1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội với nhóm trẻ khiếm thị (Nghiên cứu tại tỉnh hội người mù Hà Tây)

28 666 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 324,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và đó là nhóm trẻ khiếm thị mà Đội Sinh viên làm công tác xã hội cũng như tôi đã hoạt động được một thời gian tại Tỉnh hội người mù Hà Tây.. Vấn đề xã hội dưới góc độ công tác xã hội của

Trang 1

Công tác xã hội với nhóm trẻ khiếm thị (Nghiên c ứu tại tỉnh hội người mù Hà

Tây)

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vì sao tôi lại chọn đề tài này? Thứ nhất, tôi muốn đến với công tác xã hội

bằng cách hướng mình đến công tác xã hội (CTXH) chuyên nghiệp và thực thụ

Tuy vậy, chưa có một nghiên cứu công tác xã hội mẫu mực nào (hoặc là tôi chưa

được đọc) cho tôi tham khảo cả Với một mong muốn cá nhân đó tôi buộc phải lựa

chọn nhóm đối tượng mà tôi có khả năng nhất, có điều kiện nhất để thực hiện cái

gọi là CTXH chuyên nghiệp, nghĩa là thực hiện theo yêu cầu, nguyên tắc mà khoa

học và nghề nghiệp công tác xã hội đặt ra Và đó là nhóm trẻ khiếm thị mà Đội

Sinh viên làm công tác xã hội cũng như tôi đã hoạt động được một thời gian tại

Tỉnh hội người mù Hà Tây

Thứ hai, bất cứ một đề tài nào cũng xuất phát từ tình huống có vấn đề từ

cuộc sống Đề tài của tôi tất nhiên cũng vậy Nó xuất phát từ vấn đề mà các em

khiếm thị sinh hoạt tại Tỉnh Hội người mù Hà Tây đang gặp phải Vấn đề xã hội

dưới góc độ công tác xã hội của các em vừa là vấn đề của người khuyết tật, cụ thể

là khiếm thị, vừa là vấn đề của trẻ em Bởi vậy, đây là một nghiên cứu công tác xã

hội mang cả đặc điểm của công tác xã hội với người khiếm thị và công tác xã hội

với trẻ em Khái quát lại vấn đề của các em, tính bức thiết mà đề tài nêu ra chính là

vấn đề đáp ứng nhu cầu giao lưu, giao tiếp của các em, và qua đó góp phần định

hướng cho sự hình thành nhân cách lành mạnh cho các em

Với hai lí do đó, tôi đã lựa chọn nghiên cứu và thực hành đối với nhóm trẻ

khiếm thị và xây dựng nên báo cáo này

Trang 2

2 Ý nghĩa đề tài

- Ý nghĩa lí luận – khoa học

Đề tài vận dụng kiến thức công tác xã hội với người khuyết tật nói chung và

người khiếm thị và trẻ em nói riêng Đây là một đề tài nghiên cứu khám phá để tạo

đà cho những nghiên cứu mang tính khoa học hơn, thực thụ hơn trong các giai đoạn

sau

- Ý nghĩa thực tiễn:

Báo cáo không phải là một báo cáo suông Nó vận dụng kiến thức công tác

xã hội để thực hành vào trường hợp cụ thể là các em các em khiếm thị tại Tỉnh Hội

Người mù Hà Tây, mang lại những tác dụng tích cực thấy rõ cho các em

3 Mục đích nghiên cứu

Tăng cường năng lực giao tiếp cho các em, tăng cường khả năng tự lực cho

các em trong cuộc sống

4 Nhân viên xã hội, hệ thống thân chủ và phạm vi nghiên cứu

- Nhân viên xã h ội (NVXH): Nguyễn Trung Kiên và các thành viên của Đội

Sinh viên làm công tác xã hội

- H ệ thống thân chủ: gồm 13 em khiếm thị đang sinh hoạt, học tập tại Tỉnh

Hội người mù Hà Tây

- Ph ạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian:

Giai đoạn I: từ 10/12 đến 16/12/2007

Giai đoạn II: từ 1/3 đến 25/5/2008

+ Địa điểm: tại 56 Tô Hiệu, Tỉnh Hội người mù Hà Tây, thành phố Hà Đông,

Hà Tây

5 Phương pháp nghiên cứu

*Phương pháp luận nghiên cứu

Trang 3

- Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Marxist

làm kim chỉ nam cho nghiên cứu và thực hành các phương pháp, kỹ năng đối với

thân chủ

* Phương pháp công tác xã hội với nhóm trẻ khiếm thị:

- Ph ương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp được sử dụng chính

trong nghiên cứu này Phương pháp công tác xã hội nhóm sử dụng mối quan hệ của

nhóm trẻ khiếm thị, sử dụng chương trình sinh hoạt nhóm, bầu không khí nhóm

như là công cụ để tác động vào từng đứa trẻ khiếm thị và mang lại tăng trưởng tâm

lý xã hội cho các em

Trong 3 mô hình nhóm, chúng tôi chọn mô hình nhóm xã hội hoá nhằm giáo

dục và tác động đến sự hình thành nhân cách các em

Chương trình sinh hoạt, chúng tôi thực hiện các hình thức sau:

+ Tổ chức các trò chơi yêu cầu nhanh trí và vận động: trò chơi “Thuyền ai,

thuyền ai” – yêu cầu tìm nhanh từ chỉ một vật cùng chữ cái đầu với tên mình; trò

chơi vỗ tay theo nhịp – yêu cầu vỗ tay đúng theo số lượng mà NVXH đưa ra; trò

chơi

+ Tổ chức tập văn nghệ: tập bài hát “Trống cơm” với hình thức đồng ca có

sự tham gia tích cực của tất cả các em Tập kịch đưa các em vào sắm vai, thể hiện

bản thân mình

+ Thảo luận, đối thoại: người NVXH chủ động đưa ra chủ đề và yêu cầu các

thành viên trong nhóm trẻ đưa ra ý kiến Ví dụ: về ước mơ, về câu chuyện “Bó

đũa” để các em đưa ra nhận xét ý nghĩa

- Ph ương pháp công tác xã hội cá nhân:

Đồng thời với công tác xã hội nhóm thì tôi sử dụng công tác xã hội cá nhân

để bổ trợ Sử dụng công tác xã hội cá nhân nhằm mục đích tìm hiểu sâu về cá nhân

của từng đứa trẻ, tâm tư, tình cảm của các em từ đó có thể giúp đỡ các em bằng

chính mối quan hệ của NVXH với từng em, hay sử dụng kết hợp với sinh hoạt

nhóm để đưa các em hoà nhập tốt trong môi trường nhóm và xã hội

Trang 4

Các kỹ năng được sử dụng trong phương pháp CTXH CN là kỹ năng tham

vấn với các kỹ năng thực hành cụ thể như kỹ năng vấn đàm, kỹ năng giao tiếp Kỹ

năng giao tiếp được thực hiện qua các buổi sinh hoạt nhóm, qua tiếp xúc với từng

em, qua các trang viết nhật ký và qua các trang viết bằng chính chữ nổi Braille cho

các em

* Các phương pháp thu thập thông tin:

- Ph ương pháp phân tích tài liệu:

Phân tích các trang nhật ký của các tình nguyện viên đến hoạt động vào giao

lưu với các em Mục đích nhằm tìm hiểu những cảm nhận của họ đối với từng cá

nhân các em cũng như đối với nhóm các em Qua đó tìm được sự thay đổi của các

em trong quá trình giao lưu tiếp xúc với các anh chị tình nguyện viên

Phân tích các trang viết của các em bằng chữ nổi Braile (nếu có thể)

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu nhằm tìm kiếm các thông tin sâu về hoàn cảnh, đặc điểm tâm

lý, tính cách của các em, nhu cầu của các em

Phỏng vấn sâu những người liên quan và thường xuyên tiếp xúc với các em

như cô giáo Tâm

Phỏng vấn sâu được kết hợp trong vấn đàm, tiếp xúc với từng em

- Phương pháp quan sát:

Sử dụng phương pháp quan sát nhằm tìm hiểu đời sống thực của các em tại

trung tâm như quan sát bữa ăn, quan sát sinh hoạt của các em, quan sát hành vi của

các em trong học tập cũng như trong quá trình sinh hoạt, tiếp xúc, giao lưu với bạn

bè và mọi người xung quanh

Sử dụng quan sát kết hợp với phương pháp hồi tưởng, quay phim, chụp ảnh

để ghi chép lại các thông tin, tiến trình tâm lý xã hội của các em từng ngày

6 Cơ sở lý luận và kiến thức công tác xã hội áp dụng

*Một vài quan điểm tâm lý học

Trang 5

- Lý thuyết phân tâm học do Sigmund Freud (1856-1939) sáng lập cho rằng

có thể chia sự phát triển của nhân cách con người thành 5 giai đoạn như sau:

1) Giai đoạn miệng (Oral stage): từ sinh ra đến – 1 tuổi;

2) Giai đoạn hậu môn (Anal stage): từ 1 đến 2 tuổi;

3) Giai đoạn cơ quan sinh dục (Penital stage): từ 3 đến 5tuổi;

4) Giai đoạn tiềm tàng (Latent stage): từ 6 đến tuổi dậy thì;

5) Giai đoạn tính dục (Genital stage): từ tuổi dậy thì đến hết đời

Trong 5 giai đoạn phát triển nhân cách trên thì đã có 3 giai đoạn được phân

chia cho lứa tuổi từ 0 đến 5 tuổi Freud khẳng định rằng với những trải nghiệm tuổi

thơ trong 5 năm đầu đời có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành nhân cách

- Bên cạnh đó, cũng có quan điểm tổng hợp các trường phái tư tưởng của các

nhà tâm lý học như S.Freud (1856-1939), của E.Erikson (1902-1994), của J.Piaget

(1896-1980)…phân chia sự phát triển của con người thành 7 giai đoạn phát triển

Trong đó, 3 giai đoạn đầu tiên là:

+ Từ 0 - 1 tuổi: Đây là thời kỳ cảm giác vận động Trẻ thay đổi về sinh lý

nhanh (biết đi, biết ngồi, biết đứng…), tìm hiểu thế giới xung quanh Do quan hệ xã

hội chủ yếu với bố mẹ nên việc thoả mãn các nhu cầu cũng được thoả mãn qua sự

quan tâm chăm sóc của bố mẹ, tạo cảm giác an toàn, tin tưởng Nếu không được

cảm giác đó thì sẽ tạo ra sự sợ hãi, đó chính là một trong những nguyên nhân gây

nhiễu tâm sau này

+ Từ 1 - 3 tuổi: Hình thành tính tự chủ, ý muốn độc lập ở trẻ, thể hiện rõ nét

qua các câu nói thường gặp ở bé như “của con”, “để con tự làm cơ”…Thời kỳ này

vẫn là thời kỳ cảm giác vận động Trẻ tò mò tìm hiểu, hay bướng bỉnh theo ý kiến

bản thân Nếu không được khích lệ, khen tặng hay sự quan tâm của bố mẹ, trẻ dễ

sinh cảm giác nghi ngờ, xấu hổ, dẫn đến nhút nhát, lệ thuộc

+ Từ 3 – 6 tuổi: E.Erikson gọi đây là giai đoạn của óc sáng kiến vì trẻ tò mò,

đặt rất nhiều câu hỏi tại sao Tư duy ở giai đoạn này đã phát triển lên tư duy hình

ảnh trực quan Nếu trẻ không được khuyến khích, không có cơ hội để hiểu biết trẻ

Trang 6

dễ có cảm giác tội lỗi, dẫn tới nhút nhát, rụt rè Giai đoạn này quan hệ xã hội của

đứa trẻ đã bắt đầu vươn ra khỏi khuôn khổ gia đình, có quan hệ với những bạn

cùng lứa tuổi

(Theo Tài li ệu tập huấn: Phần II, chương IV, trang 7)

Tóm lại, dựa trên các nghiên cứu tâm lý học ta thấy rằng giai đoạn 6 năm

đầu đời của trẻ tập trung phát triển rất nhanh và rất nhiều từ giác quan, sinh lý, đến

trí tuệ và nhân cách Những gì có được trong những năm tháng đầu tiên này sẽ

không dễ mất đi trong suốt giai đoạn sống về sau, ngược lại, những gì không có

được trong thời gian này sẽ khó mà có được ở giai đoạn sau

*Quan điểm nền tảng trong nghiên cứu và thực hành CTXH:

- Lấy nền tảng triết lý của công tác xã hội để dẫn đường cho việc xác định

mục đích và các hành động đối với thân chủ:

+ Cá nhân là mối quan tâm hàng đầu xã hội

+ Giữa cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc hỗ tương

+ Cả hai đều có trách nhiệm đối với nhau

+ Con người đều có những nhu cầu giống nhau, nhưng mỗi con người là một

cái gì đó độc đáo, không giống với người khác

+ Cá nhân được phát huy các tiềm năng của bản thân đồng thời cần được thể

hiện trách nhiệm đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia vào các hoạt động

xã hội

+ Xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để khắc phục những trở ngại đối với

sự phát huy hay tự thể hiện của cá nhân bằng cách làm cho mối quan hệ giữa cá

nhân và xã hội không bị mất cân bằng

(Nguyễn Thị Oanh, 1998: 7-8)

- Tuân thủ 7 nguyên tắc trong thực hành công tác xã hội là: 1) Chấp nhận

thân chủ; (2) Thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đề của mình; (3) Tôn trọng

quyền tự quyết của thân chủ; (4) Cá biệt hoá (; (5) Bí mật (những thông tin về thân

chủ); (6) Nhân viên xã hội ý thức về mình; (7) Tính chất nghề nghiệp của mối quan

Trang 7

hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ (bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng cảm và

chia sẻ)

*Một số quan điểm về người mù hay người khiếm thị:

- Khái niệm:

+ Người mù: là người bị tổn thương thị giác, không còn nhìn thấy ánh sáng

đối với cả hai mắt (thị lực bằng không) Đó là những người mù hoàn toàn hay còn

gọi là mù tuyệt đối

+ Khiếm thị: ở trong nghiên cứu này, tôi tạm thời sử dụng thuật ngữ khiếm

thị để chỉ tình trạng bị khiếm khuyết thị giác ở các em từ mức độ mù hoàn toàn

(không nhìn thấy gì) đến mức độ còn nhìn được lờ mờ, tuy nhiên không đủ khả

năng đọc được các chữ cái

- Phân loại về người mù (người khiếm thị):

Tuỳ thuộc vào tiêu chí mà có nhiều cách phân loại người mù:

Nếu dựa vào nguyên nhân gây ra mù thì có mù bẩm sinh do di truyền; mù do

bệnh tật (có thể nhiều loại như sởi, đậu mùa, thiên đầu thống, đục thuỷ tinh thể…);

mù do tai nạn lao động; do chiến đấu

Cách phân loại theo tuổi bị mù là một cách phân loại được chú ý Theo đó,

người ta phân ra theo 3 mốc tuổi: thứ nhất là bị mù trước 6 tuổi; thứ hai là bị mù

sau 6 tuổi đến hết tuổi trung niên hay tuổi lao động (60 tuổi ở nam và 55 tuổi ở nữ);

và giai đoạn cuối là bị mù khi đã già

+ Người bị mù trong vòng 6 năm đầu đời là những người không hề được

thấy ánh sáng, hoặc có thì cũng còn quá bé để có thể nhớ lại những hình ảnh mà

mắt đã thấy Những người mù này là những người mù tiêu chuẩn, họ không tận

dụng được gì được ở ánh sáng, ở mắt nhìn Hoạt động của các giác quan, của tư

duy, trí tuệ hoàn toạn dựa vào các giác quan khác Nghiên cứu người mù phải tập

trung ở loại này

+ Người bị mù sau 6 tuổi đến tuổi trung niên: là những người có ít nhiều

thuận lợi nhận biết được hình ảnh, rèn luyện được trí lực trong thời gian sáng mắt

Trang 8

Càng bị mù muộn thì họ một mặt có thời gian sáng mắt càng lớn, do đó có được

nhiều ấn tượng cuộc sống, giúp cho họ trong quá trình tư duy, nhận thức, mặt khác

thì khả năng thích ứng với cuộc sống trong điều kiện mới sẽ giảm sút vì càng về già

thì các giác quan càng kém tinh tế, khó học tập Ngược lại, càng bị mù sớm thì một

mặt họ có ít thời gian sáng mắt hơn do vậy mà kinh nghiệm cuộc sống có thể ít hơn

nhưng việc rèn luyện khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới lại dễ hơn, thuận lợi

hơn

+ Người bị mù trong tuổi già (tuổi sau lao động): đối với những người này,

một mặt khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới kém hơn rất nhiều, mặt khác họ

cũng có ít nhu cầu hơn, hoặc không còn bức thiết

Mỗi loại mù cần có những biện pháp giúp đỡ phù hợp, đặc biệt là người mù

trong 6 năm đầu đời

- Hạn chế của người mù:

Theo nghiên cứu thì người bình thường lượng tiếp nhận thông tin qua các

giác quan như sau: thị giác 80%, thính giác 15 %, xúc giác 4%, khứu giác và vị

giác 1% Với con mắt, người ta có một lợi thế vô cùng lớn trong việc tiếp nhận

thông tin Với đôi mắt, người ta có thể nhìn gần, nhìn xa, nhìn rộng hay nhìn tập

trung, nhìn tổng thể hay nhìn vào từng chi tiết như màu sắc sáng tối, đậm nhạt, hình

dáng to nhỏ, sần sùi hay nhẵn, kích thức rộng hẹp, có thể thông qua mắt để biểu đạt

trạng thái tình cảm như một phương tiện giao tiếp, hay nhận biết các trạng thái tình

cảm, cử chỉ, hành động từ người khác Hơn nữa trong thời đại bùng nổ của khoa

học công nghệ và thông tin người ta đã sáng chế ra nhiều máy móc, thiết bị giúp

cho khả năng của mắt tăng gấp bội như máy tính, máy hiển vi, kính thiên văn, máy

ảnh, ti vi, internet, hoặc lượng sách, báo, truyền hình có mặt ở mọi nơi với đa dạng

số lượng, và chủng loại thông tin

Như vậy đối với người mù thì chỉ có thể tiếp nhận thông tin qua 4 giác quan

còn lại, chủ yếu vào thính giác và xúc giác Khi bị mù mắt thì lượng thông tin tiếp

nhận do các giác quan còn lại có thể tăng lên song không đáng kể Ở đây, nếu

Trang 9

lượng thông tin và cảm xúc được tiếp nhận nhiều, chất lượng tốt thì sẽ giúp cho họ

nhận thức và hành động tốt và ngược lại Do đó, cơ sở tiếp nhận thông tin đối với

họ rất quan trọng Đặc biệt đối với trẻ em, trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện

nhân cách, tiếp nhận các kinh nghiệm và tri thức để có thể bước vào đảm nhiệm các

vai trò xã hội thì có thể thấy rằng thông tin cực kỳ quan trọng và bị mù là một

khiếm khuyết vô cùng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự hình thành nhân cách

của các em sau này Do đó, vấn đề tăng cường khả năng thu nhận thông tin cho các

em là vấn đề bức thiết, quan hệ tới những cá nhân trưởng thành trong tương lai

- Khả năng của người mù:

Tuy vậy, không phải mắt là giác quan duy nhất và mất nó thì các giác quan

còn lại vô dụng Với các giác quan còn lại như xúc giác, thính giác, khứu giác

người mù vẫn có khả năng thực hiện được nhiều công việc và do vậy đóng góp

nhiều cho xã hội

Xúc giác của người mù tập trung vào đôi bàn tay, vào các phần da trên mặt,

ở đôi chân Xúc giác là giác quan quan trọng nhất cho người mù tiếp nhận thông

tin Đôi chân giúp người mù định hướng đi lại, da mặt, da người giúp người mù

nhận biết không khí xung quanh Và quan trọng nhất là đôi tay, người mù có thể

tiếp nhận được chính xác các thông tin về hình dáng, kích thước, độ mịn, độ bong,

trọng lượng, nhiệt độ…Người mù cũng có thể đoán biết hình dáng, thể trạng một

người chỉ bằng cách sờ mó vào bàn tay, cùi tay của họ Đặc biệt hiện nay người mù

có thể học văn hoá thông qua chữ nổi Braile

Thính giác cũng là giác quan quan trọng đối với người mù Với thính giác

người mù có thể tiếp nhận thông tin qua các âm thanh, nhận biết và giao tiếp với

người xung quanh qua giọng nói, qua tiếng động Với thính giác, người mù cũng có

thể học âm nhạc và trở thành những người chơi đàn thành thạo

(xem Lê H ồng Thuỷ: 1999)

Trang 10

PHẦN TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

I TIẾP CẬN HỆ THỐNG THÂN CHỦ

- Hệ thống thân chủ: nhóm trẻ khiếm thị đang sinh hoạt nội trú tại Tỉnh Hội

người mù Hà Tây

- Thời gian tiếp cận của NVXH: Bắt đầu từ ngày 10/9/2007

- Cách thức tiếp cận: chủ động đến tiếp xúc với các em thông qua hoạt động

của Đội Sinh viên làm công tác xã hội Có một số thành viên đã hoạt động tại cơ sở

này từ năm ngoái

- Kết quả tiếp cận: hiện nay đã tạo được một mối quan hệ khá tốt đẹp và tin

tưởng với tất cả các em trong Tỉnh Hội Các em thân mật gọi tôi là “Anh Kiên Ú

của các em”

Công tác xã hội ở đây chưa phải là thân chủ tự tìm đến với nhân viên

xã hội, mà ngược lại nhân viên xã hội tìm đến để giúp đỡ thân chủ Nó mang tính

an sinh xã hội nhiều hơn là một hoạt động dịch vụ, hay một nghề nghiệp

II QUÁ TRÌNH XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ

1 Thông tin và những vấn đề chung của nhóm trẻ

1.1 Thông tin

- Số lượng: 13 em

- Cơ cấu giới tính: 4 nam, 9 nữ

- Cơ cấu tuổi: 1 em 6 tuổi, 3 em 7 tuổi, 2 em 8 tuổi, 2 em 9 tuổi, 10, 11, 13,

15, 18 tuổi mỗi lứa có 1 em

- Quê quán: Từ 9 huyện của tỉnh Hà Tây

- Điều kiện ở: có 3 phòng

- Điều kiện mặc: gia đình các em chu cấp

- Điều kiện ăn uống: theo tài trợ của tổ chức ADERA Mỗi bữa cơm mỗi em

ăn một tô cơm, có 5, 6 miếng thịt, rau và một bát canh

Trang 11

- Hình thức tập trung: tập trung theo hình thức lớp nội trú Tên gọi là lớp tiền

hoà nhập Dưới sự hỗ trợ một dự án của tổ chức ADERA (tổ chức phi chính phủ Vì

sự tiến bộ và phát triển cộng đồng) nhằm giúp các em học chữ nổi Braille và hoà

nhập vào cộng đồng

- Thời gian tập trung: từ tháng 9/2006 Có 2 em (Thuý và Loan) mới chuyển

đến trong tháng 11/2007 Thời hạn tập trung là 5 năm Tuy nhiên, có khả năng dự

án bị cắt vào cuối tháng 12/2007

- Điều kiện giáo dục: 5 trẻ hiện đang theo học các lớp chữ sáng của học sinh

bình thường.Trong đó có 1 em học lớp 5, 4 em học lớp 2 Còn các em khác đang

học chữ nổi (học vỡ lòng) và có 2 em chuẩn bị được chuyển lên lớp 1 Việc học tập

chữ nổi được diễn ra dưới sự dạy dỗ của chị Đắc Thị Tâm cũng là người khiếm thị

Cô tốt nghiệp trung học phổ thông ở trường Nguyễn Đình Chiểu – trường dành

riêng cho người khiếm thị và khoá giáo viên tại Trung tâm phục hồi chức năng

người khuyết tật ở Trung Kính – Hà Nội

Lịch trình học như sau: buổi tối ăn cơm xong các em theo học các lớp bình

thường chuẩn bị bài lên lớp ngày mai bằng các cuốn vở bằng chữ Braile được chị

Tâm soạn theo sách giáo khoa chữ sáng bình thường Các em khác ngồi tự học chữ

Ban ngày, khi một số em đi học chữ sáng thì ở nhà chị Tâm kèm và dạy cho các em

chữ nổi Braile Các em học ở lớp chữ sáng về nhà được 2 cô giáo bên trường chữ

sáng kèm cặp

Đánh giá: điều kiện giáo dục chưa đáp ứng đủ: chỉ có 1 cô giáo (bị khiếm

thị) phải dạy đến 13 đứa trẻ Khả năng tiếp nhận thông tin của các em thấp, do chỉ

thu nhận qua việc học chữ nổi Braile Chưa phát huy được cơ quan thính giác

1.2 Vấn đề chung

- Bệnh tật: tất cả các em bị tật về mắt Chỉ có một số em còn nhìn mờ mờ

như em Phương, Thuý, Đông, mờ hơn có Oanh, Thu, Huyền, còn lại hầu như

không thấy gì

Trang 12

- Nhu cầu lớn nhất: nhu cầu được giao tiếp, tiếp xúc, được quan tâm, chia sẻ

với mọi người đặc biệt là anh chị sinh viên tình nguyện Điều này vừa xuất phát từ

lứa tuổi của các em đang tuổi ăn, tuổi chơi, vừa xuất phát từ điều kiện bệnh tật của

các em Đây cũng chính là vấn đề tâm lý lớn nhất của các em: nhu cầu được giải

toả những bức xúc tâm lý do bệnh tật và một phần do hoàn cảnh gia đình

- Vấn đề giáo dục: Nhóm các em chưa có điều kiện tiếp xúc với các phương

tiện giáo dục khác như đài, với các loại hình khác như âm nhạc, thể thao…

- Nguy cơ bị cắt dự án, không được tiếp tục tham gia lớp học Cần có dự án,

tổ chức khác hỗ trợ để duy trì

- Nhóm hay cãi nhau, nhất là các em lớn Có khi không nghe lời cô giáo và

em Huyền lớp trưởng Mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm trẻ không chặt

chẽ

2 Thông tin cụ thể về từng em

- Phương pháp sử dụng: phân tích tài liệu; quan sát; vấn đàm

- Những thông tin cơ bản:

Trang 13

- Những thông tin sâu qua quá trình xác định vấn đề:

Hoàn cảnh gia đình

Thời điểm bị bệnh mắt Vấn đề cá nhân Tiềm năng

Sở thích, thói quen

1.Thuý Bố mẹ làm NN Không chịu học

Khá nghịch

Người béo khoẻ

Mắt đeo kính còn nhìn được

Hay hát mấy bài hát người lớn

2 Đông Bố mẹ làm NN

Bố mẹ bỏ nhau

và đều lập gia đình riêng, có con riêng

Bệnh bẩm sinh Gầy nhỏ

Khá nghịch ngợm Không chịu khó học

Khá lanh lợi

Mắt còn nhìn thấy lờ mờ

Thích trở thành người đánh đàn ócgan Hay nghịch di động của mọi người

3 Tuấn Bố mẹ làm NN

Em trai 2 tuổi

Chỉ có em bị mắt

Hồi 7 tháng tuổi Gầy nhỏ Sức

khoẻ yếu Hay chảy nước mắt, mũi Mắt bị bệnh Glucôm

Rất chăm học

Thông minh Có khả năng lên lớp

1 vào học kỳ II

Thích làm ca sĩ

4 Hường Bố mẹ làm NN Bẩm sinh Sức khoẻ yếu Bị

nhiễm chất độc màu da cam Bị thiểu năng Cần người giúp trong sinh hoạt Nhận thức rất kém

Thích làm cô giáo

5 Kiên Bố mẹ làm việc

nhà nước

Bị ốm Mắt không thấy

gì Hay lẩm bẩm một mình

Không chịu học

Sức khoẻ tương đối tốt Đã từng biết đọc, biết viết

Thích làm thầy giáo Thích nghịch điện thoại của các anh chị

6 Mơ Bố đi kiếm cá

Mẹ làm nghề thêu Có chị gái lớp 5, mắt cũng

bị mờ

Bẩm sinh Chưa chăm học Cơ thể bình

thường Khá lanh lợi

Thích làm cô giáo, làm nghề xoa bóp

7 Loan Bố mẹ làm công

chức nhà nước

Nhà có 3 chị em, chị cả 15 tuổi cũng bị K.T như

Gầy Bị bệnh Glucôm

Khá lanh lợi Có thể lên lớp 1 vào học kỳ II

Thích làm ca sĩ

Trang 14

em

8 Thu Bố mẹ làm NN Chưa chăm học

Khá nghịch ngợm

Cơ thể bình thường Khá lanh lợi, nhận thức nhanh

Thích làm cô giáo

9 Đường Bố mẹ làm NN

Đã bỏ nhau Em sống với bà

Bẩm sinh Yếu Cơ thể gầy

gò, nhỏ bé Ốm luôn Kém năng động, linh hoạt

Thích làm người đánh trống

10

Phương

Con ngoài giá thú

Mẹ làm NN

Mắt còn nhìn được khá

rõ Cơ thể bình thường, nhanh nhẹn, nhận thức tốt

11 Huyền Con ngoài giá

thú Em là con duy nhất trong gia đình Mẹ em bán hàng và hay

bị ốm

Bị bẩm sinh Mắt mờ, đang

yếu dần

Cơ thể bình thường Nhận thức tốt Làm lớp trưởng Có khả năng về quản lý

Đã đến tuổi dậy thì Thích học đàn oocgan Có nguyện vọng học

ở Trường Nguyễn Đình Chiểu

12 Nguyện Bố làm việc

trong Nam, tết mới về Mẹ làm ruộng

Bẩm sinh Cơ thể phát triển

chậm, yếu Bị bệnh tiểu đường (đang điều trị)

Nhận thức chậm

Đã đến tuổi dậy thì

13 Oanh Bố mẹ làm NN

Nhà có 3 chị em

Chỉ có mình em

bị Chị gái học Đại học (sinh năm 1987) Bố

mẹ ít lên thăm

Chỉ có chị gái thỉnh thoảng lên

Bị bẩm sinh Cao, gầy, thể

trạng yếu Nói nhỏ, khó nghe, nghe kém

Nhận thức chậm nhưng chắc

Hiểu biết rộng hơn các em khác

Hay sờ mó vào tay, thân để nhận biết người khác

Thích làm ca sĩ

Ngày đăng: 16/04/2015, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w