thần chứng minh và lý giải sự tồn tại của Thượng đếđầy nhiệt thành, đức tin tuyệt đối vào sự hiện hữu của Thượng đế là nét nổi bật nhất củachủ nghĩa hiện sinh tôn giáo Điều này lý giải tại sao, trong vấn đề con người, từKierkegaard đến Jaspers, Marcel đều quy hiện sinh về hiện hữu của Thượng đế

Trang 16

Kierkegaard – ông tổ hiện sinh hữu thần – là một hình mẫu điển hình về đức tindành cho Thượng đế Kierkegaard ngay từ những tác phẩm đầu tiên, đã chứng minhmột điều chắc chắn là Thượng đế tồn tại Nhưng theo Kierkegaard, sự hiện diện củaThượng đế không phải như triết học hay lý trí mô tả là chân lý tuyệt đối và khả tri (và

vì thế là khách thể), mà như là chủ thể Con người không thể tìm kiếm Thượng đế mộtcách khách quan, hay làm sáng tỏ Thượng đế một cách khách quan Nhưng Thượng đếvẫn tồn tại với tư cách là chủ thể Kierkegaard quan niệm mối quan hệ giữa cá nhân vàThượng đế là một kinh nghiêm độc nhất vô nhị và chủ quan Trước khi có mối quan hệnày, không cách nào có thể nhận thức được về nó Mọi cố gắng để có nhận thức kháchquan về mối quan hệ giữa cá nhân và Thượng đế chỉ là một quá trình tiệm cận Từ đó,Kierkegaard nhấn mạnh: chỉ có đức tin mới là yếu tố duy nhất đảm bảo cho mối quan

hệ giữa cá nhân – Thượng đế “Niềm tin đó chính là: bản ngã trong chính cái bản thân

nó, đã được đặt nền móng một cách trong sáng ở Chúa” [26,408] Và quan trọng hơn,trong mối quan hệ ấy, con người luôn luôn tội lỗi Khi con người ý thức về tội lỗi củabản thân, ý thức về sự tha hóa của bản thân thì đó cũng là khi con người cảm thấy sựhiện diện của Thượng đế Trong những triết gia cùng thời, Kierkegaard được đánh giá

là một nhà “hữu thần” triệt để Niềm tin của ông dành cho Thượng đế đã thấm nhuầntrong mỗi tác phẩm mà ông viết Cả cuộc đời của mình, Kierkegaard tự ví như là một

sự hiến dâng Muốn chân lý tôn giáo trường tồn thì người chứng cho chân lý phải hiếnmình cho chân lý Tương tự vậy, muốn cảm được sự hiện diện của Thượng đế thì phảihiến mình cho Thượng đế

Các nhà hiện sinh hữu thần về sau đã kế thừa “niềm tin”, tinh thần “hiến dâng” từông tổ Kierkegaard Để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, Jaspers đã phê phánquan niệm của chủ nghĩa duy lý cho rằng lý trí có thể nhận biết được mọi điều VớiJaspers, lý trí không thể nhận biết được Thượng đế, không thể bắt gặp được Thượng

đế Jaspers tỏ rõ quan điểm triết học duy lý “không công nhận cũng không phủ nhận”[10; tr92] sự hiện hữu Thiên chúa “Nhưng nên biết rằng bất cứ ai hễ đã bước chân vàolĩnh vực triết lý đều phải đề cập đến vấn đề đó” [10; tr92] Theo Jaspers “Thiên chúakhông phải là đối tượng cho tri thức; ta không thể khám phá Thiên chúa một cáchtường tận rõ ràng Ngài cũng không phải đối tượng của thực nghiệm giác quan, mà là

vô hình Không nhìn thấy ngài, ta chỉ có thể tin tưởng vào ngài”[10; tr97] NếuKierkegaard quy sự hiện hữu của Thượng đế về sự cảm nhận tội lỗi nơi con người thì

Trang 17

Jaspers đặc biệt nhấn mạnh bản chất tự do của con người Jaspers cho rằng: “khi biếtmình tự do, đồng thời con người tin tưởng chắc chắn có Thiên chúa Như thế tự do vàThiên chúa không thể tách rời nhau” [10; tr98] Con người càng sống tự do bao nhiêu,Thiên chúa càng hiện hữu bấy nhiêu trong con người Mà tự do được gọi là hiện sinhcủa con người Thế nên, Thiên chúa, theo quan niệm Jaspers, chỉ xuất hiện ra với hiệnsinh Cái hay, độc đáo trong tư tưởng của ông ở chỗ đã đồng nhất Thiên chúa với hiệnsinh con người Jaspers lập luận về Thiên chúa đầy nhiệt thành: “ giải thích hiện sinhnhư một tự do cũng không phải để chứng minh Thiên chúa hiện hữu, mà để chỉ rarằng: Hiện sinh là vị trí giúp ta chắc chắn cảm nghiệm được Thiên chúa hiện diệntrong ta” [10; tr99].

1.2.2 Chủ nghĩa hiện sinh vô thần

Với ý chí quyền lực mạnh bạo, độc đáo, với hình mẫu siêu nhân thượng đẳng,Nietzsche đã khuấy đảo cả nền triết học Tây Âu nửa cuối thế kỷ XIX Sinh thời, dobệnh tật ốm yếu, nên người ta xem ông là kẻ điên giữa thời cuộc, và triết học của ôngchẳng qua cũng chỉ là mớ hỗn độn những suy niệm lạc loài Không ai có thể ngờ rằng,con người ấy, tư tưởng triết học ấy lại có ảnh hưởng, tác động vô cùng to lớn đếnnhững trào lưu triết học, đến những triết gia tiêu biểu của thời đại “sau Nietzsche”.Chính Nietzsche cũng không nghĩ rằng từ tư tưởng của ông mà một dòng triết học hiệnsinh vô thần đã như thêm lửa để bùng lên vào những năm 40 – 60 thế kỷ XX, đốt cháy

cả một giai đoạn châu Âu qua hai cuộc đại thế chiến

Nếu các triết gia hiện sinh hữu thần khẳng định Thượng đế tồn tại bằng một ưu

ái đặc biệt và một đức tin mãnh liệt thì ngược lại, các triết gia thuộc nhánh vô thần đãphủ nhận sạch trơn Thượng đế

Nietzsche hân hoan rao giảng về cái chết của Thượng đế Ông được xếp nhưmột triết gia kỳ lạ của một thế giới tinh thần kỳ dị vì đã mang trọng tội “giết chếtThượng đế” – giết chết biểu tượng của lòng tin và niềm yêu tuyệt đối nơi con người.Xây dựng những lý thuyết triết học của mình, Nietzsche muốn chống đối mọi thứ thầntượng do lý trí tạo ra bằng cách chứng minh sự bất lực của lý trí trước những phi lýcủa cuộc đời Cuộc đời với những mâu thuẫn đầy rẫy đủ để Nietzsche bác bỏ tất cảchân lý khách quan, bác bỏ cả Thượng đế Ông không ngần ngại thẳng tay đập nátnhững bảng hệ thống luân lý của xã hội đương thời Theo Nietzsche, những cái đó chỉđáng coi là phù phiếm Thượng đế cũng phù phiếm “Thượng đế là một sự phỏng

Trang 18

đoán” [23; tr16] Trong triết lý của mình, Nietzsche đã không dành chỗ ca ngợi haytôn vinh Thượng đế giống như các nhà hiện sinh tôn giáo Nietzsche tâm niệm rằngtrước Thượng đế con người luôn luôn sai lầm Và Nietzsche tuyên bố để không còn lỗilầm, để không còn tội nợ nữa thì con người phải giết chết Thượng đế Trong tác phẩm

“vui biết” Nietzsche phát ngôn một câu nói bất hủ: “Thượng đế đã chết” [4; tr296] Lờituyên bố của Nietzsche khiến lòng tin của cả một châu Âu dao động, hoang mang và lo

sợ Quan điểm phủ nhận sự hiện hữu Thượng đế của ông chính là muốn đề cao vai trò,sức mạnh con người Thuyết siêu nhân (hay các biến thể như thuyết “người hùng”, “conngười thượng đẳng”) của Nietzsche là điển hình cho quan niệm này Nietzsche lập luận:

“Xưa kia, khi hướng nhìn về những trùng khơi thăm thẳm tuyệt mù nọ, người ta bảo:Thượng đế; nhưng giờ đây, ta đã dạy cho các ngươi nói: Siêu nhân” [23; tr161] Thượng

đế là đại diện cho một trật tự xã hội cũ, một niềm tin cũ Vì thế, siêu nhân sẽ là ngườitrực tiếp đảo lộn, đánh sập tất cả những gì gọi là cũ kỹ đó Siêu nhân, trong cuộc chinhphục không khoan nhượng đối với “quá khứ bị bỏ rơi” sẽ sáng tạo lại tất cả

Sartre – nhà hiện sinh vô thần tiêu biểu của thế kỷ XX, giáo hoàng của hiện sinhPháp – đã tiếp nối khát vọng của Nietzsche đầy cuồng nhiệt Sartre chấp nhận lờituyên bố của Nietzsche “Thượng đế đã chết” Trong thế giới vô thần, con người mangtâm trạng bị bỏ rơi, một tư tưởng Sartre lấy của Heidegger Sartre coi Thượng đế chỉ làmột ảo giác của loài người, chỉ là một sản phẩm của cuộc sống ngột ngạt trong xã hội.Đặc biệt, trong quan niệm của Sartre, con người là tự do Nên nếu con người chấpnhận Thượng đế có nghĩa là con người phủ nhận tự do của chính mình Thừa nhận sựhiện hữu của Thượng đế tức là bóp chết tự do cá nhân

Các nhà hiện sinh hữu thần đặt Thượng đế vào trong một vị trí trang trọng trongtriết học để ca ngợi và nguyện hiến dâng Các nhà hiện sinh vô thần gạt thẳng hình ảnhThượng đế ra khỏi cuộc sống của con người, nói chính xác hơn, Thượng đế đã trở nênthừa thãi đối với hiện sinh con người Vấn đề Thượng đế như định mốc phân biệt rõràng hai nhánh của chủ nghĩa hiện sinh: hữu thần và vô thần Nhưng xét cho cùng, vấn

đề Thượng đế trong chủ nghĩa hiện sinh nói chung luôn gắn liền với vấn đề con người

Dù thừa nhận hoặc phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế thì cũng đều mục đích luậngiải hiện sinh con người, tồn tại người Đúng như Emmauel Mounier nhận xét trong

“Những chủ đề triết hiện sinh”: “Triết hiện sinh, trước hết là một triết lý về conngười… dù là triết hiện sinh công giáo hay không công giáo nó cũng nhuốm một một

Trang 19

vẻ bi thiết mà đặc biệt là bi thiết về vận mệnh con người” [19; tr43] Triết học hiệnsinh là triết học về thân phận con người Vấn đề triết học trung tâm, quan trọng nhấtcủa chủ nghĩa hiện sinh chính là vấn đề con người Nhánh hữu thần hay vô thần đềutập trung vào vấn đề triết học cơ bản này Do bác bỏ sự hiện hữu của Thượng đế,không cần cầu tới niềm tin tôn giáo nên chủ nghĩa hiện sinh vô thần, khi đề cập đếnvấn đề con người, đã chứa đựng những sắc thái đặc biệt, những hướng giải quyết khác

lạ và nổi bật

Chương 2

Trang 20

DIỆN MẠO CON NGƯỜI TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÔ THẦN

2.1 Sự mâu thuẫn trong vấn đề con người

Trong suốt lịch sử triết học phương Đông cũng như phương Tây, từ cổ đại đến cậnđại, vấn đề con người luôn được quan tâm đến Chỉ có điều, sự quan tâm đó, mức độđậm nhạt khác nhau, từ những khía cạnh khác nhau Và chủ nghĩa hiện sinh đã kế thừatruyền thống nhân bản trong lịch sử triết học

Ngay từ đầu nửa sau thế kỷ V trước công nguyên, với luận điểm chủ đạo “conngười là thước đo của vạn vật ” [32; tr81], nhà biện thuyết Protagoras đã thể hiện rõtinh thần đề cao tự do, năng lực cá nhân, tạo nên một luồng gió nhân văn sâu sắc trongtriết học Hy Lạp cổ đại Nhưng bước ngoặt thực sự trong triết học Hy Lạp, chuyển từtriết học tự nhiên cũ sang triết học đạo đức, từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhânsinh phải kể đến “hiện tượng Socrates” Triết học theo Socrates, phải là triết học dạycon người sống, là tri thức về con người, dành cho con người Vì vậy, triết họcSocrates có thể gọi là triết học đạo đức điển hình – triết học đạo đức duy lý Sau đêmtrường trung cổ, lịch sử triết học Tây Âu tiệm tiến đến thời kỳ Phục hưng với tinh thầnchung của thời đại là chủ nghĩa nhân văn – tiếng gào thét của cá nhân đòi giải phóng.Những con người khổng lồ giai đoạn Phục hưng đã dựng nên một thời đại con người.Immannuel Kant – người khai mở triết học cổ điến Đức – lại một lần nữa khẳng địnhcon người là một sinh vật có lý tính Để rồi sau đó nhà triết học duy vật nhân bản –Ludwig Feuerbach – đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong triết học của ông.Điều đáng bàn là, theo các nhà hiện sinh, triết học cũ đã không dành cho conngười một vị trí thật xứng đáng; và khi nghiên cứu con người, triết học cũ chỉ chú ýđến phương diện chung của con người mà chưa nhìn nhận đến phương diện riêng.Triết học cũ chỉ xem con người như một đối tượng khách quan, một phần thuộc về thếgiới bên ngoài chứ không phải là con người hiện sinh Để khẳng định một chủ nghĩa

về con người, của con người và vì con người, các triết gia hiện sinh đã đặt con ngườivào một hoàn cảnh cụ thể, có một thân phận riêng biệt Con người của chủ nghĩa hiệnsinh là con người cá nhân, là thân phận chứ không phải bản tính

Con người đã được chủ nghĩa hiện sinh mổ xẻ, quay lật đủ chiều, xem xét đủ góccạnh Thế nên, đã dành vấn đề con người ở vị trí trung tâm trong chủ nghĩa hiện sinh

Trang 21

nhưng vì con người hiện sinh tồn tại với tư cách cá nhân bởi vậy con người đa diệnmạo Khó có thể định nghĩa chính xác con người chủ nghĩa hiện sinh là gì hay thế nào,hơn nữa còn phụ thuộc vào cá nhân các nhà hiện sinh Do đó, vấn đề con người nổicộm trong chủ nghĩa hiện sinh không có nghĩa vấn đề đó được trình như một bày hệthống Tìm hiểu quan niệm về con người của chủ nghĩa hiện sinh vô thần không cótham vọng phác họa con người theo nghĩa phổ quát Như vậy không đúng với tinh thầncủa chủ nghĩa hiện sinh Và vì thế, con người hiện sinh đa diện mạo nên được tìm hiểu

và tiếp cận theo những diện mạo riêng biệt ấy

2.1.1 Con người như cá nhân độc đáo và tự do

Từ chối nói về con người trừu tượng chung chung, các nhà hiện sinh đã quay lưnglại với chủ nghĩa duy lý để hướng thẳng về hiện hữu Chủ nghĩa hiện sinh là triết học

đề cao con người, khuếch trương chủ quan tính, đặt con người vào vị trí chủ thể mangtính tuyệt đối Chủ nghĩa hiện sinh tự nhận là triết học dành riêng cho con người, traocho con người chữ “hiện sinh” cao quý, thiêng liêng Chủ nghĩa hiện sinh coi conngười là một bản thể duy nhất Điều này không có nghĩa là ngoài con người không còn

gì mà là những cái khác so với con người đều nhỏ bé và không đáng xét Như đãkhẳng định, cả hai nhánh hữu thần và vô thần đều xem vấn đề con người là vấn đềtrung tâm Hiện sinh hữu thần quan niệm hiện hữu con người gắn chặt với hiện hữucủa Thượng đế bằng một thỏa ước bí nhiệm, thỏa ước của đức tin Con người hướngđến Thượng đế như cây cỏ hướng đến ánh sáng mặt trời Do phủ nhận sự tồn tại củaThượng đế, chủ nghĩa hiện sinh vô thần đã khắc họa đậm nét hình ảnh con người cánhân độc đáo, tự do Cá nhân độc đáo vì nó duy nhất, không lặp lại, không do Thượng

đế sáng tạo Cá nhân tự do vì nó không bị giới hạn, bị định chế bởi Thượng đế

Nietzsche – ông tổ của hiện sinh vô thần – đã nhắc nhở con người: “Từ đáy lòngmình ai cũng biết một cách quá rõ ta chỉ sống được một lần trong cuộc đời, ta làtrường hợp đặc thù, duy nhất, và không chỉ một sự tình cờ nào, dù quái ác đến đâu,cóthể một ngày kia tô bôi dị hợm nhiều phẩm tính hòa tan trong cái toàn thể”[24; tr5].Nietzsche khẳng định tính độc đáo, tính duy nhất của con người qua hình mẫu siêunhân Có thể coi biểu tượng siêu nhân đã chất chứa toàn vẹn nhất tư tưởng củaNietzsche về bản chất độc đáo dành cho con người

Tinh thần đề cao những cá nhân độc đáo của Nietzsche đã được các nhà hiện sinh

vô thần hiện đại ( Heidegger, Sartre) hưởng ứng mãnh mẽ “ Đối với các nhà hiện sinh

Trang 22

mặt trời quay quanh trái đất hay trái đất quay quanh mặt trời không quan trọng Cái cốt

tử có ý nghĩa thật sự là tồn tại của con người” [18; tr95] Chủ nghĩa hiện sinh vô thầnnhấn mạnh: con người thực tại phải có tính độc đáo, cá nhân phải khác cá nhân Conngười độc đáo bởi lẽ chỉ có con người mới hiện sinh Hiện sinh là phương thức tồn tạiđặt trưng của con người “Chỉ có con người hiện hữu Tảng đá là, nhưng nó khônghiện hữu Cây là, nhưng nó không hiện hữu Con ngựa là, nhưng nó không hiện hữu.Thiên thần là, nhưng nó không hiện hữu Thượng đế là, nhưng ngài không hiện hữu”[5; tr36] Heidegger khẳng định hiện sinh là một tư chất, một đặc ân dành cho conngười, chỉ có ở con người Về sau, Sartre cũng mạnh bạo lên tiếng: “con người có mộtphẩm giá cao hơn hòn đá hoặc cái bàn” [29; tr19 – 20] Khởi nguyên triết học là conngười, còn con người là sự hiện sinh Các nhà hiện sinh vô thần cho rằng quan niệmtriết học cổ điển đã đặt sai trọng tâm khi quan tâm tới lý tính, khoa học, tư duy…; nó

đã bỏ qua điều quan trọng nhất là con người cùng với đặc điểm đặc trưng nhất của conngười – tính chủ quan Tính chủ quan của con người đơn giản là sự hiện sinh, sự sinhtồn của con người Với ngọn cờ khuếch trương chủ quan tính, chủ nghĩa hiện sinh vôthần đã xuất hiện đúng lúc để khẳng định bản tính độc đáo của con người

Con người là cá nhân độc đáo vì chỉ con người mới hiện sinh, và cũng chỉ conngười mới có quyền năng tự do vô hạn Chủ nghĩa hiện sinh vô thần tự hào đã thứctỉnh con người khỏi giấc mơ tha hóa, nhắc nhở con người biết rằng nó là một cá nhânđộc nhất, nó là một nhân vị tự do Tự do đích thực là hành vi sáng tạo của con người.Nhưng nếu Jaspers luôn tâm niệm rằng: con người không tự sáng tạo nên mình, chonên tự do của con người là một tặng phẩm do Thượng đế ban cho, con người “có thểsống không phụ thuộc trần thế, vì họ liên hệ chặc chẽ với Thiên chúa ”[10; tr126]; thìcác nhà hiện sinh vô thần khẳng định tự do của con người là tuyệt đối

Nietzsche khẳng định con người là kẻ sáng tạo ra những giá trị riêng cho mình,chỉ tuân thủ những nguyên tắc của chính mình “Chính con người đã ban giá trị chonhững sự vật để bảo tồn lấy mình, chính người là kẻ sáng tạo ra ý nghĩa vạn vật, ýnghĩa nhân bản! Chính vì vậy họ tự gọi mình là “con người”, nghĩa là kẻ đo lường vạnvật” Rõ ràng Nietzsche đã trao cho con người cái quyền năng chỉ có ở Thượng đế.Chưa ai, trước đó, từng mạnh bạo cổ súy tinh thần tự do sáng tạo của con người nhưNietzsche “Thực ra, con người tự ban cho mình thiện và ác”[23; tr118] Bản thân vị tổ

Trang 23

phụ của triết học hiện sinh vô thần cũng người tự do vô hạn thông qua những tư tưởngcủa ông.

Tiếp nối bản lĩnh của Nietzsche, Sartre – thủ lĩnh của hiện sinh vô thần Pháp – đãđưa tự do trở thành một vấn đề chính yếu trong triết học của ông Sartre nhìn tự do nhưnét đặc trưng phân biệt con người với mọi thực thể khác trong vũ trụ Sartre từ chốiThượng đế để nói hết về tự do cá nhân Không có một con người được cho sẵn bởiđấng Thượng đế sáng tạo, một người thợ tối cao Thượng đế không đưa ra kế hoạch làchúng ta sẽ phải như thế nào, hay là chúng ta phải sống ra sao Tất cả cuộc sống của ta,tương lai của ta đều do ta sáng tạo Con người là sản phẩm sáng tạo của chính mình.Mỗi người vào đời để tô vẽ nên bản thân mình và ngoài bản thân ấy không còn có gìkhác nữa Sartre khẳng định : “Hiện sinh thuyết vô thần mà tôi trình bày ở đây có tínhcách mạng hơn cả Thuyết này cho rằng nếu Thượng đế không hiện hữu; thì ít ra, phải cómột hữu thể mà hiện hữu của nó có trước yếu tính: một hữu thể hiện hữu ở đó trước khi

có thể bị bất cứ quan niệm nào định nghĩa Hữu thể đó chính là con người ”[29; tr19].Theo như diễn đạt của Sartre, nguyên lý của triết học hiện sinh vô thần chính là: hiệnhữu có trước lý tính Hiện hữu là chỉ rằng một cái gì tồn tại; yếu tính biểu thị rằng cái

đó là gì – bản chất Với công thức tồn tại có trước bản chất, Sartre cũng như các nhàhiện sinh vô thần đã chỉ ra một đặc trưng vinh quang của con người – tự do Sartre giảithích thêm: “con người hiện hữu trước đã, con người tự thấy mình sinh ra đời đã, sau

đó con người mới định nghĩa mình được”[29; tr19] Theo quan niệm của Sartre, conngười lúc đầu không là gì cả, sau đó con người mới sẽ là (thế nọ, thế kia…) và sẽ làcái mình tự tạo nên Như vậy, không có bản tính nhân loại nói chung, cá nhân khôngthể giống cá nhân Từ ý tưởng này, Sartre phủ nhận rằng không có một đấng Thượng đếnào cả để quan niệm bản tính đó Sartre đặt vào tay con người một phẩm chất cao quý làđộc đáo, một quyền năng tối thượng là tự do Không còn bóng dáng của Thượng đế, nhàhiện sinh vô thần tiêu biểu cho thế kỷ XX nghiễm nhiên công nhận chỉ có con ngườimới tự do và khuyến khích con người cần phải đi đến tự do đích thực của mình

Tự do là lựa chọn, là sáng tạo Chủ nghĩa hiện sinh vô thần nhấn mạnh tính chủthể thuần túy Con người luôn có khả năng chọn lựa, bất kể ở trong tình huống nào Cảkhi con người bị cầm tù thì con người vẫn có tự do để chọn lựa thái độ của mình trongtình huống ấy Sartre lý giải thật minh bạch: “Con người không những chỉ hiện hữugiống như cái mình tự quan niệm ra nhưng còn giống như cái mà con người mong

Trang 24

muốn vậy Vì con người chỉ sau khi mình hiện hữu rồi mới tự quan niệm về mình được

và sau khi đã sinh ra mình rồi mới tự mình muốn được, do đó con người chỉ là cáimình tự tạo nên Đó là nguyên tắc thứ nhất của thuyết hiện sinh ”[29; tr19] Tự dobiểu hiện ở mức cao nhất chính là con người tự tạo cho mình một bản chất: “…kẻ hènnhát tự tạo cho mình thành hèn nhát, kẻ anh hùng tự tạo cho mình thành người hùng

Kẻ hèn nhát luôn có khả năng để không còn hèn nhát và con người hào hùng khôngcòn là người hùng nữa”[29; tr37] Tự do là lựa chọn theo đúng sở nguyện của bảnthân Thông qua lựa chọn mà con người bộc lộ bản chất Nhưng trong cuộc sống conngười không chỉ lựa chọn một lần mà lựa chọn nhiều lần, trong cùng một cảnh ngộhoặc trong nhiều cảnh ngộ khác nhau Thế nên, bản chất con người không thể bất biến.Quả là theo như cách lập luận của chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, chưa khi nào conngười lại tự do vô hạn đến vậy, tự do tuyết đối; chưa khi nào con người được trântrọng hơn thế, trân trọng thiêng liêng Hiện sinh vô thần đã “xây dựng” con ngườibằng “chất liệu” độc đáo, tự do

Con người hiện sinh độc đáo, tự do còn bởi thông qua “cái chết” Có thể nói, “cáichết” là một chủ đề đặc biệt trong triết học hiện sinh nhánh vô thần Sartre, trong một

số lượng lớn những sáng tác văn học, đều đề cập ít nhiều đến cái chết Điển hình, trongkịch “Kín cửa” và truyện phim “Sự đã rồi”, các nhân vật đều là người đã chết Thực ra,các nhà hiện sinh vô thần mải miết nói về “sự chết” nhiều đến vậy vì theo họ đề này làmột tín niệm hiện sinh rõ nhất Cái chết biểu thị bản chất tự do của con người: “Tự do

để chết và tự do trong cái chết”[23; tr145] Theo Heidegger, chỉ có hiện hữu để chếtmới đem đến cho hiện hữu một mục đích và đẩy nó đến điểm kết thúc của mình Nhàhiện sinh vô thần nói đến cái chết như một lối kết luận chứ không trình bày nó nhưmột bi kịch Sự sống của con người là nhằm mục đích tiến đến cái chết Thậm chí, cáichết là một ý niệm tô điểm cho sự sống Nếu cuộc đời là một con đường thì cái chếtkhông hẳn ở cuối đoạn đường mà là đồng hành cùng người lữ khách cô độc Hiện sinhgắn liền với sự chết bởi “Kẻ nào chưa hề sống đúng lúc thì làm thế nào hắn có thể chếtcho đúng lúc”[23; tr14] Trong cuộc sống con người có thể thay thế nhau trong nhiềuviệc Trong mối quan hệ với tha nhân, cá nhân cũng bị choán chỗ, bị thay thế Tức là,con người luôn ở trong tình trạng có khả năng đánh mất mình, đánh mất tính độc đáo cáthể Nhưng chỉ “sự chết” là tuyệt đối không thể thay thế Cái chết của bất cứ ai cũng là

tự mình Cái chết dành cho mọi người, nhưng mỗi người một cái chết riêng tư

Trang 25

Như vậy, có thể thấy chủ nghĩa hiện sinh vô thần đã khắc họa rõ nét diện mạocon người cá nhân độc đáo, tự do Đây chính là một trong những điểm nổi bật nhất,trọng tâm nhất của nhánh này khi bàn về vấn đề con người Các nhà hiện sinh hữu thầncũng nhắc đến tự do nhưng sứ mệnh của họ là đưa con người trở về với chúa Còn vớicác triết gia hiện sinh vô thần, con người tự do là con người sáng tạo ra chính mình, tựcho mình một bản chất, và kiến thiết mình trong tương lai Thế nên, sứ mệnh củaNietzsche, Heidegger, Sartre… là sứ mệnh thắp lên ngọn đuốc mang tên độc đáo để nócháy bùng ánh lửa của tự do cá nhân.

2.1.2 Con người với tâm trạng lo âu, cô đơn giữa “Tha nhân” và đồng thời như một dự phóng

“Chủ nghĩa hiện sinh là nỗ lực triết lý về những sự kiện đầy kịch tính diễn ra trênsân khấu không từ vị trí khán giả, từ phía người quan sát, mà từ góc độ của diễn viên –người nhập cuộc, trực tiếp tham gia vào những lớp diễn, đóng vai cho vở kịch cuộcsống” [18; tr94] Do đó, tính chất chân thực của tồn tại cá nhân được chủ nghĩa hiệnsinh khắc họa rõ nét

Với hiện sinh hữu thần, chất tôn giáo luôn đậm đà trong tư tưởng củaKierkegaard, Jasper, Marcel Con người của hiện sinh hữu thần cũng lo âu, cũng côđơn nhưng đó là nỗi lo âu, cô đơn nhuộm màu sắc tôn giáo trong thời đại “đánh mấtchúa” Khi con người quay trở về với chúa, các nhà hiện sinh hữu thần cũng nhằmmang tôn giáo lại cho trường học

Không giống vậy, các triết gia hiện sinh vô thần đã phân tích sắc nét từng góc cạnhđời sống, số phận mỗi cá nhân Qua nhãn quan của nhà “vô thần”, bằng ngòi bút phanhphui mổ xẻ, tình cảnh của con người được đặt tên là lo âu, nếm trải, cô đơn trong mộtthế giới dửng dưng, người công giáo gọi thất vọng là một thái độ không đức tin còn hiệnsinh nhánh vô thần bắt nguồn từ một thất vọng ban sơ, thất vọng của đời sống

Con người cá nhân độc đáo, tự do Nhưng thế giới này bủa vây xung quanh conngười quá nhiều tai ương, cạm bẫy, bí ẩn không thể lường trước Nên hiện hữu của conngười mong manh, dòn ải Con người lo âu, run rẩy giữa mọi người và giữa xã hội.Nỗi sợ hãi nơi con người cũng đầy mơ hồ: “giá chỉ biết được mình sợ cái gì, thì cũng

đã là tiến một bước dài rồi”[27; tr.11] Những cảm giác thường trực (âu lo, nếm trải,

cô đơn) đều xuất phát từ nguyên nhân: hiện hữu chênh vênh ở đời

Trang 26

“Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy ma quỷ, mỗi một khoảnh khắc củađời sống đều có một điều gì đó để nói với ta mà chúng ta chối từ nghe ngóng cái tiếngnói hư ảo đó Trong cô đơn yên lặng, chúng ta sợ một tiếng thì thầm lọt vào tai ta, taghét cả sự im lặng và tìm giải khuây trong đời sống xã hội” [24; tr.80-81] Nhưng conngười “giải khuây ”bằng cách nào hay là “…chỉ thấy cần tiến vào đáy tuyệt vọng củamọi vật” [24; tr.73]? Có thể hiểu, logíc tuần tự của người họa sĩ “hiện sinh vô thần”khi phác thảo diên mạo thứ hai của con người là bắt đầu từ một phông nền thực tạinhiều tai ương, cạm bẫy; trên phông nền ấy, con người âu lo, nếm trải, cô đơn và rồituyệt vọng Xã hội phương Tây trong và sau hai cuộc đại chiến tàn khốc bao trùmkhông khí đỗ vỡ, u ám Con người sống trong thực tại ấy như ý thức hơn về thân phậnmong manh, bọt bèo của chính mình Thế nên con người nếm trải và chịu đựng, đầy ắpxao xuyến Con người xao xuyến cả về cái chết, về tính hữu hạn của cuộc sống, tínhdòn ải của thân phận “Xao xuyến trước cái chết là xao xuyến trước khả hữu riêng tưnhất ” [7; tr.39] Nhưng “xao xuyến trước cái chết không được phép lầm lẫn với một

sợ hãi… Nó không phải là một cảm trạng hèn yếu”[7; tr.39] Thuyết hiện sinh vô thầnkhẳng định rằng con người không hèn nhát trước cái chết Ngược lại, con người chấpnhận nó và đón chờ nó như một định mệnh Lo âu, xao xuyến về cái chết chính là khai

lộ hiện sinh

Sartre, qua trang văn viết về thân phận con người, đều lột tả trần trụi bộ mặt thựccủa xã hội Tây Âu đương thời Sartre bộc bạch nỗi chán ngán: “Khi người ta sống, thìchẳng xảy ra gì hết Cảnh trí thay đổi, người ta đi vào, đi ra, chỉ có thế thôi Không baogiờ có sự bắt đầu Hết ngày này lại đến ngày khác, một cách phi lý, không sao hiểunổi; chỉ là một phép cộng vô tận và đơn điệu” [27; tr.80] Và rồi “con người ta lại bắtđầu đếm giờ, đếm ngày Thứ hai, thứ ba, thứ tư Tháng tư, tháng năm, tháng sáu.1924,1925,1926 Như thế, chính là sống” [27; tr.81] Cuộc sống diễn ra theo một nhịpđiệu tẻ nhạt đã định sẳn Cuộc sống không bản sắc, kém linh hoạt và con người bịchìm ngỉm vào trong đó, bị nhấn chìm, bị ngộp thở Diễn đạt theo cách khác, conngười nếm trải và chịu đựng khi hiện hữu khi ở đời Nhân vật Antoine Roquentin củaSartre đã nếm trải, chịu đựng cái cảm giác “buồn nôn”: “Tôi lướt nhìn xung quanh vớimột ánh mắt lo lắng: chỉ có hiện tại, không có gì khác ngoài hiện tại… không quákhứ… Không có trong sự vật, trong tư tưởng tôi cũng không ” [27; tr.183] Sự tồn tạicủa con người, theo các nhà hiện sinh vô thần, là một ngẫu nhiên phi lý, thế giới những

Ngày đăng: 16/04/2015, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
3. Trần Thiện Đạo, (2001), Triết học hiện sinh, Nxb. Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: Nxb. Văn học Hà Nội
Năm: 2001
4. Nguyễn Hào Hải, (2001), Một số học thuyết triết học Phương Tây hiện đại. Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết triết học Phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hào Hải
Nhà XB: Nxb.Văn hóa thông tin
Năm: 2001
6. Martin Heidegger, (1973), Hữu thể và thời gian, Quê hương xuất bản, Sài Gòn, t.1 (Trần Công Tiến dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu thể và thời gian
Tác giả: Martin Heidegger
Năm: 1973
7. Martin Heidegger, (1973), Hữu thể và thời gian, Quê hương xuất bản, Sài Gòn, t.2 (Trần Công Tiến dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu thể và thời gian
Tác giả: Martin Heidegger
Năm: 1973
8. Diêu Thị Hoa, (2005), Edmund Husserl, Nxb. Thuận hóa – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông tây, ( Trịnh Cư dịch, Dương Vũ Hiệu đính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edmund Husserl
Tác giả: Diêu Thị Hoa
Nhà XB: Nxb. Thuận hóa – Trung tâm văn hóa ngôn ngữĐông tây
Năm: 2005
9. Tam ích, (1996), Sartre và Heidegger trên thảm xanh, Hồng Đức xuất bản, Sài Gòn 10. Karl Jaspers, (2004), Triết học nhập môn, Nxb. Thuận hóa và Trung tâm văn hóa ngônngữ Đông Tây, (Lê Tôn Nghiêm dịch và giới thiệu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sartre và Heidegger trên thảm xanh", Hồng Đức xuất bản, Sài Gòn10. Karl Jaspers, (2004), "Triết học nhập môn
Tác giả: Tam ích, (1996), Sartre và Heidegger trên thảm xanh, Hồng Đức xuất bản, Sài Gòn 10. Karl Jaspers
Nhà XB: Nxb. Thuận hóa và Trung tâm văn hóa ngônngữ Đông Tây
Năm: 2004
11. S. Kierkegaard, (2006), Sợ hãi và run rẫy, Trích Forrest E.Baird, Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sợ hãi và run rẫy
Tác giả: S. Kierkegaard
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2006
12. V,I Lênin, (1981), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ Matxcơva, tập 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V,I Lênin
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ Matxcơva
Năm: 1981
13. C. Mác và Ph. Ăngghen, (2001), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. C. Mác và Ph. Ăngghen, (2001), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. C. Mác và Ph. Ăngghen, (2001), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. C. Mác và Ph. Ăngghen, (2001), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. E. Mounier, (1970), Những chủ đề triết hiện sinh, Thị Nùng xuất bản, Sài Gòn, (Thụ Nhân dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chủ đề triết hiện sinh
Tác giả: E. Mounier
Năm: 1970
20. Lê Tôn Nghiêm, (1971), Những vấn đề triết học hiện đại, Ra khơi xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề triết học hiện đại
Tác giả: Lê Tôn Nghiêm
Nhà XB: Ra khơi xuất bản
Năm: 1971
21. Nghị quyết của BCT ĐCSVN về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay – Số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của BCT ĐCSVN về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay
22. André Niel, (1968), Jean Paul Sartre – anh hùng và nạn nhân của “ý thức khốn khổ”, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn, (Tôn Thất Hoàng dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jean Paul Sartre – anh hùng và nạn nhân của “ý thức khốn khổ
Tác giả: André Niel
Năm: 1968
23. Friedrich Nietzsche, (1999), Zarathustra đã nói như thế, Nxb. Văn học, Hà Nội, (Trần Xuân Kiêm dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zarathustra đã nói như thế
Tác giả: Friedrich Nietzsche
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1999
24. Friedrich Nietzsche, (2006), Schopenhauer nhà giáo dục, Nxb. Văn học, Hà nội, Mạnh Tường và Tố Liên dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schopenhauer nhà giáo dục
Tác giả: Friedrich Nietzsche, Mạnh Tường, Tố Liên
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2006
25. Blaise Pascal, (2004), Tư duy trích Stanley Rosen, Triết học nhân sinh, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy trích Stanley Rosen
Tác giả: Blaise Pascal
Nhà XB: Nxb. Laođộng
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w