1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XHH061 - Ảnh hưởng của việc tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình đối với vấn đề sinh con thứ 3 ở Thuận Thành - Bắc Ninh trong giai đoạn 2000 - 2004

17 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 223,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề này, cần có hàng loạt những biện pháp đồng bộ với sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hôị, trong đó tăng cường công tác tuyên truyền dân số thông qua 2 kênh truyền th

Trang 1

Ảnh hưởng của việc tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình đối với vấn

đề sinh con thứ 3 ở Thuận Thành - Bắc Ninh trong giai đoạn 2000 - 2004

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình tại Việt Nam

đã thu được nhiều thành công, đặc biệt giai đoạn 2000-2003 nhờ giảm tỉ lệ sinh,

nước ta đã giữ được ở tỉ lệ gia tăng dân số ở mức khá tốt Nhưng từ khi có pháp

lệnh dân số tháng 5/2003 đến nay, tỉ lệ gia tăng dân số lại tăng lên dột biến, đặc biệt

là tỉ lệ sinh con thứ 3 Để giải quyết vấn đề này, cần có hàng loạt những biện pháp

đồng bộ với sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hôị, trong đó tăng cường công tác

tuyên truyền dân số thông qua 2 kênh truyền thông là truyền thông đại chúng và

truyền thông giao tiếp trực tiếp giúp người dân hiểu và thực hiện đúng theo chủ

trương của pháp lệnh qua đó tác động vào hành vi, ý thức của cá nhân trong độ tuổi

sinh đẻ là một trong những biện pháp rất quan trọng

Thực tiễn đã cho thấy tầm quan trọng to lớn của hoạt động truyền thông với

vấn đề DS-KHHGĐ Trong điều kiện pháp lệnh dân số vừa đưa vào cuộc sống ,với

nhiều vấn đề cần được hiểu đúng tinh thần nội dung pháp lệnh, thì tuyên truyền

càng có ý nghĩa thực tiễn hơn bao giờ hết Đối với địa bàn nông thôn, nơi đời sống

của người dân tuy đã được cải thiện, nhưng nhìn chung vẫn còn rất nhiều khó khăn

vất vả, điều kiện tiếp cận và cập nhật thông tin còn nhiều hạn chế thì truyền thông

DS-KHHGĐ có giá trị đặc biệt quan trọng góp phần năng cao hiệu quả của việc tác

động giảm tỷ lệ sinh

Trong đề tài này, tôi đi vào tìm hiểu tác động của hoạt động tuyên truyền

DS-KHHGĐ với vấn đề giảm tỉ lệ sinh con thứ 3, từ đó xem xét, góp phần rút ra

những giải pháp, đề xuất các biện pháp trong việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ

ở nông thôn

Trang 2

Từ các lý do trên tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của việc tuyên truyền dân số -

kế hoạch hóa gia đình với vấn đề sinh con thứ 3 ở Thuận Thành - Bắc Ninh

giai đoạn 2000-2004”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài hướng tới việc tìm hiểu sự tác động của hoạt

động tuyên truyền DS-KHHGĐ đối với nhận thức của người dân về vấn đề dân số,

đặc biệt là nhận thức của người dân đối với việc không sinh con thứ 3

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài hướng tới xem xét sự tác đông của quá trình

tuyên truyền dân số của các cán bộ dân số tới nhận thức và hành vi của những

người sinh con thứ 3

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu giúp ta hiểu được hoạt động truyền thông dân số ở Thuận

Thành Bắc Ninh

- Tìm hiểu sự tác động của truyền thông tới nhận thức của người dân về vấn

đề không sinh con thứ 3

4 Đối tượng nghiên cứu

Số người sinh con thứ 3 ở Thuận Thành – Bắc Ninh từ năm 2000 đến 2004

5 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu hiệu quả của việc tuyên truyền dân số ở Thuận Thành – Bắc Ninh

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: trong nghiên cứu này em tiến hành phỏng

vấn sâu 5 đối tượng trong đó phỏng vấn 2 cán bộ dân số và 3 người sinh con thứ 3

- Phương pháp phân tích tài liệu:

+ Phân tích các số liệu về việc sinh con thứ 3 ở Thuân Thành – Bắc Ninh

+ Tìm hiểu các tài liệu về tuyên truyền dân số, pháp lệnh dân số

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Hoạt động truyền thông DS-KHHGĐ ở Thuận Thành –Bắc Ninh đạt hiệu

quả chưa cao

Trang 3

- Phần lớn những người sinh con thứ 3 là nông dân

8 Khung lý thuyết

Hoạt động tuyên truyền DS-KHHGĐ

Tuyên truyền chính thức

Tuyên truyền qua

phương tiện

truyền thông

Hoạt động của các lớp tập huấn

Hiệu quả của việc tuyên truyền

Trang 4

NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Sau hơn 40 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ, nước ta đã thu được những

kết quả như sinh đẻ từ 6 con trong những năm 60 xuống còn 3.73 con năm 1992 và

2.3 con vào năm 1999 Giảm tỉ lệ phát triển dân số từ 3.91% năm 1960 xuống còn

2.4% năm 1992 và 1.7% năm 1999, hiện nay Việt Nam đang cố gắng tiếp tục giảm

tỉ lệ gia tăng dân số xuống mức thấp hơn

Cùng với kết quả trên đã có nhiều cuộc điều tra khảo sát nghiên cứu về vấn

đề DS-KHHGĐ Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết truyền

thông vào lĩnh vực dân số để tìm kiếm một quá trình truyền thông hiệu quả nhất đối

với việc tuyên truyền DS-KHHGĐ và đã có một số nghiên cứu như :

TS Mai Quỳnh Nam với bài “dư luận xã hội về số con” đăng trên tạp chí xã

hội học số 3 –1994

Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Minh Khai khoá k39 với đề tài “ Ảnh

hưởng của truyền thông DS – KHHGĐ đối với người dân xã Đại Phúc – Bắc

Ninh”

Vấn đề truyền thông với DS –KHHGĐ là một vấn đề rất quan trọng đối với

công tác dân số nên vấn đề truyền thông đối với dân số đã được rất nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm

2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Huyện Thuận Thành – Bắc Ninh là huyện nằm ở phía nam của tinh Bắc

Ninh có diện tích 11.604,06 ha Phía bắc giáp sông Đuống, phía nam giáp tỉnh Hải

Dương, phía đông giáp 2 huyện Gia Bình và Lương Tài, phía tây giáp Hà Nội

Thuận Thành là một vùng đất cổ với các lễ hội và nhiều di tích lịch sử lâu đời như

Luy Lâu, chùa Dâu, Bút Tháp ,làng tranh Đông Hồ… Điều này cho thấy đây là

một vùng đất có nền văn hoá lâu đời ,vì vậy để người dân có thể thay đổi được nếp

Trang 5

nghĩ của mình về vấn đề DS - KHHGĐ là một công việc khó khăn phức tạp

Thuận Thành có 17 xã và một thị trấn với dân số 143792 người , trong đó số người

trong tổng số sinh là 2337 người năm 2004 Trong giai đoạn 2000 – 2004 tình hình

kinh tế xã hội của huyện đã có nhiều thay đổi , hàng năm tăng trưởng kinh tế từ 8

đến 11%

3 Hệ thống các khái niệm liên quan

- Khái niệm truyền thông: Đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về

truyền thông, theo Frank Dance các định nghĩa này có thể chia làm 3 nhóm :

Nhóm 1: những định nghĩa nhằm xác định nội dung và bản chất của quá

trình truyền thông Coi truyền thông là một quá trình phức tạp của sự tương tác

bằng kí hiệu đến sự thông hiểu lẫn nhau giữa mọi người

Nhóm 2: Những định nghĩa nhằm đề cập đến những quá trình cơ bản

chung cho tất cả các loại truyền thông của con người Đó có thể là quá trình truyền

và nhận những nội dung đã được mã hoá hoặc những kí hiệu nhóm kí hiệu hình

thành bởi quá trình tư duy của con người

Nhóm 3: Những định nghĩa nhằm đề cập đến bối cảnh hoặc môI trường mà

quá trình truyền thông xảy ra Truyền thông có thể trực tiếp xảy ra trong bối cảnh

tương tác trực tiếp, giữa người này với người khác hoặc thông qua nhóm nhỏ , cũng

có thể trong bối cảnh đại chúng

Từ cách phân chia trên ta có thể định nghĩa truyền thông là một quá trình

liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhằm tạo cho sự

hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận để dẫn tới những thay đổi trong

nhận thức và hành vi

- Kênh truyền thông

1 Kênh truyền thông chính thức: Bao hàm những thiết chế vĩ mô thông

qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các thiết chế nhà nước vi mô thông

qua các cấp chính quyền , các đoàn thể ,các tổ chức quần chúng ,các tổ chức chức

Trang 6

năng cơ sở hay có thể nói kênh truyền thông chính thức bao gồm : truyền thông đại

chúng và truyền thông trực tiếp

a) truyền thông đại chúng (TTĐC) là phương pháp truyền thông tin

qua các phương tiện truyền thông đại chúng như đài , tivi, báo chí… để có thể đưa

một nội dung thông đIệp thống nhất tới đông đảo quần chúng TTĐC giữ vai trò

quan trọng trong việc chuyền tải thông tin nhằm thay đổi nhận thức của các cấp

lãnh đạo, các nhóm xã hội và quảng đại quần chúng về chương trình DS –KHHGĐ,

tạo đIều kiện thuận lợi cho việc chấp nhận quy mô gia đình ít con, gợi ý cho người

dân có quyết định đúng đắn về KHHGĐ

Tuy nhiên với đặc đIểm ở địa bàn nông thôn là chưa đầy đủ các phương tiện

truyền thông đại chúng , điều kiện giao thông liên lạc còn nhiều khó khăn thì không

phải toàn bộ người dân đều có thể tiếp cận truyền thông đại chúng đây là điểm cần

chú ý khi làm công tác truyền thông ở nông thôn

b) truyền thông trực tiếp : Là hoạt động truyền thông được tiến hành thông

qua các cấp chính quyền , các đoàn thể , các tổ chức xã hội và các cư quan chức

năng

Trong truyền thông dân số truyền thông trực tiếp hướng vào một nhóm đối

tượng hạn chế để cung cấp thông tin DS-KHHGĐ , nhằm thuyết phục mọi người

thực hiện công tác DS –KHHGĐ chấp nhận mô hình gia đình nhỏ mà đảng và nhà

nước đề ra Truyền thông trực tiếp có thể thực hiện dưới nhiều hình thức như tổ

chức các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi họp thôn xã … về vấn đề dân số

Truyền thông đại chúng đưa được nội dung thông tin đén nhiều nhóm đối

tượng rộng rãi nhưng lại không nhận được sự phản hồi của họ Còn truyền thông

trực tiếp lại có ưu đIểm biết được sự phản hồi của đối tượng tiếp nhận thông tin

Do đó chúng ta cần phải kết hợp chặt chẽ hai hình thức truyền thông này khi tiến

hành truyền thông dân số đặc biệt với địa bàn nông thôn nhằm thu được hiệu quả

cao

2) Truyền thông không chính thức

Trang 7

Kênh truyền thông không chính thức bao gồm những giao tiếp xã hội nằm

ngoài các thiết chế chính thức như : các quan hệ gia đình , thân tộc , bạn bè , đồng

nghiệp …

Lý thuyết truyền thông chỉ rõ rằng, hoạt động giao tiếp giữa chủ thể và khách

thể truyền thông được thực hiện qua sự trao đổi trực tiếp từ hai phía sẽ tạo nên sự

cởi mở đối với thông tin có sai sót trong hoạt động truyền thông sẽ được giải đáp

kịp thời Hoạt động giao tiếp trực tiếp không chỉ được thực hiện bằng hai giác

quan nghe , nhìn mà khách thể truyền thông còn có điều kiện tổng hợp được các

thông tin mà họ thu được qua nhận thức

Mặc dù các giao tiếp xã hội của kênh truyền thông không chính thức là

những kênh truyền thông tự phát nhưng có vai trò rất to lớn trong quá trình ttruyền

thông DS –KHHGĐ vì nó là quá trình trao đổi các thông tin một cách tự nhiên ,tất

yếu cuả quá trình giao tiếp giữa các cá nhân trong xã hội và là quá trình xử lý

thông tin sau khi được tiếp nhận

• Truyền thông dân số ;

Với cách hiểu chung nhất truyền thông là hoạt động truyền tải thông tin Quá

trình nay diễn ra liên tục trong đó tri thức tình cảm kỹ năng liên kết với nhau

Khi nghiên cứu về truyền thông dân số các nhà nghiên cứu lấy lý thuyết

truyền thông làm cơ sở lý luận để nghiên cứu và vận dụng vào lĩnh vực dân số do

đó định nghĩa trên được coi như là một định nghĩa chung về truyền thông dân số

Như vậy truyền thông dân số là một quá trình liên tục diễn ra giữa hai bên

bên truyền và bên nhận về vấn đề DS –KHHGĐ Cả hai bên cùng chia sẻ với nhau

về thông tin ,kiến thức , thái độ , tình cảm và kỹ năng vì :

- Có thông tin đầy đủ kịp thời mới có kiến thức

- Có kiến thức đúng đắn đầy đủ mới xác định được thái độ đúng

- Có thái độ đúng mới có tình cảm đúng

- Có thông tin , kiến thức , thái độ tình cảm đúng đắn thì mới vận dụng một

cách tự giác , từ đó mới tạo được kỹ năng

Trang 8

Nội dung của truyền thông dân số chính là vận động thực hiện KHHGĐ

,chấp nhận mô hình gia đình nhỏ có từ một đến hai con , để chăm sóc cho tốt Do

đó , thông điệp truyền thông dân số phải là những vấn đề có liên quan như : mối

quan hệ giữa dân số và phát triển , quan niệm bình đẳng giữa con trai và con gái …

những nội dung này đặc biệt cần thiết với người dân nông thôn

4) các lý thuyết tiếp cận :

Quá trình truyền thông có thể diễn ra theo những phương thức bằng lời như

phát thanh, truyền hình và không lời như tranh ảnh , hình vẽ , panô áp phích Cả

hai phương thức trên đều sử dụng hệ thống các ký hiệu để truyền tải nội dung thông

điệp Tuy nhiên hệ thống ký hiệu này rất phong phú và đa dạng khiến cho các nhà

truyền thông phải luôn chú ý tới quan hệ giữa các ký hiệu và ý nghĩa khi truyền

thông Từ đó dẫn tới việc phải nghiên cứu cách thức truyền thông sao cho hiệu

quả nhất

Chúng ta có thể tìm hiểu mô hình truyền thông của Horald Laswell :

S M C R E

Trong mô hình trên :

S : Nguồn phát

M : Thông điệp

C : Kênh truyền thông

R : Đối tượng truyền thông

E : Hiệu quả truyền thông

Nhìn vào sơ đồ ta thấy mô hình truyền thông này là mô hình truyền thông

một chiều và trong mô hình này không thể thiếu một yếu tố hay một giai đoạn nào

của quá trình Đây là mô hình truyền thông đơn giản và thuận lợi cho những

trường hợp khẩn cấp , tuy nhiên sẽ không thu hút được ý kiến hay các thông tin

phản hồi Với mô hình này đối tượng thu nhận thông tin sẽ không được giải thích

trong những trường hợp thông tin có nội dung phức tạp vì vậy hiệu quả là không

cao

Trang 9

Khác với quá trình truyền thông một chiều qua trình truyền thông hai chiều

do Claude Shannon đưa ra đã khắc phục được những nhược điểm của quá trình

truyền thông một chiều bằng cách chờ đợi phản ứng từ phía người nhận mô hình

này như sau;

N

Trong đó

N : Yếu tố tạo sai số trong thông tin

F : Sự phản hồi

Nhờ có yếu tố F nhà truyền thông sẽ biết được nội dung thông tin đến với đối

tượng tiếp nhận thông tin đạt hiệu quả ở mức độ nào , người nhân muốn thu được

những thông tin ở lĩnh vực nào Các nhà truyền thông có thể dựa vào đó để điều

chỉnh những nội dung thông tin của mình cho phù hợp với từng đối tượng tiếp

nhận Trong quá trình truyền thông không phải tất cả các thông điệp đều có thể đến

với người nhận đầy đủ chính xác mà quá trình này còn bị ảnh hưởng các yếu tố như

: môi trường tự nhiên ,xã hội ảnh hưởng đến việc lựa chọn các thông điệp truyền

thông gọi là Nhiễu (N) Yếu tố này tạo nên sự sai số trong hiệu quả truyền thông

Như vậy ta có thể thấy rằng truyền thông là một quá trình diễn ra liên tục

gồm nhiều yếu tố không thể tách rời giữa bên truyền và bên nhận

II Kết quả nghiên cứu

1 Hoạt động truyền thông dân số

Trong giai đoạn 2000 – 2004 hàng năm UB DS GĐ TE Thuận Thành tổ chức

rất nhiều lần tuyên truyền cụ thể năm 2000 đã tổ chức 159 lần tuyên truyền , năm

Trang 10

2001 đã tổ chức 205 lần tuyên truyền , năm 2002 là 163 lần , năm 2003 tổ chức 157

lần đến 2004 dã tổ chức 191 lần Nhưng số người sinh con thứ 3 trở lên lại giảm

rất ít và đặc biệt tăng mạnh vào 2003 điều này được thể hiện qua bảng 1

Bảng 1 : tỉ lệ sinh qua các năm

Qua bảng 1 ta thấy vấn đề tuyên truyền DS –KHHGĐ ở Thuận thành còn

chưa làm thay đổi được ý thức và hành vi của người dân về vấn đề sinh đẻ có kế

hoạch

Khi được hỏi những chủ đề tuyên truyền của các anh chủ yếu về vấn đề gì ?

thì anh Ng Xuân T cán bộ dân số cho biết” chỗ anh tuyên truyền thì cũng chi có

mấy chủ đề như KHH GĐ , Thông báo các chính sách của Đảng, nhà nước về dân

số , chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em” Qua đây ta thấy các chủ đề tuyên truyền còn

khá ít, điều này là do trong một vài năm gần đây các cấp lãnh đạo ở địa phương ít

quan tâm đến vấn đề DS –KHHGĐ , mặt khác do đội ngũ cán bộ dân số của huyện

còn thiếu Cả huyện chỉ có 2 cán bộ phụ trách vấn đề DS –KHHGĐ, nên khi được

hỏi tại sao các anh không tăng cường các chủ đề tuyên truyền ? anh T cho biết “ em

xem có mỗi 2 người , chỉ làm sao tuyên truyền được hết mấy chủ đề này cho các

thôn trong huyện đã tốt lắm rồi, làm gì còn thời gian mà làm các chủ đề khác nữa”

Hiệu quả của việc tuyên truyền thấp còn do thời gian tuyên truyền và cách

thức tổ chức tuyên truyền các cuộc tuyên truyền chủ yếu thông qua các phương tiện

truyền thông đại chúng như loa đài nên cán bộ dân số không thể quan sát và biết

được người dân có quan tâm đến vấn đề DS- KHHGĐ đó cũng là một hạn chế để

làm giảm hiệu quả của việc tuyên truyền , mà những lần tuyên truyền có sự tham

gia nói chuyện của người dân thì các cán bộ dân số chỉ gặp gỡ nói chuyện với

những cộng tác viên dân số ở các xã để trao đổi và giúp họ trong vấn đề chuyên

Ngày đăng: 16/04/2015, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w