Một là, sự bất lực của con người trong quan hệ của họ với tự nhiên Mối quan hệ cưa con người với tự nhiên là mối quan hệ rất cơ bản trong xã hội, nó cùng với mối quan hệ con người với co
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội luôn gắn liền với đời sống chính trị, xãhội, văn hóa của một quốc gia Nó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộphận nhân dân và có ảnh hưởng không nhỏ trên phạm vi thế giới
Hàng chục thế kỉ qua, khoa học kĩ thuật đã giúp loài người thực hiện bước nhảycách mạng từ thế giới thần linh sang thế giới hiện thực, nó chắp cho con người đôicánh của lí tính, trí tuệ thay thế niềm tin tôn giáo trong cuộc hành trình đi tìm chân lí.Song, trong thế giới này vẫn còn chứa đựng những sự đau khổ, sự nghèo đói, nỗi lolắng, bệnh tật, bất hạnh và những tai họa do tự nhiên mang lại Đặc biệt là hiện naynhân loại đang bước vào thời kì biến động sâu sắc Sự biến động đó thấm vào tất cảcác mặt của đời sống xã hội Những khuynh hướng chính trị, phân hoá giàu nghèo,đường lối phát triển, lợi ích dân tộc khác nhau, thậm chí đối lập nhau đã dẫn đếnnhững xung đột đẫm máu giữa các dân tộc, tôn giáo Trong tình hình đó, mảnh đất tôngiáo dường như màu mỡ hơn, nó xoa dịu và an ủi những con người đang hoang mang,
vô vọng trong thế giới này Có thể nói rằng, tôn giáo đã, đang và sẽ từng ngày tácđộng đến đời sống tinh thần của xã hội
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, theo đó là cáctôn giáo khác nhau Trong các tôn giáo ở nước ta thì Thiên Chúa giáo có sự phát triểnkhá mạnh mẽ Thiên Chúa giáo vào nước ta cách đây khoảng gần 500 năm, với sựtruyền đạo của tòa thánh Giáo hội La Mã ở Việt Nam
Những năm gần đây, Thiên Chúa giáo ở Việt Nam có chiều hướng phát triển cả
về quy mô lẫn số lượng Nét nổi bật của đồng bào tín đồ Thiên Chúa giáo là ổn địnhlàm ăn, chăm lo cải thiện đời sống, hưởng ứng chủ trương đổi mới, chấp hành tốtchính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước Các hoạt động xã hội nhân đạo, phong trào an ninh trật tự, phòngchống các tệ nạn xã hội được các tín đồ hưởng ứng theo tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”,
“kính Chúa yêu nước” Số đông chức sắc Thiên Chúa giáo thực hiện tốt việc hành đạotheo tinh thần “sống phúc âm trong lòng dân tộc”
Tuy nhiên, trong Thiên Chúa giáo vẫn còn một số chức sắc không thể hiện rõ ýthức công dân, không đặt lợi ích của Giáo hội trong lợi ích chung của dân tộc, muốnGiáo hội hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước Một số phần tử phản động đã kích
Trang 2động, lôi kéo tín đồ vào cuộc tranh chấp triền miên như đòi lại phần đất nhà thờ, nhà
tu đã hiến, tặng… Vì vậy đã gây mất ổn định xã hội, vi phạm pháp luật bị chính nhữngtín đồ địa phương phản đối
Đăk Nông là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, có vị trí chiến lược hết sứcquan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, có những lợi thế tiềm năng phát triểnkinh tế, nhưng cũng là một địa bàn hết sức phức tạp Đăk Mil là một trong nhữnghuyện trọng yếu về kinh tế - xã hôi thuộc tỉnh Đăk Nông, là một huyện có nhiều dântộc anh em cùng sinh sống, theo đó là nhiều tôn giáo đa dạng về hình thức tổ chức,khác nhau về số lượng tín đồ Trong các tôn giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil thì ThiênChúa giáo có sự phát triển mạnh mẽ, với số lượng tín đồ chiếm một phần khá lớn trongdân cư Do đó, việc nhận thức hiện trạng vận động và phát triển của Thiên Chúa giáotrên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm phát huynhững mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của Thiên Chúa giáo trên địa bànhuyện Qua đó, góp phần phát triển và ổn định đời sống của đồng bào có đạo nóichung và đời sống của người dân trên địa bàn huyện Đăk Mil nói riêng
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài là: “Ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địabàn huyện Đăk Mil tỉnh Đăk Nông hiện nay”, làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
- Nguyễn Đăng Duy: “Văn hóa tâm linh”, Nxb Văn hóa Đà Nẵng, năm 1998
- Vũ Công Giao: “Tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôngiáo”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2004
- PGS TS Hồ Trọng Hoài: “Đảng lãnh đạo công tác tôn giáo”, Nxb Chính trịquốc gia, năm 2007
- PGS TS Nguyễn Đức Lữ (2007), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ởViệt Nam, Nxb Tôn giáo Hà Nội, Hà Nội
- TS Nguyễn Ngọc Thu (2003), Giáo trình Đại cương lịch sử triết học, Nxb Tổnghợp Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh
Trang 3- Cao Huy Thuần: “Tôn giáo và xã hội hiện đại”, Nxb Chính trị quốc gia, năm2006.
- GS Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở ViệtNam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Hữu Vui - Trương Hải Cường (2003), Tập bài giảng Tôn giáo học, Nxbchính trị quốc gia, Hà Nội
Các công trình trên đã giải quyết nhiều vấn đề, dưới nhiều góc độ khác nhau Tuynhiên các ấn phẩm, các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu nghiên cứu một cách có
hệ thống về ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà quản lí xã hộitrong việc hoạch định, thi hành chính sách tôn giáo trên địa bàn
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nhận diện thực trạng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiệnnay
+ Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địa bànhuyện Đăk Mil hiện nay
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong quá trình xây dựng, thi hànhcác chính sách tôn giáo nói chung và Thiên Chúa giáo nói riêng trên địa bàn huyệnĐăk Mil hiện nay
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Đăk Mil
+ Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn hiện nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận chung nhất là phương phápbiện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra đề tài còn sử dụng các biệnpháp khác như: Khái quát hoá, phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử
Trang 46 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này góp phần trình bày có hệ thống quá trình ra đời, phát triển của ThiênChúa giáo và ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đối với đồng bào có đạo trên địa bànhuyện Đăk Mil Từ đó thấy được sự quan tâm của các nhà quản lí xã hội trong quátrình xây dựng và thi hành chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay
Là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành triết học, sinh viên trường Đạihọc Tây Nguyên và những ai quan tâm
7 KẾT CẤU KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, khoá luận gồm có 2 chương, 4tiết
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ THIÊN CHÚA
GIÁO
1.1 Quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
1.1.1 Nguồn gốc, bản chất, tính chất, chức năng của tôn giáo
Thứ nhất, về nguồn gốc của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo:
Xã hội thực chất là những con người trong mọi mối liên hệ với nhau Vậy nguồngốc xã hội của tôn giáo bắt nguồn từ chính những mối liên hệ đó của con người Trong
xã hội, có rất nhiều mối liên hệ với những tính chất, chủng loại, vị trí khác nhau, songnguồn gốc xã hội của tôn giáo bắt nguồn từ những mối liên hệ có tính bản chất củacon người và cũng là bản chất của xã hội Đó là mối quan hệ song trùng: mối quan hệgiữa con người với nhau và mối quan hệ của con người với tự nhiên
Một là, sự bất lực của con người trong quan hệ của họ với tự nhiên
Mối quan hệ cưa con người với tự nhiên là mối quan hệ rất cơ bản trong xã hội,
nó cùng với mối quan hệ con người với con người tạo thành bản chất của xã hội.Nguồn gốc xã hội của tôn giáo không phải là hệ quả nảy sinh ngay từ mối quan hệgiữa con người với tự nhiên mà bắt nguồn từ tính chất của mối quan hệ này, đó lầ sựbất lực, thụ động và kém hiểu biết của con người trong quan hệ với tự nhiên Conngười nguyên thủy, do trình độ văn minh thấp kém, lực lượng sản xuất còn thô sơ,luôn bất lực trong cuộc đấu tranh với tự nhiên Thiên nhiên trước con người nguyênthủy luôn là một đối tượng thù địch, thường câm lặng, dấu mọi bí mật, thách đố vàluôn trả thù lại các hành động của con người Mặt khác, tự nhiên như một sức mạnh
mù quáng gây ra nhiều tai họa, đau khổ cho con người
Đứng trước tự nhiên mù quáng, hung hãn, ở con người nguyên thủy xuất hiện hailoại tình cảm Một là khát khao tìm hiểu tự nhiên, đến với tự nhiên, yêu mến tự nhiênvới mục đích chinh phục tự nhiên Hai là lo âu, run sợ trước tự nhiên, thần thánh hóa
tự nhiên Chính loại tình cảm này dẫn đến tôn giáo Như Angel viết: “Từ thời đạinguyên thủy, tôn giáo đã sinh ra từ những biểu tượng hết sức ngu muội tối tăm vànguyên thủy của con người về bản chất của chính họ và về tự nhiên bên ngoài bao
Trang 6quanh họ” (Mác – Angel, tuyển tập - tập 2 Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội 1971, trang481).
Một vấn đề đặt ra là: Có thể coi sự thống trị của sức mạnh tự nhiên là nguồn gốc
xã hội của tôn giáo không ? Thực ra sự thống trị này không phải thuộc tính tự nhiên
mà sự thống trị này chỉ xuất hiện như là tính chất của mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên trong sự phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết
là công cụ lao động Như vậy không phải chính tự nhiên làm nảy sinh ra tôn giáo mà
là tính chất phụ thuộc của quan hệ giữa con người với tự nhiên Chúng ta có thể thấyngay trong mối quan hệ này đã chỉ ra những vấn đề xã hội rồi
Có thể rút ra, tôn giáo đã nảy sinh trong một xã hội mà trình độ sản xuất hết sứcthấp kém, con người mới thoát khỏi đời sống loài vật và trong mối quan hệ với tựnhiên, con người hoàn toàn lệ thuộc và bất lực trước những hiện tượng tự nhiên
Hai là, tính chất bất bình đẳng trong mối quan hệ của con người với con người trong xã hội.
Mối quan hệ của con người với con người là mối quan hệ rất cơ bản trong xã hội,
nó mang tính tất yếu khách quan Nguồn gốc xã hội của tôn giáo cũng không nảy sinhtrực tiếp từ mối quan hệ này mà bắt nguồn từ tính chất của nó Đó là hai nhân tố có vaitrò quyết định trong sự xuất hiện của tôn giáo
Sự phát triển tự phát của xã hội thể hiện ở tất cả các hình thái xã hội trước đây.Trong các hoạt động xã hội, con người chưa nhận thức được đúng và đầy đủ các quyluật xã hội Họ không thể dự tính được kết quả của các hoạt động thực tiễn của mình,thậm chí còn có kết quả ngược lại với mục đích và ý chí của hoạt động con người Vìthế, các quy luật xã hội tham gia hoạt động nhự một lực lượng tự nhiên mù quáng, tựphát như Angel viết: “Chẳng bao lâu, bên cạnh những sức mạnh thiên nhiên lại đãxuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh xã hội đối lập với người ta, và đốilập với người ta thì sức mạnh xã hội này cũng xa lạ y như những sức mạnh tự nhiênvậy Lúc đầu cũng không thể hiểu được, và cũng chi phối người ta với một cái vẻ tấtyếu, bề ngoài hệt như sức mạnh tự nhiên vậy” (Mác – Angel, tuyển tập, tập 2 Nxb Sựthật, Hà Nội 1971, trang 484)
Chính do không thể giải thích được các hiện tượng, các quy luật xã hội do chínhhoạt động thực tiễn của mình tạo ra mà con người đã sợ hãi và phụ thuộc hoàn toànvào nó Chính trạng thái thụ động trước sự phát triển tự phát của xã hội đã dẫn con
Trang 7người đến chỗ sợ hãi và tự thần bí hóa chính các quan hệ của họ với nhau, biến chúngthành các thế lực siêu nhiên, có sức mạnh mù quáng và quyền uy thần thánh.
Sự áp bức và bóc lột trong xã hội có giai cấp, ngoài sự bất lực của con ngườitrước những hiện tượng xã hội diễn ra một cách tự phát, đa dạng, còn có sự áp bức,bóc lột giai cấp mà quần chúng nhân dân là nạn nhân Sự áp bức, bóc lột của giai cấpthống trị đã đẩy số đông quần chúng nhân dân không chỉ bị bóc lột và lệ thuộc về kinh
tế, chính trị mà còn bị tước mất quyền tự do về mặt tinh thần Cuộc sống cực khổ,nghèo đói, bị cưỡng bức lao động, bị o ép về tinh thần đã buộc họ tìm lối thoát ảotưởng ở thế giới hoang đường Lênin đã chỉ ra rằng: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lộttrong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc sống tốtđẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người nguyên thủy trongcuộc đấu tranh chống thiên nhiên đe ra lòng tin vào thần thánh ma quỷ, vào nhữngphép màu” (Lênin toàn tập, tâp 12, Nxb Tiến bộ Matxcơva, trang 169 - 270)
Với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, con người dần dàn thoát khỏi tình trạngphụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, từng bước làm chủ tự nhiên Về mặt xã hội, cùngvới sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội cũng được cải thiện một bước ởnhững nước phát triển, những nước dành độc lập Số phận con người được chú trọng,
có nhiều quyền dân chủ hơn
Tuy nhiên, giới tự nhiên là vô cùng vô tận, sức mạnh nhận thức và cải tạo tựnhiên cao tới đâu đi chăng nữa thì con người vẫn là một bộ phận của tự nhiên Conngười không thể chinh phục tự nhiên như kiểu một dân tộc này thống trị dân tộc kiađược Mặt khác, trong những điều kiện lịch sử nhất định sức mạnh nhận thức, cải tạo
tự nhiên là có hạn nên còn chưa giải quyết được nhiều nguyên nhân gây tai họa chocon người: Ung thư, AIDS, tim mạch… Những biến động xã hội: Chiến tranh, xungđột sắc tộc, tôn giáo… đã đẫn dến những quan niệm dường như khoa học đã đạt dếngiới hạn của nó và hoạt động của con người cũng có hạn định, vì vậy cần phải nhờ đếnsức mạnh siêu nhiên thần bí
Từ phân tích trên, chúng ta rút ra kết luận chung về nguồn gốc xã hội của tôngiáo là những nhân tố khách quan của đời sống xã hội làm nảy sinh và nuôi dưỡngniềm tin tôn giáo
Nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo:
Trang 8Tôn giáo cũng bắt nguồn từ tính hạn chế nhất định của nhận thức con người Sựhiểu biết của người nguyên thủy, mơ hồ về nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên
và xã hội Việc không lí giải được những biến động này hay sự kiện có liên quan đếnđời sống, số phận con người … là tiền đề quan trọng hình thành tín ngưỡng tôn giáo.Trước hết, nhận thức xã hội như là sản phẩm của các hoạt động con người chỉ cónằm trong nhận thức hoạt động của con người mới được nảy sinh trong mỗi cá nhân vàđược duy trì bảo tồn bằng cách truyền lại cho các thế hệ đời sau Vì thế, nhận thúc tôngiáo không phụ thuộc vào cá nhân mà phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, nhu cầu, lợích giai cấp… Mặt khác, quá trình nhận thức thế giới không phải là một quá trình giảnđơn, mà là một quá trình biện chứng phức tạp bao gồm sự thống nhất giữa nội dungkhách quan và hình thức chủ quan của nó
Các hình thức phản ánh thế giới càng phong phú, đa dạng bao nhiêu thì conngười càng có khả năng nhận thức thế giới khách quan đầy đủ, sâu sắc bấy nhiêu.Trong quá trình này luôn sảy ra hiện tượng tư duy của con người tách ra khỏi hiệnthực, đi xa hơn hiện thực và phản ánh sai lầm hiện thực Còn nếu con người càng tuyệtđối hóa hình thức chủ quan của nhận thức thì càng tách rời nội dung và thậm chí bópméo, xuyên tạc nội dung khách quan của nhận thức Hơn nữa, hiện tượng tư duy táchrời hiện thực còn được tiếp tay bởi chính ngay cơ chế hoạt động nhận thức của conngười Đó là giai doạn chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lí tính, từ tri giác,biểu tượng đến các khái niệm chung Sự nảy sinh nhận thức tôn giáo nằm ngay trong
cơ chế hoạt động của quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa thường dẫn đến khả năngtách rời và bóp méo các nội dung khách quan về sự vật
Xét về mặt nhận thức của lịch sử nhân loại, tôn giáo đã xuất hiện khi khả năngnhận thức của con người đang ở hình thức biểu tượng của giai đoạn nhận thức cảmtính - như thần thoại cổ của mỗi dân tộc Các biểu tượng về hiện thực bị tách ra và thầnthánh hóa, có quyền năng, song do tính chất của biểu tượng là hình ảnh của sự vật,hiện tượng chưa có sự khái quát và trừu tượng hóa nên các vị thần này đèu rất giốngcon người về hình dáng cũng như tâm lí yêu, ghét, đố kị, thậm chí cả ghen tuông nữa.(Thần thoại Hy Lạp cổ đại)
Tôn giáo là kết quả của hoạt động nhận thức sai lầm của con người, khi nhận thức
ấy xa rời hiên thực trong sự trừu tượng và tuyệt đối hóa mặt chủ quan của nhận thức
Nó tạo ra một thế giới hoang tưởng, những khái niệm không có đối tượng hiện thực
Trang 9như: Trời, thượng đế, chúa… Chính những khái niệm, những quan niệm hoang đườngnày đã tạo ra trạng thái tâm lí, tình cảm, niềm tin tôn giáo Nếu không có quá trìnhnhận thức này, tôn giáo sẽ không xuất hiện Vì vậy, nhận thức cũng là một trongnhững nguồn gốc cua tôn giáo Nó là tất yếu và không thể thiếu được, song không cótính chất quyết định vì nó chỉ là nguồn gốc phát sinh từ nguồn gốc xã hội Vậy nguồngốc nhận thức của tôn giáo là những điều kiện, tiền đề, khả năng làm hình thành tìnhcảm, niềm tin tôn giáo Chúng được nảy sinh trong quá trình nhận thức của con người.
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Sự nảy sinh ra tín ngưỡng tôn giáo liên quan đến cảm xúc, trạng thái, tình cảm vàđối tượng của con người
Đã có quan điểm cho rằng: “Tôn giáo là do sự sợ hãi mà ra” Song vấn đề khôngphải là sự sợ hãi và đây là một trạng thái tâm lí chung, vốn có của mọi người, và aicũng có trạng thái sợ hãi này nhưng chưa chắc dẫn đến tôn giáo Trong quá trình tácđộng với thế giới hiện thực con người luôn vấp phải một hiện thực vừa “nghiêm khắc”,
“khó hiểu” vừa “bao dung” vừa “tàn bạo”, vừa “gần gũi” vừa “xa lạ” Ở họ nảy singnhững tâm lí, cảm xúc, trạng thái lo âu, sợ hãi, đau buồn, cô đơn… Trạng thái tâm línày lặp đi lặp lại dẫn đến “tâm thế khuất phục” không làm chủ được mình Mặt khác,lòng biết ơn, tôn kính những người có công khai phá, tiến công vào các lực lượng tựnhiên hay chống áp bức, cường quyền, làm điều thiện cũng được tô vẽ, bổ sung tạo rahình tượng “thánh thần”, có tính siêu phàm, xuất chúng Sự thần thánh hóa nhữngngười anh hùng, lòng tôn kính họ được truyền từ đời này sang đời khác hình thànhniền tin tôn giáo bền vững ở các thế hệ sau Như vậy, tôn giáo không nảy sinh từ nỗi
sợ hãi mà chính xác là nỗi sợ hãi cộng với những xúc cảm tiêu cực được lặp đi lặp lạithường xuyên và trở thành nhân tố bền vững trong đời sống tâm lý Chính những xúccảm tâm lý tiêu cực được lặp lại nhiều lần để trở thành bền vững đó là cơ sở nảy sinh
ra niềm tin, tình cảm tôn giáo
Ta rút ra kết luận: Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo là những điều kiện, tiền đề, khảnăng hình thành niềm tin tôn giáo Chúng được nảy sinh trong quá trình hoạt động củacon người
Những nguồn gốc nêu trên chính là những nguồn gốc bên trong của sự hìnhthành, tồn tại và phát triển tôn giáo Ba nguồn gốc này đan xen và tác động biện chứng
Trang 10với nhau không thể thiếu bất kì một nguồn gốc nào cả, song quan trọng và quyết địnhnhất vẫn là nguồn gốc xã hội.
Tóm lại, sự hình thành và tồn tại của tôn giáo là do sự tác động của nhiều nguyênnhân như xã hội, nhận thức, tâm lý Do vậy tôn giáo là một hiện tượng xã hội, tồn tạilâu dài cùng với sự tồn tại và phát triển của con người trong những hoàn cảnh lịch sửnhất định Khi con người vẫn còn những tâm trạng, cảm xúc bi quan yếu thế, sợ hãi vềcái chết, về bệnh tật, về đời sống cá nhân và gia đình Khi con người còn chưa thỏamãn được những nhu cầu, khát vọng, hoài bão cả về vật chất lẫn tinh thần Khi trong
xã hội còn có giai cấp và áp bức giai cấp thì lúc đó tôn giáo còn có cơ sở tồn tại dướihình thức này hay hình thức khác, dưới biểu tượng này hay biểu tượng khác
Thứ hai, về bản chất của tôn giáo
tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội, là thế giới quanlộn ngược trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với cái siêu nhiên, cáihiện thực với cái hư ảo, cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần gian với cái siêu trầngian, là sự phản ánh hư ảo, hoang tưởng những sức mạnh bên ngoài Trong đó sứcmạnh trần gian mang hình thức sức mạnh siêu nhiên chi phối toàn bộ đời sống conngưởi và cả cộng đồng người Như vậy, xét cho cùng mọi tôn giáo đều phản ánh đờisống hiện thực của những cộng đồng người trong một giai đoạn lịch sử nhất định Sựphản ánh đó một mặt thể hiện khát vọng khám phá bản thân mình bằng cái siêu nhiên,mặt khác biểu hiện sự phản kháng lại chính trạng thái bất lực, thụ động của họ trước tựnhiên và xã hội
L Phơ Bách đã nhận xét rất đúng rằng: “Sự hiểu biết về Chúa là sự hiểu biết màcon người rút ra từ bản thân nó Từ Chúa của nó, anh hiểu con người, và lại từ conngười, anh hiểu Chúa của nó Hai là một… Chúa là tuyên ngôn của nội tâm, là cái bảnthân biện minh từ con người Tôn giáo là sự khám phá trang trọng nhất những của cảicất giấu trong con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của conngười, là sự thừa nhận những tình cảm công khai nhất của con người” Ở đây, PhơBách chỉ đề cập đến con người trừu tượng, chung chung chứ không phải là con ngườihiện thực, sống động trong tổng hòa các quan hệ xã hội
Mác đã phê phán bản chất trừu tượng của con người đó ở Phơ Bách và vạch rõ sựphản ánh hoang tưởng thế giới hiện thực của con người, vừa là biểu hiện thế giới hiệnthực, đồng thời vừa là sự phản kháng chống lại thế giới hiện thực đó Bản chất của tôn
Trang 11giáo chính là sự phản ánh hoang tưởng mang tính hai mặt ấy như là mối liên hệ tấtyếu, nội tại quy định sự tồn tại của tôn giáo Mác nhận xét: “Sự khốn cùng của tôngiáo, một mặt là biểu hiện sự khốn cùng của hiện thực và mặt khác là sự phản khángchống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị
áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của nhữngđiều kiện xã hội không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Thứ ba, tính chất chung của tôn giáo
Một là, tính chất lịch sử.
Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ
là một phạm trù lịch sử Tôn giáo không xuất hiện ngay từ đầu cùng với sự xuất hiệncủa con người Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy của con người đạt tới mộtmức độ nhất định
Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử trong từng thời kì của lịch sử, tôn giáo có sựbiến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Cải cách tôn giáotrong Thiên chúa giáo ở thế kỉ XVI là một thí dụ.Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có
sự thay đổi, điều chỉnh theo
Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo bị loại bỏ,khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số nhân dân nhận thức được bản chất của cáchiện tượng tự nhiên và xã hội, tôn giáo sẽ dần dần mất đi vai trò của nó trong đời sống
xã hội và trong nhận thức, niềm tin của mỗi người
Hai là, tính chất quần chúng
Tính chất quần chúng của tôn giáo thể hiện ở tín đồ các tôn giáo thuộc tất cả cáctôn giáo, tầng lớp trong xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong dân số thế giới Nếu chỉ tính cáctôn giáo lớn, đã có tới từ 1/3 đến một nửa dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo.Tính chất quần chúng của tôn giáo xuất phát từ nhiều nguyên nhân Một mặt, cho đếnnay sự phát triển của khoa học, sản xuất và xã hội chưa loại bỏ được những nguồn gốcnảy sinh tôn giáo Mặt khác, tôn giáo cũng đang đáp ứng phần nào nhu cầu tinh thầncủa quần chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do,bình đẳng… Vì vậy, còn nhiều người trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo
Ba là, tính chất chính trị
Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo chưa mang tính chính trị Tính chính trịcủa tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác nhau về lợi ích
Trang 12và các giai cấp bóc lột thống trị lợi dụng tôn giáo thực hiện lợi ích của mình Nhữngcuộc chiến tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các cuộc Thập tự chinh thờithời trung cổ ở Châu Âu hay xung đột tôn giáo ở bán đảo Ban Căng, ở Pakixtan, Ấn
Độ, Angiêri… đều xuất phát từ những ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội,lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình Trong nội bộ các tôn giáo,cuôc đấu trang giữa các dòng, hệ, phái… nhiều khi cũng mang tính chính trị Cuộc đấutranh của giai cấp tư sản, tầng lớp thị dân mới hình thành với chính quyền phong kiếnkết hợp với nhà thờ được phản ánh trong cải cách tôn giáo ở Châu Âu thế kỉ XVI.Trong xã hội chủ nghĩa tôn giáo hoàn toàn tách rời với chính trị Nhà nước thựchiện quyền tự do tín ngưỡng, bao gồm quyền tự do hoặc không theo một tôn giáo nào;sinh hoạt tôn giáo mang tính chất tôn giáo thuần túy, không gắn với chính trị Chínhsách tôn giáo của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã loại bỏ hoàn toàn tính chất chính trịcủa tôn giáo
Bốn là, tính chất đối lập với khoa học
Tôn giáo phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người, giải thích mộtcách duy tâm, thần bí những thực tại xã hội mà con người đang gặp phải Vì vậy, tôngiáo mang tính chất duy tâm, đối lập với chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học.Trong lịch sử, tôn giáo đã nhiều lần sử dụng quyền lực của mình để đàn áp nhữngnhà khoa học, phủ nhận những thành tựu khoa học Xung quanh chuyện trái đất xoayquanh mặt trời, một thực tế khoa học ngày nay ai cũng biết, đã làm cho bao nhiêu nhàkhoa học bị treo trên giàn lửa thời trung cổ do sự trừng phạt của nhà thờ
Trong thời đại cách mạng công nghệ phát triển nhanh chóng hiện nay, tôn giáo có
sử dụng những thành tựu của khoa học để phát triển tôn giáo, đồng thời vẫn tìm cáchgiải thích sai lệch những tiến bộ khoa học, kĩ thuật, gieo vào đầu óc con người nhữngđịnh mệnh không thể cưỡng lại… Tính chất đối lập với khoa học của tôn giáo kìmhãm sự phát triển và tiến bộ xã hội
Thứ tư, về chức năng của tôn giáo
Một là, chức năng đền bù ảo tưởng
Là sự hứa hẹn, thỏa mãn nhu cầu được an ủi, được đền bù ở thế giới siêu nhiêncủa tôn giáo cho giáo dân Mọi tôn giáo đều đã và đang thực hiện đền bù aỏ tưởng chonhững con người yếu đuối, đau khổ Sự đền bù này thường hướng con người thoátkhỏi hiện thực đời sống, tìm sự thỏa mãn nhu cầu trong niềm tin vào thần thánh Sự an
Trang 13ủi, đền bù đẩy con người vào cuộc sống mộng mị với nhiều hoang tưởng Trong các xãhội có giai cấp, tầng lớp thống trị thường sử dụng chức năng này của tôn giáo để xiềngxích thống trị tầng lớp lao động nghèo khổ về mặt tinh thần.
Hai là, chức năng thế giới quan
Đây là chức năng phản ánh hoang đường và ảo tưởng về hiện thực Tôn giáo đãtạo ra bức tranh thế giới của mình và nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dân Tôn giáo
đã giải thích tự nhiên, xã hội và con người theo bức tranh hoang đường, bóp méo hiệnthực, giải thích mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh bằng mối quan hệthần bí giữa con người với cái siêu nhiên
Ba là, chức năng thường trực
Tôn giáo tạo ra một hệ thống các tiêu chuẩn và giá trị của nó Nó giải thích cácgiá thị siêu nhiên cao nhất và xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn đầu tiên là bảo vệ
và nhấn mạnh niềm tin vào cái siêu nhiên, tôn giáo đề ra các tiêu chuẩn không chỉ bảo
vệ trong lĩnh vực đạo đức trong thờ cúng, nghi lễ mà còn thường trực cả trong đạo đức
xã hội và quan hệ gia đình trong các học thuyết về đạo đức, xã hội của tôn giáo
1.1.2 Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo
Sự tiếp cận vào tôn giáo của tôn giáo học là một tổng thể các hệ thống phươngpháp nghiên cứu của các lĩnh vực khác nhau: Lịch sử, triết học, xã hội học, tâm lý họcthậm chí cả ngôn ngữ học và khảo cổ học Sự tiếp cận triết học vào tôn giáo đóng vaitrò thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho tôn giáo học Nó phải là những kếtluận chính xác được khái quát từ sự phát triển của tất cả các khoa học riêng biệt về tôngiáo
Sự tiếp cận xã hội học vào tôn giáo nhằm vạch ra vị trí của tôn giáo và vai trò củatôn giáo trong các hệ xã hội, vạch ra cấu trúc các tổ chức tôn giáo, các nhóm tínngưỡng, thậm chí cả sự tác động của tôn giáo vào nhận thức và hành vi cá nhân Xãhội học – tôn giáo không giới hạn ở sự miêu tả và sự phân tích hình thức các hiện
Trang 14tượng đặ biệt tôn giáo, mà nó còn xem xét các hiện tượng tôn giáo ở nhũng trình độkhác nhau Nếu là các hiện tượng xã hội thì chúng được xem xét trong các phạm vi,các khái niệm chung của xã hội học đại cương Còn nếu là một bộ phận, một nhân tốtrong xã hội thì đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc bên trong của đối tượng, biểu hiệnnhững khía cạnh riêng, độc đáo trong tính chỉnh thể và độc lập tương đối của nó,nghiên cứu vị trí chức năng của nó, nghiên cứu vị trí chức năng của nó trong một tổchức xã hội cụ thể , một nhóm người xác định hay ở một cá nhân, những vấn đề nàyphải tiếp cận bằng phương pháp xã hội học chuyên ngành Nghiên cứu triết học và xãhội học về tôn giáo có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể rút khỏi cái này ra khỏicái kia Tiếp cận triết học vào tôn giáo là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học tronglĩnh vực xã hội Tiếp cận bằng phương pháp xã hội học vào tôn giáo sự giải thích cáchiện tượng tôn giáo trong phạm vi một cấu trúc xã hội mang tính toàn vẹn và hệ thống.
Sẽ không có sự tiếp cận xã hội học vào tôn giáo đúng đắn và khoa học nếu không dựatrên quan điểm của triết học duy vật biện chứng Ngược lại, nếu chỉ dừng lại ở phươngpháp nghiêm cứu triết học thuần túy với lý luận và phương pháp chung sẽ không thểgiải quyết một cách chính xác và rõ ràng các hiện tượng đa dạng của tôn giáo Ranhgiới của hai phương pháp tiếp cận này chỉ có ý nghĩa tương đối, song đây là một tồntại hiện thực
Nghiên cứu tâm lý xã hội tôn giáo đòi hỏi phải có phương pháp tâm lý tổng hợpliên kết được các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng cá nhân, đặc biệt là sự tác độngcủa cá nhân với tôn giáo và ngược lại trong tiến trình tiến triển của cá nhân Nghiêncứu tâm lý riêng biệt của cá nhân trong những giai đoạn khác nhau của sự hình thành
và phát triển nhân cách có tầm quan trọng lớn, bởi nó vừa vạch ra con đường và lốimòn nẩy sinh ra tôn giáo trong các thế hệ mới, vừa vạch ra được thực chất của tưtưởng tôn giao tín ngưỡng, khái niệm tôn giáo trong ý thức cá nhân và cộng đồng giáodân Chúng ta có hệ thống phương pháp cơ bản nghiên cứu tâm lý tôn giáo như:Phương pháp hệ thống-cấu trúc, phân tích-loại hình, chọn lọc sơ bộ thông tin, quan sát,trắc nghiệm…
Hệ thống những phương pháp trên cho phép chúng ta có đầy đủ các thông tin, tàiliệu, số liệu về tâm lý của các nhóm giáo dân khác nhau, các quan điểm, tình cảm tôngiáo, các giá trị, các khuynh hướng, hoàn cảnh xã hội Sử dụng rộng rãi các phươngpháp trưng cầu ý kiến, trắc nghiệm, phỏng vấn, lập các phiếu điều tra để nắm được
Trang 15những đặc điểm khác biệt của các nhóm giáo dân khác tín ngưỡng, tìm ra đặc trưngchung Những phương pháp này giúp ta dựa vào thông tin đã có để từ đó phát hiện ranguồn gốc tâm lý của giáo dân trong toàn bộ tính phức tạp và mâu thuẫn của họ.Những phương pháp này còn giúp ta so sánh, đối chiếu những khía cạnh chủ quan vàkhách quan trong đặc tính của giáo dân, phẩm cách của họ, hiểu rõ hành vi của họ đểtìm thấy khía cạnh biểu hiện của tâm lý tôn giáo Ngoài ra, hệ thống những phươngpháp này cần phải liên kết chặt chẽ với nhau để vạch ra kiểu tác động của ý thức củatôn giáo, vị trí của tư tưởng và tín ngưỡng tôn giáo trong cấu trúc của ý thức và phẩmhạnh của giáo dân
1.2 Một số vấn đề về Thiên Chúa giáo
1.2.1 Khái quát về Thiên Chúa giáo ở thế giới
Vài nét về lịch sử và giáo lý của Thiên Chúa giáo
Thiên Chúa giáo còn gọi là Kytô giáo, Cơ đốc giáo hay Gia tô giáo, cả ba tên gọinày đều được phiên âm từ tiếng La Tinh – Christiannism, chỉ đến thế kỷ thứ X khitrường phái chính thống giáo(Orthodoxism) và Tin lành giáo(Protestantism) tuyên bố
li khai thì phần còn lại mới gọi là Công giáo (Catholisism) Kitô giáo xuất hiện vàođầu thế kỉ I ở phía Đông đế chế La Mã cổ Đế quốc La Mã là nhà nước chiếm hữu nô
lệ với địa phận rộng lớn, bao gồm haàu hết các nước ở Địa Trung Hải và một số nước
ở phía Đông bị đế chế La Mã chinh phục Quê hương gốc của Kitô giáo là Israel thuộcPalestin, một vùng đất luôn bị chinh phục bởi các thế lực từ Ai Cập, Babylon, Hy lạp
và đầu công nguyên là đế chế La Mã Nhà nước La Mã là chế độ chiếm hữu nô lệ rấttàn bạo, chủ yếu dựa vào sức lao động của hàng triệu nô lệ có nguồn gốc từ phươngĐông Do bị áp bức, bóc lột tàn bạo, người nô lệ liên tục phản kháng bằng mọi hìnhthức mà cao nhất, quyết liệt nhất: Khởi nghĩa vũ trang
Cuộc khởi nghĩa lớn nhất của người nô lệ diễn ra vào những năm 73 trước côngnguyên Dưới sự lãnh đạo của ngưới anh hùng Spactacus Cuộc khởi nghĩa đã làmlung lay cả đế chế La Mã hùng mạnh Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa đã thất bại đẩynhững người nô lệ vào cuộc thảm sát của nhà nước la Mã Sự thất bại làm đông đảoquần chúng nhân dân rơi vào sự khủng hoảng tinh thần Tâm lí chán nản, tuyệt vọng,tinh thần hoang mang, dao động đã khiến họ đi tìm cứu cánh ở các vị thần Thiên Chúagiáo đã xuất hiện trong thời điểm này và nhanh chóng tạo được niềm tin, sự đền bù ảotưởng cho những người nô lệ như nhà sử học pháp Charles Ensel nhận xét: “Chúa Ki
Trang 16tô đã thắng vì Spactacus đã thất bại” Sự ra đời của Thiên Chúa giáo được nhiều họcgiả Phương Tây xem là cuôc đai cách mạng thời cổ đại và những lí do sau:
Giáo lý Thiên Chúa giáo kêu gọi xóa bỏ sự phân biệt giai cấp giàu nghèo, ca ngợi
sự bình đẳng Sự xuất hiện của Jesus như sứ mệnh trung gian hòa giải giữa Chúa trời
và con người, tạo sự thống nhất của hai thế giới trong mỗi con người kéo họ ra khỏinhững ham muốn nhục dục, lac thú vật chất Sự thống nhất giữa thế giới thần thánh vàthế giới phàm tục tạo cho con người một đức tin trong sự hòa hợp giữa hành động và ýthức, một sự liên thông với ý định sáng suốt của Chúa
Thiên Chúa giáo chủ trương xây dựng một thế giới mới, khắc phục tội lỗi, lòng
đố kị và thù hận, đáp ứng những khát vọng tự do, hạnh phúc của đại chúng Mặc dùthế giới hạnh phúc đó là thế giới hoang tưởng, độc lập, xa lạ với thế giới trần tục, songchính thời điểm đó, nó lại có sức hấp dẫn đặc biệt mang lại cho đại chúng niềm an ủi,tạm quên đi nỗi đau thể xác lẫn tinh thần
Thiên Chúa giáo có quan niệm mới về con người Trong kinh thánh con ngườikhông chỉ là bề tôi hay kẻ được cữu rỗi mà là con của Chúa, noi theo gương Chúa yêuthương đồng loại, vươn tới sự thánh thiện Trong thực tế kinh thánh khuyên con ngườithay đổi cả trong ý thức lẫn hành động từ sự phản kháng bằng bạo lực sang đạo đứchoàn thiện mỗi con người và sự khiếm khuyết, thiếu nhân tính trong các quan hệ xãhội là kết quả của sự thiếu hoàn thiện ở mỗi con người Điểm cốt lõi trong sự hoànthiện đó là tinh thần hòa giải, tha thứ, tình bác ái Lòng khaon dung độ lượng đó biếnKytô giáo vượt lên trên mọi tôn giáo đương thời và đươch chứng minh hùng hồn bằngchính cuộc đời hành đạo của Jesus Ngoài sự can đảm đối đầu với thực tế, không vụlợi, có tinh thần trách nhiệm với đời sống, phấn đấu cho tự do, bình đẳng, Chúa Jesuscòn tha thứ cho mọi tội lỗi của con người kể cả kẻ đã sát hại mình
Jesus là một nhân vật có thực trong lịch sử, ông sinh khoảng năm thứ I côngnguyên trong một hang đá ở Bethleem thuộc chủng tộc Israel Mẹ là đức đồng chinhMaria, cha là Joseph làm nghề thợ mộc ở Nazareth xứ Palestin, một xứ thuộc quyềnbảo trợ của đế chế La Mã, nằm tiếp giáp ba lục địa: Châu Á, Châu Âu và Châu Phi.Đời sống của Jesus được hậu thế thêm vào nhiều màu sắc thần bí, song thực ra,ông là một người hăng hái có ý chí từ nhỏ Trong kinh Phúc âm của thánh Luca (Câu
41, đoạn 2) năm 12 tuổi ông đã theo cha mẹ đến đền thờ Jerusalem để làm lễ “Vượtqua” của Do thái giáo Sau khi giữ lễ xong, Jesus chốn cha mẹ ở lại đền để đàn đạo với
Trang 17các vị tiến sĩ, thượng tế Năm 30 tuổi đức Kitô bắt đầu giảng thuyết cho những người
nô lệ Ông đã đi lang thang khắp nơi vừa chữa bệnh, vừa rao giảng một triết lý nhân ái:Yêu Thượng đế và yêu nhân loại Yêu Thượng đế vì Thượng đế là cha của loài người,yêu nhân loại là anh em ruột với nhau
Theo kinh thánh, Chúa Jesus đã cứu giúp bao kẻ mù lòa có ánh sáng, cứu sốngnhững kẻ bị căn bệnh hiểm nghèo và quan trọng hơn, ông đã đem đến cho mọi ngườitin mừng vĩ đại: Thượng đế đã phái ông xuống trần để cứu chuộc tội lỗi của con người,đưa mọi người đến hạnh phúc tron vẹn Các thủ lĩnh tôn giáo đa thần đang ngự tri ở La
Mã rất tức tối vì mất độc quyền thống trị trong đời sống tinh thần Người theo đạo Dothái cũng tức giận vì trái với tín ngưỡng của họ, tất cả tầng lớp thống trị đều cho rằngđạo của ông sẽ gây rối loạn trật tự xã hội Họ tìm cách ngăn cản và thủ tiêu Jesus Lợidụng sự vu cáo của những người Do thái ở Jeruasalem, nhà cầm quyền La Mã đã bắtông và chính viên trấn thủ La Mã – Phansico Pilato đã ra lệnh đóng đinh câu rút ông
trên thập giá ở núi Golgotha Ông hấp hối trong ba giờ, trước khi tắt thở ông còn nói
lời nhân từ, bất hủ: “Cha, xin cha tha thứ cho họ, họ không biết họ đang làm gì” Vàchính viên đội trưởng chỉ huy hành quyết Jesus đã phải thốt lên: “Quả thực ông này làcon Thượng đế”
Sau 3 ngày, Jesus đã phục sinh trở về trần gian như đã hứa và trở về thiên đườngkhi sứ mạng cứu rỗi đã hoàn tất và sẽ còn quay lại khi nhân loại tới ngày tận thế và sẽcứu chuộc, phán xét từng người
Sau Jesus, 12 tông đồ tiếp tục công việc rao giảng tin mừng và ghi chép các lờidạy của ông
Chỉ trong vài năm, Kytô giáo đã phổ biến rộng rãi từ Palestin đến ba lục địa,trong bồn thế kỉ đầu nó đã bao trùm toàn đế quốc La Mã và khắp Địa Trung Hải Mặc
dù bị nhà nước La Mã bách hại, tàn sát suốt ba thế kỉ, Kytô giáo vẫn thiết lập nhữnghội thánh ở ba khu vực văn hóa lớn: Latin Tây Phương, khu vực Đông phương Hi Lạp,khu vực văn hóa Xyri Từ ba trung tâm này, Kytô giáo lan sang miền Lưỡng Hà(Mesopotamic) Ba Tư rồi Ấn Độ và tràn sang cả Bắc Phi Chính trong thời kì bách nạnnày đã có nhiều tông đồ tử vì đạo như thánh Phêrô, Phaolô, Gioan, Giacôbê…
Đầu thế kỉ thứ IV, khi chế độ phong kiến La Mã hình thành Các hoàng đế La Mã
đã lợi dụng Thiên Chúa giáo và biến nó trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho lợiích của mình Họ đã đưa ra chiếu chỉ cấm sát hại tín đồ Kytô giáo, xác nhận vị trí hợp
Trang 18lí cho nó Bắt đầu từ hoàng đế Constantinus với chiếu chỉ Milan năm 313 tới triều đạicủa hoàng đế Teođơuxơ thì Thiên Chúa giáo đã trở thành quốc giáo.
Xuất hiện ở Palestin - một khu vực nhỏ bé nằm tiếp giáp với ba lục địa, ThiênChúa giáo tiếp thu ảnh hưởng của ba nền văn hóa Á, Âu, Phi Vì vậy, giáo lý của nó là
sự tổng hợp, hòa lẫn giữa thần học phương Đông, triết học duy lý Hy Lạp, chủ nghĩakhắc kỉ và tính thực dụng của người La Mã như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét.Thần học phương Đông, mà chủ yếu Do thái giáo có ảnh hưởng rất lớn đến thếgiới quan, tín điều, những điều răn trong giáo lý của Kytô giáo Bản thân Jesus từ nhỏ
đã được tắm trong bầu không khí linh thiêng của Do thái giáo Theo kinh Phúc âm(Luca, câu 21, đoạn 2) hồi nhỏ Jesus đã chịu phép: “Cắt bì” – một luật tục của ngườiIsrael Mặt khác, giáo lý Kytô giáo đã thừa nhận kinh thánh của người Israel và xem
đó là phần Cựu ước (Giao ước cũ giữa Chúa và con người)
Theo “Kinh thánh”, Chúa trời đã tạo dựng nên muôn vật và thủy tổ của loàingười là ông Ađam Và bà Eva Do phạm lỗi với Chúa trời mà hai người bị đuổi rakhỏi vườn địa đàng xuống trần gian Ở trần gain con cháu của Ađam va Eva vẫnkhông ngừng phạm tội nên Chúa trời phải gây nên trận Đại hồng thủy đẻ tiêu diệt tất
cả chỉ để vợ chồng Nô-ê sống sót Con cháu của Nô-ê lại tiếp tục phạm tội và tội lỗingày càng nhiều buộc Chúa trời phải phái “Ngôi thứ hai” của mình xuống trần gian đểcứu vớt con người Cái chết của Jesus được coi là sự chuộc lỗi cho tội lỗi của conngười Cái chết này là sự kiện quan trọng nhất và là cơ sở cho các tín điều khác
Theo Hegel (1770 – 1831), trong “Lịch sử đức Chúa Jesus” thì “Tôn giáo là hìnhthức thứ hai của hệ thống tự bộc lộ của tinh thần, sau nghệ thuật” Ông cho rằng ThiênChúa giáo là loại tôn giáo tuyệt đối, là tôn giáo của chân lý tự do và tinh thần, là sựthống nhất bản chất thần và người
Xét về mặt tôn giáo, Thiên Chúa giáo là một hệ thống lý thuyết về đức tin và sựmặc khải - hệ thống này nằm trong Thánh kinh bao gồm hai phần Tân ước và Cựuước
Bộ kinh Cựu ước gồm 45 cuốn sách do các nhà tiên tri Do thái được Thiên Chúaviết ra trước khi Chúa Jesus ra đời Cựu ước giải thích nguồn gốc của vũ trụ và loàingười, lịch sử Do thái được Chúa chọn để đón nhận và chuẩn bị cho sự ra đời củaChúa Jesus Cựu ước được chia làm ba loại:
Trang 19Các sách lịch sử do thánh Moise viết, các sách về các vị vua của anh em Macabêviết.
Các sách văn thơ gồm ca vịnh, châm ngôn, nhã ca, truyền đạo
Các sách sấm ký (tiên tri) của các thánh như Saia, Gieremia, Ezechiel, Daniel và
12 nhà tiên tri nhỏ như Osê, Janas, Michê…
Tân ước cũng chia làm ba loại:
Loại lịch sử gồm 4 cuốn kinh Phúc âm của các thánh Mathieu, Marcô, Luca vàGioan, thêm 1 cuốn “Công vụ Tông đồ” của thánh Luca
Loại Thánh thư gồm lời giảng giải của các tông đồ như Phaolô, Phêrô, Giacôbê,Juđa về các vấn đề tín lý và luân lý (Gồm 21 cuốn)
Một cuốn sách khải huyền của thánh Gioan, ghi chép về vũ trụ và đời sống giáohội
Trong số các cuốn sách “Kinh thánh” trên có cuốn chỉ hai hoặc ba trang, songđược tòa thánh Vantican chấp nhận và cho phổ biến rộng rãi trong giáo hội Công giáo.Ngoài ra còn nhiều tác phẩm của các Giáo phụ Kytô giáo Các tác phẩm nàykhông được xem là sự mặc khải của Chúa nhưng được bộ tín lý của tòa thánh Vaticancoi là kinh điển Những tác phẩm này được chi làm hai loại:
Những tác phẩm thần học được giáo hội Công giáo xem trọng nhất như các tácphẩm của thánh Agustin “Vương quốc của Chúa trời”, “Chúa ba ngôi”, “Tự thử”…Những tác phẩm triết học mang tính chất kinh viện, chủ yếu dựa trên triết học HyLạp để biện minh cho sự tồn tại và quyền năng của Chúa vể sự đúng đắn của các tínđiều Trong số các tác phẩm nổi tiếng nhất là “Hai mươi bốn luận đề triết học”
Đức tin quan trọng trước tiên là phép nhiệm màu của Chúa ba ngôi (Tam vị nhấtthể - đó là cha, con và thánh thần) Chúa trời là nguồn gốc của sự sống, vì tội lỗi củacon người mà Chúa Jesus có hai bản chất: Thánh thần và con người Chúa trời ba ngôicũng chỉ là bản thể độc nhất - bản thể của vũ trụ
Đức tin lớn thứ hai: Chúa trời là người có quyền lực, cai quản toàn bộ vũ trụ gồm
ba thế giới: Thiên đàng, trần gian và địa ngục Sách sáng thế đã ghi lại công việc tạodựng của Chúa trời như sau: Ngày thứ nhất tạo ra ánh sáng và bóng tối Ngày thứ haitạo ra không gian và thời gian Ngày thứ ba tạo ra biển và đất liền Ngày thứ tư tạo ramặt trời và mặt trăng Ngày thứ năm tạo ra chim và cá Ngày thứ sáu tạo ra con người
và cầm thú Ngày thứ bảy: Nghỉ việc
Trang 20Đức tin lớn thứ ba: Tội tổ tông của loài người bắt nguồn từ sự phạm tội củaAđam và Eva mà bản chất tội lỗi của họ là sự kiêu căng muốn trở thành hoàn thiện,toàn bí tích như Thiên Chúa, vì tội tổ tông đó mà nảy sinh ra đau khổ, cái thiện và cái
ác ở con người
Đức tin lớn thứ tư: Sự phục sinh của Chúa Jesus Cái chết “tuẫn nạn” của Jesuskhông phải là chấm hết, đó chỉ là phương cách cứu con người ra khỏi tội lỗi Sự phụcsinh sẽ đến với mọi người trên trái đất sau khi chịu sự “phán xử cuối cùng” của Chúa.Tín điều về sự phục sinh mang lại cho các tín đồ, niềm tin vào kiếp sống tạm bợ nơitrần gian và cuộc sống vĩnh hằng nơi thiên đường
Các luân lý bao gồm mười điều răn và ba lời khuyên:
Theo thánh Misen, Đức tin Thiên Chúa bắt nguồn từ nguyên tắc luân lý cao nhất
là tình yêu thương của Chúa và tình yêu thương đồng loại Từ nguyên tắc đó mà Chúa
đã có mà đã có mười điều răn:
1 Không được thờ phụng một thần nào khác ngoài ta
2 Chớ kêu tên Thượng đế một cách vô cớ
3 Hãy nhớ ngày lễ nghỉ để thánh hóa
4 Hãy thảo kính cha mẹ
5 Chớ giết người
6 Chớ tà dâm
7 Không trộm cắp
8 Không lừa gạt, hại người khác
9 Không thèm muốn vợ (hay chồng) người khác
10 Không thèm muốn của cải người khác
Thực chất luân lý ở Thiên Chúa giáo kêu gọi sự phục tùng ngoan ngoãn, đứcnhẫn nại, hy sinh với sự hứa hẹn đền bù ở Thiên đàng – như trong thánh kinh đã ghi lạilời răn nỗi tiếng của Jesus: “Nếu chúng con tha thứ lỗi lầm cho kẻ khác, cha chúng contrên trời sẽ tha thứ cho chúng con Bằng nếu chúng con không tha thứ cho người khác.Cha chúng con sẽ không tha thứ cho chúng con đâu”
Nghi lễ và tổ chức giáo hội của Thiên Chúa giáo:
Trong các nghi lễ của Thiên Chúa giáo, các phép bí tích là quan trọng nhất Bítích là những nghi lễ thể hiện mối quan hệ giao tiếp giao tiếp giữa con người vớiChúa
Trang 21Có bảy bí tích:
1 Bí tích rửa tội: Thường được thực hiện với ý nghĩa rửa sạch mọi tội lỗi cho conngười bằng nước thánh của Chúa Kinh thánh viết: “Các con hãy đi giảng dạy muôndân, làm phép rửa tội cho họ nhân danh Cha, con và Thánh thần”
Bí tích rửa tội nhằm xóa bỏ tội tổ tông và các tội ta phạm, tha mọi hình phạt dotội gây ra, ban ơn thánh hóa và làm cho ta nên chí thể mầu nhiệm Chúa Kytô Nghi lễcốt yếu của bí tích rửa tội là lấy nước lã đổ lên đầu kẻ lãnh bí tích rửa tội, vừa đổ vừađọc rằng: “Tôi rửa tội nhân danh cha, con và thánh thần” Còn kẻ lãnh bí tích rửa tộithề hứa từ bỏ ma quỷ xa lánh tội lỗi và tin theo Chúa Kytô cùng giữ lề luật người
2 Bí tích thêm sức: Nhằm ban thêm cho tín đồ dồi dào đức tin, kính Chúa và tíchcực xây dựng hội thánh của người Bí tích chỉ do các giám mục và linh mục theo luậtchỉ định của giáo hội thực hiện mà thôi Nghi lễ của bí tích này là vị chủ lễ đặt tay lênđầu kẻ lãnh bí tích thêm sức và cầu nguyện cho họ, lấy dấu thánh trên trán mà đọc lờiban bí tích thêm sức, cuối cùng là chúc bình an bằng câu: “Hãy lãnh nhận ấn tín ơnmới Chúa, thánh thần”
Những tín đồ đã được rửa tội thì mới được lãnh nhận bí tích thêm sức
3 Bí tích thánh thể: Là thực chất của đời sống Kytô hữu Tương truyền chúaJesus đã lập bí tích thánh thể trong bữa tiệc ly trước khi tuẫn nạn Kinh thánh ghi: ĐứcChúa Jesus cầm lấy bánh tạ ơn bỏ ra và trao cho các môn đồ và phán: “Các con hãycầm lấy mà ăn này là mình ta” Rồi người cầm chén rượu nho, tạ ơn và trao cho môn
đệ mà phán: “Các con hãy uống chén này vì này là máu của ta, máu của tân ước sẽ đổ
ra cho mọi người để được tha tội” Hình thức nghi lễ của bí tích này chỉ đơn giản làcác linh mục cầm bánh thánh và rượu đọc “Này là mình ta”, “Này là máu ta”, qua lờiđọc đó Chúa Kytô hiện diện biến bánh và rượu thành thịt và máu của Chúa – đây là ýnghĩa rất thiêng liêng đối với tín đồ giáo dân
4 Bí tích giải tội: Dành cho người cần xám hối tội lỗi Khi xưng tội, người giáodân tin rằng Chúa sẽ tha thứ và được phục quyền trong hội thánh Linh mục trong khinghe xưng tội không phải là quan tòa phán xét mà chỉ đại diện cho lòng nhân từ củaChúa Các linh mục có trách nhiệm tuyệt đối giữ bí mật của phép giải tội và những bímật của con chiên khi xưng tội
5 Bí tích truyền chức thánh: Là nghi lễ để thông quyền cho giám mục, linh mục
đã được tuyển chọn, ban cho họ chức vụ trong cứu độ loài người Sau khi truyền chức
Trang 22thánh, các linh mục được quyền tế lễ và ban các bí tích khác, quyền chăn dắt dânChúa.
6 Bí tích hôn phối: Là lễ nghi mà Chúa ra để kết hợp hai tín hữu, một nam, một
nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa và hội thánh ban ơn cho họ được sống xứng đángtrong chức vụ của mình Trong Kinh thánh có ghi lại lời phán truyền của Chúa: “Điều
gì đức Chúa trời đã kết hợp thì loài người không được phân ly’
Bí tích hôn phối đối với tín đồ rất quan trọng vì tình yêu vợ chồng là hình ảnhtình yêu của Chúa Jesus với loài người
7 Bí tích sức dầu bệnh nhân: Là nghi lễ Chúa Jesus đã lập để nâng đỡ Chúa Jesus
về phần hồn và phần xác Bí tích này nhằm tẩy sạch dấu vết tội lỗi, tha các tội quên sót
vì cơn bệnh mà không xưng tội, nó giúp tín đồ chịu đựng đau khổ, dọn mình chết lành.Nghi lễ được thực hiện bằng cách linh mục lấy dấu thánh và nhờ lòng từ bi của Chúa
mà làm cho bệnh nhân giảm hết bệnh hoặc dọn mình trước khi chết
Tổ chức giáo hội của Thiên Chúa giáo là một tổ chức rất chặt chẽ, hệ thống vàđược gắn kết lại bởi một đức tin chung
Đứng đầu hội thánh là Đức Giáo hoàng Thiên Chúa giáo cho rằng, Đức Giáohoàng là người kế vị Thánh Phêrô và thay mặt đức Chúa Jesus làm đầu hội thánh ởtrần gian Đức Giáo hoàng là biểu tượng và là cơ sở của sự thống nhất trong đức tin vàtrong sự hiệp thông của các tín đồ Kytô hiện hữu
Đức Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm điều khiển mọi côngviệc của hội thánh theo 4 mục đích:
Hội thánh duy nhất (độc tôn)
Hội thánh thiện
Hội thánh Công giáo (Giảng dạy chân lý)
Tông truyền liên tục với các tông đồ
Cơ quan đầu não của hội thánh ở Rôma Cộng sự viên trực tiếp cho Đức Giáohoàng là các vị Hồng Y do chính Giáo hoàng bổ nhiệm và hàng ngũ các chức sắc làmviệc trong triều Rôma như các thánh bộ, thánh vụ, các tòa án và các văn phòng nhưgiáo (Chuyên lo việc tổ chức, sai phái các vị thừa sai đi khắp nơi truyền giáo)
Dưới tòa thánh Vantican là Hội thánh ở các địa phận Điều khiển các Tòa thánh ởđịa phận là các giám mục Giám mục có quyền lực tối cao trong địa phận mình caiquản, họ điều hành các công việc của cả địa phận cả về mặt hành pháp và tư pháp, mỗi
Trang 23năm không được vắng quá ba tháng ở địa phận, không được cư ngụ ở nhà anh em Cácgiám mục toàn cầu thành lập: “Thượng hội đồng giám mục” để xem xét những côngviệc chung.
Đơn vị thấp nhất của Hội thánh là Giáo xứ (Xứ đạo, họ đạo) Điều khiển Giáo xứ
và chăn dắt tín đồ họ đạo do Linh mục Linh mục có hai loại: “Triều” là những Linhmục theo đơn vị hành chính từ xứ họ trở lên “Dòng” là những Linh mục làm chuyênmôn Linh mục có nhiệm vụ chăm sóc giáo dân thuộc địa phận mình, không rời xa quá
2 tháng / năm Không tham gia việc đời (Làm quan tòa, bộ trưởng, tỉnh trưởng ).Quyền lợi của Linh mục là được quyền làm các bí tích và giáo huấn cho các tín đồ.Việc đào tạo một Linh mục cũng rất được coi trọng Linh mục “Triều” phải quabảy năm ở chủng viện, hai năm giúp xứ, sáu năm học ở Đại chủng viện Sau đợt sáthạch về tư cách, ý chí , thi cử, sức khỏe Các chủng sinh mới được thụ phong Linhmục
Tính ra, mỗi chủng sinh phải mất 15 năm học tập, tu luyện mới tốt nghiệp Linhmục Từ Linh mục thụ phong lên Giám mục cũng rất phức tạp Những Linh mục trên
30 tuổi, đã có 5 năm làm Linh mục, có đạo đức và văn bằng cử nhân hay tiến sĩ thầnhọc mới đủ tiêu chuẩn Việc thụ phong lên hàng Giám mục phải trải qua ba giai đoạn:
Đề nghị (hay tiến cử) của giáo dân, giao đoạn tuyên nhiệm (hay bổ nhiệm) do Giáohoàng duyệt, giai đoạn ba là tấn phong (thụ phong)
Mỗi địa phận có một ngôi thánh đường chính gọi là nhà thờ Chính tòa Cònnhững xứ đạo là các nhà thờ họ là nơi các giáo hữu tụ họp và hành lễ
Các tín đồ giáo dân được gọi la Kytô hữu Họ là những người tin theo đức ChúaJesus và sống một cuộc đời hiệp thông với Chúa Về mặt lý thuyết, người Kytô hữusống thánh thiện theo “tin mừng”, có thái độ sống theo đức tin đó là hy sinh vì Chúa
Có đức bác ái, nhân từ với đồng loại như trong kinh thánh đã răn dạy: “Hãy làm chongười khác những gì các người muốn họ làm cho mình” hoặc “Thiên Chúa là tìnhyêu”
Theo Thiên Chúa giáo, toàn bộ thế giới được chia thành các địa phận và họ đạo,ngoài ra còn có các dòng tu Các dòng tu cũng giữ một vai trò quan trọng trong Kytôhữu Theo Giáo luật khoản 487, các bậc dòng tu là những người chung sống để đạt tớinhững việc hoàn thiện công giáo bởi giữ được ba lời khấn: Vâng lời, sạch sẽ, khákhăn Người tu sĩ giống như giáo dân, cũng giữ những điều luật giáo hội, nhưng người
Trang 24tu sĩ sống trong một tổ chức chặt chẽ hơn, ràng buộc nhiều hơn Trong lịch sử ThiênChúa giáo có những dòng tu nỗi tiếng sau:
1 Dòng tên do thánh Inhaxiô sáng lập năm 1539 – 1541, dòng tên tôn kính cáchriêng Thánh danh Chúa Jesus, nhận lễ Thánh danh Chúa Jesus, nhận lễ thánh danhchúa làm lễ bổn mạng
2 Dòng Đa minh, còn gọi là anh em thuyết giáo do Thánh Saint Dominique sánglập đầu thế kỉ XIII
3 Dòng Phanxicô do Thánh Phanxicô sáng lập đầu thế kỉ XVIII
4 Dòng Lasan do Thánh Gioan Baotixtia Lasan sáng lập
5 Dòng Biển Đức do Thánh Biển Đức sáng lập đầu thế kỉ thứ VI
Công việc chính của các dòng tu là chuyên lo cầu nguyện và chiêm nghiệm, cómột số dòng tu đảm trách ở các trường học, bệnh viện, cô nhi viện Mỗi dòng tu có bềtrên riêng và luật riêng, song các dòng tu luôn có sự phối hợp trong lợi ích chung củaGiáo hội
Nhìn chung Giáo hội Thiên Chúa giáo luôn cố gắng bảo vệ thuyết Chúa bất di bấtdịch (thông điệp Deilideis 1871) Vẫn khẳng định tính “Không thể sai lầm” của Giappshoàng và khuynh hướng quyền lực tối thượng Những quan niệm về Chúa, hệ thốngđức tin cũng rất ít thay đổi Tuy nhiên trong lịch sử, với những biến cố lớn trong cácthời đại, Thiên chúa giáo buộc phải thay đổi, sự thay đổi lớn lao trong thiên Chúa giáo
đã dẫn đến sự cách tân, phân phái
Các cuộc ly khai trong Giáo hội
Cuộc ly khai đầu tiên của Thiên chúa giáo trong lịch sử là sự đối lập của giáo hộiphương Đông với Tòa thánh Vantican ở Roma , vào những năm 974 – 984, nảy sinhcuộc tranh luận về bản chất của Chúa, Giáo lý của Giáo hội Thiên chúa La mã(Catholicism) thừa nhận quan điểm Chúa trời Ba ngôi: Chúa cha, chúa con và thánhthần Kinh thánh đã viết: “Chúa cha tạo nên ta, chúa con đã cứu chuộc ta và thánh thầnthánh hóa ta” và Chúa có hai bản chất, một là bản chất thánh thần, hai là bản chất conngười Trái với những quan điểm truyền thống trên, giáo hội Đông Phương đề ra quanđiểm mới (Lạc thuyết Monothelism – năm 620) với mục đích thống nhất và độc lậpcủa cộng đồng Constantinopoli, thượng phu giáo chủ Sergius đề xướng quan điểm:Chúa chỉ có một bản chất: Bản chất thánh thần, và Chúa chỉ có một ngôi vị độc nhất,một hành động và ý chí độc nhất Năm 692, Đại hội cộng đồng Constantinopoli III đã
Trang 25tự ý quyết định tách khỏi giáo hội Thiên chúa giáo và quyết tâm xây dựng một đườnghướng riêng, cố gắng mở rộng quyền lực hơn nữa cho mình Như vậy, chính thốnggiáo đã ra đời ở Bizanxơ như một sự đối trọng với Thiên chúa giáo ở Roma Tuy gọi là
“Chính thống giáo” song nó chỉ có tính khu vực và chỉ là bản sao của giáo hội Roma.Cuộc ly khai của chính thống giáo chính thức, vĩnh viễn vào năm 1054 Chính thốnggiáo phát triển mạnh nhất ở các nước nam Châu Âu, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ Năm 988, nướcNga chịu lễ thánh Tây do Đại hoàng thân Kiev là Vladimia Ông Vladimia kêu gọikhai sáng một “Roma” mới cho nước Nga, một ngã ba đường cho đạo Kitô từConstantinopoli Chính thống giáo đã thực hiện được việc Xlavơ Kitô giáo Năm 1054,chính thống giáo Nga đã có những nét riêng, được coi là “Roma thứ 3” Cuộc ly khaithư hai trong lịch sử Thiên chúa giáo diễn ra trong khoảng thế kỷ thứ 16 trong thời đạichuẩn bị các cuộc cách mạng tư sản – Đạo tin lành Cùng sự lớn mạnh của giao cấp tưsản Châu Âu, Thiên chúa giáo tất yếu đòi hỏi phải có sự thay đổi để phản ánh hoàncảnh lịch sử đó Cuộc vận động cải cách nổ ra đầu tiên ở Đức do Mục sư Martin Luter(1483-1546) Chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do của giai cấp tư sản, phản kháng lại nhữngquy định khắc nghiệt của Thiên chúa giáo truyền thống, Mục sư Luter muốn quay vềgiáo lý Kitô nguyên thủy Ông tuyên bố: “Điều kiện cứu rỗi của Chúa Jesu không phải
là tuân thủ một cách hình thức với nghi lễ bí mật và lời căn dặn của nhà thờ mà làniềm tin cá nhân của tín đồ vào sự hy sinh của chúa Jesu để chuộc lỗi cho con người”.Nếu như trước kia, con người chỉ có thể được cứu rỗi ở nhà thờ thì nay đối với Luterchỉ cần lòng tin chân thành ở Chúa là được cứu rỗi ở bất kì nơi nào quan điểm mới này
đã được Mác đánh giá: “Luter đã chiến thắng sự nô lệ của sùng đạo bằng sự nô lệ củaniềm tin Ông đã phá vỡ niềm tin vào uy tín bằng cách tạo ra uy tín của niềm tin…Ônggiải phóng con người khỏi tôn giáo bên ngoài và xây dựng tôn giáo thành thế giới bêntrong con người Ông giải phóng thể xác con người khỏi gông xiềng nhà thờ nhưng lạiđặt gông xiềng trong trái tim con người
“Luter thừa nhận thánh kinh, tiếp thu nghi lễ cầu phước và lễ rửa tội song lại phủnhận các truyền thống nhà thờ, bãi bỏ các nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phụcsinh của chúa, cho phép các Mục sư được lấy vợ với nguyên tắc “Linh mục cho tấtcả” Mỗi tu sĩ chấp nhận nguyên tắc này đều có thể truyền giáo và thậm chí có thể lãnhđạo một cộng đồng giáo dân Những tư tưởng cải cách của Luter đã dẫn đến cuộc đấu