Còn nhiều vấn đề chưa biết hoặc chưa hiểu rõ, đòi hỏi phải thu nhập thêm và tốt hơn các dữ liệu để phân tích • Càng ngày người ta càng thấy rằng xem xét quan hệ giới trong xã hội không c
Trang 1MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Phần mở đầu
I Tên đề tài
II Tính cấp thiết cảu đề tài
III Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối
tượng nghiên cứu
IV Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
I Cơ sở lý luận của đề tài
II Các khái niệm công cụ
III Mô tả mẫu nghiên cứu
IV Kết quả nghiên cứu
A Thực trạng cơ cấu cán bộ Đoàn/Hội SVLớp
B Đánh giá của sinh viên về vai trò giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/HộiSV/Lớp
1 Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của Lớp trưỏng/Bí thư chi đoàn/Chi
hội trưởng
2 Vẻ ngoài bình yên của những quan điểm vĩ mô
a Quan điểm về ngành học
b Quan điểm về mô hình “Nam trưởng- nữ phó”
c Quan điểm về thiên chức của phụ nữ, nam giới và bình đẳng giới
d Quan điểm về sự thành đạt và bất hạnh của người phụ nữ
3 Định kiến giới trong tư duy cụ thể
3.1 So sánh phẩm chất, năng lực của cán bộ Đ/H/L là nữ sinh viên và nam sinh
viên
Trang 23.2 Đánh giá về đội ngũ lãnh đạo đất nước bằng cách cho điểm hai đối tượng: nam
giới và phụ nữ
3.3 Mong muốn của sinh viên về tỷ lệ nữ bộ trưởng hợp lý
3.4 Tiêu chí lựa chọn sinh viên vào Ban chấp hành Đ/H/L
4 Một số nguyên nhân nhìn từ góc độ lý thuyết học tập- xã hội
C Kết luận
Trang 3Phần mở đầu
I Tên đề tài : Vai trò giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp tại một số trường
đại học hiện nay
II Tính cấp thiết của đề tài
1 Phụ nữ là một nửa của nhân loại Do đó, từ trước đến nay vấn đề phụ nữ luôn
được nhiều nhà khoa học quan tâm , nghiên cứu Xã hội càng phát triển, vấn đề
phụ nữ càng trở nên quan trọng Địa vị của phụ nữ trong xã hội có thể xem như
là thước đo trình độ văn minh của một đất nước
Nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng quốc tế đóng vai trò cơ bản trong
việc đạt tới bình đẳng giới Những năm qua xã hội đã thu được những kết quả to
lớn trong vấn đề này Các hội nghị của phụ nữ quốc tế như ở Mexico (1975),
Nairobi (1985) và Bắc Kinh (1995) bản thân chúng là những thức đo về sự trao
quyền cho phụ nữ Tuy vậy vẫn còn một số thách thức quan trọng:
• Tác động về giới của các chính sách vĩ mô và chính sách ngành cụ thể là gì?
Các phản ánh chi tiêu công cộng có thể thúc đẩy hay cản trở sự bình đẳng giới và
hiệu quả kinh tế như thế nào? Làm thế nào để hiểu biết sâu sắc hơn mối quan hẹ
bình đẳng giới để phản ánh mối quan hệ đó trong các quyết định chính sách ?
Còn nhiều vấn đề chưa biết hoặc chưa hiểu rõ, đòi hỏi phải thu nhập thêm và tốt
hơn các dữ liệu để phân tích
• Càng ngày người ta càng thấy rằng xem xét quan hệ giới trong xã hội không chỉ
dừng ở chỗ xem các chính sách và chương trình tác động ra sao đến những yếu
tố phát triển thông thường (giáo dục, sức khoẻ, lực lượng lao động) mà quan
trọng hơn phải xem xét các hình thức can thiệp cụ thể đã nâng cao thế nào quyền
tự chủ, khả năng lãnh đạo và tiếng nói của phụ nữ, kể cả trong gia đình và trong
Trang 4xã hội Để hiểu rõ cách can thiệp nào là hiệu quả nhất nhằm đạt được điều này,
cần sự phân tích giới sâu sắc hơn
Ở Việt Nam, về vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội có hai
cách đánh giá trái ngược nhau:
_Về cơ bản phụ nữ có địa vị bình đẳng với nam giới do đặc điểm của văn hoá
Việt Nam – nền văn hoá Đông Nam Á, do nhu cầu cuộc sống và và hoạt động
sản xuất của các gia đình trồng lúa nước, do hoàn chiến tranh kéo dài, người
chồng luôn vắng nhà, công việc sản xuất và nuôi con, chăm sóc cha mẹ già giao
cho người vợ đảm nhận Vì thế người phụ nữ có vai trò, vị trí thật sự quan trọng
trong gia đình (họ có quyền và được kính nể)
_ Phụ nữ việt nam về cơ bản vẫn ở vào địa vị phụ thuộc người chồng và chịu
sự bất bình đẳng trong cả gia đình và ngoài xã hội, do ảnh hưởng của Nho giáo
kéo dài nhiều năm ở nước ta và chiếm vị trí quốc giáo hiện nay kết quả các cuộc
điều tra Xã hội học về sự bình đẳng giới trong gia đình vẫn chứng minh vị tí thấp
kém của người phụ nữ so với nam giới (nam giới nắm quyền chủ hộ, quyết định
những công việc quan trọng trong gia đình, bạo lực của người chồng với người
vợ vẫn tồn tại khá phổ biến)
Như vậy việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của Văn hoá bản địa và ảnh hưởng
của Khổng giáo đối với gia đình Việt nam hiện nay vẫn còn là vấn đề tranh cãi
chưa thể kết luận được
(“Gia đình Việt Nam ngày nay”- T143- GS Lê Thi )
Bình đẳng giới là một nội dung của tiến bộ xã hội, là một nguyên tắc cơ bản
của Đảng và Chính phủ Việt nam Sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với
vấn đề này trong vài thập niên vừa qua thể hiện qua nhiều chỉ thị nghị quyết
riêng cho phụ nữ như:
Nghị quyết 176/ HĐBT về phát huy vai trò và năng lực của phụ nữ trong sự
Trang 5Quyết định 163/ HĐBT về tăng cường vai trò của Hội LHPN trong tham gia
quản lý nhà nước – Hà nội 1989
Nghị quyết 04/ NQ- TW của Bộ Chính Trị về “Đổi mới và tăng cường công tác
vận động phụ nữ trong tình hình mới”- Hà Nội 12/7/1993
Chỉ thị 37 –CT/ TW về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới –
Hà nội 16/5/1994
Nghị quyết 04-NQ-TW đã khẳng định cần tăng số lượng nữ trên các vị trí
quyền lực ở mọi lĩnh vực trong các ban của Đảng và trong Chính phủ Nghị
quyết cũng nói rằng cần tập trung nỗ lực đấu tranh với việc phân biệt đối xử và
không tôn trọng phụ nữ đặc biệt là tại nơi làm việc
Đáp ứng đòi hỏi thực tiễn cuả đất nước là tăng trưởng kinh tế song song với
tiến bộ xã hội, các hoạt động của Hội LHPNVN, các tổ chức đoàn thể trong nước
và quốc tế ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Trong lĩnh vực xã hội học
về giới, vấn đề phụ nữ đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh như: Vấn đề công
bằng xã hội và hội nhập xã hội của phụ nữ , vấn đề chính sách đối với phụ nữ,
vấn đề dân số và phụ nữ, vấn đề xoá đói giảm nghèo và phụ nữ, vấn đề giáo dục,
truyền thông đại chúng và phụ nữ Trong đó vấn đề hội nhập xã hội của phụ nữ
tỏ ra nổi bật trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước Rõ ràng việc
chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi của phụ nữ và nam giới trong công việc điều hành
xã hội là xu thế tất yếu của xã hội hiện đại
2 Giới và các nghiên cứu xã hội học về giới ở Việt Nam
Trong các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề phụ nữ và
giới được xem xét lý giải từ nhiều góc độ khác nhau và rất khó tách bạch đâu là
nghiên cứu thuần tuý phụ nữ học và đâu là nghiên cứu thuần tuý khoa học về
giới
Trang 6Khoa học về giới nói chung, XHH về giới nói riêng ở Việt Nam lấy lý luận và
quan điểm Macxit về “giải phóng phụ nữ” và bình đẳng nam nữ làm cơ sở tư
tưởng và phương pháp luận để xem xét và giải quyết những vấn đề nảy sinh
Trong lĩnh vực XHH về hội nhập xã hội của phụ nữ, một số tác giả uy tín có
nhiều công trình nghiên cứa là Trần Thị Vân Anh, Lê Thi, Lê Thị Quý, Lê Ngọc
“ Đánh giá thực trạng vấn đề giới trong hệ thống tổ chức nhà nước ở Vụ tổ chức
cán bộ các bộ ngành và ban tổ chức chính quyền tỉnh, thành phố “( Ban tổ chức
cán bộ chính phủ- Hà Nội 3/1998)
“Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ ở cơ sở “ –Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng
cao năng lực cho phụ nữ -Hà nôi, 6/1999
“Xã hội học về giới phát triển “ – Lê Ngọc Hùng – Nguyễn Thị Mỹ Lộc NXB
ĐHQG Hà nội 2000
Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra thực trạng đời sống của phụ nữ và sự
tham gia của phụ nữ trong quản lý, lãnh đạo đất nước qua nhiều giai đoạn khác
nhau Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chưa khái quát lên thành những nhận
định có tính lý luận để có thể kiểm chứng Do đó các ý kiến đề xuất, các kiến
nghị chưa được thuyết phục để vận dụng trong thực tiễn Lý do của hạn chế này,
theo tôi là :
Tính mới mẻ của ngành khoa học về giới ở Việt Nam Khoa học về giới nói
chung, xã hội học về giới nói riêng mới chỉ phát triển ở Việt Nam vài chục năm
trở lại đây Điều đó giải thích sự hạn chế nhất định về số lượng và chất lượng đội
Trang 7Sự đầu tư chưa đủ lớn về công sức, tiền của cho những nghiên cứu lý thuyết
cũng như nghiên cứu thực nghiệm Đối với nghiên cứu thực nghiêm, sự hạn chế
của số lượng công trình là một nguyên nhân ảnh hưởng đến sự yếu kém trong
khái quát lý luận
Đặc biệt, đối với lĩnh vực XHH về giới trong lãnh đạo và quản lý, các nghiên
cứu mới chỉ tập trung vào những đối tượng đã là cán bộ tham gia hệ thống quản
lý xã hội chính thức mà chưa có những hướng phân tích toàn diện chẳng hạn như
định hướng, thái độ, quan điểm giới trong lĩnh vực quản lý học sinh, sinh viên
Sinh viên là bộ phận trí thức trẻ tiên tiến nhất của thanh niên nên để phân tích và
dự báo về vai trò giới trong đội ngũ lãnh đạo đất nước không thể bỏ qua lực
lượng này Điều đó cho phép các nghiên cứu thực nghiệm tiếp tục soi rọi vấn đề
giới ở những góc độ mới
3 Vài nét về thực trạng cơ cấu giới trong hệ thống chính trị, tham gia lãnh đạo
ở Việt Nam hiện nay:
Bốn vấn đề giới chủ chốt có liên quan đến lĩnh vực lãnh đạo, tham gia vào
các hoạt động chính trị và ra quyết định được xác định bao gồm : Sự tham gia
của phụ nữ trong các ban của Đảng và khu vực hành chính của Chính phủ ; Sự
tham gia của phụ nữ vào các vị trí dân cử như Hội đồng nhân dân ; Tác động giới
và sự tham gia của phụ nữ trong các qui định chi tiêu công cộng ; Tác động giới
và sự tham gia của phụ nữ trong việc thực hiện qui chế dân chủ
3.1 Sự tham gia của phụ nữ vào các cấp uỷ Đảng và Chính phủ :
Cho đến nay, số cán bộ nữ trong các ban của Đảng còn rất thấp, tỷ lệ này vào
khoảng 10-11% ở cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã.(Ban tổ chức trung ương
Đảng 1997) Trong các ban của Đảng số cán bộ nữ nắm những vị trí quyền lực
rất ít Tỷ lệ cán bộ nữ cao cấp như bí thư hay phó bí thư chỉ vào khoảng 3-8% ở
mọi cấp ( Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ 7, 1997) Hơn nữa, đa số các thành
viên nữ trong các ban của Đảng thường chịu ttrách nhiệm những công việc hành
Trang 8chính có liên quan đến giám sát và động viên nhân dân hơn là những công việc
mang tính chiến lược
Trong khu vực hành chính của chính phủ, số lượng cán bộ nữ nắm vị trí chủ
chốt cấp trung ương trong thập kỷ qua đã tăng chút ít nhưng vẫn còn thấp Ở cấp
Bộ, tỷ lệ nữ là Bộ trưởng và thứ trưởng là 11% và 7%, tỷ lệ nữ là Vụ trưởng và
vụ phó là 12% và 13% ( Đại hội toàn quốc lần thứ 7, 1997) Tỷ lệ nữ lãnh đạo uỷ
ban nhân dân, cơ quan thi hành chính sách và chương trình cũng rất thấp Trong
số các thành viên UBND, tỷ lệ nữ trung bình là 5-7% Tỷ lệ nữ Chủ tịch UBND
cấp tỉnh/ thành, quận/huyện và phường/xã là 1-3% ( Ban tổ chức cán bộ Chính
phủ , 1997)
3.2 Sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí dân cử trong hội đồng
nhân dân
Quyền của phụ nữ tham gia vào HĐND được đảm bảo bằng luật Tuy nhiên,
một cách truyền thống thì nam giới vẫn thống trị HĐND các cấp Kết quả bầu
cử HĐND các cấp năm 1999 cho thấy số lượng nữ trúng cử ở cấp tỉnh là 22%,
cấp quận /huyện là 20%, và ở cấp phường/xã là 10%, chưa đạt mục tiêu đề ra so
với kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ do chính phủ đề xuất năm 1997
là tăng sự tham gia của phụ nữ trong HĐND lên tới 20-30%
3.3 Sự tham gia của phụ nữ trong các quyết định chi tiêu công cộng
Chi tiêu công là toàn bộ những khoản chi của nhà nước, bao gồm chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển Ở Việt Nam, các quyết định có liên
quan đến chi tiêu công chưa chú ý một cách trực tiếp đến các vấn đề giới Phụ nữ
không giữ vai trò quan trọng trong các quyết định liên quan đến chi tiêu công
Có ít phụ nữ nắm vị trí quyền lực tại các cơ quan chịu trách nhiệm lập kế hoạch
hoăch phê duyệt ngân sách nhà nước Chẳng hạn như Vụ tài chính và tiền tệ của
Bộ kế hoạch và đầu tư chỉ có 2 trong số 17 chyên gia là nữ
Trang 9Với việc thông qua qui chế dân chủ và các quyết định đối với các điều kiện
thực hiện qui chế dân chủ, Việt Nam đã thiết lập một qui trình mà qua đó mọi
công dân có thể trao đổi và đưa ra những quyết định liên quan đến những vấn đề
của địa phương Tuy nhiên những nghiên cứu của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ
của phụ nữ Việt nam năm 2000 cho thấy phụ nữ không tham gia một cách bình
đẳng như nam giới trong cả việc tổ chức và chủ trì các cuộc thảo luận, các quyết
định hoặc lãnh đạo các cuộc họp
Thực tế trên cho thấy những kiến thức hiện nay về vai trò của phụ nữ trong lãnh
đạo và ra quyết định phải được bổ sung bằng những nghiên cứu tiếp theo
III Mục đích nghiên cứu : Tìm hiểu vai trò giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/
Hội/Lớp của sinh viên tại một số trường Đại học hiện nay
IV.Nhiệm vụ nghiên cứu
1.Thực trạng cơ cấu giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp
2.Đánh giá của sinh viên về vai trò giới trong đội ngũ lãnh đạo Đoàn/ Hội /Lớp
và định hướng lựa chọn của họ
3 Khuyến nghị và giải pháp
V Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
1.Đối tượng nghiên cứu : Vai trò giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp
2 Phạm vi nghiên cứu :
2.1 Phạm vi không gian
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Khoa học tự nhiên
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Sở dĩ tôi chọn 3 trường Đại học trên vì tôi muốn chọn đại diện của các khối ngành: Khối xã hội, Khối tự nhiên và Khối kinh tế Theo đánh giá
chung thì đây cũng là 3 trường có cơ cấu sinh viên theo giới đặc trưng: Tỷ lệ
nam- nữ ở trường ĐH KHXH & NV là 30%:70%, ở trường ĐH KHTN là
Trang 1070%:30%, ở trường ĐH KTQD: 55%:45%, do đó có thể so sánh để phần
nào thấy rõ hơn tác động của các biến số tới đối tượng nghiên cứu
2.2 Phạm vi thời gian : Tháng 1 –tháng 3 năm 2003
2.3 Phạm vi vấn đề nghiên cứu : Do trình độ và thời gian có hạn người nghiên
cứu chỉ tập trung xem xét vai trò giới trong đội ngũ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp từ
đánh giá của sinh viên và những nhận định định tính của tác giả chứ chưa đo vai
trò thực tế của đội ngũ cán bộ này biểu hiện ở những lĩnh vực lĩnh vực công việc
cụ thể như thế nào
VI Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp luận : Phương pháp luận nền tảng cho khoa học nói chung
và xã hội học nói riêng là chủ nghĩa duy vật biện chứng Các nguyên tắc cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện chứng là:
Xem xét xã hội với những qui luật vận động, phát triển của nó như nó
đang tồn tại một cách khách quan Người nghiên cứu cố gắng khắc phục thiên
kiến giới khó tránh khỏi của mình và không xem xét vấn đề từ kinh nghiệm có
tính cá nhân
Các hiện tượng, qui luật xã hội phải được phân tích từ bản chất chứ không
không phải dừng lại bên ngoài sự vật Trong quá trình quan sát, điều tra và
phỏng vấn tôi cố gắng rút ra những kết luận có tính khái quát, cơ bản, hệ thống
chứ không phải kết luạn từ những trường hợp ngẫu nhiên rời rạc Hơn nữa để
xem xét bản chất vai trò giới tôi không dừng lại ở quan niệm của sinh viên mà
còn ở những tình huống cụ thể đặt ra yêu cầu họ giải quyết
Luôn luôn xem xét sự vật trong mối quan hệ tương tác với các sự vật
xung quanh và giữa các thành tố cấu thành nên nó Trong nghiên cứu này, vấn đè
vai trò giới được nhìn nhận và lý giải trong quan hệ hữu cơ với các yếu tố gia
đình, trình đọ học vấn, đặc điểm giới tính, ngành học trong bối cảnh kinh tế xã
Trang 11Các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm phải được xuất phát từ thực tế
lịch sử của mỗi xã hội cụ thể Vai trò giới là sản phẩm của điều kiện lịch sử cụ
thể - đó là xã hội Việt Nam với truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, riêng biệt
và đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu cơ bản là xây
dựng xã hội “công bằng – dân chủ – văn minh” Cách đặt vấn đề cũng như mọi
cố gắng lý giải, đề xuất và khuyến nghị trong nghiên cứu này đều xuất phát từ
nguyên tắc này
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp nhận
thức khoa học, định hướng cho tác giả nghiên cứu vấn đề vai trò giới một cách
khách quan, bản chất, toàn diện, không ngừng vận động và mang tính lịch sử
2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Đề tài được thực hiện dựa trên một số phương pháp cơ bản sau:
Quan sát
Phân tích tài liệu
Phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm tập trung
Trưng cầu ý kiến
Quy trình chọn mẫu như sau: Mẫu chọn gồm 250 sinh viên theo cách chọn mẫu
ngẫu nhiên phÂn tầng Với mỗi trường tôi lập danh sách các khoa và chọn 2
khoa đại diện bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, sau đó tương tự chọn ra
các lớp đại diện để phát phiếu điều tra , đảm bảo các tỷ lệ như sau:
+ Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn: Phiếu phát tại khoa Quốc tế
học và Triết học gồm 80 sinh viên, trong đó tỷ lệ nữ là 70%, nam là 30%, sinh
viên năm thứ nhất và thứ 2 là 50%, năm thứ 3 và thứ 4 là 50%
+ Trường ĐH Khoa học tự nhiên: Phiếu phát tại khoa Vật lý và khoa Toán
học gồm 70 sinh viên, trong đó tỷ lệ nữ là 30%, nam là 70%, sinh viên năm thứ
nhất và thứ 2 là 50%, năm thứ 3 và thứ 4 là 50%
Trang 12+ Trường ĐH Kinh tế quốc dân: Phiếu phát tại khoa Ngân hàng – tài chính
và Bảo hiểm gồm 80 sinh viên , trong đó tỷ lệ nữ là 50%, nam là 50%, sinh viên
năm thứ nhất và thứ 2 là 50%, năm thứ 3 và thứ 4 là 50%
-Phương pháp xử lý số liệu: Tôi sử dụng hệ thống xử lý số liệu SPSS và thuật
toán kiểm định giả thiết
VII Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
1. GT1 : Tỷ lệ nữ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp cấp lớp và khoa có tỷ lệ cao,
cấp trường tương đối thấp
2. GT2 : Sinh viên có xu hướng đánh giá cao vai trò của cán bộ
Đoàn/HộiSV/Lớp là nam giới hơn
3. GT3 : Các yếu tố : Hoàn cảnh xuất thân, ngành học, năm học, giới
tính,…ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên về vai trò giới trong đội ngũ
Trang 13
Nội Dung
I.Cơ sở lý luận của đề tài:
Có thể nói các lý thuyết giới khác nhau chủ yếu là ở cách xác định các nguyên
nhân và cơ chế nảy sinh, biểu hiện mối quan hệ giữa nam và nữ Báo cáo này
tiếp cận lý thuyết giớ ở 2 góc độ: vĩ mô và vi mô ở cấp độ vĩ mô, cơ sở lý luận
được áp dụng là lý thuyết bất bình đẳng giới và cấp vi mô là lý thuyết học tập –
xã hội
1.Lý thuyết bất bình đẳng giới: Có 4 nội dung cơ bản của lý thuyết bất bình
đẳng giới là:
• Nam và nữ được định vị trong xã hội không chỉ khác biệt mà còn bất bình đẳng
Cụ thể là phụ nữ có ít tiềm năng vật chất, địa vị xã hội, quyền lực và các cơ hội
để tự thể hiện tiềm năng hơn nam giới có cùng một vị trí trong xã hội
• Sự bất bình đẳng giới xuất phát tự tổ chức của xã hội chứ không phải từ các
khác biệt nào về mặt sinh học hoặc có tính cách cá nhân giữa nam và nữ
• Không có sự khác biệt tự nhiên quan trọng mang tính khuôn mẫu nào phân biệt
giữa các giới tính Thay vì thế, nhân loại có chung nhu cầu thể hiện tiềm năng và
có chung bản chất thích ứng với những kìm hãm hoặc có hội của hoàn cảnh Phụ
nữ về mặt hoàn cảnh ít có khả năng nhận ra nhu cầu thể hiện tiềm năng của mình
hơn nam giới
• Các nhà lý thuyết bất bình đẳng khẳng định rằng có thể biến đổi được hoàn
cảnh
Trang 14Các nhà lý thuyết bất bình đẳng giới có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh
việc lý giải sự thua kém cơ hội của ngưới phụ nữ trong cuộc sống so với nam
giới Trong đó, những phân tích của Mác - Ănghen và trường phái lý thuyết “Nữ
quyền ự do” về hôn nhân và gia đình rất cơ bản và sâu sắc Mác - Ănghen khẳng
định rằng về mặt quan hệ đối với sự lệ thuộc của phụ nữ nằm ở gia đình, một thể
chế mà tên gọi của nó theo nghĩa thích hợp của từ Latinh là “sự giúp việc”, bởi
vì gia đình khi tồn tại trong cac xã hội phức hợp là một hệ thống của các vai trò
thống trị và phụ thuộc” (Các lý thuyết xã hội học) Còn các nhà lý thuyết nữ
quyền tự do, tiêu biểu là nhà xã hội học Jessie Bernard trong cuốn “ Tương lai
cua hôn nhân” đa chỉ ra chân dung của hôn nhân như sau: “Hôn nhân cùng một
lúc vừa là một hệ thống văn hoá về các niềm tin và lý tưởng, vừa là sự xếp đặt có
tính chất thể chế về các vai trò và các tiêu chí, vừa là một phức thể các kinh
nghiệm tương tác đối với các cá thể nam và nữ” Bà phân tích cụ thể:
- Về mặt văn hoá: Hôn nhăn được lý tưởng hoá thành ra số mệnh và
nguồn thoả mãn đối với phụ nữ, một niềm hạnh phúc hỗn hợp của đời sống gia
đình, trách nhiệm và sự kìm chế đối với nam giới
- Về mặt thể chế: Hôn nhân trao quyền lực cho vai trò của người
chồng với thẩm quyền và sự tự do, thật ra là bổn phận, để vận động ra ngoài đời
sống gia đình, nó tạo ra sự ăn khớp giữa ý tưởng về thẩm quyền của nam giới với
khả năng giới tính, buộc người vợ phải phục tùng, phụ thuộc, chủ yếu tập trung
vào các hoạt động và công việc vặt của đời sống cách ly trong việc nội trợ gia
đình
- Về mặt kinh nghiệm: Có 2 thể hôn nhân trong bất cứ thể chế hôn
nhân nào: hôn nhân của người chồng (trong đó anh ta bám lấy niềm tin bị gánh
vác trách nhiệm và một quyền hạn với sự phục tùng của người vợ trong đời sống
tình cảm, tính dục, gia đình) và hôn nhân của người vợ (trong đó cô ta thoả mãn
Trang 15Tuy nhiên, Bernard mô tả đời sống của người phụ nữ từ lúc trước đến khi lập gia
đình như là một sự “thoái hoá” và xem hôn nhân như có tính chất tàn phá Quan
điểm cực đoan này không hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh xã hội nước ta
Nhưng, theo tôi, nó rất có ý nghĩa để xem xét sức mạnh của gia đình trong sự
hình thành vai giới, nhất là mô hình gia đình gia trưởng tồn tại hàng nghìn năm
và vẫn còn nhiều tàn dư trong xã hội Việt Nam hiện đại
2.Lý thuyết học tập - xã hội:
Tác giả tiêu biểu cho lý thuyết học tập – xã hội là Walter Myschel Theo
thuyết này, vai nam – vai nữ hình thành và phát triển ở mỗi cá nhân là do cá
nhân đó học tập, tức là làm theo những hành vi của cha mẹ, anh chị em hoặc
những người trong/ ngoài gia đình Quá trình học tập có thể diễn ra một cách vô
thức hoặc được định hướng, tổ chức thông qua nhà trường, các phương tiện
thông tin đại chúng ) Lý thuyết này nhấn mạnh yếu tố tâm lý – xã hội của sự
hình thành vai giới và quan hệ giới Ví dụ điển hình là việc giáo dục vai giới theo
mô hình “tam tòng tứ đức” đã tác động tới sự hình thành vai giới của người phụ
nữ trong xã hội phong kiến
Vận dụng các quan điểm lý thuyết trên, tôi muốn nhìn nhận cơ chế hình
thành, nguyên nhân của những đánh giá vai trò giới trong đội ngũ cán bộ
Đoàn/Hội/Lớp của sinh viên Dó là những nguyên nhân mang tính chất văn hoá,
thể chế được bảo lưu bền vững trong thiết chế xã hội đặc biệt : gia đình
IICác khái niệm công cụ:
1. Khái niệm “giới” (gender): Khái niệm “giới” dùng để chỉ những đặc trưng xã
hội của nam và nữ Thuật ngữ này chỉ vai trò xa hội, hành vi ứng xử xã hội và
những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Nó khác với “giống” ở chỗ không
mang tính di truyền, bẩm sinh mà bị quy định bởi điều kiện sống của cá nhân và
xã hội Như vậy “giống” thì bất biến nhưng “giới” có tính biến thiên, tức là có
Trang 16thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là điều
kiện xã hội
2. Khái niệm “Vai trò xã hội” (Social role): Khái niệm vai trò là một khái niệm cơ
bản và được sử dụng rộng rãi trong xã hội học Có thể hiểu vai trò là một “tập
hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang
các địa vị mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi”
(Dahrendorf) Khái niệm này là sự giải thích và mô tả sự trung chuyển của cá thể
và xã hội, cá nhân và hệ thống một cách thấu đáo và phù hợp với việc xây dựng
lý luận Về nguyên tắc, “vai trò” được giả thiết là độc lập với cá thể, và hành vi
như là được quy định bởi các chuẩn mực
3. Khái niệm “Vai trò giới” (Sexual roles): Khái niệm “Vai trò giới” chỉ những kỳ
vọng văn hoá chủ đạo và chuẩn mực xã hội về phương diện năng lực, đặc điểm
nhân cách, thái độ, động cơ, phương thức hành vi đặc trưng thích hợp đối với nữ
giới và nam giới Việc tiếp nhận vai trò giới ở cá nhân mang 4 nội dung cơ bản
sau:
-Tự cảm nhận như là nam tính hay nữ tính (sự đồng nhất vai trò giới tính)
-Quan niệm về phân biệt giới tính trong môi trường xã hội (quan niệm về vai
trò giới tính)
-Đánh giá tính ưu việt về các đặc điểm và hoạt động giới tính đặc trưng (thái độ
về vai trò giới tính)
-Phương thức hành vi có đặc trưng giới tính (hành vi vai trò giới tính)
4. Khái niệm “ Bình đẳng giới”: Bình đẳng giới là hiện tượng xã hội, quan hệ xã
hội hiện hữu giữa hai giới Thuật ngữ “bình đẳng” được sử dụng để chỉ sự bình
đẳng về luật pháp, về cơ hội, về thành quả và các kết quả tạo ra (Coleman 1987)
Trong báo cáo này tôi quan niệm “bình đẳng giới” theo nghĩa bình đẳng về luật
pháp, về cơ hội bao gồm:
Trang 17-Bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhÂn lực, vốn và các nguồn lực sản
xuất khác
-Bình đẳng trong thù lao công việc
-Bình đẳng trong tiếng nói
Báo cáo này là một nghiên cứu cụ thể về vấn đề bình đẳng giới trong tiêng nói
III Mô tả mẫu nghiên cứu:
Mẫu nghiên cứu gồm 250 sinh viên chọn ngẫu nhiên từ 3 trường Đại học:
-Trường Đại học KHXH & NV có gần 5000 sinh viên và 13 khoa sau đây:
+Du lịch học +Báo chí
+Đông phương học +Lịch sử
+Lưu trữ học và quản trị văn phòng +Quốc tế học
+Xã hội học +Bộ môn Thông tin-Thư viện
+Văn học +Bộ môn Khoa học quản lý
+Hệ cử nhân khoa học tài năng
_Trường ĐH KTQD có gần 13000 sinh viên và 19 khoa:
+Đầu tư +Kế hoạch và phát triển
+Luật kinh tế +Tin học
+Du lịch và khách sạn +Bảo hiểm
Trang 18+Quản trị kinh doanh tổng hợp +Công nghiệp và xây dựng cơ bản
+Thương mại +Lao động và dân số
+Địa chính +Kinh doanh quốc tế
+Ngân hàng – Tài chính +Kế toán – kiểm toán
+Nông nghiệp
-Số phiếu phát ra: 250 phiếu
-Số phiếu thu về và xử lý được: 234 phiếu
- Tỷ lệ giới tính trong mẫu: nữ chiếm 54%, nam chiếm 46%
C¬ cÊu giíi tÝnh
46%
54%
NamN÷
-Tỷ lệ sinh viên các trường: Sinh viên ĐH KHXH & NV chiếm 36% (83 sinh
viên), sinh viên ĐH ĐH KHTN chiếm 27% (64 sinh viên), sinh viên ĐH KTQD
chiếm 37% (87 sinh viên)
Trang 19C¬ cÊu sinh viªn theo tr−êng häc
-Tỷ lệ sinh viên các khoá: Sinh viên năm thứ nhất – thứ hai chiếm 47% (110 sinh
viên) Sinh viên năm thứ 3- thứ 4 chiếm 53% (124 sinh viên)
IV.Kết quả nghiên cứu
A Thực trạng cơ cấu đội ngũ cán bộ Đoàn/Hội/Lớp
1 Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn:
-Cán bộ cấp chi đoàn/chi hội/lớp:
+Tổng số chi đoàn là 68, số cán bộ Đoàn là 194 Số bí thư chi đoàn nữ là
39=57.1% số Bí thư chi đoàn
+Tổng số chi hội là 68, số cán bộ Hội là 194 Số chi hội trưởng nữ là 37 = 54.4%
số chi hội trưởng
+Tổng số lớp là 68, số cán bộ lớp là 194 Số lớp trưởng nữ là 38 = 55.5% số lớp
trưởng
-Cán bộ cấp Liên chi đoàn/Liên chi hội:
+Tổng số cán bộ Liên chi đoàn là 117, trong đó nữ chiếm 78 = 66.3%
+Tổng số cán bộ liên chi hội là 109, trong đó nữ chiếm 74 =66.7%
-Cán bộ cấp Đoàn trường/Hội sinh viên trường:
+Tổng số cán bộ trong BCH Đoàn trường là 21, trong đó nữ chiếm 13 = 61.9%
Trang 20+Ban thường vụ Đoàn trường có 7 người, trong đó nữ có 2 = 28.6% Bí thư và 2
phó bí thư đều là nam
+Tổng số cán bộ trong BCH Hội sinh viên trường là 21, trong đó nữ chiếm 11 =
52.4%
+Ban thư ký Hội sinh viên trường có 7, trong đó nữ có 3 = 42.9% Chủ tịch và
một phó chủ tịch nam, có 1 phó chủ tịch nữ
2.Trường Đại học Khoa học Tự nhiên:
-Cán bộ cấp Chi đoàn/Chi hội/Lớp:
+Tổng số chi đoàn là 80 Số cán bộ cấp chi đoàn là 240 Số bí thư chi đoàn nữ là
34 = 42% số Bí thư chi đoàn
+Tổng số chi hội là 80 Số cán bộ chi hội là 240 Số chi hội trưởng nữ là 30 =
37.5% số chi hội trưởng
+Tổng số lớp là 80 Số cán bộ lớp là 240 Số lớp trưởng nữ là 17 = 21.7% số lớp
trưởng
-Cán bộ cấp Liên chi đoàn/Liên chi hội:
+Tổng số cán bộ Liên chi đoàn là 90, trong đó nữ chiếm 38 = 42.3%
+Tổn số cán bộ Liên chi hội là 85, trong đó nữ chiếm 46 = 54.2%
- Cán bộ cấp Đoàn trường/Hội sinh viên trường:
+Ban chấp hành Đoàn trường có 21, trong đó nữ chiếm 7 = 33.3%
+Ban thường vụ Đoàn trường có 7, trong đó nữ có 2 = 28.6% Bí thư là nữ hai
phó bí thư là nam
+Ban chấp hành Hội sinh viên trường có 15, trong đó nữ chiếm 5 =33.3%
+Ban thư ký Hội sinh viên có 5, trong đó nữ chiếm 0 = 0% Chủ tịch và 2 phó
chủ tịch đều là nam
3 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân:
-Cán bộ cấp Chi đoàn/Chi hội /Lớp:
Trang 21+Tổng số chi đoàn là 212 Số cán bộ chi đoàn là 636 Số bí thư chi đoàn nữ là
120 = 56.6% số bí thư chi đoàn
+Tổng số chi hội là 141 Số cán bộ chi hội là 423 Số chi hội trưởng nữ là 55 =
39% số chi hội trưởng
+Tổng số lớp là 212 Số cán bộ lớp là 636 Số lớp trưởng nữ là 79 = 37.3% số
lớp trưởng
-Cán bộ cấp Liên chi đoàn/Liên chi hội:
+Tổng số cán bộ Liên chi đoàn là 167, trong đó nữ chiếm 80 = 47.9%
+Tổng số cán bộ Liên chi hội là 90, trong đó nữ chiếm 44 = 48.8%
-Cán bộ cấp Đoàn trường/Hội sinh viên trường:
+Ban chấp hành đoàn trường có 27, trong đó nữ chiếm 9 = 33.3%
+Ban thường vụ đoàn trường có 9, trong đó nữ chiếm 1 = 12.5% Bí thư và 2 phó
bí thư đều là nam
+Ban chấp hành Hội sinh viên trường có 21, trong đó nữ chiếm 9 = 33.3%
+ban thư ký Hội sinh viên trường có 7, trong đó nữ chiếm 2 = 28.6% Chủ tịch
và 2 phó chủ tịch đều là nam
Qua số liệu trên có thể thấy số cán bộ Đoàn/Hội/Lớp nữ ở cấp chi đoàn/chi
hội/liên chi hội tương đối ngang bằng với cán bộ nam, thậm chí còn cao hơn ở
trường có nhiều sinh viên nữ như trường ĐH KHXH & NV Nhưng ở cấp Đoàn
trường/Hội sinh viên trường tỷ lệ nữ giảm hẳn, đặc biệt trong các vị trí chủ chốt
Ngay trong trường ĐH KHXH & NV tỷ lệ nữ cán bộ ở cấp trường cao nhưng
cũng không phản ánh đúng tỷ lệ sinh viên nữ trong cơ cấu sinh viên trường
B Đánh giá của sinh viên về vai trò giới trong đội ngũ cán bộ
Đoàn/Hội/Lớp
1 Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của LT/BTCĐ/CHT
Trang 22* Mục đích của người nghiên cứu khi tìm hiểu khía cạnh này là xem xét
vai trò của LT/BTCĐ/CHT trong tương quan với vấn đề giới Câu hỏi đặt ra là:
Liệu việc nam giới /nữ giới giữ các vị trí trên ảnh hưởng như thế nào tới đánh giá
của sinh viên về đội ngũ cán bộ lớp ? Đằng sau ghi nhận của sinh viên về vai trò
của các chức danh trên có sự chi phối của phân biệt giới hay không ?
Kết quả điều tra cho thấy:
- Đối với chức danh lớp trưởng : Có 205 sinh viên trong số 234 sinh viên
được hỏi trả lời Sau đây là đánh giá cụ thể:
Bảng: Đánh giá tầm quan trọng của lớp trưởng
Rất quan trọng
Quan trọng
Ít quan trọng
Không quan trọng
Tổng
số
Tần suất 56,6% 36,6% 3,9% 2,9 % 100%
Có thể thấy tuyệt đối đại đa số sinh viên đề cao vị trí của lớp trưởng Điều
này cho thấy người giữ chức danh này đã hoạt động rất hiệu quả trong lớp học,
hoặc chức năng nhiệm vụ của lớp trưởng tỏ ra rất ý nghĩa với sinh viên Từ đó,
tôi đặt ra câu hỏi: theo bạn, để giữ chức vụ lớp trưỏng nên là nam hay nữ?” Sau
đây là kết quả :
+72,2 % cho rằng lớp trưởng nên là nam
+15,8 % cho rằng lớp trưởng nên là nữ
+12 % cho rằng lớp trưởng không phân biẹt giới tính trong lĐ này
Trang 23- Đối với chức danh chi hội trưởng hội sinh viên : chỉ có 189/234 sinh viên
trả lời câu hỏi này Dường như đối với lớp trưởng vị trí của t/c Hội còn mờ nhạt
Thiết này phù hợp với kết quả điều tra:
Bảng :Đánh giá tầm quan trọng của chi hội trưởng
Rất quan trọng
Quan trọng
Ít quan trọng
Không quan trọng
Tổng
số
Tần suất 14,4% 42,3% 28% 15,3% 100%
Có tới 43,3 % sinh viên cho rằng Chi hội trưởng ít quan trọng và không
quan trọng Tôi cho rằng sở dĩ như vậy vì Hội sinh viên là tổ chức ra đời muộn
hơn rất nhiều so với Đoàn thanh niên cũng như với lớp học Tuy nhiên, điều
quan tâm ở đây là sự so sánh giữa đánh giá đó của sinh viên với quan trọng
tương ứng của họ về giới Có 29,5% sinh viên cho rằng Chi hội trưởng nên là nữ
và 52,1% sinh viên cho rằng Chi hội trưởng nên là nam 18,4 % cho rằng Chi hội
trưởng là nữ hay nam đều được
Bảng : Đánh giá tầm quan trọng của bí thư chi đoàn
Rất quan trọng
Quan trọng
Ít quan trọng
Không quan trọng
Tổng số
Tần suất 30,4% 53,9% 13,2% 2,5% 100%
Chúng ta sẽ cùng đối chứng kết quả trên với hình dung giới, mong muốn
về giới tương ứng với vị trí của Bí thư chi đoàn của sinh viên
Trang 24+40,2% sinh viên cho rằng Bí thư chi đoàn nên là nam
+47,4% sinh viên cho rằng Bí thư chi đoàn nên là nữ
+12,4 % sinh viên cho rằng không nhất thiết là nam hay nữ
Rõ ràng vị trí lớp trưởng được đánh giá rất cao thì đa số sinh viên cho rằng
phù hợp với nam giới Vị trí Bí thư chi đoàn đã lựa chọn cho nữ có vẻ cao hơn
nam một chút có lẽ là do mô hình “nam lớp trưởng, nữ bí thư” rất phổ biến trong
các trường đại học từ trước đến nay Ta thấy trong cơ cấu của bộ của lớp sinh
viên có tính đến y tế giới nhưng nam vẫn được coi trọng hơn Hơn nữa, thấy với
chức danh Chi hội trưởng Hội sinh viên- 1 chức danh mới chưa có dấu ấn quan
niệm nhiều thì nam giới được đánh giá cao hơn hẳn: 52,1% so với 29,5%
Quan tâm đến nguyên nhân của lựa chọn giới trong đội ngữ cán bộ Đ/H/L,
tôi có đặt câu hỏi “Vì sao?” Câu trả lời thường nhận được là :
+ Với lựa chọn nữ BT/CH/LT: khéo léo, ăn nói dễ nghe, chu đáo
+ Với lựa chọn nam BT/CHT/LT: năng động, khoẻ mạnh, được việc
Điều này gợi mở một vấn đề rất lớn của nghiên cứu giới, đó là “ định kiến
về vai trò giới trong xã hội
2 Vẻ ngoài bình yên của những quan điểm vĩ mô:
Như đã nói ở phần mở đầu, xem xét vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam rất
phức tạp khó khăn và cho đến nay vẫn đang song song tồn tại 2 quan điểm đối
lập
1 Phụ nữ bình đẳng với nam giới và có địa vi quan trọng trong xã hội
2 Phụ nữ về cơ bản ở vào vị trí phụ thuộc nam giới và chịu sự bất bình
đẳng cả trong gia đình và ngoài xã hội
Trang 25Đối với sinh viên - trí thức thì việc phân tích vai trò giới trong giảng đường càng phức tạp Vấn đề bình đẳng giới hầu như không được đặt ra bởi
dường như chẳng có gì đáng để bàn bạc khoa học Hơn ở đâu hết giảng đường
đại học là môi trường dân chủ Sinh viên nam và sinh viên nữ có nhiều điều kiện,
nhiều cơ hội khá bình đẳng trong học tập và hoạt động xã hôi Nhưng như đã
nói, thước đo của bình đẳng giới càng ngày càng tập trung vào vấn đề tiếng nói
chứ không đơn giản là cơ hội giáo dục hay các phúc lợi khác “Tiếng nói” gắn
liền với quyền tự chủ, với địa vị xã hội của người phụ nữ Điều này là rất khó
lượng hoá và kiểm soát được, cũng như rất khó để đánh giá Tôi cho rằng trong
chính tư duy của sinh viên đang có mâu thuẫn trong vấn đề này Sự mâu thuẫn
đó, tôi gọi là mâu thuẫn giữa quan điểm chung và nhận thức cụ thể về vai trò
giới
Chúng ta cùng tìm hiểu “ quan điểm chung” của sinh viên đối với giới trong đội ngũ cán bộ Đ/H/L
a Quan điểm về ngành học:
Câu hỏi được đặt ra chung cho sinh viên cả 3 trường là: “ Bạn nghĩ rằng
ngành học bạn đang theo đuổi phù hợp với nam hay nữ hơn?” Mẫu chọn gồm
trường Nhân văn - đại diện của khối xã hội; KHTN - đại diện của khối tự nhiên
và kinh tế - đại diện của khối kinh tế nhưng kết quả thu được không khác nhau
lắm giữa ba trường Đại đa số sinh viên cho rằng ngành học của mình phù hợp
với cả nam và nữ (69,5%), chỉ có 23,6% nghĩ rằng ngành học của mình phù hợp
với nam và số sinh viên cho rằng ngành mình học phù hợp với nữ càng ít hơn
Trang 26sinh viên có thiên kiến về ngành học của mình là dành riêng cho nữ Sự phân
biệt giới ở sinh viên ĐHKHTN rõ ràng hơn cả với 49,1% sinh viên chọn phương
án “ phù hợp với nam” cho ngành học của mình những cũng có tới 53,1% cho
rằng những môn thuộc KHTN không chỉ dành riêng cho nam giới Đây là dấu
hiệu thật đáng mừng
b Quan điểm về mô hình “nam trưởng- nữ phó”
Trong xã hội ta, những năm gần đây vị trí của người phụ nữ đã được cải
thiện đáng kể nhưng hầu như trong bộ máy chính quyền nhà nước, đa số người
phụ nữ giữ vị trí chủ chốt chỉ ở cương vị “phó” Do vậy, tôi tìm hiểu quan điểm
của sinh viên về mô hình này, nhằm làm sáng rõ hơn suy nghĩ của họ về vai trò
giới trong cán bộ Đ/H/L nói riêng và trong đội ngũ lãnh đạo đất nước nói chung
Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng :Ý kiến về mô hình “nam trưởng và nữ phó”
Mặc dù tỷ lệ 54,3% chưa giúp khẳng định chắc chắn điều gì nhưng đã cho
thấy cái phông chung là sinh viên không đồng ý với mô hình nam giữ cương vị
trưởng còn nữ phụ giúp cho nam
Trang 27Quan điểm của sinh viên về mô hình "Nam trưởng-nữ phó"
25.20%
54.30%
Không đồng ýKhó nói
Không trả lời
Tuy nhiờn, khi xem xột vấn đề 1 cỏch cụ thể hơn thỡ thấy rằng cú sự khỏc biệt
khỏ rừ ràng trong quan điểm giữa nam và nữ ở cả 3 trường ĐH Cỏc nữ sinh viờn
bày tỏ sự khụng đồng ý rất mạnh mẽ ( Trường ĐHKHXH& NV 66,1%; trường
ĐHKHTN: 75%; trường ĐHKTQD: 67,4%) trong khi cỏc nam sinh viờn thể hiện
mức dộ phủ nhận yếu ớt hơn nhiều (chỉ cú 28,2% nam sinh viờn trường
KHXH&NV, ở ĐH KHTN là 46,2%, ở ĐH KTQD là 38,1% khụng đồng ý mụ
hỡnh nam trưởng - nữ phú) Đỏng chỳ ý là ở trường ĐHKHXH&NV cú tới
41,7% nam sinh viờn đồng ý với mụ hỡnh trờn Ngoài ra, tỷ lệ sinh viờn “khú
núi” ở nam lớn hơn nữ giới rất nhiều Xem ra nhận thức về vai trũ giữa nam sinh
viờn và nữ sinh viờn cũn chờnh nhau rất lớn Kiểm định χ2 cho giỏ trị χ2quan
sỏt=18.8 >χ2lý thuuyết=5.99.Như vậy cú mối quan hệ phụ thuộc giữa quan điểm của
sinh viờn về mụ hỡnh nam trưởng- nữ phú với giới tớnh của sinh viờn
c Quan điểm về thiờn chức của đàn ụng, phụ nữ và bỡnh đẳng giới:
Trang 28Chúng ta đều biết rằng đàn ông và phụ nữ có những thiên chức khác nhau
không thể thay đổi được Chính vì thế việc chỉ rõ đâu là cái đích, đâu là giới hạn
của bình đẳng giới không phải đơn giản Có cả 1 trường phải lý thuyết bảo vệ sự
bất bình đẳng giới dựa trên những yếu tố sinh học Đó là lý thuyết Định hình vai
gi ới của tác giả Lawrence Kolberg Tác giả này cho rằng vai nam hay vai nữ
được định hình tương ứng với giới tính của trẻ em từ khi còn rất nhỏ Khi con
người được khoảng 2 tuổi, dưới tác động sinh học của kiểu gen, các năng lực cá
nhân đặt trưng cho vai nam hay vai nữ đã được xác định để có thể tiếp nhận 1
cách có chọn lọc và đối phó 1 cách tương ứng với các tác động xã hội trong suốt
quá trình sống sau này Ví vụ : trẻ em gái nhạy cảm hơn, khéo léo hơn trẻ em
trai (XHH về giới và phát triển - T22) Thực ra, lý thuyết này có điểm tích cực là
nhấn mạnh tầm quan trọng rất lớn của lứa tuổi ấu thơ đối với sự phát triển tâm
lý, hành vi giới và phần nào gặp gỡ với lý thuyết học tập - xã hội” Nhưng tuyệt
đối hoá vai trò của gen sinh học và cho rằng vai trò giới không thể thay đổi trong
cuộc đời là cực đoan Tuy vậy, không ít người trong xã hội đã và đang tiếp tục
quan điểm như vậy Còn đối với sinh viên thì sao? Với câu hỏi “ Có ý kiến cho
rằng phụ nữ và nam giới có những thiên chức khác nhau nên không thể có bình
đẳng giới được Bạn có đồng ý không?” Tôi nhận được kết quả trả lời như sau:
Trang 29Bảng : Ý kiến về nhận định “Phụ nữ và nam giới có thiên chức khác
nhau nên không thể có bình đẳng giới được”
Sinh viên tỏ ra coi nhẹ yếu tố sinh học quy định “thiên chức” của phụ nữ
và nam giới Mặc dù ý kiến phủ nhận của nữ giới vẫn mạnh mẽ hơn nam giới
(90,5% so với 62,8%) nhưng về cơ bản đa số sinh viên đều thống nhất với nhau
về ý kiến “ không đồng ý” So với nam sinh viên năm thứ I - II ; nam sinh viên
năm thứ III- IV có mức độ phủ nhận cao hơn Có 59,6% sinh viên nam năm I - II
không đồng ý trong khí có tới 80% sinh viên nam năm thứ ba và thứ tư có cùng ý
kiến Nhưng kết quả kiểm định không cho phép kết luận quan hệ phụ thuộc giữa
ý kiến này của nam sinh viên với giới tính của họ (χ2quan sát =5.3< χ2lý thuuyết
=5.99)
d Quan điểm về sự thành đạt và bất hạnh của người phụ nữ
Từ nhận thức rằng lãnh đạo phong trào sinh viên cũng là một hình thức
lãnh đạo xã hội, tôi tìm hiểu về 1 vấn đề khá tế nhị và nhạy cảm giới hiện nay,
đó là việc giải quyết quan hệ “ gia đình - xã hội” của người phụ nữ Hiểu được
suy nghĩ của sinh viên đối với vấn đề này cũng là một cách soi sáng đánh giá của
họ về vai trò giới từ góc độ vĩ mô Liệu người phụ nữ thành đạt ngoài xã hội có
Trang 30thường bất hạnh trong đời sống gia đình và ngược lại” Sau đây là tổng hợp ý
kiến của sinh viên
Phụ nữ thành đạt trong xã hội có bất hạnh trong đời sống gia định và
không đồng ý Giữa nam và nữ sinh viên không có sự khác biệt lớn hơn về vấn
đề này Tỷ lệ không đồng ý ở nữ là 64,8% và ở nam là 53,3 % Tỷ lệ “ phân vân”
ở nữ là 24,8% và ở nam là 31,8%.Bài toán kiểm định cho két quả χ2quan sát =4.67
<χ2lý thuuyết =5.99:Không có mối liên hệ phụ thuộc giữa quan điểm trên của sinh
viên với giới tính của họ
Trang 31Phụ nữ thành đạt ngoài xã hội có bất hạnh
trong gia đình và ng−ợc lại?
CóKhôngPhân vân
Trờn đõy là kết quả phõn tớch từ cỏc biến số, cú tớnh chất khỏi quỏt vĩ mụ
Dường như những dấu vết của chế độ gia trưởng tồn tại trong xó hội Việt Nam
hàng nghỡn năm đó phai nhạt? Dường như vị trớ của phụ nữ và nam giới núi
chung, cỏn bộ sinh viờn nam và nữ núi riờng khỏ bỡnh đẳng? Nhưng rừ ràng để
tỡm hiểu một vấn đề giới khụng thể chỉ dừng ở gúc độ vĩ mụ mà phải xột cả ở cấp
độ vi mụ, khụng chỉ giới hạn ở sự quan niệm mà phải xem xột cả ứng xử cụ thể
của sinh viờn đối với vấn đề nghiờn cứu
3 Định kiến giới trong tư duy cụ thể
Cú thể khi được hỏi, khụng một ai tự nhận mỡnh là người cú thiờn kiến
giới hay định kiến giới Bởi đú là cõu hỏi định tớnh Vỡ thế, những quan điểm vĩ
mụ coi phụ nữ và nam giới bỡnh đẳng chưa phải là bằng chứng đớch thực của
thực tiễn Người nghiờn cứu đó cố gắng lượng hoỏ vai trũ giới thành những khớa
cạnh cụ thể và kết quả cho thấy: Cỏi cụ thể khụng chứng minh cho điều mà cỏi vĩ
mụ đó mở ra
Trang 323.1.So sánh phẩm chất năng lực của cán bộ Đ/H/L là nữ sinh viên và nam
sinh viên
Những phẩm chất đưa ra gồm: Tính sáng tạo(1), Sức khoẻ(2) Bản lĩnh
93) , Khả năng thu hút sinh viên (4), Khả năng tư duy (5), Ý thức trách nhiệm
(6), Tính kiến trì vượt khó (7), Tầm nhìn xa rộng (8)
Với 234 sinh viên trong mẫu điều tra, kết quả nghiên cứu cho thấy những
phẩm chất được đánh giá cao ở cán bộ sinh viên nữ là “ý thức trách nhiệm”,
“tính kiên trì vượt khó”, “khả năng thu hút sinh viên” ; còn những phẩm chất
được đánh giá cao ở cán bộ nam là tính sáng tạo, sức khoẻ, bản lĩnh, khả năng tư
duy và tầm nhìn xa rộng Ở đây xin đi sâu phân tích một số phẩm chất tiêu biểu
a.Khả năng tư duy: Đây là biến số thể hiện trí tuệ của con người, và nó có
ý nghĩa quan trọng nhất đối với những người làm cán bộ /lãnh đạo Ai có khả
năng tư duy tốt thì cũng có khả năng lãnh đạo tốt và ngược lại Đánh giá về khả
năng tư duy của cán bộ Đ/H/L là nữ và nam, sinh viên trong mẫu điều tra cho
rằng:
Tần số Tần
suất Khả năng tư duy của cán bộ nữ lớn hơn nam 17 7.2%
Khả năng tư duy của cán bộ nữ nhỏ hơn nam 108 46,2%
Khả năng tư duy của cán bộ nữ bằng nam 106 45,3%
Còn tới 46,2% sinh viên khẳng định rằng khả năng tư duy của cán bộ sinh
viên nữ kém hơn so với nam Điều này cho thấy định kiến giới thật rõ ràng
Trang 33Trong xã hội Việt Nam phong kiến hầu như việc tiếp thu tri thức và lãnh đạo
trong xã hội là của nam giới, vì thế từ học hành, thi cử, trau dồi tài năng là lĩnh
vực của nam giới Thậm chí tư tưởng “ nữ nhân nan hoá” ( Đàn bà là giống khó
dạy) còn trở nên phổ biến trong xã hội Ngày nay, phụ nữ cũng được học hành
như nam giới, các thành tựu khoa học cũng chứng minh rằng chỉ số IQ của nữ
giới không thua kém gì nam giới Vậy mà vẫn còn một số lượng lớn sinh viên
coi thường khả năng tư duy của nữ giới Đây là một cách phủ nhận khả năng
lãnh đạo của nữ sinh viên
Giữa sinh viên nam và sinh viên nữ có quan điểm khác nhau hay không?
Câu trả lời là có Chúng ta cũng quan sát bảng tương quan Giới tính và
Nhận xét về sinh viên về khẳ năng tư duy của cán bộ Đ/H/L
Trang 34Bảng :Nhận xét của sinh viên về khả năng tư duy của cán bộĐ/H/L
Khả năng tư duy của cán bộ nữ lớn hơn nam 5,7% 8,8%
Khả năng tư duy của cán bộ nữ nhỏ hơn nam 57,1% 38,4%
Khả năng tư duy của cán bộ nữ bằng nam 37,2% 52,8%
Qua bảng trên, có thể thấy ý kiến nổi trội ở nhóm sinh viên nam là “ Khả
năng tư duy của nữ kém hơn nam” còn ý kiến phổ biến ở nhóm sinh viên nữ là “
Khả năng tư duy của nữ bằng nam” Kết quả của bài toán kiểm định là χ2quan sát
=9.2> χ2lý thuuyết =5.99.Có thể khẳng định tồn tại mối quan hệ nào đó giữa giới
tính của sinh viên với đánh giá của họ về khả năng tư duy cuả cán bộ Đ/H/LĐiều
đáng nói ở đây là ngay bản thân nữ sinh viên cũng thừa nhận chưa mạnh mẽ lắm
về khẳ năng tư duy của cán bộ Đ/H/L là nữ, nghĩa là chưa ý thức rõ lắm về tri tuệ
của giới mình Còn nam giới thì thể hiện 1 thiên kiến rõ ràng đối với nữ giới
Đây là 1 cản trở đối với quá trình nâng cao tiếng nói của nữ sinh viên nói riêng,
của phụ nữ nói chung trong cuộc sống và trong xã hội
Trang 35§¸nh gi¸ kh¶ n¨ng t− duy cña c¸n bé §oµn/Héi/Líp
theo t−¬ng quan giíi tÝnh
Kh¶ n¨ng t− duy cña n÷
lín h¬n nam Kh¶ n¨ng t− duy cña n÷
nhá h¬n nam Kh¶ n¨ng t− duy cña n÷
b»ng nam
Giữa các trường ĐH sắc thái ý kiến cũng khác nhau Qua điều tra tôi thấy
rằng nhóm nam sinh viên trường KTQD và nhóm nữ sinh viên trường
ĐHKHXH&NV có ý kiến tích cực hơn cả
Bảng: So sánh khả năng tư duy của cán bộ Đ/H/L là nữ và nam ( của
Khả năng tư duy của cán bộ nữ nhỏ hơn
nam
33,9% 39,1% 44,2%
Khả năng tư duy của cán bộ nữ bằng nam 57,6% 56,5% 44,2%
Khi kiểm định giả thiết “Nữ sinh viên đánh giá khả năng tư duy của cán
bộ Đ/H/L không phụ thuộc vào trường học của họ” tôi nhận dược kết quả χ2quan
sát =1.75<χ2lý thuuyết =9.19:Chấp nhận giả thuyết đúng