giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm công ty dệt 195 hà nội bao gồm tổng quan về công ty dệt may 195 Hà nội; thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm công ty dệt 195; một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm tại công ty dệt 195 hà nội
Trang 1Luận văn
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm công ty dệt 19/5 Hà Nội
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ 21 sẽ là kỷ nguyên của sự toàn cầu hoá kinh tế và cạnh tranh trở thành động lực chính thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Do vậy để thắng lợi trong cạnh tranh và có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, mỗi doanh nghiệp phải biết mình là ai?, hiệu quả kinh doanh của mình như thế nào?, những khả năng về nguồn lực cũng như cơ hội phát triển trong tương lai ra sao?
Chính vì thế thách thức lớn nhất đối với các nhà quản lý trong thế kỷ 21 không phải là vấn đề gì xa lạ, đó là vấn đề tiêu thụ Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển chung của nhân loại Góp phần vào sự phát triển chung của đất nước là sự trưởng thành và phát triển của các doanh nghiệp, trong đó có công ty dệt 19/5 Hà Nội Nhưng để một doanh nghiệp tồn tại và phát triển được thì nó phải có một vị trí nhất định trên thị trường Chính vì thế, làm thế nào để tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ra là mối quan tâm lớn không chỉ của riêng công ty dệt 19/5 Hà Nội Bởi tiêu thụ hàng hoá được xem như là mạch máu của nền kinh tế và khách hàng chính là người quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và thường xuyên thay đổi và điều quan trọng là
doanh nghiệp phải nhận biết được nó và tìm cách đáp ứng kịp thời và tốt nhất
Nhận thức được vấn đề đó, qua quá trình thực tập ở công ty dệt 19/5 Hà Nội em đã tìm hiểu được một số vấn đề trong quản lý sản xuất kinh doanh, trong đó vấn đề mà em cho rằng cần thiết nhất đối với công ty hiện nay là vấn
đề tiêu thụ Do đó em muốn đóng góp ý tưởng của mình và đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm công ty dệt 19/5 Hà Nội ”
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI
I Thông tin chung về doanh nghiệp
Cty Dệt 19/5 Hà nội là một doanh nghiệp Nhà Nước trực thuộc sở công nghiệp Hà nội, do Nhà Nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu kinh
tế xã hội do Nhà Nước giao Công ty dệt 19/5 Hà nội có trụ sở chính tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội, có tổng số vốn pháp định 3,2 tỷ đồng
Công ty dệt 19/5 Hà nội: tên tiếng anh là: Ha noi may 19 textile company, tên giao dịch là Hatexco, địa chỉ Email: hatex_co@.hn.vn.vnn
Ngành nghề kinh doanh chính: chuyên sản xuất kinh doanh các loại vải bạt, vải lọc, vải chéo, vải tổng hợp, vải đay…, các loại sợi côttôn, sản phẩm may thêu, xây dựng dân dụng…
Hiện nay công ty dệt 19/5 Hà nội có 4 cơ sở sản xuất chính và 2 liên doanh với nước ngoài ( Singapo )
Cơ sở 1: tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội, với diện tích là 4,5
ha
Cơ sở 2: tại 89 Lĩnh Nam, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội
Cơ sở 3: tại xã Thanh Liệt, với diện tích 1.5 ha
Cơ sở 4: tại Khu công nghiệp Đồng Văn, Hà Nam, dự định tháng 6 năm
2005 sẽ đi vào sản xuất, với diện tích 10 ha
Liên doanh 1: Norfolk hatexco được thành lập năm 2002
Liên doanh 2: Công ty TNHH tập đoàn sản xuất hàng dệt may 19/5 được thành lập năm 1993
Hiện nay công ty đang đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ và chuyển đổi sản xuất các mặt hàng chất lượng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng
* Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty dệt 19/5 Hà Nội
Trang 4Công ty dệt 19/5 Hà nội được tổ chức theo mô hình quản lý trực tuyến chức năng và tuân thủ theo chế độ một thủ trưởng Hiện nay ban lãnh đạo của công ty gồm 1 giám đốc và 4 phó giám đốc, dưới PGĐ là 9 phòng ban khác Theo công văn số 23/D.19/5 về việc uỷ quyền sản xuất kinh doanh trong công ty quy định:
* Giám Đốc: Đỗ Văn Minh
- Phụ trách chung:
Giám đốc công ty là người lãnh đạo và điều hành mọi hoạt độncủa công
ty theo thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ được trên giao chịu trách nhiệm cá nhân trước cấp trên về mọi mặt hoạt động công tác của công ty Có trách nhiệm triển khai các nghị quyết của Đảng uỷ tới ban lãnh đạo
- Chỉ đạo trực tiếp các mặt công tác sau:
Công tác tổ chức cán bộ
Công tác liên doanh, liên kết
Công tác giá cả ( giá mua và và giá bán ra )
Công tác định hướng chất lượng phát triển sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn toàn công ty
- Ký:
Các chứng từ về thu, chi tài chính, tiền
Các hợp đồng kinh tế
Các văn bản giấy tờ đối nội, đối ngoại của công ty
Các thủ tục giấy tờ văn bản của hai liên doanh
- Phụ trách trực tiếp các phòng:
Phòng vật tư
Đầu tư phát triển
Lao động tiền lương
- Sinh hoạt tại phòng lao động tiền lương
Trang 5- Tham mưu cho giám đốcvà thay mặt giám đốc chỉ huy mọi công việc trong lĩnh vực kỹ thuật ở công ty và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước giám đốc về các mặt công tác sau:
Công tác đầu tư cơ bản tại cơ sở
Công tác lĩnh vực kĩ thuật công nghệ công ty và phân xưởng
Công tác đối ngoại thuộc lĩnh vực kĩ thuật, công nghệ, khoa học, đề tài
Công tác tiến bộ kĩ thuật, chiến lược kĩ thuật, đổi mới máy móc thiết bị
để ứng dụng vào lĩnh vực sản xuất của công ty
Công tác sửa chữa lớn, nhỏ cho sản xuất và làm việc
Công tác an toàn về PCCC, vệ sinh công nghiệp, an toàn lao động và bảo
Toàn bộ các văn bản, giấy tờ thuộc lĩnh vực kỹ thuật quản lý
*Phó Giám Đốc Nội Chính: Trần Hồng Tuy
- Tham mưu cho giám đốc và thay mặt giám đốc chỉ huy mọi công việc trong lĩnh vực nội chính và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước giám đốc về các mặt công tác sau:
Công tác tài chính, kế toán, tiền tệ
Công tác hoà giải tranh chấp lao động, kỉ luật lao động
Công tác quản lý nhà xưởng, TSCĐ, quản lý đất đai
Công tác chăm lo đời sống CBCNV
Công tác vệ sinh môi trường, cảnh quan, công tác tự vệ, bảo vệ, công tác
an ninh, an toàn xã hội
- Phụ trách trực tiếp các phòng:
Trang 6 Lệnh điều phương tiện xe ô tô
Xây dựng phương án nhà tập thể cho CBCNV
Séc, uỷ nhiệm chi thuộc lĩnh vực nội chính
*Phó giám đốc kinh doanh: Trương Thị Phương
- Tham mưu cho giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các mặt công tác sau:
Chỉ đạo sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
Đôn đốc kiểm tra kế hoạch sản xuất hàng tháng của các phân xưởng, phòng ban
Tổ chức họp hội nghị đánh giá tình hình kế hoạch tháng và giao kế hoạch tháng tiếp theo cho các đơn vị thực hiện
Định kỳ 6 tháng, cả năm, đánh giá việc thực hiện các nghị quyết của đại hội công nhân viên chức công ty
Xây dựng các phương án để lo đủ việc làm cho CBCNV và người lao động
Đôn đốc công việc bảo quản, quản lý kho tàng
Công tác chiến lược phát triển sản phẩm đến năm 2010
- Ký:
Các phiếu xuất nhập vật tư, thành phẩm, bán thành phẩm
Hoá đơn bán hàng, thanh quyết toán hợp đồng kinh tế
Séc, uỷ nhiệm chi thuộc lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm, mua bán vật tư
- Phụ trách trực tiếp các đơn vị:
Trang 7 Các phân xưởng: sợi, dệt, may, thêu và ngành hoàn thành
- Sinh hoạt tại phòng kế hoạch thị trường
* PGĐ phụ trách hai liên doanh: Nguyễn Mạnh Cường
- Tham mưu cho giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các mặt công tác sau:
Công tác hoạt động của hai liên doanh
Công tác quản lý, sử dụng lao động tại hai liên doanh
Công tác xây dựng mối quan hệ gắn bó với người nước ngoài làm việc tại hai liên doanh
Công tác chế độ của người lao động Việt Nam làm việc tại liên doanh
- Phụ trách: thường trực công ty dệt 19/5 Hà Nội tại hai liên doanh
+ Phòng tài vụ ( 5 người ): hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, chuẩn
bị vốn cho sản xuất, thu, chi tài chính, kế toán
+ Phòng lao động tiền lương ( 6 người ): tuyển dụng, đào tạo nhân lực, quản lý lao động, giải quyết chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, kỉ luật lao động
+ Phòng kĩ thuật ( 5 người ): quản lý công tác kỹ thuật, đầu tư và điều độ sản xuất
+ Phòng quản lý chất lượng ( 2 người ): kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá mua về và hàng hoá sản xuất ra của công ty, thường trực ISO
+ Phòng hành chính bảo vệ (13 người ): bảo đảm an toàn, an ninh trong công ty, thực hiện văn hoá công ty
+ Phòng y tế đời sống ( 5 người ): chăm sóc sức khoẻ cho người lao động
Trang 8+ Phòng kiểm toán ( 1 người ): kiểm tra hệ thống kế toán và một số
nghiệp vụ của các phòng khác
Sơ đồ: Bộ máy quản lý ( trang bên )
II Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp
1 Lịch sử ra đời của công ty dệt 19/5 Hà Nội
Cty dệt 19/5 Hà nội ra đời trong thời kỳ công thương nghiệp tư bản tư
doanh (1954-1960) Công ty dệt 19/5 Hà nội là một doanh nghiệp nhà nước
thuộc sở công nghiệp Hà nội quản lý Tiền thân của công ty là các cơ sở tư
nhân được hợp nhất lại với nhau bao gồm: Việt Thắng, Hoà Bình, Hồ Tây và
thành lập cuối năm 1959 lúc đó lấy tên là xí nghiệp dệt 8/5, trụ sở đặt tại số 4
ngõ 1 Hàng Chuối, Hà Nội Tính đến nay công ty đã có 46 năm trưởng thành
và phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển không ngừng của đất nước
2 Các giai đoạn phát triển chủ yếu của công ty dệt 19/5 Hà Nội
Quá trình hình thành và phát triển của công ty dệt 19/5 được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: 1959 – 1973
Trong những ngày đầu thành lập, công ty được thành phố Hà Nội công
nhận là xí nghiệp quốc doanh và mang tên xí nghiệp dệt 8/5 trụ sở đặt tại số 4
ngõ 1 Hàng Chuối, Hà Nội Trong thời kỳ này nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
chủ yếu của xí nghiệp là dệt gia công theo chỉ tiêu của Nhà Nước, chuyên
phục vụ cho quốc phòng là chính Sản phẩm chính là bít tất và các loại vải
như kaki, phin kẻ, khăn mặt… Sản lượng tiêu thụ của xí nghiệp tăng dần từ
10% đến 15% hàng năm Lúc đó công ty có khoảng 250 người, dây truyền sản
xuất lạc hậu, cũ kĩ, quy mô nhỏ Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến năng suất
lao động và chất lượng của sản phẩm
Năm 1964 đất nước có chiến tranh, xí nghiệp thực hiện chủ trương của
Trang 9Một bộ phận của xí nghiệp đã phải sơ tán về thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì chuyên làm nhiệm vụ se sợi và dệt vải bạt Và cũng trong thời gian này, xí nghiệp đã xin Nhà Nước cho nhập thêm 50 máy dệt mới của Trung Quốc để đưa vào sản xuất
Năm 1967 thành phố Hà Nội quyết định tách bộ phận dệt bít tất của xí nghiệp thành xí nghiệp dệt kim Hà Nội Chính vì vậy nhiệm vụ sản xuất chính của xí nghiệp dệt 8/5 Hà Nội sau này chỉ là dệt các loại vải bạt
Giai đoạn 2: 1974 – 1988
Năm 1980 xí nghiệp được phê duyệt luận chứng kinh tế kĩ thuật và xây dựng cơ sở mới ở 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội Đó cũng chính là cơ sở sản xuất chính hiện nay với tổng diện tích mặt bằng 4,5 ha Quá trình xây dựng cơ bản từ năm 1981 đến năm 1985 thì hoàn thành và đi vào hoạt động Cũng trong thời gian này, xí nghiệp đã đầu tư 100 máy dệt UTAS của Tiệp Nhu cầu sản xuất và tiêu thụ các loại vải bạt của xí nghiệp đã tăng lên đòi hỏi đào tạo thêm công nhân sản xuất, đưa tổng số cán bộ công nhân viên của xí nghiệp lên 520 người Hàng năm để phục vụ sản xuất 1,5 triệu mét vải các loại, nhu cầu bông của xí nghiệp vào khoảng 500 tấn sợi các loại Năm 1983 xí nghiệp đã đổi tên thành nhà máy dệt 19/5, trong thời kì này nhà máy có khoảng 1256 người, số máy dệt là 200 máy và công suất 1,8 đến 2,7 triệu mét/năm Có thể nói đây là thời kì hoàng kim nhất của công ty trong quá khứ
Giai đoạn 3: 1989 đến nay ( năm 2005 )
Đây là thời kì nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nước, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế được khẳng định Nhà máy thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và làm các nghĩa vụ đối với nhà nước
Trong thời gian đầu doanh nghiệp đã gặp không ít khó khăn do nhu cầu về vải bạt giảm từ 2,7 triệu mét/năm xuống chỉ còn 1 triệu mét/năm, Nhà Nước
Trang 10không giao chỉ tiêu nữa mà doanh nghiệp phải tự tìm kiếm thị trường cho mình Đứng trước tình hình này doanh nghiệp đã tiến hành sắp xếp lại bộ máy quản lý, bộ phận sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm và chủ động trong việc chào hàng, tìm bạn hàng Lúc này từ 1256 lao động chỉ còn 250 lao động ở lại Qua nhiều năm dưới sự chỉ đạo đúng đắn của ban lãnh đạo, nhà máy đã khẳng định được vị trí của mình trong sự chuyển đổi của nền kinh tế Doanh thu hàng năm tăng dần, doanh thu năm 1991 đạt 6,24 tỷ đồng, năm 1992 đạt 12,83 tỷ đồng Năm 1993, với sản phẩm dệt thoi, nhà máy đã đầu tư hai máy
se và sản xuất ra những lô hàng bạt nặng đầu tiên, kí hợp đồng tiêu thụ 80.000 mét vải bạt Điều này đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và tăng doanh thu cho nhà máy Doanh thu năm 1993 đạt 15,71 tỷ đồng Cũng trong năm này theo quyết định 255 của UBND thành phố Hà Nội, nhà máy đã đổi tên thành công ty dệt 19/5 Hà Nội Đây là một sự thuận lợi cho sự phát triển của nhà máy, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, tiếp xúc với thị trường quốc tế Để thích nghi với cơ chế thị trường, thích nghi với nền kinh tế
mở của đất nước và nắm bắt dược xu thế của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, công ty đã chủ động tìm đối tác liên doanh để giải quyết sự khó khăn về vốn và nâng cao chất lương sản phẩm Công ty đã liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài là Singapore, vốn góp của công ty là 20% bằng đất đai, chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất dệt kim và hơn 50% lao động sản xuất tại xưởng sang liên doanh phía nước ngoài góp 80% vốn, đây là bước chuyển đổi mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên
Từ năm 1994 đến năm 1997 công ty đã được nhà nước đầu tư thêm 1,7 tỷ đồng, đào tạo thêm 100 lao động mới, đảm bảo việc làm ổn định và đầy đủ cho người lao động
Năm 1998 công ty đầu tư dây truyền kéo sợi và máy dệt tự động UTAS của Tiệp đưa doanh thu đạt 33 tỷ đồng Năm 2000 nhập dây truyền công nghệ
Trang 11Australia cấp chứng chỉ ISO 9001 Năm 2003 đầu tư thêm 10 máy thêu có tổng trị giá 5 tỷ đồng
Hơn 40 năm qua, công ty dệt 19/5 Hà Nội liên tục phấn đấu và không ngừng phát triển, trở thành một doanh nghiệp vững mạnh và đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành dệt may nói riêng và của nền kinh tế quốc dân nói chung
3 Sự thay đổi, bổ sung nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp
Công ty dệt 19/5 Hà Nội hiện nay chuyên sản xuất sợi các loại, vải bạt các loại, các sản phẩm may, thêu.… phục vụ cho ngành Giầy, May mặc, ngành công nghiệp thực phẩm, và các ngành công nghiệp khác
Ở giai đoạn: 1959- 1973, Trong thời kỳ này nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh chủ yếu của xí nghiệp là dệt gia công theo chỉ tiêu của Nhà Nước, chuyên phục vụ cho quốc phòng là chính Sản phẩm chính là bít tất và các loại vải như kaki, phin kẻ, khăn mặt…
Ở giai đoạn: 1974 – 1988, lúc này nhiệm vụ sản xuất chủ yếu của nhà
máy là cung cáp vải cho quốc phòng và các ngành kinh tế khác Thời kỳ này, nhu cầu sản xuất tăng, đồng thời mức độ tiêu thụ sản phẩm vải cũng tăng nhanh Chính vì thế công ty không ngừng đào tạo thêm công nhân sản xuất để phục vụ sản xuất 1,5 triệu mét vải các loại, nhu cầu bông của công ty vào khoảng 500 tấn sợi các loại
Ở giai đoạn 1989 cho đến nay ( năm 2005 ): lúc này nhu cầu về vải bạt
giảm, sản lượng tiêu thụ của nhà máy chỉ còn 1 triệu mét vải/năm Trước tình hình này, năm 1990 công ty đã tiến hành cải tiến bộ máy quản lý, cải tiến dây chuyền sản xuất, đa dạng các mặt hàng kinh doanh, sản xuất ra nhiều sản phẩm mới Hiện nay chuyên sản xuất sợi các loại, vải bạt các loại, các sản phẩm may, thêu.… phục vụ cho ngành Giầy, may mặc, ngành công nghiệp thực phẩm, và các ngành công nghiệp khác
Mục tiêu kinh doanh đến cuối năm 2005 là:
Trang 12- Sản phẩm của công ty chiếm từ 25% đến 30% thị phần nội địa
- 100% sản phẩm vải tiêu thụ đã qua khâu tẩy, nhuộm, xử lý hoàn tất
- Tổng sản phảm tiêu thụ tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam là 20%
- Hoàn chỉnh dây chuyền công nghệ sản xuất từ kéo sợi, dệt, may, thêu cho đến khâu hoàn tất
III Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty dệt 19/5 Hà Nội
1 Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm chính của công ty là sợi côttôn các loại từ Ne8 đến Ne45 ( chỉ tiết diện to nhỏ của sợi ), vải bạt các loại có độ dày từ 180 gram đến 600 gram/m2, và các sản phẩm may, thêu
Tỉ lệ hàng loại 1 chiếm 85%, loại 2 chiếm 14%, loại 3 chiếm 1%, trong đó thứ phẩm là 0,7% và phế phẩm là 0,3% Có thể nói đây là một thành công của công ty trong việc nâng cao và bảo đảm chất lượng sản phẩm của mình, qua
đó nâng cao uy tín và hiệu quả kinh doanh Chính sự đa dạng chủng loại sản phẩm và chất lượng của sản phẩm được đảm bảo đã tạo được uy tín trên thị trường Đặc biệt là số lượng sản phẩm bán ra không ngừng tăng qua các năm
2 Đặc điểm về khách hàng
Khách hàng chủ yếu của công ty là: các công ty chuyên sản xuất giầy, công ty dệt kim, dệt vải, dệt khăn mặt như: công ty dệt Minh Khai, dệt may
Hà Nội, dệt Thành Công và các công ty may mặc…
Khách hàng lớn, truyền thống của công ty phần lớn nằm ở Miền Nam như: giầy Hiệp Hưng, giầy Sài Gòn, giầy An Lạc, giầy Thăng Long, Chí Linh, Phước Bình… Những công ty này hàng năm mua với khối lượng rất lớn nhưng do khoảng cách quá xa đã ảnh hưởng không ít đến công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty Cụ thể là chi phí vận chuyển lớn, thời gian vận chuyển kéo dài…trong khi đó yêu cầu của khách hàng ngày càng cao trong việc phải có nguyên liệu ổn định để sản xuất
Trang 13Cũng như tình hình chung của ngành dệt may thì thị trường của công ty cũng khá đa dạng và khá rộng Các sản phẩm của công ty phục vụ các nhu cầu khác nhau của thị trường: nguyên liệu ngành giầy, các công ty may hay cung
ứng các loại vải bạt, sản phẩm may thêu cho các nhà sản xuất khác
Thị trường chủ yếu của công ty là trong nước và một phần xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU Đối với thị trường trong nước tỉ trọng khách hàng Miền Nam chiếm khoảng 70%, Miền Bắc 20%, Miền Trung 10%
Với thị trường hiện có, công ty vẫn gặp không ít những khó khăn trong công tác tiêu thụ sản phẩm vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh: doanh nghiệp Nhà Nước có doanh nghiệp tư nhân có… trong khi
đó khách hàng ngày càng khó tính, chất lượng sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao Đặc biệt là thị trường Mỹ và EU là một thị trường khá khó tính do đó nếu sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì sẽ mất thị trường một cách dễ dàng
4 Đặc điẻm cơ sở vật chất và trang thiết bị
Hệ thống nhà xưởng tương đối hiện đại, các thiết bị quản lý được thiết kế theo mạng Lan Nhìn chung máy móc thiết bị của công ty trong những năm gần đây đã từng bước được hịên đại hoá, một số khâu trong dây chuyền sản xuất mới Đặc biệt là cuối năm 1998 đầu năm 1999 công ty đã đầu tư 24 máy dệt UTAS của Tiệp với số tiền lên tới 60 tỷ đồng Tiếp đó đầu năm 2002 công ty tiếp tục mua hai máy đậu và một máy se để hoàn thiện và nâng cao năng suất
Tuy nhiên, hiện nay các máy móc thiết bị của công ty có sự đan xen của nhiều thế hệ, nhưng chủ yếu vẫn là những máy móc có từ những năm 60 tới nay đã lạc hậu nhưng vẫn sử dụng được
Trang 14Bảng số 1: Hệ thống máy móc thuộc dây chuyền kéo sợi
Bảng số 2: Hệ thống máy móc thuộc dây chuyền dệt vải
TT Danh mục thiết bị Số
lượng
Nước sản xuất
Năm sản xuất
Năm
sử dụng
Công suất
Nguyên giá (1000đ)
GTCL (1000đ)
1 Máy chải FA201 3 TQ 1997 2002 7,5 650.500 214.300
2 Máy chải FA201B 8 TQ 1998 2001 7,5 1.455.000 1.300.000
5 Máy thô FA401 1 TQ 1997 2002 20 729.700 240.000
6 Máy thô FA415 3 TQ 1998 2001 20 1.611.000 1.438.000
7 Máy con FA506 4 TQ 1997 2002 21 1.593.451 526.000
Nước sản xuất
Năm sản xuất
Năm
sử dụng
Công suất
Nguyên giá (1000đ)
GTCL (1000đ)
7 Máy suốt YA300 4 LX 1998 1999 1,7 5.000 3.500
8 Máy dệt UTAS 24 Tiệp 1998 1999 1,1 2458.971 1.527.000
9 Máy dệt 1511 KH 44 TQ 1965 1994 0,6 185.658 0
Trang 15Theo các bảng số liệu trên ta thấy công nghệ dệt ở tình trạng rất lạc hậu, công nghệ kéo sợi nhập từ Trung Quốc, có những máy móc thiết bị đã khấu hao hết, thậm chí tái khấu hao đến nhiều lần song vẫn đang còn sử dụng Chính hiện trạng của máy móc thiết bị như vậy đã ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, ảnh hưởng đến khă năng đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng hướng đi của công ty trong vài năm tới là nhập thêm một số máy móc thiết bị của Hàn Quốc, Nhật Bản và EU Với những máy móc hiện đại này sẽ tạo ra những sản phẩm với chi phí thấp, tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
5 Đặc điểm về nguyên vật liệu:
Nguyên liệu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Đây là một yếu tố đòi hỏi cần phải cung ứng một cách kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng
Do sản phẩm chủ yếu của công ty là các loại vải bạt vì vậy nguyên liệu đầu vào chủ yếu là các loại sợi và bông xơ Trong đó:
- Bông xơ chiếm 50% ( Bông loại 1: 70%, loại 2: 30% )
- Sợi chiếm khoảng 45%
- Vật tư và nguyên liệu khác: 5%
Thị trường trong nước chỉ cung cấp được khoảng 20% nguyên liệu bông cho công ty còn phần lớn phải nhập từ nước ngoài như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Phi, Ấn Độ…
Nguồn cung sợi từ các nhà cung ứng trong nước như: sợi Huế, sợi 8/3, sợi
Hà Nội, sợi Vĩnh Phú, Hà Nam Sợi được dùng cho sản xuất ở đây chủ yếu là: sợi côttôn 100%, ngoài ra còn dùng cả sợi Peco, sợi tổng hợp, sợi đay
Do nguồn nguyên liệu phần lớn là nhập từ nước ngoài nên chịu ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái, thông lệ quốc tế, trong khi đó giá cả không ổn định, thường xuyên tăng làm cho giá thành của công ty tăng lên Đây là điều bất lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm
6 Đặc điểm về lao động
Trang 16Cũng như các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung, lao động chủ yếu của công ty là lao động nữ ( chiếm khoảng 80% lao động toàn công ty ) Trong các khâu chính hầu hết là nữ, nam giới chỉ tập trung ở các khâu, các bộ phận sửa chữa, bảo vệ, hành chính
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tổng số lao động của công ty lên đến
1125 người Hiện nay, do nhu cầu tăng giảm lao động gián tiếp cùng với quá trình tổ chức sắp xếp lại lao động ở các phân xưởng sản xuất, tổng số lao động hiện nay của công ty là 750 người
Trang 17Bảng số 3: Bảng cơ cấu lao động của công ty
Đơn vị: người
g
Nguồn: Phòng lao động tiền lương- Công ty dệt 19/5 Hà Nội
7 Đặc điểm về công nghệ sản xuất của công ty dệt 19/5 Hà Nội
Hiện nay công ty có 5 phân xưởng:
Phân xưởng sợi: sản xuất các loại sợi 100% côttôn phục vụ cho sản
xuất vải bạt
Phân xưởng dệt: sản xuất chủ yếu các loại vải phục vụ cho ngành
công nghiệp may giầy
TT Cơ cấu lao động Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Trang 18 Phân xưởng may: Thực hiện gia công sản phẩm may mặc xuất
khẩu cho công ty liên doanh Norfolk – Hatexco, công ty TNHH tập đoàn sản
Tổ chức bộ máy ở các phân xưởng:
- Quản đốc phân xưởng: được giám đốc bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước
giám đốc về mọi hoạt động của phân xưởng
Đậu sợi ( dọc, ngang ) Se sợi ( dọc, ngang ) Sợi đơn
Đo gấp KCS
Trang 19- Trưởng ca sản xuất: là người giúp việc cho quản đốc phân xưởng và chịu trách nhiệm trước quản đốc phân xưởng về công việc mà mình phụ trách
Sơ đồ quy trình sản xuất
8 Vị trí và mặt bằng sản xuất của công ty
Trụ sở chính của công ty đặt tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân,
Hà Nội Năm 2002 tổng diện tích là 17.000 m2 : trong đó diện tích văn phòng
là 1600 m2 , diện tích nhà xưởng là 15.400 m2
Năm 2003, 2004 do mở rộng sản xuất và xây dựng thêm phân xưỏng dệt nên tổng diện tích của công ty hiện nay là 4,5 ha, trong đó diện tích văn phòng là 1600 m2 , diện tích nhà xưởng là 29.000 m2 Với một diện tích khá rộng như vậy là điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất Do đầu năm 2004 phải di chuyển vị trí phân xưởng dệt nên sản xuất bị chững lại và ít đơn hàng hơn nên tình hình tiêu thụ cũng bị ảnh hưởng
PX Sợi
Ngành hoàn thành
PX May
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CÔNG TY DỆT 19/5 HÀ NỘI
1 Tình hình tiêu thụ sản phẩm trong thời gian qua
Vào thời kì trước năm 1997, đặc biệt là trong giai đoạn 1989 – 1993, nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đặt các doanh nghiệp vào môi trường sống khó khăn hơn Đây là giai đoạn công ty gặp nhiều khoá khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong công tác tiêu thụ sản phẩm Khi đó thị trường trong nước mất phương hướng, sản phẩm của công ty sản xuất ra tiêu thụ rất khó Tình hình đó đã đặt công ty đến
bờ vực thẳm, có nguy cơ ngừng sản xuất Song với tinh thần năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tinh thần của dệt 19/5 bền bỉ, kiên trì, không sợ khó khăn, tập thể cán bộ công ty đã tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa hoạt động của công ty dần đi vào ổn định và tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây
Từ chỗ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty là chuyên sản xuất các mặt hàng dệt kim như khăn mặt, bít tất…Công ty đã dần chuyển hướng sang sản xuất các loại vải bạt công nghiệp phục vụ chủ yếu cho các đơn vị sản xuất giầy và các đơn vị quốc phòng Đồng thời tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất các loại vải bạt nặng đòi hỏi công nghệ kĩ thuật cao đáp ứng nhu cầu thị trường, sản phẩm may thêu phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Cho đến nay các sản phẩm vải bạt, đặc biệt là các loại bạt tẩy nhuộm, các loại sợi đang là những mặt hàng chiến lược của công ty
Hoạt động tiêu thụ của công ty trong những năm 2000 – 2004 nhìn chung đều hoàn thành vượt mức kế hoạch Đặc biệt đối với vải tẩy nhuộm, vải phin thực tế tiêu thụ đã vượt xa so với kế hoạch đề ra
Trang 21Bảng số 6: Tỡnh hỡnh tiờu thụ của cụng ty một số năm gần đõy
TT Sản phẩm
Số lượng ( m )
Doanh thu (tỷ đ )
Số lượng ( m )
Doanh thu (tỷ đ )
Số lượng (m )
Doanh thu (tỷ đ )
Số lượng ( m )
Doanh thu ( tỷ đ )
Nguồn: Phũng kế hoạch – Cụng ty dệt 19/5 Hà Nội
Qua bảng số liệu trờn ta thấy doanh thu từ vải chiếm một tỷ trọng khỏ lớn
so với tổng doanh thu Điều này chứng tỏ mặt hàng này chiếm một vị trớ quan trọng trong cơ cấu sản phẩm tiờu thụ của cụng ty Bờn cạnh cỏc loại vải khụng thể khụng kể đến cỏc loại sợi cũng cú doanh thu khỏ cao sau vải và tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Sản lượng và doanh thu tiờu thụ được thể hiện trờn biểu đồ sau:
Sản lượng vải tiêu thụ qua các năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Năm
Trang 22Như vậy, tốc độ tăng bình quân của lượng vải tiêu thụ là 9,3% / năm, của sợi là 2,5% / năm Cùng với sự tăng trưởng về sản lượg qua các năm là sự gia tăng về doanh thu: của vải là 5,3% / năm, của sợi là 5,7%/ năm
Để tiêu thụ được sản phẩm của mình, công ty dệt 19/5 Hà Nội không ngừng tìm kiếm đối tác để bán được hàng Phương châm của công ty là bán hàng trực tiếp tới khách hàng Như chúng ta đã biết sản phẩm của công ty là vải công nghiệp và sợi các loại cho nên thị trường chủ yếu của công ty là các công ty sản xuất giầy vải, may mặc, các đơn vị quốc phòng và các công ty dệt… trải dài từ Bắc tới Nam đó là chưa kể tới thị trường quốc tế đầy tiềm năng
Đối với thị trường các doanh nghiệp sản xuất giầy vải hiện nay theo điều tra thị trường nhu cầu tiêu thụ thường xuyên của công ty cho thấy các đơn vị sản xuất giầy vải là những bạn hàng lớn và chủ yếu của công ty
Bảng số 7: Tình hình tiêu thụ vải theo khách hàng
TT Khách hàng
Sản lượng (m)
Giá trị (tr.đ)
Sản lượng (m)
Giá trị (tr.đ)
Sản lượng (m)
Giá trị (tr.đ)
1 Cty Đăng Khoa Bags 2.446 35,177 2.656 38,292 2.787 41,299
2 Cty Đường Sông
5 Cty Bình Tiên 1.763 25,357 1.620 23,363 1.862 27,601
6 Cty CP Giầy Sài gòn 756.150 10.874 765.490 11.035 771.264 11.431
7 Cty cao su Hà Nội 15.110 217,315 17.620 254,014 18.052 267,556
8 Cty DOMOKO 46.000 661,546 47.623 686,523 49.260 730,092
9 Cty Giầy An Lạc 250.630 3.604,42 273.562 3.943,96 281.560 4.173,06
10 Cty Giầy Bình Định 82.562 1.187,36 86.550 1.247,69 89.212 1.322,23
11 Cty Giầy Cần thơ 38.766 557,511 39.005 562,287 41.562 615,999
12 Cty Giầy Chí Linh 81.136 117,007 82.263 185,886 84.256 248,776
13 Cty Giầy Phước Bình 120.900 1.810,62 132.465 1.909,58 150.460 2.229,13
14 Cty Giầy Thăng Long 15.330 220,467 16.569 238,855 15.626 231,596
Trang 2315 Cty May Thăng long 301.120 4.330,54 305.400 4.402,58 321.560 4.765,91
16 Cty giầy Thái Bình 17.500 251,675 17.213 248,138 18.564 275,141
17 Cục quân khí 310.240 4.461,69 316.620 4.564,32 325.689 4.827,10
Nguồn: Phòng KH TT- công ty dệt 19/5 Hà Nội
Bảng số 7a: Tỷ trọng tình hình tiêu thụ vải theo khách hàng
TT Khách hàng
Sản lượng (m) Tỷ trọng
Sản lượng (m)
Tỷ trọng
Sản lượng (m)
Tỷ trọng
1 Cty Đăng Khoa Bags 2.446 0.12% 2.656 0.12% 2.787 0.11%
2 Cty Đường Sông Lam 2.700 0.13% 2.812 0.13% 3.006 0.12%
5 Cty Bình Tiên 1.763 0.08% 1.620 0.08% 1.862 0.07%
6 Cty CP Giầy Sài gòn 756.150 36.25% 765.490 35.60% 771.264 29.83%
7 Cty cao su Hà Nội 15.110 0.72% 17.620 0.82% 18.052 0.70%
8 Cty DOMOKO 46.000 2.21% 47.623 2.21% 49.260 1.91%
9 Cty Giầy An Lạc 250.630 12.01% 273.562 12.72% 281.560 10.89%
10 Cty Giầy Bình Định 82.562 3.96% 86.550 4.02% 89.212 3.45%
11 Cty Giầy Cần thơ 38.766 1.86% 39.005 1.81% 41.562 1.61%
12 Cty Giầy Chí Linh 81.136 3.89% 82.263 3.83% 84.256 3.26%
13 Cty Giầy Phước Bình 120.900 5.80% 132.465 6.16% 150.460 5.82%
14 Cty Giầy Thăng Long 15.330 0.73% 16.569 0.77% 15.626 0.60%
15 Cty May Thăng long 301.120 14.44% 305.400 14.20% 321.560 12.44%
16 Cty giầy Thái Bình 17.500 0.84% 17.213 0.80% 18.564 0.72%
17 Cục quân khí 310.240 14.87% 316.620 14.72% 325.689 12.60%
Bảng số 8: Tình hình tiêu thụ sợi theo khách hàng
Sản Giá trị Sản Giá trị Sản Giá trị
Trang 24lượng (tấn)
1 Cty Dệt MayHà Nội 216 7.6 270 9.7 287 11
Nguồn: Phòng KH TT- Công ty dệt 19/5 Hà Nội
Bảng số 8a:Tình hình tiêu thụ sợi theo khách hàng
TT Khách hàng
Sản lượng (tấn)
Tỷ trọng
%
Sản lượng (tấn)
Tỷ trọng
%
Sản lượng (tấn)
Tỷ trọng
Có thể nói vải chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu sản phẩm của công ty Bên cạnh đó là các loại sợi ( từ Ne8 – Ne45 ) cũng chiếm một tỷ
Trang 25lợi nhuận ngày càng tăng cho công ty Tuy sản phẩm thêu là sản phẩm mới của công ty được sản xuất trên hệ thống dây chuyền công nghệ tương đối hiện đại và nó sẽ góp phần đáng kể trong doanh thu tiêu thụ trong những năm tới
Trang 26Bảng số 9: Cơ cấu vải tiêu thụ của công ty
TT Loại vải
Sản lượng ( m )
Doanh thu ( tr.đ )
Sản lượng ( m )
Doanh thu ( tr.đ )
Sản lượng ( m )
Doanh thu ( tr.đ )
Sản lượng ( m )
Doanh thu ( tr.đ )
Nguồn: Phòng KH TT- Công ty dệt 19/5 Hà Nội
Bảng số 9a: Cơ cấu vải tiêu thụ của công ty
TT Loại vải
Sản lượng ( m )
Tỷ trọng
%
Sản lượng ( m )
Tỷ trọng
%
Sản lượng ( m )
Tỷ trọng
%
Sản lượng ( m )
Tỷ trọng
Trang 2754 0
Qua bảng trên ta thấy số lượng và doanh thu tiêu thụ của vải phin và vải tẩy nhuộm chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu sản lượng tiêu thụ vải của công ty Tốc độ tăng bình quân của vải tẩy nhuộm về số lượng là 14,3% / năm, về doanh thu là 7,9% / năm, tốc độ tăng bình quân của vải phin về số lượng là 3% / năm, về doanh thu là 3% / năm Ta thấy số lượng vải phin tiêu thụ chiếm 31 %, vải tẩy nhuộm chiếm 38 % sản lượng vải tiêu thụ toàn công
ty Nhìn chung các loại vải như: bạt 2, bạt 3, bạt 10 năm 2001, 2002, 2003 là không đạt được như kế hoạch đề ra, nhưng năm 2004 thì đã có khả quan hơn Đối với các loại vải như: bạt 8, vải chéo, vải lọc có tốc độ tăng qua các năm
2001, 2002, 2003 là rất chậm, hầu như không đáng kể, nhưng đến năm 2004
đã tăng vượt trội lên và tăng 33 % so với năm 2003 Có thể giải thích rằng trong những năm 2001, 2002, 2003 thị trường ngành giầy đang giảm sút do vậy mà nhu cầu về vải giảm, đến năm 2004 thì thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi và chuyển sang thích sử dụng giầy vải do đó số lượng tiêu thụ đã tăng lên hẳn so với những năm trước
2.2 Tình hình chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Chất lượng sản phẩm là một trong những chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và cũng là một yếu tố để quyết định đến việc tiêu thụ được nhiều hay ít Nhận thức được diều này, trong những năm qua công ty không ngừng đầu tư cải tiến, đổi mới máy móc thiết bị tiên tiến, đào tạo công nhân để nâng cao chất lượng sản phẩm Với những cố gắng
đó hiện nay sản phẩm của công ty phần lớn là đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm Đối với các sản phẩm chính là vải bạt các loại thì chất lượng sản phẩm luôn được quan tâm và chú ý Do đặc điểm của các sản phẩm này là nguyên liệu cho các công ty sản xuất giầy vải ( khách hàng lớn và chủ yếu của công ty ) vì thế chất lượng sản phẩm luôn được đặt lên hàng đầu Công ty không ngừng hoàn thiện quy trình sản xuất và kiểm soát quy trình sản xuất đó bằng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
Trang 28ISO 9001 Các sản phẩm sản xuất ra đều được bộ phận KCS kiểm tra, nếu không đảm bảo chất lượng đã quy định thì không đựơc phép xuất xưởng Thực tế cho thấy các sản phẩm của công ty đã đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm
Bảng số 10: Tình hình chất lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty
TT Sản phẩm % sản phẩm
loại 1
% sản phẩm loại 2
% sản phẩm loại 3 Thứ phẩm Phế phẩm
Nguồn: Phòng quản lý chất lượng- Công ty dệt 19/5 Hà Nội
Đối với thị trường các doanh nghiệp sản xuất giầy vải hiện nay theo điều tra thị trường nhu cầu tiêu thụ trung bình khoảng 10 triệu m/năm Qua bảng liệt kê một số khách hàng tiêu thụ thường xuyên của công ty cho thấy các đơn
vị sản xuất giầy vải là những bạn hàng lớn và chủ yếu của công ty Sản lượng tiêu thụ hàng năm của các đơn vị này chiếm 70% tổng sản lưởng tiêu thụ của
Trang 29Lạc, giầy Thượng Đình, giầy Thăng Long, giầy Thuỵ Khuê, giầy Cần Thơ, giầy Bình Định, giầy Thái Bình là những bạn hàng lớn Ví dụ sản lượng tiêu thụ đối với giầy Hiệp Hưng năm 2002 là 274.182m, năm 2003 là 305.982m, năm 2004 là 361.125m Đối với may Thăng Long các con số tương ứng là 301.120m;305.400m; 321.560m Đối với giầy An Lạc các con số lần lượt là 250.630m, 273.562m, 281.560m Đối với giày Sài Gòn là 756.150m,765.490m,771.264m Đối với cục quân khí 310.240m, 316.620m, 325.689m… Tỷ phần thị trường của công ty trong khu vực này chiếm 10% như vậy là còn khá nhỏ Công ty không chỉ là nhà cung ứng duy nhất cho các đơn vị giầy vải mà bên bên cạnh đó còn có các đối thủ cạnh tranh khác như: dệt 8/3, dệt may công nghiệp, dệt Minh Khai… tiêu thụ với số lượng lớn Qua bảng số liệu sản lượng tiêu thụ ở các đơn vị sản xuất giầy vải nhìn chung khá ổn định và tăng qua các năm Điều này cho thấy sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm của công ty Song với dung lượng thị trường nhỏ như vậy, việc mở rộng thị trường tiêu thụ sang các khách hàng tiềm năng
và tăng sản lượng tiêu thụ là rất cần thiết và có ý nghĩa về mọi mặt trong hoat đông sản xuất kinh doanh của công ty Qua phân bố địa lí cho thấy các đơn vị này chủ yếu nằm ở khu vực phía Nam ( chiếm 70% tổng sản lượng tiêu thụ )
và một số ít nằm ở khu vực phía Bắc Sản lượng tiêu thụ qua các năm cho thấy các thị trường này vẫn chưa đựơc khai thác triệt để, còn bỏ ngỏ Đặc biệt
là khu vực thị trường miền Bắc là nơi rất gần công ty song khối lượng tiêu thụ còn khiêm tốn
Đối với các công ty may những năm vừa qua là thời điểm thăng hoa trong các hoạt động tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu Nhu cầu vải công nghiệp của các đơn vị này khá lớn, trung bình 18 triệu m mỗi năm để sản xuất
áo khoác hai lớp, áo jắc két, quần ka ki… Tuy nhiên các bạn hàng thuộc thành phần này của công ty rất ít, chỉ có dệt may công nghiệp Hà Nội và dệt 8/3 là hai bạn hàng lâu năm của công ty Với những đặc tính riêng, do khác biệt của vải làm áo hai lớp, áo jắc két, quần ka ki …, so với vải bạt để sản xuất giầy
Trang 30nên những sản phẩm của công ty hiện nay chỉ có thể đáp ứng nhu cầu của các đơn vị sản xuất giầy và quốc phòng là chủ yếu Điều này giải thích tại sao các đơn vị may mặc không nằm trong danh mục khách hàng của công ty
Các đơn vị quốc phòng như cục quân khí, công ty 26, công ty 32 là những bạn hàng quen thuộc trong đó cục quân khí tiêu thụ với số lượng rất lớn Còn công ty 26, công ty 32 thì tiêu thụ với số lượng ít hơn Tuy nhiên so với nhu cầu vải bạt của các đơn vị quốc phòng mỗi năm trong nước trung bình là 5 triệu m thì với sản lượng tiêu thụ như vậy quả là ít
Nhu cầu sử dụng vải chéo, vải lọc đường của các công ty sản xuất bánh kẹo, rượu bia hàng năm vào khoảng 1,5 triệu m Các bạn hàng thuộc thành phần này của công ty bao gồm các đơn vị ở khu vực phía Bắc là chủ yếu như: bánh kẹo Hải Hà, rượu bia Hà Nội, công ty mía đường Lam Sơn và một số cơ
sở tư nhân khác Sản lượng tiêu thụ loại mày hàng năm chiếm tỷ lệ nhỏ trong
cơ cấu tổng sản lượng tiêu thụ: vải lọc trung bình chiếm 0,87%, vải chéo trung bình chiếm 0,9%; tức chiếm khoảng 7% thị phần cả nước Như vậy thị trường vải này ở khu vực miền Bắc chưa được khai thác triệt để, thị trường miền Nam còn bỏ ngỏ chưa khai thác
Tóm lại, công ty đã đáp ứng được khá đa dạng nhu cầu của các bạn hàng, thị trường tiêu thụ phân bố khá rộng, song chưa đồng đều ở các vị trí địa lý và
số lượng tiêu thụ Dung lượng tiêu thụ còn nhỏ, chưa hình thành thị trường trọng điểm
Thị trường quốc tế rộng lớn và đầy tiềm năng, nhưng trong điều kiện hiện nay công ty chưa tiến hành hoạt động tiêu thụ sản phẩm ra nước ngoài Những
cố gắng và nỗ lực của công ty chuẩn bị để đưa sản phẩm ra tiêu thụ ở nước ngoài trong thời gian gần đây như xây dựng thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001, triển khai xây dựng phòng thí nghiệm chất lượng cao, nâng cao ý thức, trình độ lao động và quản lý của công nhân, cán bộ công ty Điều này cho thấy công ty đã có sự chuẩn bị toàn diện về mọi mặt cho bước tiến xa
Trang 31Với chính sách đa dạng hoá sản phẩm mà công ty đã áp dụng hiện nay đã đáp ứng được khá rộng nhu cầu sản xuất của các bạn hàng Tuy nhiên số lượng tiêu thụ còn nhỏ và chưa hình thành thị trường trọng điểm
Thị trường quốc tế rộng lớn và đầy tiềm năng, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, công ty chưa tiến hành các hoạt động tiêu thụ ra nước ngoài mà mới chỉ dừng lại ở thị trường nội địa Hoạt động xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm may ở khu liên doanh với nước bạn Singapore Nhưng với sản phẩm thêu là sản phẩm mới của công ty đã gợi mở ra một tiềm năng xuất khẩu rất lớn trong vài năm tới
4 Thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty dệt 19/5 Hà Nội
4.1 Tình hình tiêu thụ theo khách hàng
Khách hàng là một nhân tố quan trọng đối với bất cứ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, chỉ khi nào có được khách hàng thì doanh nghiệp mới tiêu thụ được sản phẩm, từ đó mới thực hiện được mục tiêu kinh doanh của mình mà mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận
Bảng số 11: Tình hình tiêu thụ vải theo khách hàng
Giá trị (tr.đ)
Giá trị (tr.đ)
% tăng
or giảm
Giá trị (tr.đ)
1 Cty Đăng Khoa Bags 2.656 38,292 2.787 41,299 5% 3
2 Cty Đường Sông
5 Cty Bình Tiên 1.620 23,363 1.862 27,601 15% 4,3
6 Cty CP Giầy Sài gòn 765.490 11.035,2 771.264 11.431,1 0,75% 396
7 Cty cao su Hà Nội 17.620 254,014 18.052 267,556 2,4% 13.5
8 Cty DOMOKO 47.623 686,523 49.260 730,092 3,4% 44
9 Cty Giầy An Lạc 273.562 3.943,96 281.560 4.173,06 2,9% 231
10 Cty Giầy Bình Định 86.550 1.247,69 89.212 1.322,23 3% 74
11 Cty Giầy Cần thơ 39.005 562,287 41.562 615,999 5,6% 54
12 Cty Giầy Chí Linh 82.263 185,886 84.256 248,776 2,4% 63