Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dới sự lãnh đạo của Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nớc ta đã phát huy trí tuệ sáng suốt và sức mạnhvô địch của toàn dân nhằm đánh thắng thực dân
Trang 11.4 Thành công và những bài học từ việc tổ chức xây dựng chính quyền
mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân trong kháng chiến, kiến quốc 54
Chơng 2: Công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng
chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt ở Tuyên Quang hiện nay dới ánh sáng t tởng Hồ Chí
2.1 Những thành công và hạn chế của bộ máy chính quyền ở Tuyên
2.2 Cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền mạnh mẽ và
2.3 Một số kiến nghị, giải pháp trong cải cách hành chính ở Tuyên Quang 87
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời sáng lập, xây dựng và lãnh đạo nhà nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam Vì vậy, sự nghiệp và tên tuổi của Ngời gắn liền với sự ra đời và pháttriển của Nhà nớc Việt Nam mới - Nhà nớc công nông đầu tiên ở Đông Nam
á
T tởng Hồ Chí Minh về tổ chức và xây dựng nhà nớc Việt Nam Dânchủ Cộng hoà là di sản vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở để
Trang 2xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay - một nhà nớc với hệ thống chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân từ Trung ơng đến địa
phơng Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dới sự lãnh đạo của Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nớc ta đã phát huy trí tuệ sáng suốt và sức mạnhvô địch của toàn dân nhằm đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lợc.Trên thực tế, chỉ lúc nào Đảng ta phát huy đợc trí tuệ sáng suốt, tập hợp đợcsức mạnh của nhân dân thì mới xây dựng đợc chính quyền nhà nớc mạnh mẽ
Trái lại, chính quyền nhà nớc trở nên yếu kém, kinh tế - xã hội lâmvào khủng hoảng, trì trệ chính là khi đờng lối, chính sách phát triển kinh tế -xã hội cùng phơng thức quản lý nhà nớc không đáp ứng đợc những yêu cầu,
đòi hỏi chính đáng lợi ích của đại đa số nhân dân, không khuyến khích đợc tàinăng và trí tuệ của dân tộc Đó là bài học đắt giá trong quá trình xây dựng vàhoàn thiện nhà nớc qua mỗi giai đoạn lịch sử
Ngày nay, trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã và đáng tiếp tục quán
triệt t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốtcủa nhân dân" nhằm xây dựng bộ máy chính quyền nhà nớc trong sạch,
vững mạnh; trong đó công cuộc cải cách hành chính là một biện pháp quan
trọng sẽ tăng cờng hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấptrên thực tế
Vì vậy, nghiên cứu sự ra đời, nội dung của t tởng Hồ Chí Minh về
"thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và mối quan hệcủa nó với công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền nhà n-
ớc trong sạch vững mạnh hiện nay là một công việc có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc Đó là nhiệm vụ đặt ra cấp bách cho những ngời nghiên cứu vànhững ngời quản lý xã hội trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc
2 Tình hình nghiên cứu
Hồ Chí Minh là ngời đầu tiên sáng lập ra Nhà nớc Việt Nam Dân chủCộng hoà - Nhà nớc Dân chủ đầu tiên ở Đông Nam á Vì vậy, t tởng và hoạt
động lãnh đạo của Hồ Chí Minh về nhà nớc đã có nhiều tác giả nghiên cứu
Trớc hết phải kể đến các tác giả: Nguyễn Ngọc Minh với: Nghiên cứu t tởng
Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998 Đây là
công trình nghiên cứu khá toàn diện về những t tởng và những đóng góp thựctiễn của Hồ Chí Minh đối với nhà nớc và pháp luật của Nhà nớc ta trong cả hai
Trang 3giai đoạn cách mạng Dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Tiếp đó
là PGS.TS Hoàng Văn Hảo với: T tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc kiểu mới - Sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Tác giả cũng
đã nghiên cứu từ sự lựa chọn kiểu nhà nớc của Hồ Chí Minh đến những t tởngcủa Hồ Chí Minh về Nhà nớc Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Dân tộc Dânchủ và trong t hời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa Phần kết luận của tác giảchiếm gần nửa số trang của tập sách có nhiều nghiên cứu mới về sự "kết hợp
đạo đức và pháp luật trong t tởng Hồ Chí Minh"; từ đó nêu ra sự vận dụng t ởng Hồ Chí Minh về nhà nớc pháp quyền và từng bớc hoàn thiện nó trong quátrình đổi mới ở nớc ta Tiếp theo phải kể đến công trình chuyên khảo của PTS
t-Nguyễn Đình Lộc, T tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc của dân, do dân, vì dân,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 (sản phẩm của đề tài cấp Nhà nớcKX.02.13) Đây là công trình nghiên cứu khá cơ bản t tởng Hồ Chí Minh vềnhà nớc của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây
dựng nhà nớc pháp quyền ở Việt Nam; Vũ Đình Hoè với: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.
Tiếp sau đó, có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này nh Phạm Ngọc
Anh - Bùi Đình Phong với: T tởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nớc pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, 2003; Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên) với T tởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nớc kiểu mới ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Bùi Ngọc Sơn với T tởng lập hiến Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004 Một số giáo trình t tởng Hồ Chí Minh của
Hội đồng lý luận Trung ơng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng
có bài về t tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc của dân, do dân, vì dân; các tác giả: Dơng Xuân Ngọc có bài "Quá trình xây dựng thể chế nhà nớc của dân, do dân, vì dân theo t tởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Lý luận chính trị, 2-2004; Lê Mậu Hãn với Hồ Chí Minh kién lập nhà nớc pháp quyền Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng, 5-2005, GS Trần Xuân Trờng với: Đảng cầm quyền và nhà nớc của dân, do dân, vì dân; PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc với: 60 năm xây dựng nhà nớc cách mạng của dân, do dân, vì dân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 năm 2005; PGS.TS Lê Văn Tích (chủ biên) với: Đa t tởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, Nxb Chính trị quốc gia, 5-2006; GS.VS Nguyễn Duy Quý với bài: Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành tựu và những vấn đề cần giải quyết, Tạp chí Thông tin công tác t tởng lý luận, 7-2006; GS.TS Hoàng Chí Bảo với: Dân chủ xã hội chủ nghĩa - mục tiêu và động lực của đổi
Trang 4mới; GS TSKH Đào Trí úc với bài: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Báo Nhân dân số ra ngày 8-8-2006; Nguyên Thủ tớng Phan Văn Khải với: Sự điều hành năng động của Chính phủ là một nhân tố đa tới những thành tựu đổi mới và phát triển đất nớc, Báo Nhân dân
số ra ngày 17-6-2006
Các công trình trên đây đã nghiên cứu ngày một rõ t tởng Hồ ChíMinh và những đóng góp thực tế của Ngời trong việc xây dựng và lãnh đạo nhànớc kiểu mới ở Việt Nam, trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và cáchmạng xã hội chủ nghĩa; phân tích sáng tạo của Hồ Chí Minh và tính cách mạngcủa nhà nớc do Hồ Chí Minh sáng lập Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu đặt racho mỗi công trình mà cha có tác giả nào nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về
"thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" một cách độc lập
và trong mối liên hệ với công cuộc cải cách hành chính hiện nay Vì vậy, trêncơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc, tôi lựa chọn
vấn đề: "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với
công cuộc cải cách hành chính ở Tuyên Quang", làm đề tài luận văn thạc sĩ
Hồ Chí Minh nhằm phát huy sức mạnh và trí tuệ của nhân dân để xây dựngnhà nớc trong sạch, vững mạnh, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu quá trình hình thành t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiệnchính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
- Xác định nội dung chủ yếu của t tởng trên
- Nghiên cứu mối liên hệ t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chínhquyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" với công cuộc cải cách hànhchính nhằm xây dựng nhà nớc của dân, do dân và vì dân trong sạch, vững mạnh
- Liên hệ với thực tiễn chơng trình cải cách hành chính nhằm xây dựngchính quyền vững mạnh vì dân ở Tuyên Quang hiện nay
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 5Đề tài đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, cơ sở và quá trình hình thành nộidung t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốtcủa nhân dân" và sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta hiện nay vào trong côngcuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng thành công nhà nớc pháp quyền xã hộichủ nghĩa - một chính quyền trong sạch, vững mạnh thực sự của dân, do dân, vìdân trên phạm vi quốc gia cũng nh ở địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay.
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phơng pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin và cácphơng pháp cụ thể: phơng pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử - lôgíc, điều traxã hội học
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ t tởng Hồ Chí Minh về
"thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và từ đó thấy rõmối liên hệ và những kinh nghiệm, bài học quý báu của t tởng ấy với côngcuộc cải cách hành chính hiện nay
Luận văn là tài liệu quý giúp những ngời nghiên cứu và quản lý hiểu rõthêm một t tởng quan trọng của Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh và trí tuệtoàn dân để xây dựng chính quyền trong sạch và vững mạnh - một đòi hỏi th-ờng xuyên và cấp bách đối với Việt Nam trong tiến trình củng cố, xây dựng
đất nớc và hội nhập quốc tế Luận văn là tài liệu tham khảo để giảng dạy trongcác trờng hành chính, trờng chính trị tỉnh và giúp chính quyền tỉnh TuyênQuang trong quá trình thực hiện Chơng trình cải cách hành chính ở địa bàntỉnh giai đoạn 2006 - 2010 nhằm xây dựng hệ thống chính quyền TuyênQuang trong sạch, vững mạnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
Trang 6sản có sức mạnh tập trung chống lại sự phản kháng của các thế lực thù địch,
đồng thời phát huy dân chủ thực sự để tổ chức tốt nền kinh tế xã hội chủnghĩa, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền giáo dục và văn hóa mớicho nhân dân
Trong tác phẩm "Nhà nớc và cách mạng - Học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nớc và những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cách mạng"
V.I.Lênin viết:
Học thuyết đấu tranh giai cấp mà Mác vận dụng vào vấn đề nhànớc và vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa, tất nhiên phải đa tới chỗ
thừa nhận sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản, chuyên chính
của giai cấp đó, tức là một chính quyền không bị chia sẻ với ai hết, vàtrực tiếp dựa vào lực lợng vũ trang của quần chúng Giai cấp t sản chỉ
có thể bị lật đổ, khi nào giai cấp vô sản trở thành giai cấp thống trị đủ
sức trấn áp sự phản kháng không thể tránh khỏi, tuyệt vọng của giai
cấp t sản, và đủ sức tổ chức hết thảy quần chúng lao động và bị bóc
lột để xây dựng một chế độ kinh tế mới
Giai cấp vô sản cần có chính quyền nhà nớc, cần có sức mạnhtập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn
bóc lột và lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân - nông dân, tiểu
t sản, nửa vô sản - trong công cuộc "tổ chức" nền kinh tế xã hội chủnghĩa [22, tr.32]
Sự tổng kết và phát triển t tởng của Mác - ăngghen về nhà nớc và cáchmạng, hết sức kỳ tài của Lênin, đã cho chúng ta thấy đợc "vấn đề nhà nớc" đã
đợc trình bày ngày càng sáng tỏ theo tiến trình lịch sử, từ "Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản" 1848 tới Công xã Pari 1871 và đến "đêm trớc của cách mạngvô sản xã hội chủ nghĩa" tháng 10 Nga năm 1917 Các đặc điểm về mô hình,vai trò, chức năng chủ yếu của nhà nớc vô sản cùng những nhiệm vụ của giaicấp công nhân trong cách mạng luôn đợc bổ sung bằng tổng kết thực tiễn pháttriển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranhchính trị để giành lấy chính quyền
Công xã Pari 1871 là hình thức chính quyền nhà nớc đầu tiên của giaicấp công nhân và nhân dân lao động Tuy tồn tại không lâu, song nó đã để lạicho phong trào cộng sản và công nhân thế giới một mô hình nhà nớc rất đặcsắc về tính dân chủ trên nhiều phơng diện tổ chức và hoạt động của nó Lêninnhận xét:
Trang 7Chính quyền mới, với tính cách là chuyên chính của tuyệt đại
đa số, đã có thể duy trì và đã đợc duy trì chỉ là nhờ vào sự tín nhiệmcủa quần chúng đông đảo, chỉ bằng lôi cuốn một cách tự do nhất,rộng rãi nhất và mạnh mẽ nhất toàn thể quần chúng tham gia chínhquyền Đó là chính quyền công khai đối với mọi ngời, làm việc tr-
ớc mặt quần chúng, quần chúng dễ dàng gần gũi nó, nó trực tiếpsinh ra từ quần chúng, là cơ quan trực tiếp đại biểu cho quần chúngnhân dân và ý chí của họ [21, tr.378]
V.I.Lênin còn chỉ rõ, trong điều kiện mới giai cấp vô sản càng phải kiênquyết sử dụng bạo lực cách mạng, đập tan bộ máy của nhà nớc t sản; khả nănggiành chính quyền bằng phơng pháp hòa bình là rất quý nhng ít khi xảy ra.Cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở những mắt khâu yếu nhấtcủa chủ nghĩa đế quốc Nhiệm vụ lúc này là phải đập tan bộ máy hành chính,quân sự quan liêu, những công cụ áp bức, bóc lột, đàn áp nhân dân; còn các cơquan khác nh cơ quan thống kê, ngân hàng, bu điện là những yếu tố cầnthiết cho quản lý nhà nớc mới thì "không thể và cũng không nên phá hủy bộmáy đó đi Phải giải thoát cho bộ máy đó khỏi phải phục tùng bọn t bản, phải
bắt bộ máy đó phục tùng các Xô viết vô sản, phải mở rộng bộ máy đó ra, làm
cho nó bao trùm mọi lĩnh vực và trong cả nớc" [23, tr.404]
Muốn cách mạng vô sản thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân,theo Lênin, còn phải xây dựng đợc đảng mác xít chân chính; đoàn kết và tậphợp mọi lực lợng cách mạng mà nòng cốt là liên minh công - nông
Chủ nghĩa Mác giáo dục công nhân, là giáo dục đội tiên phongcủa giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và
dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ
chức một xã hội mới, đủ sức làm thầy, làm ngời dẫn đờng, lãnh tụcủa tất cả những ngời lao động và những ngời bị bóc lột để giúp họ
tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp t sản vàchống lại giai cấp t sản [22, tr.33]
Nhà nớc xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả đấu tranh cách mạng củagiai cấp vô sản và nhân dân lao động dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.Cách mạng ở mỗi nớc, mỗi thời kỳ có những điều kiện và hoàn cảnh khácnhau cho nên sự ra đời của các nhà nớc xã hội chủ nghĩa cũng nh việc tổ chức
Trang 8nhà nớc kiểu mới có những đặc điểm khác nhau Vì thế, mỗi nớc cần phảichọn cho mình những phơng pháp và hình thức thích hợp.
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trên con đờng đi tìm con đờng cứu nớccứu đồng bào, Ngời đã gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin Dới ánh sáng
Luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và tấm gơng
cách mạng tháng Mời Nga, Ngời đã tìm ra con đờng giải phóng cho dân tộcmình và cho các dân tộc thuộc địa Năm 1920, bằng nhiệt tình cách mạnghiếm thấy và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, tại Đại hội lần thứ 18 Đảng Xãhội Pháp Nguyễn ái Quốc tán thành và ủng hộ Đảng mình đi theo con đờngQuốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản Sự kiện đó đánh dấu bớc chuyển biến vềchất trong t tởng Nguyễn ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nớc đến chủ nghĩa Lênin,
từ ngời yêu nớc thành ngời cộng sản Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng đểNguyễn ái Quốc trở thành ngời sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tiếp đó
là sáng lập ra nhà nớc cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam á
Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền.Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mời Nga và mô hình chínhquyền công nông binh đã đợc lãnh tụ Nguyễn ái Quốc vận dụng ngay từ đầu
năm 1930 Trong Chính cơng vắn tắt đợc thông qua tại Hội nghị thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, Ngời sớm vạch rõ "Chủ trơng làm t sản dân quyềncách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" [29, tr.1] Để thựchiện thành công cuộc cách mạng này, Nguyễn ái Quốc chỉ rõ những yêu cầu
về phơng diện xã hội, kinh tế, chính trị , trong đó:
ở Việt Nam lúc bấy giờ
Trớc khí thế đấu tranh sôi nổi của phong trào cách mạng trong nớc saukhi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, điển hình là cao trào Xô Viết Nghệ -Tĩnh (1930-1931) với việc áp dụng trực tiếp mô hình chính quyền Xô viếtNguyễn ái Quốc sớm nhận định:
Trang 9Đó là đầu tiên nhân dân ta nắm chính quyền ở địa phơng và bắt
đầu thi hành những chính sách dân chủ, tuy mới làm đợc trong mộtphạm vi nhỏ hẹp Xô viết Nghệ An bị thất bại, nhng đã có ảnh hởnglớn Tinh thần anh dũng của nó luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quầnchúng, và nó đã mở đờng cho thắng lợi về sau [32, tr.154-155]
Đầu năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nớc ngoài, lãnh tụ Nguyễn áiQuốc về nớc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam Tháng 5 năm
1941, Nguyễn ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ơng 8 Sau khi phân tích tìnhhình trong nớc và quốc tế, Ngời đã nhận định: "Vấn đề chính là nhận địnhcuộc cách mạng trớc mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: đoàn kết toàn dân, chống
Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất" [32, tr.158]
Hội nghị đã có chủ trơng mới "không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa" [11, tr.127] Chơng trình Việt Minh cũng nêu rõ: "sau khi
đánh đuổi đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc cờ Chính phủ
nhân dân của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại hội cử lên "[29, tr.583]
Cuối năm 1944, khi thời cơ giải phóng dân tộc đến gần, Hồ Chí Minh
nói rõ hơn về mô hình một nhà nớc mới của cách mạng Việt Nam trong Th gửi đồng bào toàn quốc, đó là một chính phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn
kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta "Một cơ cấu nh thế mới đủlực lợng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thìgiao thiệp với các hữu bang" [29, tr.505]
Nh vậy, từ mô hình Nhà nớc công nông binh chuyển sang mô hình Nhà nớc Dân chủ Cộng hòa là một bớc chuyển kịp thời và sáng tạo của Hồ Chí
Minh, phản ánh đợc đặc thù thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc ở ViệtNam Đó là một sáng tạo cách mạng về chính thể nhà nớc trong lý luận về nhànớc của chủ nghĩa Mác - Lênin
Sự ra đời của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức năng chuyênchính của chính quyền nhân dân, là một đóng góp của Hồ Chí Minh đối với việcthực hiện chức năng "chuyên chính" của nhà nớc trong lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin về Nhà nớc của giai cấp vô sản
Trang 10Cơ sở để hình thành t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyềnmạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân đợc bắt nguồn chính từ việc nhà nớc cáchmạng phải thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nớc dân chủvừa mới đợc thiết lập sau cách mạng tháng Tám Trung thành với nguyên tắc
"dĩ bất biến, ứng vạn biến", Hồ Chí Minh trong thời kỳ đầu của cách mạngtháng Tám ít dùng khái niệm: cách mạng vô sản, nhà nớc vô sản và nềnchuyên chính vô sản, thay vào đó là các khái niệm đồng nghĩa kèm theo cặp
từ "quần chúng", "nhân dân" Sau này khi điều kiện cho phép Hồ Chí Minh đãgiải thích rõ ràng hơn:
Về chuyên chính dân chủ nhân dân: chế độ nào cũng cóchuyên chính Vấn đề là ai chuyên chính với ai? Dới chế độ thựcdân phong kiến, t bản, chuyên chính là số ít ngời chuyên chính với đại
đa số nhân dân Dới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa
số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi íchnhân dân, chống lại chế độ dân chủ nhân dân [33, tr.279]
Trong bài viết cho báo Pravđa (Liên Xô) "Cách mạng tháng Mời vĩ đại
mở ra con đờng giải phóng cho các dân tộc" nhân kỷ niệm 50 năm ngày cáchmạng tháng Mời Nga, Hồ Chí Minh viết:
Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấmnhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của cách mạngtháng Mời
Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Chỉ có sự
lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc mình thì mới có thể đacách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủnghĩa đến thành công [35, tr.303-304]
Nh vậy, theo Hồ Chí Minh việc xây dựng, tổ chức và lãnh đạo chínhquyền dân chủ nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam phải dựa vào chủ nghĩaMác-Lênin và phải bảo đảm xây dựng chính quyền thật sự mạnh mẽ, chắcchắn và sáng suốt của nhân dân Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng vớichính quyền là nhân tố không thể thiếu để thực hiện tổ chức xây dựng mộtchính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Cơ sở lý luận làm cho đờnglối lãnh đạo của Đảng và các chính sách nhà nớc tỏ ra thật sự sáng suốt chính
Trang 11là lý luận Mác-Lênin đợc vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể ởViệt Nam.
Hồ Chí Minh khẳng định: Chính quyền nhà nớc Việt Nam Dân chủCộng hoà là nhà nớc dân chủ, nhà nớc của dân, do dân và vì dân; cơ sở xã hộicủa nhà nớc là toàn thể dân tộc, nền tảng là liên minh công - nông, lao độngtrí óc dới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Trong t tởng Hồ Chí Minh một nhà nớc mạnh mẽ và sáng suốt của nhândân trớc hết là một nhà nớc thực sự đại biểu cho quyền lợi của nhân dân, thực
sự do nhân dân lập ra, đợc nhân dân ủng hộ Đồng thời, đó phải là một chínhquyền nhà nớc tập trung, có bộ máy hành chính mạnh mẽ, quản lý điều hànhbằng pháp luật có hiệu lực, hiệu quả thực tếl; đội ngũ cán bộ công chức amhiểu pháp luật, chuyên môn và có đạo đức phục vụ nhân dân
Bằng sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý, quan điểm của Học thuyếtMác - Lênin về nhà nớc vào chỉ đạo và xây dựng thành công nhà nớc Dân chủcộng hòa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ là một ngời Mác xít chânchính, đã bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng sự thắng lợi trên thựctiễn của cách mạng dân tộc dân chủ mở đờng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
"những t liệu mà Mác ở thời mình không thể có đợc" [27, tr.465] Hồ Chí Minh
đã tiếp nối ánh sáng của cách mạng tháng Mời Nga bằng nắng vàng mùa thucách mạng tháng Tám trên đất nớc Việt Nam, xua tan bóng đêm của chủnghĩa thực dân ngự trị trên đất nớc gần một thế kỷ
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Những công việc của chính quyền non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám là
sự tiếp nối những công việc và thành quả của chính quyền "nớc Việt Nam mới phôi thai" ở khu giải phóng trớc Cách mạng Tháng Tám Không thể hiểu thấu
đáo cơ sở thực tiễn của t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốtcủa nhân dân" nếu không tìm hiểu tiến trình xây dựng chính quyền ở giai đoạnnày
Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng đợc
mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, LạngSơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi thuộc cáctỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái
Trớc tình hình đó, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập khu giải phóng, cử ra
Uỷ ban chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng
Tại các địa phơng trong khu giải phóng, các Uỷ ban nhân dân cách mạng
Trang 12cũng đợc thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của Việt
Minh Khu giải phóng là hình ảnh "nớc Việt Nam mới phôi thai", "các Uỷ ban
nhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, vừa tậpcho nhân dân cầm chính quyền" [5, tr.134-135]
Tiến trình thành lập Chính phủ Việt Nam đợc Đảng ta và Hồ Chí Minhchuẩn bị rất kỳ công, có khởi nguồn tự mục tiêu tranh đấu của Mặt trận ViệtMinh (tháng 5/1941) đặc biệt khi thời cơ "ngàn năm có một" xuất hiện, lãnh
tụ Hồ Chí Minh đã quyết định khai mạc Đại hội Quốc dân trong ngày
16-8-1945 tại Tân Trào, huyện Sơn Dơng, tỉnh Tuyên Quang
Đại hội đại biểu quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử nh Quốc hội
đầu tiên của nớc Việt Nam mới
Asimét L.A.Patti (Archimèdes L.A.Patti), một sĩ quan tình báo Mỹ cómặt ở Hà Nội ngay sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi đã nhận xét rằng, khibiết tin phát xít Nhật đã sụp đổ, Hồ Chí Minh "đã hành động một cách kiênquyết và nhanh chóng vì ông phải bảo đảm chiếm đợc một chỗ đứng vữngchắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi ngờithấy rõ đợc cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và pháttriển phong trào" [39, tr.146]
Quốc dân Đại hội Tân Trào là "một tiến bộ lớn trong lịch sử đấu tranhgiải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay" [29, tr.553], Quốc dân Đạihội Tân Trào với tính cách là cơ quan mang tính đại diện quyền lực cao nhấtcủa nhân dân tán thành chủ trơng Tổng khởi nghĩa của Đảng và 10 chính sách
của Việt Minh, thông qua quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc
Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thực hiện chức năng Chính phủ lâmthời sau cách mạng tháng Tám thắng lợi
Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của ĐảngCộng sản Đông Dơng và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sứcmạnh dân tộc và tính hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền độc
lập tự do bằng tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển
xoay vận nớc bằng phơng thức khởi nghĩa vũ trang, xoá bỏ chế độ nô dịchthực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ quan mang tính quyền lựccao nhất là Đại hội đại biểu quốc dân và Uỷ ban dân tộc giải phóng do Đại hội
đại biểu quốc dân lập ra
Trang 13Ngày 25/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội Theo đề nghịcủa Ngời, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâmthời nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy bandân tộc giải phóng đã tự nguyện rút ra để mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minhtham gia Sau này, Hồ Chí Minh ca ngợi: "Đó là một cử chỉ vô t, tốt đẹp,không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lêntrên lợi ích cá nhân Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phảihọc tập" [32, T.6, tr.160]
Việc Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đápứng yêu cầu: Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu đợc Mặt trận dân tộcthống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ, mời thêm một số nhân sỹ tham giachính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân đã giao phócho Và để Chính phủ sớm ra mắt quốc dân đồng bào trong ngày tổ chức lễtuyên bố độc lập của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trong "Tuyên cáo vềviệc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Việt Namdân quốc công báo, Số 1, ngày 29-9-1945), ngày 28-8-71945 có đoạn:
Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặttrận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Việt Minh) nh có ngời đã lầm t-ởng Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của cácchính đảng Thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọngtrách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập đợc Quốc hội đề cử ramột Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức
Hỡi quốc dân đồng bào,Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúcnày đây Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dới láquốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, nắm chắc tự do độclập, cải tạo Tổ quốc bấy lâu đã bị bọn giặc nớc tàn phá [24, Tr.324].Theo t tởng Hồ Chí Minh, một nhà nớc có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, tr-
ớc hết phải là nhà nớc hợp hiến, hợp pháp
Sau khi giành chính quyền trong cả nớc, trớc tình hình biến chuyển hếtsức mau lẹ, Ban Thờng vụ Trung ơng Đảng, Tổng bộ Việt Minh quyết địnhsớm tổ chức lễ Tuyên bố độc lập của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày2/9/1945, tại Quảng trờng Ba Đình, trên lễ đài, các thành viên chính phủ ra
Trang 14mắt trớc đông đảo quần chúng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của dân tộclần đầu tiên xuất hiện trớc công chúng Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủtịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trớc quốcdân đồng bào và thế giới: Nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời "NớcViệt Nam có quyền hởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nớc tự do
và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực l ợng,tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy" [24, tr.327-328]
Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng củadân tộc Việt Nam, nêu cao ý chí đấu tranh của toàn dân để giữ vững quyền
độc lập, tự do, bảo vệ chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam Quyền độc lập tự
do của dân tộc Việt Nam đợc khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủtịch Hồ Chí Minh công bố trớc quốc dân và quốc tế đã đặt cơ sở pháp lý quantrọng đầu tiên về sự ra đời của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và có giá trị
đóng góp vào sự phát triển nền pháp lý tiến bộ của loài ngời
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của toàn thểdân Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng ta và Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ bộmáy thống trị của đế quốc và bọn phong kiến tay sai, lập nên chính quyềnnhân dân trong cả nớc Đây là sự thắng lợi của đờng lối của Đảng ta và t tởng
Hồ Chí Minh về quá trình hình thành một nhà nớc do nhân dân, vì nhân dân,thay thế cho nhà nớc thực dân phong kiến đã tồn tại ở Việt Nam gần một thế
kỷ Cuộc cách mạng tháng Tám đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốcthực dân, và "nền quân chủ mấy mơi thế kỷ", thành lập nớc Cộng hòa Dânchủ, đa dân tộc Việt Nam bớc vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Dân chủCộng hòa, kỷ nguyên Độc lập, Tự do Nói về ý nghĩa to lớn của cuộc Cách mạngTháng Tám, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc" [32, tr.159].
Tuy nhiên, nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải "tiếp quản" một
di sản kinh tế - xã hội hết sức nghèo nàn, lạc hậu "Giặc đói" đe dọa sinhmạng của hàng triệu đồng bào Nền tài chính quốc gia gần nh trống rỗng
Về mặt xã hội, hậu quả của xã hội cũ rất nặng nề Sự thất học của đại đa
số nhân dân cũng là một loại giặc "giặc dốt" Chỉ có 10% dân số biết chữ, hầuhết ở bậc tiểu học Số công chức có trình độ đại học và cao đẳng trong cả nớcchỉ khoảng vài trăm ngời Thực tế đó đã làm cho việc tổ chức hoạt động và
Trang 15xây dựng chế độ mới của nhà nớc ta gặp nhiều, khó khăn Các tệ nạn xã hội,
hủ tục và lối sống lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến, phát xít để lại làgánh nặng cho nhà nớc cách mạng non trẻ
Về chính trị, trong khi các lực lợng Đồng minh kéo vào nớc ta, các thếlực phong kiến phản động, tay sai của thực dân Pháp đã tăng cờng hoạt độngtrở lại Hàng chục tổ chức chính trị, đảng phái đợc thành lập nh Đại Việt Cáchmạng Đảng, Việt Nam phục quốc, Việt Nam quốc xã Đảng do Trần TrọngKim, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Diệm cầm đầu Đặc biệt có hai đảng pháichính trị từ nớc ngoài trở về theo đội quân Tởng là Việt Nam cách mạng đồngchí hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) ra mặt chốngphá chính quyền rất quyết liệt Hoàn cảnh Việt Nam lúc này vô cùng khókhăn
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng II - 1951, Hồ Chí Minh đã viết:
Nớc ta độc lập cha một tháng, thì phía Nam, quân đội đế quốcAnh kéo đến Chúng mợn tiếng là lột vũ trang của quân Nhật, nhng
sự thật chúng là đội quân viễn chinh giúp thực dân Pháp âm mu cớplại nớc ta
Phía Bắc thì quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc kéo sang.Chúng cũng mợn tiếng là lột vũ trang quân Nhật, nhng kỳ thậtchúng có ba mục đích hung ác:
- Tiêu diệt Đảng ta,
- Phá tan Việt Minh,
- Giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhândân, để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng
Đứng trớc tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọicách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và cóhiệu quả hơn, và có thời giờ củng cố dần dần lực lợng của chính quyềnnhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất [32, tr.161]
Theo t tởng chỉ đạo Hồ Chí Minh, chính trong những tình thế hiểmnghèo cần phải sáng suốt, cần có đối sách mềm dẻo, nhân nhợng, hòa hoãn đểgiữ vững và củng cố sức mạnh thống nhất của chính quyền nhân dân, thànhquả quan trọng nhất của cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh hiểu rõ: "vấn đềcơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền, giành chính quyền đãkhó nhng giữ vững chính quyền càng khó hơn" Chính trong thời khắc cực kỳnghiêm trọng và đầy thử thách này, thiên tài Hồ Chí Minh và nghị lực cách
Trang 16mạng phi thờng của dân tộc đã giúp Ngời nhạy bén và sáng suốt lựa chọnnhững đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời có hiệu quả những nhiệm
vụ vô cùng phức tạp, khó khăn; bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt
Nam vợt qua thác ghềnh, từng bớc tiến lên Thời gian là một yếu tố vô cùng
cần thiết để "củng cố dần lực lợng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặttrận dân tộc thống nhất", nguồn sức mạnh của hệ thống chính trị dân chủ vừa
mới đợc thành lập; thời gian là sức mạnh, là lực lợng cho Mặt trận và Chính
quyền triển khai công việc tổ chức đoàn kết toàn dân và xây dựng "chínhquyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" trở thành một hệ thống chínhquyền thống nhất từ "Chính phủ toàn quốc" đến chính quyền địa phơng trongcả nớc Việt Nam
Sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dơng tuyên bố "tự giải tán" là "để phá
tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nớc và trong nớc có thể trở ngại chotiền đồ giải phóng nớc ta" Những ngời muốn nghiên cứu về chủ nghĩa Mác -Lênin "sẽ gia nhập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dơng"
Nh vậy, bằng việc công khai thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác
và tờ báo Sự thật cùng các chỉ thị, nghị quyết, trên thực tế Đảng ta vẫn tiếp tục
tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin và đờng lối chính sách của Đảng, giữvững đợc mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, bảo đảm sự lãnh đạo toàndiện của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc
Tình hình những tháng năm đầu của cách mạng là thời kỳ chồng chấtnhững khó khăn thử thách với Đảng và chính quyền nhân dân trên mọi phơngdiện từ nội trị, kinh tế, quân sự, đến ngoại giao
Với t cách là thợng khách của nớc Pháp, trong chuyến thăm Pháp năm
1946, Hồ Chí Minh là hiện thân của ý chí độc lập dân tộc, hoà bình và hữunghị của nớc Việt Nam mới, Ngời đã làm hết sức mình để cố tránh một cuộcchiến tranh đổ máu cho hai dân tộc Việt - Pháp và kéo dài khoảng thời gianhoà hoãn để củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lợng cho cách mạng ở trong n-ớc
Trớc những câu hỏi có tính "cân não" về xu hớng cộng sản, ở một thời
điểm nhạy cảm, của các nhà báo Pháp phỏng vấn Hồ Chủ tịch, Ngời điềm tĩnhtrả lời:
Tất cả mọi ngời đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác Cách đây 2000 năm,
Trang 17Đức chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta Điều đó
đến bây giờ vẫn cha thực hiện đợc
Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thểtrả lời đợc Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện đợc, cần phải có
kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi ngời đều đợc phát triển hết khảnăng của mình ở nớc chúng tôi, những điều kiện ấy cha có đủ [30,tr.272]
Qua đó, ta có thể thấy Hồ Chí Minh luôn đứng ở thực tại, cho dù trongnhững hoàn cảnh ngặt nghèo, Ngời vẫn tỏa sáng một tầm nhìn bao quát,những biến chuyển biện chứng của lịch sử vận động khách quan đều thôngqua những điều kiện cụ thể ở đó con ngời không thể áp đặt ý muốn chủ quancho lịch sử đợc Hòa bình, hợp tác thân thiện là những điều kiện để hai dân tộcViệt - Pháp có thể thực hiện đợc, còn chế độ chính trị xã hội là do dân chúng ởmỗi nớc tự quyết định Lịch sử đã khẳng định về một "cơ hội hòa bình đã đểlỡ" là do tham vọng duy trì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời của Chính phủ Pháplúc bấy giờ đối với vấn đề Việt Nam và Đông Dơng
Lịch sử Cách mạng Việt Nam hiện đại ghi nhận rằng giai đoạn đầuCách mạng Tháng Tám 1945 đến 1946 là giai đoạn chính quyền nhân dânchịu nhiều thử thách nặng nề, khó khăn và nguy hiểm nhất Hoàn cảnh lịch sử
ra đời và những nhiệm vụ to lớn, những thử thách sống còn đòi hỏi chínhquyền non trẻ của nhân dân phải tỏ rõ là một hệ thống chính quyền phải mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân, sát cánh cùng toàn thể dân tộc bằng sức mạnhnội lực của đất nớc đã giải phóng quyết giữ vững quyền độc lập tự do của cảdân tộc Việt Nam Hệ thống chính quyền nhà nớc mới muốn thực sự làchính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân thì nó phải đ ợc xây dựngtrên nền tảng dân chủ Các cơ quan quyền lực nhà nớc của chính quyềnnhân dân phải do nhân dân bầu ra bằng cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổthông đầu phiếu Nhân dân thực sự sử dụng quyền dân chủ của mình để ứng
cử và bầu cử để chọn ra những ngời đủ đức, đủ tài gánh vác công việc chungcủa chính quyền nhân dân
1.2 sự hình thành t tởng Hồ Chí Minh về Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhiệm vụ của nhà nớc hết sứcnặng nề, một mặt phải khắc phục những khó khăn nghiêm trọng nh giải quyết
Trang 18nạn đói, nạn dốt, thói xấu cùng những bất công, chia rẽ tôn giáo, mất dân chủtrong xã hội do chế độ cũ để lại, mặt khác, chính quyền nhân dân, đặc biệt làchính quyền cấp xã đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ của nhà nớc ở địa phơng Tệ tham ô, lãng phí, công thần, "làmquan cách mạng", lên mặt, nhũng nhiễu nhân dân đã sớm đợc Hồ Chí Minhnhận dạng và cảnh báo qua những bài báo, bức th của Ngời đã cho công bố.Chính những khuyết tật, những căn bệnh cả cũ lẫn mới đó đã làm cho khảnăng tập hợp sức mạnh và trí tuệ sáng suốt của nhân dân, của cấp chínhquyền cơ sở bị ảnh hởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và uy tín cả hệ thốngchính quyền dân chủ mới.
Trên cơng vị ngời đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhậnthấy sự cần thiết phải lãnh đạo, tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền dânchủ phải thật sự mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Chế độ dân chủ phải đợcvận hành bằng nền hành chính dân chủ mới
Sự ra đời t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhândân" là một quá trình nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của cách mạng Việt Namtrong điều kiện Việt Nam từ một nớc nô lệ tiến lên một quốc gia độc lập Đó
là sự thay đổi lớn, một cuộc cách mạng trong t tởng và thực tiễn chỉ đạo xâydựng chính quyền dân chủ ở Việt Nam Lịch sử Nhà nớc Việt Nam Dân chủCộng hòa và lịch sử Hiến pháp Việt Nam gắn liền với t tởng lập hiến Hồ ChíMinh
Hiến pháp là nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ hiện đại, Hiến pháp
là cơ sở pháp lý về sự tồn tại và phát triển của nhà nớc Thực hiện một xã hội
tự do, dân chủ cho nhân dân và một chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của dâncần phải có một Hiến pháp dân chủ ý thức rất sớm vấn đề này, nên suốt 24năm trên cơng vị Chủ tịch nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minhkhông chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của Hiến pháp Việt Nam mà Ngời còntrực tiếp làm Trởng ban soạn thảo hai bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959
Sự cần thiết phải xây dựng và tổ chức một chính quyền nhà nớc mạnh
mẽ, sáng suốt của nhân dân đợc Hồ Chí Minh nhận thức và thể hiện rất sớm từphiên họp đầu tiên (ngày 3/9/1945) của Hội đồng Chính phủ nớc Việt NamDân chủ Cộng hòa Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày với
các Bộ trởng Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đó là những vấn đề cấp bách, thiết thực mà chính quyền mới ra đời
"cha quen với kỹ thuật hành chính, phải giải quyết trong hoàn cảnh đất nớc
Trang 19còn chồng chất những khó khăn thiếu thốn" [30, tr.7] Sau khi nghe Chủ tịch
Hồ Chí Minh trình bày, các Bộ trởng đã thảo luận và đều nhất trí tán thànhnhững đề nghị của Ngời Việc đề xuất ra những chủ trơng, chính sách, nhiệm
vụ đúng đắn, kịp thời để giải quyết công việc, thể hiện bản lĩnh trí tuệ, năng lực
tổ chức, quản lý sáng suốt của Chính phủ, đặc biệt là ngời đứng đầu
Cùng với các quyết sách mạnh mẽ để giải quyết nạn đói, nạn dốt, bãi bỏcác thứ thuế bất công, thực hành: cần, kiệm, liêm, chính trong chiến dịch giáo
dục lại tinh thần nhân dân Ngời tuyên bố: tín ngỡng tự do và lơng giáo đoàn
kết, Hồ Chí Minh đã đề cập ngay đến sự cần thiết: "Chúng ta phải có một hiếnpháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổngtuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mời támtuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo,dòng giống, v.v " [30, tr.8]
Tổng tuyển cử dân chủ, bầu ra Quốc hội, lập hiến, lập pháp là nhữngvấn đề căn bản để tổ chức xây dựng nhà nớc dân chủ có cơ sở pháp lý vữngchắc phù hợp với thông lệ pháp lý dân chủ quốc tế Ngày 8/9/1945, Bộ trởngNội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 14/SLquy định trong thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc tổngtuyển cử bầu Quốc hội Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có toàn quyền ấn
định Hiến pháp cho nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 20/9/1945, Chủtịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của n ớcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm các vị: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, ĐặngThai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lơng Bằng, Đặng XuânKhu Ngày 26/9/1945, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 39/SL, thành lập Uỷ ban
dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín ngời và Sắc lệnh số 51/SL, ngày17/10/1945, quy định Tổng tuyển cử bằng cách phổ thông đầu phiếu v.v Đây
là những Sắc lệnh quan trọng nhằm xây dựng quyền làm chủ của công dân ViệtNam đối với vận mệnh đất nớc qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọnnhững ngời có tài, có đức, để gánh vác công việc nớc nhà
Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ ai là ngời muốn lo việc nớc thì
đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử.Không phân biệt gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp,
đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó
Trang 20Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức làdân chủ, đoàn kết.
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ
cử ra chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân" [30, tr.133].Các ban bầu cử đã đợc thành lập tại các làng xã do ủy ban nhân dân cáccấp trực tiếp đảm nhận
Quá trình diễn ra Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trơng trong điều kiệnvừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoạigiao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go,phức tạp Dựa vào các thế lực quân đội nớc ngoài có mặt trên đất nớc ta lúcbấy giờ, Việt Quốc và Việt Cách ra sức chống đối việc tổ chức Tổng tuyển cử.Việt Quốc đa ra yêu sách đòi chiếm giữ 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội vàphải giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trongChính phủ, v.v
Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý và mọi âm mu pháhoại của Việt Quốc, Việt Cách, đồng thời kiên trì sách lợc nhân nhợng khônkhéo nhằm tạo không khí thuận lợi cho Tổng tuyển cử Đại diện của ViệtMinh và Việt Quốc, Việt Cách đã thơng lợng, lần lợt ký các văn bản ghi nhậntinh thần, nguyên tắc và các biện pháp hợp tác trong đó có các quan điểmquan trọng
Coi trọng độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉcông kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời v.v
Chính vì vậy, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chínhphủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thêm một số thành viên của Việt Quốc, ViệtCách Chính phủ liên hiệp lâm thời vẫn do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịchkiêm ngoại giao
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội lập hiến đầu tiêncủa nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra thắng lợi trong toàn quốc
333 đại biểu đã trúng cử Thắng lợi của Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đánhdấu bớc phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nớc Việt Nam mới
Quốc hội mới họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946 đã chuẩn y lời thỉnhcầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng thêm 50 ghế cho Việt Nam Quốc dân
Đảng và 20 ghế cho Việt Nam Cách mạng đồng chí hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chínhphủ liên hiệp kháng chiến Đây là chính phủ hợp hiến đầu tiên cho đại biểu
Trang 21của nhân dân bầu ra, có đầy đủ t cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọivấn đề nội trị và ngoại giao của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Song song với cuộc đấu tranh và xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc chothể chế nhà nớc dân chủ của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủlâm thời đã nhanh chóng tổ chức thực hiện một hệ thống chính quyền ở khắp các
địa phơng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Sự cần kíp phải có một chính quyềnmạnh mẽ và sáng suốt để lãnh đạo toàn thể dân tộc, đoàn kết toàn dân, thực hành
tự do dân chủ cho nhân dân khi nớc nhà đã tuyên bố độc lập là một đòi hỏi kháchquan và trọng yếu nhất để đảm bảo thành quả cách mạng tháng Tám
Từ Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời
(28/8/1945) , Chính phủ liên hiệp lâm thời (ngày 9/1/1946), Chính phủ kháng chiến (ngày 2/3/1946) đến Chính phủ mới (ngày 3/11/1946) đã trải qua 4 lần
tự cải tổ và thành lập mới, Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn tỏ rõ:
Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết Theo lờiQuyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một chính phủbiết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiếnthiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nớc nhà
Anh em trong chính phủ mới sẽ dựa vào sức mạnh của Quốchội và quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốcdân và Quốc hội trao cho [30, tr.427-428]
Theo t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân, thì hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nớc ởTrung ơng (Quốc hội và Chính phủ) phải là một khối thống nhất với các cơquan quyền lực nhà nớc ở địa phơng (Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dâncác cấp)
Ngay sau ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho đăng trên Báo Cứu quốc, số 40 ngày 11/9/1945 bài: Cách tổ chức ủy ban nhân dân Trong đó xác định ủy ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố)
là hình thức chính phủ trong các địa phơng sau khi khởi nghĩa thắng lợi ủyban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, khác hẳn các cơ quan
do bọn thống trị cũ đặt ra Cũng chỉ sau đó 2 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kýSắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt NamDân chủ Cộng hòa về tổ chức các Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính
Trang 22Điều 1 của Sắc lệnh đã nêu:
Để thực hiện chính quyền nhân dân trong nớc Việt Nam, sẽ đặthai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính
Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trựctiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân
Uỷ ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơquan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ
ở hai cấp xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hànhchính, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Uỷ ban hành chính Cách tổchức, quyền hạn và cách làm việc của các cơ quan nói trên sẽ quy
định nh Sắc lệnh này [45, tr.216]
Sắc lệnh có 4 chơng với 115 Điều Đây là một văn bản quy phạm phápluật có nội dung, đối tợng và phạm vi điều chỉnh nh Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân hiện nay Việc nhanh chóng ban hành Sắc lệnhtrên để tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức xây dựng và hoạt động thống nhấtcủa hệ thống chính quyền của địa phơng dới sự điều hành của Chính phủTrung ơng, cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác (chủ yếu dới hìnhthức Sắc lệnh và lệnh) đợc ban hành để tổ chức điều hành hoạt động của chínhquyền non trẻ Đó là những nội dung cơ sở cho sự ra đời của Hiến pháp ViệtNam 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nớc Việt Nam mới Trong đó, nhân dânthực sự làm chủ quyền lực nhà nớc thông qua Nghị viện nhân dân và Hội đồngnhân dân các cấp; đồng thời xây dựng một bộ máy hành chính mạnh mẽ nhngkhông tiếm quyền của nhân dân
Sự độc đáo và tính sáng tạo của Hồ Chí Minh không dừng ở lĩnh vựcchuẩn bị lập hiến, lập pháp mà cả trên lĩnh vực hành pháp, Ngời đã để lại cho
Đảng và Nhà nớc ta những t tởng chỉ đạo và kinh nghiệm vô cùng quý báutrong tổ chức, điều hành chính quyền dân chủ nhân dân trong những ngày đầumới thành lập
Hồ Chí Minh thông qua con đờng báo chí, th tín đã liên hoàn sự chỉ
đạo, điều chỉnh cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhân dân của cácHội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đồng thời sớm chỉ ra những căn bệnh cốhữu trong chấp pháp thực hiện quyền lực công của bộ máy hành chính
Dới nhiều bút danh, Hồ Chí Minh đã cho đăng các bài báo, bức th: Th gửi các đồng chí tỉnh nhà; Chính phủ là công bộc của dân; Thiếu óc tổ chức - một
Trang 23khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân; Sao cho đợc lòng dân; Bỏ cách làm tiền ấy đi!; Th gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh huyện và làng)
Chính những vấn đề chính yếu Hồ Chí Minh đề cập trong các bức th,bài báo trên đã góp phần rất quan trọng vào việc củng cố chính quyền trên cảphơng diện xây dựng bộ máy, thống nhất đội ngũ cán bộ công chức các cấp vàcách thức thực hành quyền lực nhà nớc của dân, phụng sự nhân dân, phụng sự
Tổ quốc Cho dù không phải là những văn bản quy phạm pháp luật song t tởngcủa những bài báo, bức th do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ra còn nguyên giá trịcho việc xây dựng củng cố hệ thống chính quyền trong sạch, vững mạnh, cảicách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng đến tận ngày nay
T tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân đợc
Hồ Chí Minh với t cách trởng Ban soạn thảo Hiến pháp Việt Nam 1946 sửdụng lần đầu tiên trong lời nói đầu của Hiến pháp nớc Việt Nam Dân chủCộng hòa năm 1946
Đợc quốc dân giao cho trách nhiệm thảo luận Hiến pháp đầutiên của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằngHiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cáchmạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dới đây:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giaicấp, tôn giáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân [14, tr.7]
Là nguyên tắc hiến định tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho quá trình tổ
chức, xây dựng và hoạt động của nhà nớc dân chủ, t tởng về xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân mà nội dung cốt lõi là bằng hoạt
động thực tiễn để tổ chức hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nớc của nhân dân thực sự đủ năng lực quản lý điều hành đất nớc có hiệu lực, hiệu quả, giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho nhà nớc ở mỗi thời kỳ.
T tởng về tổ chức nhà nớc dân chủ mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
ở Hồ Chí Minh không chỉ là một nguyên tắc chỉ đạo tổ chức xây dựng nhà
n-ớc trên cả 3 mặt công tác, tổ chức và cán bộ mà còn đợc Ngời thống nhất
trong việc sử dụng vào xây dựng tổ chức Đảng Trong Báo cáo chính trị tại
Đại hội II (tháng 2/1951) Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu:
Đảng Lao động Việt Nam phải là một Đảng to lớn, mạnh mẽ,chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để Đảng Lao động Việt
Trang 24Nam phải là ngời lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam, để
đoàn kết và lãnh đạo dân tộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, đểthực hiện dân chủ mới Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một Chính vì ĐảngLao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam [32, tr.174-176].Cũng trong Báo cáo này Ngời đã nói rõ lý do về sự cần thiết phải tổchức và xây dựng Đảng ta thành một Đảng to lớn, mạnh mẽ và sáng suốt:
Ta có một Đảng to lớn, mạnh mẽ là vì có chủ nghĩa Mác Lênin, vì sự cố gắng không ngừng của toàn thể đảng viên, vì đợctoàn quân và toàn dân thơng yêu, tin cậy, ủng hộ
-Vì vậy, tôi chắc rằng: chúng ta sẽ làm tròn nhiệm vụ nặng nề
mà vẻ vang là:
- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ
- Đa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
- Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
- Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hòa bình lâu dài[32, tr.176]
Sự nhất quán trong t tởng chỉ đạo ở Hồ Chí Minh về xây dựng cho đợcnhững đặc tính biểu hiện của những tổ chức lãnh đạo và điều hành quản lý đấtnớc phải tỏ rõ là những tổ chức mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân, đủ lực lợng,quyền hành cùng tài năng trí tuệ và bản lĩnh cách mạng để tranh quyền độclập cho dân tộc, phát triển đất nớc sánh ngang với các nớc dân chủ trên thếgiới
Theo t tởng Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng một chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân, bên cạnh việc xây dựng thể chế bộ máy chínhquyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ cần phải có đội ngũ cán bộ công chức đủ
đức, đủ tài và tinh thông nghiệp vụ Suy cho cùng nhân tố con ngời, nhân tốcán bộ công chức là nhân tố tạo nên sức mạnh và hiệu lực thực tế của bộ máycác cơ quan chính quyền nhân dân có khả năng nhận thức rõ ràng và giảiquyết vấn đề đúng đắn, không sai lầm Nhận thức rõ tầm quan trọng và vai tròtích cực chủ động của đội ngũ cán bộ công chức với hoạt động của bộ máychính quyền các cấp, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnhban hành (Quy chế công chức Việt Nam)
Trang 25Trong lời nói đầu của Quy chế này, chúng ta lại thấy Chủ tịch Hồ ChíMinh cùng Chính phủ Việt Nam rất coi trọng việc thực hiện Hiến pháp năm
1946 trong việc xác định Quy chế pháp lý cho công chức Việt Nam "Điều thứnhất, chơng thứ nhất trong Hiến pháp đã nêu rõ: "nớc Việt Nam là một nớcdân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nớc là của toàn thể nhân dân"
Lời nói đầu của Hiến pháp về các nguyên tắc xây dựng chính quyềncũng nhấn mạnh:
Phải thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụtrong bộ máy nhà nớc của chính quyền nhân dân, dới sự lãnh đạo tốicao của Chính phủ
Vậy ngời công chức phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng
đờng lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc
Đi đôi với nhiệm vụ trên, công chức Việt Nam cần có một địa
vị xứng đáng với tài năng của mình Địa vị ấy đợc đề cao trong quychế này [24, tr.414-415]
Trong mục Nghĩa vụ, Quy chế này xác định:
Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành vớiChính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làmnhững việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt độngcủa bộ máy nhà nớc
Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính chí công vô t[24, tr.414-415]
Nh vậy là, Quy chế Công chức Việt Nam năm 1950 đợc ban hành dựatrên cơ sở pháp lý vững chắc là các nguyên tắc xây dựng chính quyền củaHiến pháp năm 1946
Mặt khác, sự ra đời của Quy chế Công chức Việt Nam đã phản ánh mộtthực tế là tính tối cao của các nguyên tắc Hiến pháp cần phải đợc bảo đảm trớctiên qua con đờng chấp hành kỷ luật hành chính của đội ngũ công chức ViệtNam Việc thực hiện t tởng xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt củanhân dân ở đây đã trở thành quy phạm pháp luật về quyền và nghĩa vụ côngchức Việt Nam
Là ngời sáng lập nhà nớc Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng làngời có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp, Ngời đã hai lần làmtrởng Ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 "Từ tháng
Trang 268/1945 đến tháng 12/1954, Chính phủ đã ban hành trên 1.200 Sắc lệnh, trong đóriêng năm 1945 và năm 1946 đã ban hành 328 Sắc lệnh" [24, tr.306].
Trong Báo cáo công tác của Ban sửa đổi Hiến pháp tại Quốc hội nớc ViệtNam Dân chủ Cộng hòa khóa I kỳ họp thứ 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày:
Tôi xin thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo những việcchúng tôi đã làm đợc từ khóa họp lần trớc tới nay Bản Hiến phápsửa đổi sẽ dựa vào bản Hiến pháp năm 1946 Nhng bản Hiến phápsửa đổi của ta lại sẽ đợc thi hành trong lúc đất nớc còn chia làm haimiền: miền Bắc đơng tiến lên chủ nghĩa xã hội và miền Nam thì nhmột thuộc địa của đế quốc Mỹ Những nét đặc biệt ấy tất nhiên phảiphản ánh vào Hiến pháp sửa đổi của ta, cũng nh tình hình thực tế n-
ớc nhà và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay [34, tr.159]
Là nhà lập pháp hàng đầu của đất nớc, hơn ai hết Hồ Chí Minh hiểu rõnhững giá trị lớn lao của Hiến pháp năm 1946, đặc biệt là những nguyên tắc ởHiến pháp năm 1946 vì đó là những kết tinh t tởng pháp quyền dân chủ ViệtNam đã đợc khẳng định bằng sự đấu tranh của cả một dân tộc ròng rã trên 80năm dới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hàng nghìn năm dới chế độ quânchủ không kém phần chuyên chế
Cho nên những t tởng, nguyên tắc xây dựng chính quyền trong Hiếnpháp năm 1946 phải đợc trân trọng giữ gìn và phát triển trong các bản Hiếnpháp tiếp theo
Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hộinớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã khẳng định lại những giátrị của Hiến pháp năm 1946
Lời nói đầu của bản hiến pháp năm 1946 đã nêu: nhiệm vụcủa dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độclập hoàn toàn và xây dựng nớc nhà trên nền tảng dân chủ Hiến phápViệt Nam phải ghi rõ những thành tích vẻ vang của cách mạng vàphải xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, đảm bảo cácquyền tự do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ của nhân dân.Chế độ do Hiến pháp năm 1946 xác nhận đã đảm bảo độc lậpdân tộc và một nền dân chủ rộng rãi của nhân dân Ngay từ khi mớithành lập, dới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền nhân dân đã ban
bố Luật Lao động, thi hành giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dânPháp và bọn Việt gian đem chia cho dân cày Quyền bầu cử và ứng
Trang 27cử, quyền tham gia vào công việc nhà nớc và của nhân dân đợc đảmbảo, quyền tự do dân chủ đợc thực hiện Đó là một chế độ dân chủmới [34, tr.582].
Sự ra đời của t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ
là sáng suốt của nhân dân" gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ thốngchính quyền nhà nớc Với tính cách là những nguyên tắc hiến định về tổ chứcxây dựng bộ máy và hoạt động của nhà nớc, Hồ Chí Minh và Quốc hội khóa I
đã khẳng định cho dân tộc quyền có một nhà nớc pháp quyền dân chủ đầu tiên
ở khu vực Đông Nam á T tởng này đợc nối tiếp và phát triển trong quá trìnhxây dựng Hiến pháp tiếp theo (1959, 1980, 1992) và giá trị của t tởng ấy trongthực tế cách mạng Việt Nam
1.3 nội dung t tởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
1.3.1 "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" một nội dung cơ bản trong các nguyên tắc xây dựng nhà nớc của Hiến pháp Việt Nam năm 1946
Quá trình hình thành t tởng về nhà nớc ở Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận
là lý luận về nhà nớc của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ thực tiễn Cách mạngTháng Tám ở Việt Nam cùng sự ra đời của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộnghòa
Nội dung t tởng xây dựng nhà nớc Dân chủ nhân dân ở Hồ Chí Minh làsản phẩm đặc thù phản ánh những yêu cầu có tính tất yếu từ hoàn cảnh lịch sử
về sự ra đời và lớn mạnh của nhà nớc dân chủ nhân dân Không chỉ trên phơngdiện tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh mà còn xác lập cơ sởpháp lý vững chắc cho tiến trình xây dựng chế độ dân chủ thực sự có khả năng
đoàn kết toàn dân tộc T tởng về tổ chức hệ thống chính quyền mạnh mẽ vàsáng suốt của nhân dân không thể phát huy tác dụng đầy đủ nếu tách dời với ttởng bảo đảm tự do dân chủ và t tởng về phát huy sức mạnh vĩ đại đoàn kếttoàn dân Trong tính chỉnh thể, t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ vàsáng suốt của nhân dân" là một nội dung cấu thành của t tởng xây dựng nhà n-
ớc Việt Nam mới ở Hồ Chí Minh Do đó, việc xác định nội dung t tởng trên,trớc hết phải từ chính vị trí, vai trò của nó trong các nguyên tắc ở "Lời nói
đầu" trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946
Từ "tuyên bố lập hiến" trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chínhphủ (ngày 3/9/1945) đến sự kiện Hiến pháp Việt Nam đợc Quốc hội khóa I
Trang 28thông qua (ngày 9/11/1946) là thời gian "kỷ lục" về sự hình thành của Hiếnpháp Việt Nam mà công lao đầu tiên thuộc về Trởng ban soạn thảo Hiến pháp
Hồ Chí Minh Có thể nói Hiến pháp Việt Nam năm 1946 là bản Hiến pháp củanhà nớc pháp quyền dân chủ đầu tiên của Việt Nam mới
Từ việc khẳng định thành quả của cách mạng tháng Tám là "giành lạichủ quyền cho đất nớc, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa"
Hiến pháp Việt Nam đã xác lập chính thể nhà nớc "là một nớc Dân Chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nớc là của toàn dân Việt Nam" đến việc ghi
nhận "Đoàn kết toàn dân đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chínhquyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" là những nguyên tắc cơ bản củaHiến pháp Việt Nam
Nh vậy, chỉ riêng về mặt hình thức thể hiện đã thấy đây là sự diễn tả hếtsức đặc sắc theo phong cách văn phong Hồ Chí Minh Ngời ta không thấychính thể nhà nớc công - nông - binh, không thấy mô hình chính quyền chuyên
chính vô sản mà thay vào đó là chính thể Dân chủ Cộng hòa với nguyên tắc hiến
định "thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân" [14, tr.7].
Nếu nh trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) Hồ Chí Minh trích dẫnnhững t tởng bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nớc Mỹ, Tuyênngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để tuyên bố
về một nền độc lập của nớc Việt Nam thì ở Hiến pháp năm 1946 các giá trịpháp lý dân chủ đợc Hồ Chí Minh thể hiện thành các nguyên lý pháp quyền về
một nền dân chủ rộng rãi theo nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân.
Về phơng diện lý luận, nhà nớc pháp quyền không phải là một kiểu nhànớc Nhà nớc pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độphát triển dân chủ ở đây, nhà nớc pháp quyền đợc xác lập dựa trên những giátrị pháp lý bằng các nguyên tắc luật pháp cao nhất - nguyên tắc của Hiếnpháp
Trong ý nghĩa này, nhà nớc pháp quyền đợc nhìn nhận nh một cáchthức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nớc và xã hội trên nền tảngdân chủ
Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nớc pháp quyền còn bao hàm các giá trị
đặc thù Tính đặc thù của nhà nớc pháp quyền đợc xác định bởi nhiều yếu tố
Trang 29nh các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trờng địa lýcủa mỗi dân tộc Hiến pháp Việt Nam 1946 với việc ghi nhận: Đoàn kết toàndân; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ vàsáng suốt của nhân dân Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định những giá trị phổbiến đồng thời thể hiện những giá trị đặc thù của nhà nớc pháp quyền dân chủcủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Sự mạnh mẽ và sáng suốt trong phục vụ nhân dân của nhà nớc chỉ có
đ-ợc nếu biết phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc và bảo đảm đđ-ợc các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân
Nghiên cứu tìm hiểu t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng, thực hiện chínhquyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân cho chúng ta thấy đây thực sự làmột luận điểm sáng tạo, một cống hiến của Hồ Chí Minh vào lý luận xây dựngnhà nớc kiểu mới ở Việt Nam Không chỉ bằng óc tổ chức thiên tài của Ngời
mà đó là kết tinh của kinh nghiệm lịch sử cách mạng giải phóng các dân tộc
mà Ngời đúc kết đợc và trân trọng nó vào một trong những nguyên tắc hiến
định của bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nớc Việt Nam dân chủ
Với vị trí pháp lý cao nhất, nguyên tắc xây dựng một chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân đóng vai trò chỉ đạo và quyết định toàn bộnhững công việc lập pháp, lập quy, hành pháp, t pháp về tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nớc phải thống nhất tuân thủ các quy định đó
Phấn đấu xây dựng một nhà nớc Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩatrong sạch vững mạnh là sự tiếp nối t tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc của Đảngcùng toàn dân ta trong thế kỷ XXI
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, phần trình bày về phơnghớng xây dựng nhà nớc xác định:
Nhà nớc ta là nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xâydựng cơ chế vận hành của nhà nớc, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyềnlực nhà nớc đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nớc là thốngnhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thựchiện quyền lập pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụthể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng vàhoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháptrong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền
Trang 30Theo phơng hớng đó, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động củaQuốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan t pháp, đẩy mạnh cảicách hành chính và cải cách t pháp, tăng cờng hiệu lực và hiệu quảcác hoạt động lập pháp, hành pháp và t pháp Nâng cao chất lợnghoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp [10,tr.45].
Xác định đợc những nội dung trên là kết quả trực tiếp của đúc kết đổimới sự lãnh đạo của Đảng với nhà nớc qua 20 năm đổi mới, song điều quantâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay vẫn là thực hiện những nộidung đó trên thực tiễn theo đúng t tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề rangay ở thời kỳ đầu xây dựng Nhà nớc Dân chủ cộng hoà
Là nhà lập hiến, lập pháp, hành pháp hàng đầu của dân tộc trong thời
đại mới, Hồ Chí Minh hơn ai hết hiểu rõ vị trí, vai trò của Hiến pháp với quátrình xây dựng một nhà nớc dân chủ đầu tiên ở Việt Nam Đúng nh Mon TesQuieu trớc đây đã viết: "Mỗi dân tộc đều tìm ra lý do của các kỷ cơng trongdân tộc của mình Và chỉ những ngời thông minh bẩm sinh, hiểu thấu hiếnpháp nớc nhà mới kiến nghị đợc những điều thay đổi Đó là lẽ tự nhiên!" [37,tr.32]
Muốn xác định đợc nội dung t tởng chỉ đạo của các nguyên tắc trongHiến pháp, trớc hết cần có nhận thức chung về hiến pháp Theo cách hiểuchung nhất Hiến pháp là đạo luật gốc của hệ thống quy phạm pháp luật cóhiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản giữa con ngời, xãhội với nhà nớc, cũng nh điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính nhà nớc.Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nớc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Tínhchất cơ bản của Hiến pháp thể hiện trên nhiều phơng diện
Trớc hết, Hiến pháp là cơ sở pháp lý của hệ thống chính trị Hiến pháp
là văn bản quy định những vấn đề cơ bản nhất của tổ chức quyền lực nhà nớc,quy định cơ cấu tổ chức của nhà nớc nói chung, của bộ máy nhà nớc nói riêng,xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nớc Trung ơng và các nguyên tắchoạt động cơ bản của bộ máy nhà nớc xác định mối quan hệ giữa nhà nớc vớicác tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và với công dân
Nh vậy, Hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản liên quan đếncác lợi ích chủ yếu của mọi giai cấp, mọi công dân trong xã hội, chế độ chính
Trang 31trị chế độ kinh tế, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân
Tuy nhiên, Hiến pháp không quy định các vấn đề một cách chi tiết mà
đó là những quy định có tính tổng hợp, khái quát, mang tính định hớng và tínhnguyên tắc Hiến pháp là cơ sở đảm bảo tính thống nhất của hệ thống phápluật
Trên phơng diện pháp lý, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý caonhất thể hiện: Các quy định của Hiến pháp là nguồn, là căn cứ cho tất cả cácngành luật khác Luật và các văn bản dới luật phải phù hợp với tinh thần vànội dung của Hiến pháp Các điều ớc quốc tế mà nhà nớc tham gia không đợcmâu thuẫn, đối lập với các quy định của Hiến pháp
Việc soạn thảo, ban hành, sửa đổi, thay đổi Hiến pháp đều phải tuântheo một trình tự đặc biệt
Là một trong ba nguyên tắc tạo nên chỉnh thể các nguyên tắc cơ bản về
tổ chức và hoạt động của nhà nớc, công tác xây dựng chính quyền của nhândân chỉ thực sự mạnh mẽ và sáng suốt khi nhà nớc đợc tổ chức trên nền tảng
đoàn kết toàn dân cũng nh việc nhà nớc bằng hoạt động thực tiễn bảo đảm cácquyền tự do dân chủ của nhân dân Trong mối quan hệ chỉnh thể của cácnguyên tắc xây dựng Hiến pháp năm 1946 thì nguyên tắc về xây dựng chínhquyền mạnh mẽ giữ vai trò là cơ sở để tổ chức bộ máy các cơ quan thực hiệnquyền lực nhà nớc qua đội ngũ cán bộ công chức Việt Nam
Nh vậy, có thể thấy rằng: Xây dựng chính quyền nhà nớc mạnh mẽ,sáng suốt của nhân dân trên nền tảng bảo đảm tự do, dân chủ và đoàn kết toàn dân
là nguyên lý tổ chức nhà nớc dân chủ ở Hiến pháp Việt Nam 1946, đồng thời làluận điểm cơ bản trong t tởng xây dựng nhà nớc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong việc tổ chức quyền lực nhà nớc, Hồ Chí Minh rất coi trọng yếu tố
đặc trng nhất là sử dụng quyền lực nhà nớc để phục vụ các mục tiêu chính trị,kinh tế, xã hội và đối ngoại của nhà nớc Khẳng định tính pháp quyền của nhànớc dân chủ là thiết chế: Tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân
Lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nớc Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 quy
định khá rõ các quyền tự do, dân chủ của công dân với nguyên tắc mọi côngdân đều bình đẳng trớc pháp luật Song song với việc chú trọng đến chế địnhcông dân, Hiến pháp còn thiết chế nên bộ máy nhà nớc dân chủ nhân dân theocách độc đáo của Việt Nam, trong đó nhân dân thực sự làm chủ quyền lực nhà
Trang 32nớc thông qua Nghị viện và các Hội đồng nhân dân Tại chơng III Nghị viện nhân dân (Hiến pháp Việt Nam năm 1946), Điều thứ 22: "Nghị viện nhân dân
là cơ quan có quyền cao nhất của nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"; Điều23: "Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra cácpháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ớc mà Chính phủ ký với nớcngoài" Đồng thời với chế định về các cơ quan quyền lực đại diện toàn dân,Hiến pháp 1946 có chế định về Chủ tịch nớc và Chính phủ có quyền hành pháp
và hành chính rất mạnh mẽ Trong chơng IV của Hiến pháp Việt Nam năm
1946 ghi rõ: Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Chính phủ gồm có Chủ tịch nớc, Phó Chủ tịch và Nộicác Nội các có Thủ tớng, các Bộ trởng, Thứ trởng Có thể có Phó Thủ tớng,Chủ tịch nớc trực tiếp chủ tọa Hội đồng Chính phủ Quyền hạn, nhiệm vụ của
Chủ tịch nớc và Chính phủ đợc quy định trong Hiến pháp thể hiện quyền tập trung thống nhất, đặc biệt tập trung cao nhất vào Chủ tịch nớc Chủ tịch Hồ
Chí Minh đợc Quốc hội trao trọng trách giữ cơng vị nguyên thủ quốc gia trựctiếp điều hành Chính phủ
Chế định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn tập trung vào Chủ tịch nớc,
đồng thời là ngời trực tiếp đứng đầu điều hành Chính phủ là một đặc trng tiêubiểu của tổ chức Nhà nớc pháp quyền Việt Nam đợc thực hiện ngay từ khi nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời Chế định đó vừa bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng (thông qua nguyên thủ quốc gia) vừa thực hiện quyền lực nhà
n-ớc tập trung thống nhất, phát huy đợc quyền hạn của Chính phủ trong việc tổchức thực thi có hiệu quả các nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc
Hiến pháp cũng thiết chế nên tổ chức cơ quan T pháp gồm Tòa án Tốicao, các Tòa phúc thẩm, các Tòa đệ nhị cấp và Sơ cấp với các nguyên tắc hoạt
động cơ bản nh: xét xử có phụ thẩm tham gia, "quốc dân thiểu số có thể dùngtiếng nói của mình trớc Tòa án", nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc
"trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quankhác không đợc can thiệp"
Nh vậy là, Hiến pháp Việt Nam năm 1946 đã dựa trên các nguyên tắcxây dựng nhà nớc, thể hiện trong Lời nói đầu của Hiến pháp để xác lập chế độdân chủ nhân dân đầu tiên của nớc Việt Nam với những quy định có giá trịpháp lý cao nhất và một bộ máy nhà nớc mạnh mẽ và sáng suốt thực hiện các
Trang 33quyền tự do dân chủ và đoàn kết toàn dân để đa dân tộc thực hiện sự nghiệpkháng chiến, kiến quốc đến ngày thắng lợi.
Lịch sử ra đời của Nhà nớc và Hiến pháp Việt Nam là lịch sử củanhững biến cố cách mạng vĩ đại, là những thời khắc mà sức mạnh nội lựccủa dân tộc trỗi dậy giành lấy quyền độc lập, quyền tự do và quyền hạnhphúc sau những đêm dài dới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phát xítcùng chế độ phong kiến suy tàn Dới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ
Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã ghi vào Hiến pháp Nhà n ớc dân chủcủa mình những quyền và nghĩa vụ pháp lý thiêng liêng của mỗi công dânlà: "Bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật" (Hiến phápViệt Nam năm 1946, Chơng II, nghĩa vụ và quyền lợi công dân) Còn nhànớc thì ghi lấy trách nhiệm: "Đoàn kết toàn dân; Bảo đảm các quyền tự dodân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" Hiếnpháp Việt Nam vừa đợc Quốc hội thông qua (ngày 9/11/1946) thì đến
(ngày 19/12/1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cả dân tộc lại sát cánh cùng Chính phủ kháng chiến b ớc vào
một giai đoạn cách mạng mới, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l ợc
-1.3.2 Nội dung t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" với việc tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân trong kháng chiến, kiến quốc
T tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốtcủa nhân dân" không chỉ thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 mà còn đợc trìnhbày trong các bài nói, bài viết và trong chỉ đạo thực tiễn ngay sau Cách mạngTháng Tám thành công Đó là: việc xây dựng một chính quyền cách mạngmạnh mẽ của dân, do dân, vì dân, tập hợp đợc trí tuệ, sáng suốt và sức mạnhcủa toàn dân
T tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
đ-ợc Hồ Chí Minh sử dụng mà nội dung cốt lõi của nó là yêu cầu bằng hoạt
động thực tiễn (cả ở phơng diện xây dựng cơ sở pháp lý và tổ chức xây dựnghiện thực) làm cho hệ thống chính quyền thực sự đủ năng lực tổ chức và quản
lý điều hành đất nớc có hiệu lực, hiệu quả và giải quyết đúng đắn các nhiệm
vụ chủ yếu đặt ra cho nhà nớc ở mỗi giai đoạn lịch sử
T tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" đòihỏi phải căn cứ vào vị trí, vai trò và cấu thành tổ chức của hệ thống chính
Trang 34quyền mà tiến hành tổ chức, xây dựng, chỉ đạo, điều hành làm cho tính hiệulực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền đợc bảo đảm trên thực tế
Trong (Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành Trung ơng
Đảng, khóa II) Hồ Chí Minh nhận xét:
Về chính quyền; chúng ta có tiến bộ nhiều, nhng vì chúng taquan niệm cha đúng tính chất và sự quan trọng của chính quyềnnhân dân nên cha thật sự kiện toàn chính quyền về mặt công tác, tổchức, cán bộ
Nền tảng mọi công tác là cấp xã, mà cấp xã nhiều nơi còn xộcxệch, nhiều ủy ban kháng chiến hành chính xã do kỳ hào cũ, hoặc
địa chủ, phú nông nắm, công tác sinh hoạt Hội đồng nhân dânkhông đều, số cán bộ thoát ly quá nhiều, bộ máy cồng kềnh, nhiềugiấy tờ, hình thức
Từ cấp trên xuống cấp dới, công việc chậm trễ, nhiều khikhông ăn khớp
Chúng ta phải sửa chữa các khuyết điểm kể trên, coi trọng vàthật sự kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân về các mặt côngtác, tổ chức, cán bộ [32, tr.458]
Nh vậy, có thể thấy Hồ Chí Minh đề cập đến việc tổ chức xây dựngchính quyền nhân dân rất toàn diện từ yêu cầu phải nắm vững vị trí, vai trò,tầm quan trọng của chính quyền nhân dân đến việc phải tiến hành củng cố
chính quyền trên cả ba phơng diện là: công tác, tổ chức và cán bộ Công tác
xây dựng chính quyền non trẻ một mặt phải tiến hành xây dựng mới, mặt kháclại phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại nhng tiêu cực, yếu kém sớm nảysinh từ cơ chế tạo lập và sử dụng quyền lực nhà nớc
1.3.2.1 Xây dựng một nhà nớc mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân trên nền tảng dân chủ, đoàn kết toàn dân
Trong điều kiện xã hội còn phân chia giai cấp thì vấn đề dân chủ luôn
đợc đặt ra tồn tại với vấn đề chính quyền Không có một nền dân chủ tồn tạibên ngoài nhà nớc Đối với các nhà nớc dân chủ thì hình thức pháp lý (ít hoặcnhiều) đều phải phản ánh và duy trì những giá trị dân chủ mà dựa vào đó lợiích của giai cấp thống trị thực hiện sự cai quản xã hội thông qua hình thứcquản lý nhà nớc với các lợi ích chung của cộng đồng xã hội
Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu chấmhết cho một chế độ mất dân chủ, hủ bại là chế độ thực dân - phong kiến, đồng
Trang 35thời mở trang lịch sử mới cho dân tộc khôi phục chủ quyền quốc gia, giànhquyền dân chủ, thiết lập chính quyền nhân dân trên toàn cõi Việt Nam Chủtịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền
tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập Noi gơng cách mạng
1776 của Mỹ, cách mạng Tháng Tám tranh tự chủ chống ngoạixâm Cũng nh cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Támthực hành lý tởng: Bình đẳng, Tự do, Bác ái Theo gót Cách mạng
1911 của Tàu, Cách mạng Tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc,dân quyền, dân sinh
Nay cuộc trờng kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻvang của Cách mạng Tháng Tám: Phải làm cho nền Dân chủ Cộnghoà chắc chắn, phải làm cho quyền thống nhất độc lập vững vàng.Chúng ta đã thắng lợi trong cuộc cách mạng, thì chúng ta quyết sẽthắng lợi trong cuộc kháng chiến [31, tr.187]
Hồ Chí Minh hiểu rõ thực chất việc tạo lập và giữ gìn dân chủ là phải đi
đôi với xây dựng, củng cố chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân Mốiquan tâm đặc biệt của Ngời là làm sao cho hệ thống các cơ quan của chínhquyền mới phải thực sự mạnh mẽ và sáng suốt trong việc sử dụng quyền lựccủa dân để mu cầu lợi ích cho dân, cho nớc Cùng với việc tạo lập các cơ sởpháp lý vững chắc cho nhà nớc dân chủ cộng hòa qua bầu cử dân chủ, lậphiến, lập pháp, xây dựng thể chế về tổ chức hệ thống các cơ quan chính quyềnnhà nớc, Hồ Chí Minh bằng con đờng th - báo đã đợc Ngời sử dụng nh mộtphơng tiện trực tiếp, thân tình để chỉ bảo và đặt ra những yêu cầu cần phải
thực hiện trong xây dựng chính quyền nhân dân các cấp Trong Th gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, các quan điểm về xây dựng chính quyền
mạnh mẽ và sáng suốt dựa trên nền tảng dân chủ, đoàn kết toàn dân đợc Chủ tịch
Hồ Chí Minh thể hiện rất đặc sắc:
Nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khônkhéo, mà chúng ta bẻ gãy xiềng xích nô lệ, tranh đợc độc lập tự do.Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lợng Nếukhông có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đờng Vậy nênChính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối Ngày nay,chúng ta đã xây dựng nên nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhngnếu độc lập mà dân không đợc hởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập
Trang 36cũng chẳng có nghĩa gì Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan củaChính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân,nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầudân nh trong thời kỳ dới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải kết sức tránh [30, tr.56]
Dới bút pháp giản dị, ngôn ngữ chân tình, chỉ một bức th với vài dòngbảy tỏ mà t tởng vĩ đại, tình cảm ấm nồng của vị Chủ tịch nớc Việt Nam mới
đã làm sáng tỏ biết bao điều về một nhà nớc của dân mà trong ấy mối quan hệnhà nớc với dân đợc xác lập hết sức dân quyền, dân chủ
Với Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng là thành quả quan trọng nhất
của cách mạng tháng Tám đợc hình thành bởi "nhờ dân ta đoàn kết một lòng
và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo" Sức mạnh của Chính phủ là nhờ cậy vào
đoàn kết toàn dân cũng nh dân cần Chính phủ để có ngời dẫn đờng khôn khéo.Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn Sự đoàn kết giữanhân dân và chính quyền nhân dân phải tạo thành một khối để bảo vệ nền độclập dân tộc Hồ Chí Minh và chính quyền nhân dân hiểu rằng độc lập dân tộc
là điều kiện cần nhng cha đủ Nếu "độc lập mà dân không đợc hởng hạnhphúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì" cho nên Chính phủ đã hứa vớidân "sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc" [30, tr.56] cho dùkiến thiết nớc nhà, sửa sang mọi việc phải làm dần dần, không phải công việcnhất thời là song đợc Cả dân tộc đã tin tởng vào Hồ Chí Minh và Chính phủmới vì qua tranh đấu mà nhân dân cảm nhận đợc Chính phủ Hồ Chí Minh thực
sự là chỗ dựa chắc chắn để bảo vệ cho lợi ích dân tộc trong đó có lợi ích củamỗi ngời Hơn thế nữa, theo Hồ Chí Minh, mọi ngời hiểu rằng: "các cơ quancủa Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là đểgiành việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân nh trong thời kỳ dớiquyền thống trị của Pháp, Nhật" Sự thay đổi về bản chất của chính quyền mớivới chính quyền thời thuộc Pháp, Nhật đã đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng ph-
ơng pháp so sánh một cách hình ảnh rất tơng phản Chính phủ từ Trung ơng đếncơ sở đều là công bộc của dân đảm nhận trọng trách gánh việc chung cho dânvới một tinh thần đầy trách nhiệm: "việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làmviệc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh"
Trang 37Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải ngắn gọn, súc tích, sâu sắc một vấn đềthuộc loại phức tạp nhất trong mối quan hệ giữa nhà nớc và nhân viên nhà nớcvới nhân dân Đây là vấn đề của tất cả các kiểu nhà nớc và không phải ở đâucũng tìm ra phơng án khả dĩ bảo đảm giải quyết, xử lý thành công mối quan
hệ này Sau khi khuyên nhủ cán bộ công chức nhà nớc phải "ghi nhớ" dù ở cơquan chính quyền cấp nào cũng đều là công bộc của dân, Hồ Chí Minh đa ramột yêu cầu "việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta
phải hết sức tránh" Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc hoạt động nhà nớc
và là phơng thức đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả cùng sự sáng suốt của chínhquyền trong phục vụ nhân dân Lịch sử Chính phủ Việt Nam ghi nhận rằng sựmạnh yếu của hệ thống chính quyền luôn gắn liền với việc thực hiện tốt hoặccha tốt yêu cầu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Một phơng diện quan trọng trong t tởng xây dựng nhà nớc mạnh mẽ vàsáng suốt của nhân dân ở Hồ Chí Minh là quyền của nhân dân với việc thay
đổi, bãi miễn chính phủ và từng nhân viên nhà nớc khi họ làm hại cho dân.Trong bài nó chuyện với các đại biểu thân sỹ trí thức, phú hào tỉnh ThanhHóa, Hồ Chí Minh nói:
Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? là đầy tớ chung của dân, từChủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy
tớ Làm việc ngày nay không để thăng quan, phát tài Nếu Chínhphủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ Nhng khi dândùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ NếuChính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhng không phải là chửi[31, tr.60]
Với sự nhắc lại những lời trong Tuyên ngôn của Mỹ "Hễ chính phủ nào
mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi, và gâylên chính phủ khác " [28, tr.270] Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền thay
đổi và bãi miễn Chính phủ của nhân dân, song đã có những phát triển cụ thểcùng những quan hệ mới giữa dân chúng với chính quyền dân chủ nhân dân
Dân chủ là thành quả của các cuộc cách mạng dân chủ, cho nên trongcơ chế bảo vệ dân chủ, nhân dân có quyền sử dụng quyền dân chủ của mình
để "đuổi chính phủ" nếu Chính phủ không còn đủ năng lực và uy tín để tổchức thực hành dân chủ, nếu chính phủ trở thành tổ chức hại cho dân chúng
Hồ Chí Minh trong quá trình khảo sát các mô hình nhà nớc điển hình sau cáchmạng (t bản cách mệnh; dân tộc cách mệnh; giai cấp cách mệnh) trên thế giới
Trang 38đã sớm đi đến kết luận: "chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho
đến nơi, nghĩa là sau cách mệnh rồi thì giao quyền cho dân chúng số nhiều,chớ để trong tay một bọn ít ngời Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dânchúng mới đợc hạnh phúc" [28, tr.270] Chính thể Dân chủ Cộng hòa ViệtNam sau cách mạng tháng Tám là hình thức tổ chức nhà nớc thực hiện quyềncho dân chúng số nhiều Song không vì thế mà chính quyền ấy ngay lập tức đãthực hiện mu cầu hạnh phúc đầy đủ cho dân đợc
Từ ngày thành lập chính phủ, trong nhân viên còn có nhiềukhuyết điểm Có ngời làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinhdân, mu vinh thân phì gia Từ một năm nay, nội hoạn, ngoại xâmkhông lúc nào không có, nên còn nhiều việc đáng làm mà Chínhphủ Trung ơng không làm đợc Có nhiều cái biết là hay, nhng cònviệc gấp phải làm gấp cái đã
Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chínhphủ Còn những việc làm mà cha làm đợc xin đồng bào nguyên l-ợng Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửachữa cả một nớc đã 80 năm nô lệ, ngời tốt có, ngời xấu có, một đámruộng lúa có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong
Tóm lại chính trị là:
1 Đoàn kết
2 Thanh khiết từ to đến nhỏ [31, tr.61]
T tởng tổ chức nhà nớc ở Hồ Chí Minh rất giản dị "bình dân", nhng thật
kỳ tài Không thể có một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dânnếu không biết tổ chức nó trên nền tảng đoàn kết toàn dân gắn liền với "thanhkhiết từ to đến nhỏ" trong bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân Cả cuộc đờivì nớc vì dân, nên trong t tởng Hồ Chí Minh quan tâm đến xây dựng nền dânchủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân nh là mộtmục tiêu, một động lực thôi thúc Hồ Chí Minh hành động
ở tất cả các thời kỳ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn có mộtlòng tin tởng tuyệt đối vào nhân dân Ngời hiểu nhân dân là một lực lợng vôcùng hùng hậu Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lợng đoàn kết toàndân Việc tổ chức một nhà nớc thật sự của dân, do dân, vì dân đòi hỏi Hồ ChíMinh phải thể chế hóa chiến lợc đại đoàn kết toàn dân của Đảng thành nguyêntắc hiến định trong tổ chức xây dựng nhà nớc, đồng thời là một yêu cầu hàng
đầu trong các chính sách của Nhà nớc Việt Nam trong tổ chức điều hành đất
Trang 39nớc Hồ Chí Minh hiểu rõ hoạt động của cơ quan nhà nớc là hoạt động công
vụ mà "quyền hành và lực lợng đều ở nơi dân" [31, tr.698] vì "lực lợng củadân rất to lớn Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém.Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" [31, tr.700], cho nên tất cả cán bộchính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể, các tổ chức nhân dân phải phụ trách dânvận "Dân vận là vận động tất cả lực lợng của mỗi một ngời dân, không để sótmột ngời dân nào, góp thành lực lợng toàn dân, để thực hành những công việcnên làm, những công việc chính phủ và đoàn thể giao cho" [31, tr.698]
Đoàn kết dân tộc vốn có trong truyền thống yêu nớc của ngời Việt
Hồ Chí Minh chủ trơng tổ chức quyền lực nhà nớc dân chủ phải đợc xâydựng trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc Từ Chính phủ Trung ơng cho đếnchính quyền làng xã đều phải đợc tổ chức trên nền tảng đoàn kết toàn dân,phát huy vai trò của quần chúng nhân dân vào kháng chiến, kiến quốc, sửasang mọi công việc nớc nhà Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
từ ủy ban dân tộc giải phóng đến Chính phủ kháng chiến là hình ảnh của sự
đoàn kết dân tộc, quốc dân liên hiệp trong toàn quốc đại diện cho toàn dân,các giai cấp và đảng phái, các dân tộc và tôn giáo trong cơ quan hành chínhcao nhất của nớc Việt Nam độc lập và tự do Chính phủ Việt Nam đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tỏ rõ: "Chính phủ sau đây phải là một chínhphủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái", "chính phủnày tỏ rõ cái tinh thần quốc dân liên hiệp", "chính phủ này là chính phủtoàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia", và chính phủ này "làmột chính phủ chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền
độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nớc Việt Nam mới" [30,tr.430]
Nội dung t tởng xây dựng và thực hiện chính quyền mạnh mẽ, sáng suốtcủa nhân dân không những đợc thể hiện đặc sắc trong tổ chức và chỉ đạo hoạt
động của nhà nớc ở thời kỳ đầu (1945-1946) mà Hồ Chí Minh triển khai khaithực hiện cả ở thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Chính phủ khángchiến cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đề ra nhiều chính sách đềunhằm vào ích lợi của nhân dân, ích lợi của kháng chiến, kiến quốc
Để kháng chiến lâu dài, đồng thời làm cho sự đóng góp củanhân dân đợc công bằng, để bồi dỡng sức lực của nhân dân, chínhphủ đã thi hành những chính sách mới
Trang 40- Thống nhất quản lý kinh tế tài chính.
- Đặt một thứ thuế duy nhất cho nông dân là thuế nông nghiệp
- Thu thuế công nghiệp, thơng nghiệp để các nhà công thơngchia một phần đóng góp cho nông gia
- Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân,
và thêm lực lợng vào công việc tăng gia sản xuất [32, tr.281-282]
Nh vậy là, ngay trong điều kiện kháng chiến bớc vào giai đoạn quyếtliệt, Chính phủ Việt Nam dới sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nớc để sáng suốt vạch ranhững chính sách mới, rất toàn diện từ "thống nhất quản lý kinh tế tài chính
đến chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lợng vàotăng gia sản xuất" đã để lại những kinh nghiệm mẫu mực về sự sáng tạo, năng
động trong quá trình quản lý nhà nớc
Tính hiệu quả, tính thiết thực từ những chính sách mới của Chính phủ
đã đợc cán bộ, bộ đội và nhân dân tiếp nhận với một tinh thần dân chủ caonhất vì coi đó là công việc của mỗi ngời, góp phần đa kháng chiến kiến quốcmau đến ngày thắng lợi
Thi đua ái quốc, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm gắn với
"cải cách hành chính", tinh giản biên chế, chống tham ô lãng phí, khoan th sứcdân là quốc sách lâu dài mà hoạt động cùng Chính phủ và toàn thể dân tộc đãthực hành thắng lợi trong kháng chiến, kiến quốc
Dù trong công việc tổ chức xây dựng chính quyền hay trong chỉ đạo
điều hành nhà nớc, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: "lòng yêu nớc và sự
đoàn kết của dân là một lực lợng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi Nhờlực lợng ấy mà kháng chiến của ta ngày càng mạnh Nhờ lực l ợng ấy màchúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất n ớc ta, và lấy lại thốngnhất và độc lập thực sự [32, tr.281-282] Thực hiện xây dựng một chínhquyền mạnh mẽ, sáng suốt của dân dựa trên nền tảng dân chủ và đoàn kếttoàn dân, về thực chất là xây dựng một kiểu chính quyền dân chủ mới,trong đó, quyền lực nhân dân đợc tổ chức bằng hình thức nhà nớc Hệthống các cơ quan chính quyền các cấp lấy việc phục vụ nhân dân, đảmbảo các quyền tự do dân chủ của nhân dân làm mục tiêu thống nhất đểthực hiện mu cầu hạnh phúc cho dân, độc lập thống nhất cho đất n ớc để đakháng chiến, kiến quốc đi đến thắng lợi Việc tổ chức và vận hành hệ