Theo Đặng Nghiêm Vạn Tình hình tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác
Trang 1Tìm hiểu nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của các tầng lớp nhân dân
LỜI MỞ ĐẦU
Đa số con người từ khi biết tổ chức thành xã hội đã có nhu cầu tôn giáo
Trong xã hội nguyên thuỷ, con người bất lực trước sức mạnh tự nhiên, sợ hãi
trước bệnh tật và cái chết, bắt gặp quá nhiều hiện tượng không thể giải thích
được như sấm chớp, mây mưa Họ chỉ biết đặt niềm tin vào các hình thức tôn
giáo như Totem giáo và ma thuật Họ cầu cứu các vị thần linh trợ giúp để họ có
thể vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống và đánh bại mọi kẻ thù Sang xã hội
có giai cấp, ngoài sự bất lực trước các hiện tượng tự nhiên, quần chúng lao động
còn bất lực trước sự áp bức, bóc lột giai cấp Con người không thể tìm được lối
thoát trong xã hội thực tại mà phải tìm lối thoát trên thiên đường ở thế giới bên
kia
Theo thống kê, hiện nay trên thế giới, số người có nhu cầu tôn giáo chiếm
tới 5/6 số dân Nhu cầu tôn giáo không phải ngẫu nhiên mà có, nó do những điều
kiện tự nhiên và xã hội tạo nên, thay đổi theo diễn biến của xã hội Nhu cầu đó
vừa mang tính cộng đồng, vừa mang tính cá nhân Nó xuất phát từ sự mong
muốn dựa vào sức mạnh thần bí siêu nhiên để hỗ trợ cho bản thân vượt qua
những khó khăn trong cuộc sống Nhu cầu có sự khác nhau giữa các khu vực,
các dân tộc Trong một cộng đồng lại có những biểu hiện khác nhau giữa các
giai tầng xã hội, các nhóm xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, trình độ học
vấn
Trong các xã hội khác nhau, từng người có khi rơi vào những sự việc và
quan hệ độc lập với ý muốn, nhiều khi vô thức Chính trong mối quan hệ xã hội
phức tạp đó nảy sinh những may rủi, số phận khác nhau, những bất lực, sợ hãi
không giải thích được Từ đó con người có những khao khát, hoài bão về cuộc
sống sau khi chết Nếu những cá nhân đã thế thì đối với mỗi tộc người, mỗi quốc
gia cũng vậy, nhiều khi roơi vào những tình huống khác nhau tưởng như ngẫu
Trang 2nhiên, do số phận, do Chúa an bài Vì vậy nhu cầu tôn giáo rất đa dạng đối với
những cá nhân trong một cộng đồng, giữa những cộng đồng trong cùng một giai
đoạn lịch sử
Ngày nay con người có một cuộc sống tốt hơn, được trang bị vốn kiến
thức và hiểu biêt sâu rộng hơn, xã hội cũng có rất nhiều thay đổi, nhưng nhu cầu
tôn giáo không vì thế mà mất đi Trái lại, trong thời gian gần đây, nhiều hiện
tượng tôn giáo mới đã xuất hiện, bên cạnh đó là sự phục hưng của các hiện
tượng tôn giáo tín ngưỡng truyền thống Với mong muốn hiểu rõ hơn hiện tượng
này tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của các tầng lớp
nhân dân” Các số liệu trình bày trong bài viết là do Viện nghiên cứu tôn giáo
cung cấp
Trang 3NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Thao tác hoá một số khái niệm
Khái niệm nhu cầu:
Theo từ điển Tiếng Việt, nhu cầu là cái cần dùng bắt buộc
Dưới góc độ xã hội học, nhu cầu là trạng thái tâm lý bên trong, mà tình
trạng bên trong này làm cho những kết cục nào đó thể hiện là hấp dẫn Nhu cầu
chưa được thoả mãn tạo nên sự căng thẳng, áp lực cá nhân Những áp lực này
tạo ra việc tìm kiếm những hành vi để tìm đến mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được
các mục tiêu cụ thể này thì sẽ giảm bớt căng thẳng
Nhu cầu là cái bên trong, trạng thái tâm lý đòi hỏi và muốn được thoả
mãn về một cái gì đó được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi tìm đến mục tiêu
cụ thể Tuỳ từng hoàn cảnh lịch sử mà có nhu cầu khác nhau, từng tầng lớp cũng
có nhu cầu khác nhau, nhưng nhìn chung cơ bản nhu cầu ở mỗi người đều có là:
nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu giải trí
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Nhân dân là bộ phận đông đảo gồm những
người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, chủ yếu là những người
lao động, phân biệt với bộ phận khác là giai cấp và tầng lớp thống trị xã hội
Khái niệm tôn giáo:
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội hình
thành nhờ vào lòng tin và sự sùng bái thượng đế, thần linh
Theo Đặng Nghiêm Vạn (Tình hình tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam): Tôn
giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng,
được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay
hư ảo), nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia
Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kì lịch sử,
hoàn cảnh địc lý, văn hoá khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo,
được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng
cộng đồng và xã hội tôn giáo khác nhau
Trang 4Khái niệm tín ngưỡng:
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Tín ngưỡng là lòng tin và sự tôn thờ một tôn
giáo
2 Nội dung bài viết
Theo số liệu được biết, hiện nay nước ta có khoảng 20 triệu tín đồ các tôn
giáo chính Nếu quan niệm tôn giáo như định nghĩa ở trên, bao gồm cả tôn giáo
dân tộc như đạo thờ tổ tiên thì gần như tất cả người dân đều theo chí ít một tôn
giáo
Với câu hỏi: Ông bà (anh chị) có nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng hay không
chúng ta thu được kết quả như sau:
Đối với người được hỏi theo đạo Kitô và Cao Đài:
Như vậy, chúng ta có thể thấy đại đa số người dân được hỏi ở ba thành
phố lớn và tỉnh Tây Ninh đều có nhu cầu tôn giáo, nhưng mức độ khác nhau tuỳ
thuộc vào các yếu tố như khu vực, giới tính, phụ thuộc vào việc họ có phải là
người theo đạo hay không Người dân cố đô có nhu cầu nhiều hơn cả Ngay
Trang 5những người dân thường không theo đạo nhưng nhu cầu tôn giáo của họ vẫn lên
tới hơn 83%, và sự chênh lệch về giới là không đáng kể Lẽ dĩ nhiên những
người theo đạo thì nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của họ rất lớn, chiếm gần 100%
Những bên cạnh đó ta thấy một số rất nhỏ trong số họ không có nhu này Có thể
lý giải rằng đó là những người sinh ra trong những gia đình theo đạo, và từ nhỏ,
khi chưa có ý thức thì họ cũng đã quen thuộc với những sinh hoạt của người xứ
đạo Và như vậy họ cũng theo đạo như một lẽ tự nhiên, trong khi bản thân không
có nhu cầu
Đối với người dân thường ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu
tôn giáo tín ngưỡng lớn hơn khá rõ rệt ở phụ nữ Người phụ nữ thường hay lo
xa, cộng thêm tâm lý “có kiêng có lành”, do vậy họ thường tìm đến với các đấng
siêu nhiên mong phù hộ độ trì cho mọi người trong gia đình tai qua nạn khỏi, có
sức khoẻ, gặp nhiều may mắn
Ở Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông nói chung, người dân
thường tham gia nhiều hành vi tôn giáo tín ngưỡng và ma thuật khác nhau
Bộ phận công giáo Bộ phận không công giáo
Các hành vi tôn giáo tín ngưỡng và ma thuật ở đây có thể là: Đi lễ nhà
thờ, đền, chùa , bói toán, xem tử vi, ngoại cảm, thờ cúng ông bà Số lượng
hành vi tôn giáo tín ngưỡng trung bình mỗi người tham gia là 2 cho đến gần 3
Người dân Hà Nội tham gia ít hành vi tôn giáo tín ngưỡng hơn, vì người Hà Nội
không lưu truyền nhiều phong tục như người Huế, và cũng không tiếp thu nhiều
loại tôn giáo như người miền Nam Huế là đất cố đô nên các tôn giáo tín ngưỡng
của dân tộc, ví dụ như đạo thờ cúng được thực hiện phức tạp hơn, qua nhiều
bước hơn Vẫn là đạo thờ tổ tiên đó, nhưng khi ra tới ngoài bắc hay vào trong
Trang 6nam thì nó đã được giản lược đi rất nhiều Còn mảnh đất phía Nam, do không có
bề dày lịch sử, truyền thống nên dễ dàng tiếp thu văn hoá cũng như tôn giáo
mới Đây là khu vực có nhiều loại hình tôn giáo tồn tại, theo đó mà người dân
tham gia vào nhiều loại hình hành vi tôn giáo tín ngưỡng khác nhau
Tầng lớp trí thức không công giáo tham gia những hành vi tôn giáo tín
ngưỡng ít nhất Đó là điều dễ hiểu, vì thông thường, học vấn càng cao thì người
ta càng ít gặp những điều bất ổn, rủi ro trong cuộc sống, và họ càng ít phải viện
đến những đấng siêu nhiên, thần thánh Tầng lớp bình dân do học thức kém, kéo
theo đó là việc làm và thu nhập không ổn định, họ lúc nào cũng nơm nớp lo sợ
rủi ro ập đến như mất việc, thiếu tiền, bệnh tật Cuộc sống bấp bênh khiến họ chỉ
còn biêt trông chờ vào sự may rủi của số phận Họ đi cầu, khấn, xem bói toán
mong muốn sẽ có một cuộc sống suôn sẻ hơn và tránh được tai họa Khi bản
thân không thể làm gì hơn thì buộc họ phải trông chờ vào đấng cứu thế ở trên
trời, mong rằng lòng thành của mình sẽ có ngày được đền đáp
Việc tham gia vào nhiều hành vi tôn giáo tín ngưỡng khác nhau đã bộc lộ
tính phiếm thần của người dân Việt Nam Đặc biệt, bộ phận Công giáo cũng
tham gia các hành vi tôn giáo khác như thờ cúng tổ tiên
Xem xét nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng trong 13 nhu cầu thiết thân của một
con người ( công bằng xã hội, luật pháp, gia đình, đất nước, việc làm, học vấn
tay nghề, dân chủ, bạn bè tin cậy, tình yêu, tiền bạc, kinh tế thị trường, văn nghệ
thể thao ) thu được kết quả:
Khu vực
Trí thức không Kitô giáo
Quần chúng không Kitô giáo
Không Kitô giáo nói chung
Trang 7Như vậy, chỉ có một số lượng ít những người không theo đạo coi tôn giáo
là nhu cầu thiết thân Tôn giáo tín ngưỡng là một phần trong cuộc sống của họ,
góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần, nhưng nếu xếp trong
thứ thự ưu tiên thì nó chỉ được đứng thứ 13 (đối với người dân Hà Nội và TP Hồ
Chí Minh) và cao hơn một chút, đứng thứ 12 (đối với người Huế) Họ tham gia
vào các hành vi tôn giáo tín ngưỡng gần như một thói quen, ít hiểu giáo lý, thấy
nhu cầu tôn giáo là cần, nhưng lại ít coi trọng nó Họ còn phải dành sự ưu tiên
cho các nhu cầu khác quan trọng hơn, như học vấn tay nghề, công bằng xã hội,
gia đình Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ Đây chỉ
là những con người rất đời thường, họ không thể sống được nếu không có việc
làm ổn định, không thể hạnh phúc nếu không có gia đình nhưng họ có thể sống
nếu không có tôn giáo tín ngưỡng Chúng ta phải nhấn mạnh rằng, đối với
những người đó, tôn giáo tín ngưỡng chỉ là một trong những yếu tố góp phần
làm phong phú thêm đời sống tinh thần của họ mà thôi Điều đó giống như tình
hình ở châu Âu, nơi mà đạo Kitô dược coi là truyền thống nhưng nay đang trong
tình trạng giải Kitô hoá, theo hai cuộc điều tra ở 6 nước châu Âu cách nhau 10
năm, kết quả dường như giống nhau Số người tuyên bố theo đạo Kitô (Công
giáo hay Tin Lành) đều từ 82% đến 97% trở lên, nhưng nếu coi là gắn bó, thiết
thân thì cũng lại xếp nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng xuống hàng thứ 14 tức hàng
cuối cùng so với các nhu cầu khác (riêng ở Anh là thứ 12, ý và Tây Ban Nha là
thứ 13)
Nhưng ở Việt Nam thì có sự khác biệt rõ rệt giữa những người không theo
đạo và những người theo đạo Những người theo Kitô giáo và đạo Cao Đài thực
sự coi tôn giáo là nhu cầu thiết thân Họ dành cho nó vị trí số 1 (Huế và Tây
Ninh) hoặc vị trí số 2 (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) Con số những người coi tôn
giáo tín ngưỡng là nhu cầu thiết thân chiếm từ 70% đến hơn 90%
Trang 8Hà Nội TP HCM Huế Tây Ninh
Kitô giáo nói
chung
Kitô giáo nói chung
Kitô giáo nói
Qua hai bảng trên ta thấy một kết quả khá thống nhất là bộ phận Công
giáo và đạo Cao Đài được hỏi coi trọng nhu cầu tôn giáo hơn bộ phận không
công giáo bởi lẽ ở bộ phận thứ hai này tâm linh tôn giáo bàng bạc hơn Đối với
họ, tôn giáo là cần thiết nhưng vẫn kém hơn các nhu cầu khác
Để xem xét cụ thể nhu cầu tôn giáo, chúng ta cần đi sâu phân tích những
hoạt động cũng như những quan niệm của tín đồ Trong khuôn khổ bài viết này,
chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 3 khía cạnh: Đức tin và hành vi cụ thể mang tính chất
thuần tuý tôn giáo, đạo thờ cúng tổ tiên, những hành vi tôn giáo tín ngưỡng
truyền thống và mới nảy sinh
Đức tin và hành vi cụ thể mang tính chất thuần tuý tôn giáo
Qua câu hỏi có tin vào sự hiện diện của đức Phật, Chúa Giêsu và các
Bảng: Mức độ tin vào sự hiện diện của đức Phật, Chúa, Thánh thần
Trang 9Đối với những người được hỏi theo đạo Công giáo thì đa số họ tin vào sự
hiện diện của Chúa Đặc biệt ở Huế, số người tin vào điều này chiếm tới 100%
Chỉ có 1,5% số người được hỏi ở Hà Nội còn ngờ vực và 5,6% ở thành phố Hồ
Chí Minh là khẳng định không tin Trái lại, những người không theo đạo ít tin
vào điều này Đặc biệt ở Hà Nội, có tới 61,5% số người được hỏi không tin rằng
có sự hiện diện của Chúa, Đức Phật hay các Thánh thần
Những người theo đạo thì đại đa số tin vào sự xuất hiện của các thánh
thần, Chúa, đức Phật Còn đối với những người không theo đạo, niềm tin đó bị
chi phối bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính Thông thường,
những người có học thức cao, những người thuộc tầng lớp trí thức ít tin vào điều
này hơn Ngoài ra, phụ nữ tin nhiều hơn nam giới, người cao tuổi tin nhiều hơn
thanh niên
Bảng: Mức độ thường xuyên đi lễ nhà thờ, chùa, đền, miếu
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Qua câu hỏi có đi lễ nhà thờ, chùa, đền, miếu không, ta thấy cũng có sự
khác biệt giữa các tầng lớp nhân dân.Những người dân không theo đạo lẽ dĩ
nhiên họ không thường xuyên đi lễ, thông thường họ chỉ đi vào những dịp đặc
biệt như ngày rằm mồng một, ngày hội, Giáng sinh Nhưng họ đi cũng không
hẳn vì lý do tôn giáo Như chúng ta dã biết, đền chùa, miếu, nhà thờ thường là
những nơi có phong cảnh đẹp, là những di tích lịch sử nổi tiếng, vì vậy nó còn là
địa điểm tham quan du lịch, là niềm tự hào của các địa phương Ví dụ như Huế
Trang 10là nơi có rất nhiều di tích lịch sử nổi tiếng, gắn với các vương triều xưa, trong dó
có rất nhiều đền chùa Vì vậy có thể hiểu được vì sao người Huế tỉ lệ trả lời có
đi lễ cao hơn những khu vực khác (60,4% thường xuyên đi lễ và 13,3% thỉnh
thoảng có đi), trong khi đó ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh con số này chỉ
có hơn 50%
Với câu hỏi có thường xuyên đi lễ nhà thờ không, chúng ta thấy tỉ lệ trả
lời thường xuyên là rất cao đối với những người theo đạo Công giáo 100%
người Huế thường xuyên đi lễ nhà thờ Tỉ lệ này thấp hơn một chút ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh có tới 6,2% người
dân theo đạo công giáo nhưng lại không bao giờ đi lễ nhà thờ Đây là một thành
phố lớn phát triển bậc nhất của cả nước, có lẽ họ cũng bị cuốn theo nhịp điệu
gấp gáp của thành phố mà không còn chút thời gian nào ngoài công việc nữa
chăng?
Nếu đi sâu thêm, chúng ta thử xét việc thực hành nghi lễ của giáo dân
Các nghi lễ cơ bản bao gồm: tham dự Thánh lễ, chịu phép Thánh lễ và xưng tội
Tham dự Thánh lễ tức là tham gia các buổi lễ ngày chủ nhật hay lễ trọng, đồng
thời phải đọc Kinh sớm tối Chịu phép Thánh thể là những người phải tham dự
Thánh lễ nhưng phải sạch tội, không lỗi đạo, hay mắc tội trọng mà chưa được
giải tội Xưng tội là khi có lỗi lầm nhưng đã ăn năn, nói lên tội lỗi của mình để
linh mục giải tội Lễ xưng tội được coi là một trong những hành vi quan trọng
nhất của tín đồ Kitô giáo Nhưng ngày nay nó không còn phổ biến ở các nước
châu Âu Mặc dù vậy, ở Việt Nam, tỉ lệ những người theo đạo thường xuyên
xưng tội trước Chúa vẫn chiếm tỉ lệ cao (86% - 95%) Mặt khác, về việc tham
dự thánh lễ và chịu phép thánh lễ thì chỉ được hơn một nửa số giáo dân ở Hà
Nội thực hiện thường xuyên, Trong khi đó, đại đa số giáo dân ở thành phố Hồ
Chí Minh thực hiện thường xuyên cả 3 nghi lễ trên