1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc- hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1945-1954 trong chương trình Ngữ văn lớp 11

52 2,7K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn ở các tiết đọc - hiểu sẽ khắc phục được những hạn chế trên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp.. H

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG - NHA TRANG

-

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC - HIỂU MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11

NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ HỒNG MINH

Năm học: 2013 - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ ……… … 2

1 Lí do chọn đề tài ……… 2

2 Mục đích nghiên cứu … 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 3

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……….……… 4

1 Cơ sở lí luận ……… … 4

2 Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý Tự Trọng ……… 5

3 Các biện pháp tiến hành …….……… …… …… 9

3.1 Trang bị cho học sinh một số kiến thức về sơ đồ tư duy ………… 9

3.2 Giáo viên lập kế hoạch sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn 10

3.3 Tiến hành thực nghiệm ……… 17

4 Kết quả thực nghiệm 20

III KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

PHỤ LỤC 26

1 Giáo án thực nghiệm

2 Bài làm của học sinh (lớp thực nghiệm và đối chứng)

3 Phiếu khảo sát giáo viên, học sinh (trước thực nghiệm)

4 Phiếu khảo sát học sinh (sau thực nghiệm)

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Dạy học là một nghề cao quý, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức chuyên môn, có tình thương, trách nhiệm, sự tận tụy, kiên nhẫn, lấy sự tiến bộ của học sinh làm động lực giảng dạy Để học sinh có thể tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống đòi hỏi người giáo viên luôn phải đổi mới phương pháp dạy học Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với người giáo viên đứng lớp

Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học hiện đang được người dạy quan tâm vì nó giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và tất cả học sinh đều

có thể tham gia xây dựng bài Cách học này phát triển được năng lực riêng của từng học sinh về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), biết hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để ghi các ý chọn lọc), khả năng hội họa (hình thức trình bày kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc) Như vậy, nếu so sánh với thói quen đọc, chép trước đây thì dạy học bằng SĐTD khắc phục được tính thụ động, ỷ lại, tạo nên phong cách mới trong dạy học của cả thầy và trò

Ngữ văn là một môn khoa học xã hội có những đặc thù riêng so với những môn khoa học khác Đây là môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nhân văn rất cao Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Lý Tự Trọng, tôi nhận thấy rằng học sinh gặp khó khăn khi phải ghi nhớ rất nhiều kiến thức về tác giả, tác phẩm Đặc biệt trong các tiết đọc - hiểu văn học, việc phân tích, tìm hiểu tác phẩm ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau khiến cho lượng kiến thức mà các em tiếp thu và ghi vào vở là rất lớn Các em chủ yếu dựa vào cách học vẹt để ghi nhớ các kiến thức đó Chính điều này đã làm cho việc học tập môn Ngữ văn trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng tạo, khả năng phân tích, so sánh, tư duy vận dụng còn hạn chế

Bởi thế, để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, tôi đã mạnh dạn vận dụng SĐTD trong các tiết dạy học của mình nhằm đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập cho học sinh đồng thời vẫn đảm bảo được tính khoa học và nghệ thuật trong dạy học môn Ngữ văn Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp học sinh rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ thuộc, dễ dàng hệ thống hoá lượng kiến thức lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong những giờ học Văn Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn

đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11”

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trang 4

- Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức đã học trong giờ đọc - hiểu các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945; tăng cường khả năng ghi nhớ để nắm vững kiến thức đã học và làm tốt các bài kiểm tra kiến thức

- Giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo; tạo sự hứng thú học tập trong các giờ học, góp phần tạo nên sự chuyển biến trong các tiết dạy đọc - hiểu bộ môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Quá trình thực hiện sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình lớp 11

- Khách thể nghiên cứu: Học sinh hai lớp 11D1 và 11D2 tại trường THPT

Lý Tự Trọng

4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu : Các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 -

1945 trong chương trình lớp 11 và học sinh khối 11 của Trường THPT Lý Tự Trọng

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt đề tài này, tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình: ở đây là thể loại truyện ngắn với

những đặc trưng cơ bản để làm cơ sở vững chắc nghiên cứu, phân tích tác phẩm

5.2 Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng trong quá trình hệ thống

hóa kiến thức các tác phẩm và thể hiện bằng SĐTD

5.3 Phương pháp thực nghiệm: được sử dụng trong quá trình áp dụng đề tài đối

với các lớp được chọn làm đối tượng thực nghiệm

5.4 Phương pháp so sánh: được sử dụng trong quá trình so sánh đối chiếu kết

quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

5.5 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong quá trình khảo sát,

phân tích kết quả thực nghiệm và tổng hợp kết quả thực nghiệm

Trang 5

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận

Sơ đồ tư duy (Mindmap) do Barry Buzan và Tony Buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của não bộ và ứng dụng vào cuộc sống Sơ đồ tư duy (còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực

Các nhà khoa học chỉ ra rằng bộ não của con người gồm 2 bán cầu: não phải

và não trái Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng… những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn

Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra SĐTD

theo nguyên lí hoạt động của bộ não Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng SĐTD Như vậy, SĐTD là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não

Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy nếu sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ có những ưu điểm sau:

- Tiết kiệm thời gian, công sức của học sinh

- Cung cấp bức tranh tổng thể của bài học

- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh

- Giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn

- Kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh

- Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực trong học tập

Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả, cụ thể là giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, hứng thú học tập hơn Điểm mạnh nhất của SĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo Với những ưu điểm trên, ta có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian

Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được các nhà

Trang 6

khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải tiến Có thể nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục nước nhà Vì vậy, vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị quyết 40/2000 - QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới PPDH Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa trọng tâm xuyên suốt cả quá trình đổi mới Một trong những hoạt động hưởng ứng đổi mới PPDH của giáo viên là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, trong đó có việc sử dụng SĐTD

Trong triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2013 - 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng tạo mọi điều kiện để các giáo viên nhà trường thường xuyên học tập, trao đổi chuyên môn, đổi mới PPDH theo hướng tích cực, để góp phần đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên nhà trường luôn không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dạy học đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Và theo tôi, với những ưu điểm vượt trội của mình, SĐTD là một trong những phương pháp dạy học rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng Việc sử dụng SĐTD trong dạy học nói chung và trong giảng dạy Ngữ văn nói riêng sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong học tập Điều này rất phù hợp với mục đích học tập do

UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng

định mình”

2 Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý

Tự Trọng, Nha Trang, Khánh Hòa

Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện đổi mới PPDH, theo tinh thần tập huấn của Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa về việc bồi dưỡng cho giáo viên trong toàn tỉnh tiếp cận với những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, trong nhiều năm qua tại trường THPT Lý Tự Trọng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học của mỗi giáo viên được nâng cao Các thầy cô giáo

ở tất cả các bộ môn như Toán, Lý Hóa, Lịch sử, Địa lý trong trường luôn học hỏi, tìm hiểu những PPDH tiến bộ, vận dụng những kỹ thuật mới vào trong dạy

Trang 7

học để làm mới bài giảng của mình, tăng sự hứng thú của học sinh trong các giờ học Và việc sử dụng SĐTD trong dạy học là một bước tiến đáng kể trong việc đổi mới PPDH hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, nhất là

sự bùng nổ của ngành Công nghệ thông tin Việc sử dụng SĐTD thay thế cho những mô hình, sơ đồ, biểu đồ giản tiện về công đoạn, nguyên liệu Do đó, việc ứng dụng SĐTD vào trong quá trình dạy học không chỉ lôi cuốn sự hứng thú, làm

“sống lại” niềm đam mê, yêu thích môn học ở các em học sinh mà còn làm dấy lên một “phong trào” đưa SĐTD vào bài giảng ở giáo viên

Không nằm ngoài xu thế đổi mới đó, các thầy cô giáo dạy Văn cũng luôn có

ý thức tiếp cận các PPDH mới để mang lại sự hứng thú của học sinh trong các giờ học Văn, đặc biệt là các giờ đọc - hiểu, vốn dĩ luôn được xem nặng về kiến thức, đòi hỏi giáo viên phải giảng nhiều, ghi chép trên bảng rất nhiều và học sinh cũng phải ghi bài nhiều, chỉ ngồi thụ động trả lời những câu hỏi do thầy cô đưa ra Điều này sẽ dẫn đến sự rập khuôn máy móc trong cách dạy và học Ngữ văn ở các giờ đọc - hiểu, tạo tâm lí ỷ lại, bị động trong học sinh Chính vì thế, việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn ở các tiết đọc - hiểu sẽ khắc phục được những hạn chế trên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy học đối với môn học Ngữ văn, nhất là các tiết đọc - hiểu còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy, hầu hết các giáo viên chưa quen với cách dạy học bằng SĐTD Họ mới chỉ dừng lại

ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức mỗi bài ôn tập, tổng kết một phân môn, một mảng kiến thức nào đó mà thôi chứ chưa mạnh dạn phát huy được tính phổ biến và đa năng của SĐTD trong các tiết đoc - hiểu văn học

Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều em chưa có khái niệm gì về SĐTD, chưa quen với cách học bằng SĐTD và còn nhiều lúng túng khi thiết lập một SĐTD

Để thấy rõ hơn thực trạng của việc sử dụng SĐTD trong dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý Tự Trọng, tôi đã tiến hành khảo sát đối với học sinh khối 11 và giáo viên trong tổ

* Đối với học sinh: Tôi đã tiến hành khảo sát trước thực nghiệm đối với học sinh hai lớp: 11D1 (sỉ số 38 học sinh) và 11D2 (sỉ số 41 học sinh) và thu được kết quả là:

Câu 1: Em đã từng sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học các môn văn hóa ở

trường chưa?

Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Chưa từng sử dụng 5 hs - 13% 0 hs - 0%

Rất ít khi sử dụng 26 hs - 69 % 31 hs - 76%

Thỉnh thoảng sử dụng 5 hs - 13 % 10 hs - 24%

Trang 8

Thường xuyên sử dụng 2 hs - 5 % 0 hs - 0%

Câu 2: Em đã từng sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học môn Văn ở trường chưa?

Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Chưa từng sử dụng 25 hs - 65% 23 hs - 56%

Có thể 20 hs - 52% 25 hs - 61% Cần thiết 9 hs - 24% 11 hs - 27% Rất cần thiết 6 hs - 16% 5 hs - 12%

Câu 4: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong các tiết đọc - hiểu văn

học không?

Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Không thể 4 hs - 11% 5 hs - 12%

Sơ đồ tư duy theo đề cương 6 hs - 16% 9 hs - 22%

Sơ đồ tư duy theo chương 6 hs - 16% 8 hs - 19%

Sơ đồ tư duy theo đoạn văn 10 hs - 26% 15 hs - 37%

Cả 3 loại sơ đồ tư duy trên 16 hs - 42% 9 hs - 22%

* Vì sao em cho là sử dụng sơ đồ tư duy đó thích hợp?

Đa số học sinh ở hai lớp đều trả lời do các loại sơ đồ tư duy đó giúp các em củng cố và hệ thống lại những kiến thức trọng tâm của bài học, dễ tiếp thu bài và nhanh thuộc bài…

Trang 9

Qua kết quả khảo sát trước thực nghiệm ở hai lớp 11D1 và 11D2, tôi nhận thấy:

- Thứ nhất, tuy SĐTD đã khá phổ biến nhưng đối với học sinh lớp tôi khảo sát vẫn còn đa số rất ít khi sử dụng trong việc học các môn văn hóa ở trường, thể hiện qua tỉ lệ 69% (lớp 11D1) và 76% (lớp 11D2) Cá biệt có những học sinh còn trả lời chưa từng sử dụng - tỉ lệ 13% (lớp 11D1)

- Thứ hai, đối với việc học môn Văn: hầu hết học sinh chưa từng sử dụng SĐTD ở trường: thể hiện qua tỉ lệ 65% (lớp 11D1) và 56% (lớp 11D2)

- Thứ ba, đa số học sinh đều có ý kiến cho rằng việc sử dụng SĐTD trong học tập môn Văn là có thể - tỉ lệ 52% (lớp 11D1) và 61% (lớp 11D2), thậm chí là cần thiết - tỉ lệ 24% (lớp 11D1) và 27% (lớp 11D2)

- Thứ tư, đối với các tiết đọc - hiểu văn học, có đến 47% (lớp 11D1) và tỉ lệ 63% (lớp 11D2) đồng ý việc áp dụng SĐTD, thậm chí là cần thiết - tỉ lệ 34% (lớp 11D1) và 20% (lớp 11D2) Và các em cũng nhận thức được những tiện ích trong cách học Văn bằng SĐTD và biết sử dụng SĐTD trong những loại nội dung khác nhau của các tiết đọc - hiểu văn học

* Đối với giáo viên: Qua khảo sát 8 giáo viên trong tổ chuyên môn về việc

sử dụng SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn, tôi thu được kết quả như sau:

- Có 6/8 thầy cô không thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu về các dạng SĐTD trong dạy học hiện nay

- Có 5/8 thầy cô rất ít khi sử dụng SĐTD trong việc dạy môn Văn

- Có 6/8 thầy cô cho rằng việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn là phù hợp với đặc trưng bộ môn

- Theo các thầy cô, việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn thì sẽ phát huy tác dụng ở các tiết dạy: Văn học sử (6/8), Đọc - hiểu văn học (4/8), Tiếng Việt (6/8), Tập làm văn (3/8)

- Có 5/8 thầy cô cảm thấy bình thường, 3/8 thầy cô cảm thấy thích khi sử dụng SĐTD trong các tiết dạy Văn

- Đa số thầy cô đều đồng ý với quan điểm việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy đọc - hiểu văn học sẽ giúp học sinh tóm lược đầy đủ và khoa học nội dung kiến thức bài học; giúp học sinh dễ nhớ, dễ thuộc nội dung kiến thức bài học; giúp học sinh dễ vận dụng nội dung kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra; và giúp học sinh phát huy sự chủ động, sáng tạo trong giờ học Văn

Về lí do vì sao SĐTD chưa được sử dụng rộng rãi trong việc dạy học môn Văn hiện nay, có 6/8 thầy cô đều cho rằng do giáo viên ngại dạy vì chưa quen với cách dạy học mới Và nếu hội đủ các điều kiện thuận lợi, có 7/8 thầy cô sẽ thường xuyên sử dụng SĐTD trong các tiết dạy học môn Văn của mình

Như vậy, qua kết quả khảo sát đối với học sinh và giáo viên, ta có thể thấy rằng hầu hết giáo viên và học sinh đều nhận thức được những lợi ích của việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy và học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong các tiết đọc -

Trang 10

hiểu Các em đều ý thức được việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ giúp các em nhanh chóng hệ thống lại những kiến thức trọng tâm cơ bản của bài học, dễ tiếp thu bài và nhanh thuộc bài… Còn các thầy cô đều cho rằng việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ không làm mất đi đặc trưng của bộ môn mà còn giúp học sinh nhanh chóng nắm bắt nội dung bài học đồng thời phát huy được sự chủ động, sáng tạo của các em và tất cả các thầy cô đều muốn sử dụng SĐTD trong các tiết dạy của mình

Vậy nguyên nhân nào khiến SĐTD chưa được sử dụng phổ biến trong các tiết dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong những giờ đọc - hiểu? Dựa vào kết quả khảo sát, ta có thể chỉ ra được một số nguyên nhân cơ bản: Trước hết, về phía học sinh là do các em rất ít khi được thầy cô cho sử dụng SĐTD trong việc học tập

ở trường, đặc biệt đối với bộ môn Văn thì có rất nhiều Từ đây tạo thành thói quen, SĐTD chỉ dùng cho bộ môn tự nhiên, nhất là môn Văn càng không thể có Còn về phía giáo viên thì một thực tế có thật là ít giáo viên đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, thói quen là dạy văn phải giàu ngôn từ, lời nói bóng bẩy, hàn lâm, Còn muốn đầu tư SĐTD cho dạy học môn Văn nói chung hay dạy đọc-hiểu văn học nói riêng lại càng đòi hỏi giáo viên đầu tư cho bài giảng từ kiến thức chuyên môn đến kỹ năng sử dụng SĐTD, mất nhiều thời gian Đây là lý do dẫn đến “ngại”, “lười” của một bộ phận giáo viên Thực trạng này đã tồn tại đã khá lâu trong việc dạy và học môn Ngữ văn và đã dẫn đến hệ quả là càng ngày học sinh càng ít có hứng thú với việc học môn Văn, tỏ ra rất thụ động trong các giờ học Văn Còn giáo viên thì rất vất vả trong việc truyền đạt kiến thức và tạo niềm say

mê của học sinh đối với môn học đầy giá trị nhân văn này

Chính vì thực trạng trên, việc nghiên cứu “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930

- 1945 trong chương trình Ngữ văn 11” là rất cần thiết để góp phần vào việc đổi mới cách dạy và học môn Ngữ văn hiện nay, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

3 Các biện pháp tiến hành

3.1 Trang bị cho học sinh một số kiến thức về sơ đồ tư duy

Nhất thiết giáo viên phải cho học sinh làm quen với SĐTD Bởi vì thực tế cho thấy rằng rất nhiều học sinh cũng chưa biết SĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và

vẽ như thế nào Giáo viên nên giới thiệu cho học sinh về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng bản đồ tư duy trong học tập môn Ngữ văn

Giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh cách vẽ một SĐTD Để vẽ một bản đồ tư duy hoàn chỉnh, bao gồm có các bước cơ bản sau đây:

- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm

Bước đầu tiên trong việc tạo ra một bản đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy

Quy tắc vẽ chủ đề :

+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác

+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích

Trang 11

+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ

+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ

Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :

+ Tiêu đề phụ nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :

+ Nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh

+ Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng

Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm Tất cả các nhánh tỏa ra

từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng bay bổng bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn

* Lưu ý học sinh những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy:

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng

- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết

- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

* Luyện tập cho học sinh vẽ thử một sơ đồ tư duy:

Để củng cố hơn cho phần lý thuyết vừa trình bày, trước hết, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một vài ví dụ minh họa

Ví dụ : Trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách

mạng tháng Tám 1945, giáo viên sẽ đưa ra một sơ đồ tư duy để hệ thống hoá các

nội dung cơ bản của bài học này

Trang 12

Sau đó, giáo viên có thể giao cho học sinh hoặc cùng học sinh xây dựng lên một SĐTD về một trong những nội dung cơ bản của bài học trên Và khi học sinh

vẽ xong SĐTD, giáo viên có thể để học sinh tự trình bày ý tưởng về SĐTD mà mình vừa thực hiện được

3.2 Giáo viên lập kế hoạch sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết đọc - hiểu một

số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 chương trình lớp 11

- Đây là kế hoạch của phần nội dung mình định sử dụng SĐTD Kế hoạch này phải có từ đầu năm để giáo viên có thời gian đầu tư

- Ở các tiết đọc - hiểu các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 dạy bằng SĐTD, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho bài giảng, bao gồm các công việc sau:

+ Soạn giáo án các tác phẩm sẽ dạy đảm bảo các bước lên lớp, thể hiện được mục tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học

+ Xác định các nội dung trọng tâm để thể hiện trên SĐTD

+ Chọn SĐTD phù hợp để thể hiện nội dung bài giảng, sao cho SĐTD phục

vụ được cái mình cần đạt, cả kiến thức lẫn kĩ năng, thái độ

Cụ thể: Trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, sơ đồ tư duy không chỉ

sử dụng một tiết mà đến tiết thứ ba mới hoàn chỉnh (dạy trong 03 tiết) Hay trong

tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, sơ đồ tư duy bài giảng sử dụng dạy

Trang 13

- Từ việc xác định như trên, giáo viên cũng đồng thời chuẩn bị cho học sinh việc chủ động học và theo dõi kiến thức mỗi tiết

Ví dụ: Để dạy tiết 01 tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, sau khi soạn

giáo án bài giảng theo đúng các yêu cầu đặt ra thật cụ thể, chi tiết, giáo viên thiết lập một SĐTD phù hợp, thể hiện rõ nội dung kiến thức bài học

* Giáo án bài giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Tiết 01)

Tiết 35: Đọc văn: HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam) (Tiết 01)

A Mục tiêu bài học

MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

- Hiểu được sự cảm thông sâu sắc của Thạch Lam đối với cuộc sống quẩn quanh, buồn tẻ của những người nghèo phố huyện và sự trân trọng của nhà văn trước mong ước của họ về một cuộc sống tươi sáng hơn

- Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp của Thạch Lam

TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KĨ NĂNG

- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Phân tích tâm trạng nhân vật theo đặc trưng thể loại

Thái độ:

- Tình cảm yêu mến đối với những kiếp người nghèo khổ trước CMT8

- Đồng cảm và trân trọng những ước mơ nhỏ bé của họ

B, Phương tiện thực hiện: SGK, SGV, thiết kế bài giảng

C, Cách thức tiến hành: GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo, phát vấn, trả lời câu hỏi, thảo luận

D, Tiến trình dạy học:

1, Ổn định lớp:

2, Kiểm tra bài cũ: Những đặc điểm cơ bản của VHVN từ đầu TK XX  CMT8/1945? Quá trình hiện đại hoá diễn ra qua mấy bước? Đặc điểm và thành tựu của mỗi bước? VH thời kì này có đóng góp như thế nào đối với nền VH dân tộc?

Trang 14

3, Giới thiệu bài mới: Trong những tác giả có nhiều đóng góp cho văn xuôi giai

đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam là một cây bút có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn Mỗi truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm, chất chứa tình cảm yêu mến của tác giả đối với cảnh vật và con người Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một ví dụ

Gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn và trình

bày những nét cơ bản về tác giả

Tuổi thơ sống nhiều tại quê

ngoại – phố huyện Cẩm Giàng

(Hải Dương) → 1 không gian

NT trở đi trở lại trong các TP

của ông

Là em ruột hai nhà văn Nhất

Linh, Hoàng Đạo và cả ba

người đều là thành viên chủ

chốt của nhóm Tự lực văn

đoàn

.Ông mất ngày 28 tháng 6 năm 1942 vì

căn bệnh lao phổi khi mới 32 tuổi

Ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc

lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị

và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt

cách và phẩm chất văn học”

Em hãy trình bày xuất xứ của TP?

Em hãy tóm tắt nội dung cơ bản của

I TIỂU DẪN 1.Tác giả:

- Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn, là

cây bút chủ chốt của các báo Phong hóa, Ngày

+ Đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật + Hai yếu tố hiện thực và trữ tình luôn đan xen

+ Lời văn nhẹ nhàng, đằm thắm, giàu chất thơ Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình đượm buồn

- Tác phẩm chính: sgk + Truyện ngắn: Gió đầu mùa (1937), Nắng trong

vườn, Sợi tóc

+ Tiểu thuyết : Ngày mới (1939) + Tập tiểu luận: Theo dòng (1941) + Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943)

Trang 15

truyện?

GV giới thiệu cho HS về cuốn “Hồi

ký về gia đình Nguyễn- Tường” của

Nguyễn Thị Thế để thấy nhân vật,

khung cảnh, tâm trạng trong HĐT là có

thật…

Gia đình TL có 1 thời kì khốn khó, nghèo

túng khi ba TL mất, mẹ TL 1 mình nuôi 7

ng con ăn học tử tế bằng cái nghề cân gạo

trong cái phố huyện buồn tẻ ở Cẩm Giàng

Niềm an ủi duy nhất của bà là các con học

hành ngày càng tiến bộ

E hãy phân chia bố cục của TP?

Cảnh chiều tàn nơi phố huyện hiện

lên ntn qua ngòi bút của TL?

E hãy tìm những chi tiết ( âm thanh,

h/ả, màu sắc ) tả cảnh phố huyện khi

chiều xuống?

Âm thanh của phố huyện đc miêu tả

qua những chi tiết nào? Nhận xét về

những âth đó? Tác giả đã sử dụng NT

gì để miêu tả â thanh? Tác dụng?

E có nhận xét gì về những chi tiết

miêu tả h/ả, màu sắc? NT? Tác dụng?

những người lao động nghèo ở một phố huyện nhỏ bé

- Liên và An đã từng có một cuộc sống đầy đủ vui vẻ ở

Hà Nội Do gia đình sa sút, hai đứa trẻ phải về sống nơi phố huyện có một cái ga xép nhỏ, được cha mẹ giao cho trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ

- Nhịp sống nơi đây rất buồn tẻ, đơn điệu, ngập chìm trong bóng tối với những con người như mẹ con chị Tí, bác Siêu, vợ chồng bác Xẩm, bà cụ Thi Cuộc sống của họ cũng có chung một mẫu số là bé nhỏ, nghèo khổ, đáng thương

- Thế nhưng chừng ấy người sống trong bóng tối vẫn

hy vọng cái gì đó tươi sáng hơn Mong ước ấy được thể hiện qua việc họ cố thức để trông chờ chuyến tàu đêm

từ Hà Nội về chạy qua phố huyện

- Chuyến tàu mang theo những ánh sáng rực rỡ, những

âm thanh sôi động, ầm ầm chạy vụt qua rồi im tiếng trong màn đêm sâu thẳm Rồi sau đó, Liên cũng ngập dần vào giấc ngủ yên tĩnh

c Bối cảnh của truyện: Phố huyện Cẩm

Giàng (Hải Dương) – quê ngoại của nhà văn – nơi ông đã từng sống lúc tuổi thơ

d Bố cục: 3 phần

- Đoạn 1 ( Từ đầu – phía làng): Cảnh phố

huyện khi chiều xuống

- Đoạn 2 (tiếp – không hiểu): Cảnh phố huyện

+ Tiếng trống thu không từng tiếng một vang ra

để gọi buổi chiều + Văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài ruộng theo gió nhẹ đưa vào

+ Muỗi bắt đầu vo ve

-> NT: Miêu tả tỉ mỉ, cụ thể những thay đổi, chuyển động của ngoại cảnh - bước đi chậm rãi của thời gian

-> Nhịp sống buồn bã, tẻ nhạt của phố huyện lúc chiều tối

- Hình ảnh, màu sắc:

+ phương tây đỏ rực như lửa cháy

+ đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn + dãy tre làng trước mặt đen lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời

Trang 16

Qua những yếu tố về ÂT, H/Ả, AS,

Những con người bé nhỏ của

phố huyện nghèo này là những

ai? Họ có cuộc sống ntn?

Em hãy chỉ ra điểm chung

của những mảnh đời này?

Họ đã phải sống một cuộc đời tẻ nhạt, bằng

phẳng như Huy Cận từng nói:

+ Những nguồn ánh sáng ấy… cát lấp lánh từng chỗ… những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối

-> NT so sánh, tương phản -> AS nơi phố huyện đang yếu đi bởi sự chiếm lĩnh của bóng tối

 Một “bức hoạ đồng quê”: yên tĩnh, bình

dị, thơ mộng nhưng đượm buồn, tàn tạ và đơn điệu

b Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ:

- Cảnh chợ tàn:

+ ÂT: người về hết, tiếng ồn ào cũng mất,

+ H/ả: trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi vỏ thị, lá nhãn và lá mía, một vài người bán hàng

về muộn

+ Mùi vị: một mùi âm ẩm bốc lên… do hơi

nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi …

→ NT tương phản giữa còn và mất, giữa động

và tĩnh -> Sự xác xơ, tiêu điều của một buổi chợ phiên nghèo đã vãn - không gian làng quê

+ Mẹ con chị Tí: ban ngày thì mò cua, bắt ốc,

tối đến dọn cái hàng nước nhỏ; chị “chả kiếm

được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm”

+ Bà cụ Thi: điên, vẫn hay mua rượu ở hàng L

với tiếng cười khanh khách và dáng đi “lần vào

bóng tối”

+ Chị em Liên: ngồi trên một cái chõng nát, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, buôn bán chẳng được bao nhiêu (dù là chợ phiên, họ mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …)

 Mỗi người một cảnh ngộ, một cách kiếm sống nhưng họ đều có chung 1 số phận: nghèo khổ, bế tắc, tàn lụi Họ đang chìm dần vào trong bóng đêm của phố huyện, tù mù như những cái bóng, mòn mỏi, quẩn quanh trong bế

Trang 17

Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu

Tới hay lui vẫn từng ấy mặt người

Vì quá quen nên quá đỗi buồn cười

Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện

(Quanh quẩn)

L là 1 cô gái có hoàn cảnh

ntn?

.Trước cảnh ngày tàn và những kiếp

người tàn tạ, tâm trạng của Liên thế

nào? Tìm chi tiết miêu tả?

.Qua những chi tiết trên em cảm nhận

gì về Liên (đời sống và tâm hồn) ?

Nhận xét NT miêu tả đời

sống nội tâm L của tác giả?

tắc, không biết cuộc đời sẽ đi đâu về đâu

 Tình cảnh chung của người dân nghèo VN trước CMT8

- Được giao trông coi cửa hàng tạp hóa nhỏ

 nghèo túng, khó khăn nhưng rất hiếu thảo, đảm đang, có trách nhiệm

* Tâm trạng:

- Nhìn cảnh phố huyện về chiều : Liên cảm

thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc

của ngày tàn”, cảm nhận “mùi riêng của đất của quê hương này”

- Đối với những người nghèo nơi phố huyện: + Xót thương cho những đứa trẻ con nhà

nghèo “L trông thấy động lòng thương nhưng

chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó”

+ Thông cảm với nỗi vất vả của mẹ con chị Tí

(thể hiện qua lời văn, giọng văn: Ngày đi mò cua… Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu)

+ Tuy sợ nhưng rất thương cảm với hoàn cảnh

của cụ Thi (lần nào cũng rót đầy rượu cho cụ ‘e

L thảo nhỉ Hôm nay lại rót đầy cho chị đây’)

 Liên là một cô bé có tấm lòng nhân hậu, yêu thương con người, biết quan tâm, chia sẻ

và cảm thông với người khác

 NT: Miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc, giàu cảm xúc Nhà văn đã đi sâu và phát hiện những cảm xúc tâm hồn của 1 cô gái mới lớn có đôi mắt u buồn, rất nhạy cảm trước những chuyển biến của sự vật, thay đổi của cuộc đời

 Thái độ t/g: xót thương, day dứt với những kiếp người nghèo khổ, hi vọng đợi chờ một ngày mai tươi sáng sẽ đến với họ

4.Củng cố: Nắm được những chi tiết (về cảnh, người) trong bức tranh phố huyện lúc chiều tàn

5.Dặn dò: Học bài Chuẩn bị bài mới: Hai đứa trẻ - Thạch Lam (Tiết 2,3)

* Sơ đồ tư duy bài giảng Hai đứa trẻ - Thạch Lam (Tiết 01)

Trang 18

Sơ đồ tư duy trên tóm lược những ý chính của bài giảng Hai đứa trẻ trong tiết 01 Giáo viên có thể nghiên cứu, chỉnh sửa, hoàn thiện dần để hệ thống kiến thức trên SĐTD được trình bày một cách logic, khoa học, giúp học sinh nhanh chóng nắm được nội dung bài học Và sau 03 tiết dạy, giáo viên sẽ có một SĐTD

hoàn chỉnh của toàn bộ nội dung bài giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Trang 19

1/ Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

- Giáo án bài giảng (xem Phụ lục)

- Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Hai đứa trẻ - Thạch Lam (dạy trong 03 tiết)

(Hình trang 18)

2/ Tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

- Giáo án bài giảng (xem Phụ lục)

- Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân (dạy trong

dạy trong 02 tiết

Chính vì dung lượng kiến thức ở mỗi tác phẩm nhiều như vậy nên học sinh rất khó khăn trong việc nhớ và học thuộc tất cả nội dung kiến thức bài học Bởi vậy, để giúp các em dễ dàng nắm được nội dung bài học, tôi đã kết hợp sử dụng SĐTD trong quá trình giảng dạy Cụ thể, sau khi dạy xong mỗi phần của tác phẩm, tôi liền hệ thống nội dung kiến thức vừa dạy bằng một SĐTD trên 01 bảng phụ hoặc trên màn hình máy chiếu (nếu dạy ở phòng máy) Cứ như vậy, khi xong các phần nội dung cần tìm hiểu của một tác phẩm thì tôi cũng có một SĐTD hoàn chỉnh về hệ thống nội dung kiến thức của tác phẩm đó

Đồng thời, để củng cố hơn, tôi cũng yêu cầu học sinh về nhà tự hệ thống kiến thức vừa học bằng SĐTD trên một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các kiến thức cơ bản của bài học và mối liên hệ của chúng theo cách riêng của từng

em (sẽ kiểm tra vào giờ học sau)

Với việc học các tiết đọc - hiểu mà giáo viên có sử dụng SĐTD kết hợp với việc học sinh tự hệ thống hóa nội dung kiến thức tác phẩm bằng SĐTD, học sinh sẽ dễ nhớ, dễ thuộc nội dung bài học, đồng thời phát huy sự chủ động, sáng tạo khi tự thiết kế một SĐTD theo cách riêng của mình

Trang 22

+ Sau thực nghiệm chúng tôi tiến hành phát phiếu khảo sát đối với học sinh lớp 11D1 (38 học sinh) - lớp thực nghiệm Kết quả thu đươc như sau:

- Về thái độ của học sinh, có đến 19 hs - 50% học sinh trong lớp có thái

độ thích thú và 5 hs - 13% rất thích thú các tiết học văn bằng SĐTD

- Về quan niệm có thể sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn thì có đến

28 hs - 74% học sinh trong lớp cho rằng SĐTD có thể được sử dụng trong các tiết dạy Đọc - hiểu văn học Tỉ lệ này cao gấp nhiều lần so với việc sử dụng SĐTD trong các tiết Văn học sử (7hs - 18%), Tiếng Việt (9 hs - 24%), Tập làm văn (4 hs - 11%)

- Về quan điểm của học sinh đối với các tiết đọc - hiểu có sử dụng SĐTD:

có đến 23 hs - 61% học sinh trong lớp cho rằng sử dụng SĐTD trong các tiết đọc

- hiểu Văn học là có phù hợp, đặc biệt có 8 hs - 21% khẳng định là rất phù hợp

- Về nhận thức những ưu điểm khi sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu: Đa số học sinh đều nhận thức được những ưu điểm khi sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu Văn học Cụ thể:

Có đến 36 hs - tỉ lệ 95% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ tóm tắt nội dung kiến thức bài học

Có 34 hs - tỉ lệ 89% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ nhớ nội dung bài học

Có 31 hs - tỉ lệ 82% cho rằng SĐTD giúp học sinh phát huy sự chủ động, sáng tạo trong giờ học Văn

Và có 27 hs - tỉ lệ 71% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ vận dụng nội dung kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra

Qua kết quả khảo sát, ta có thể thấy, đa số học sinh đều thích thú với việc dạy học Ngữ văn bằng SĐTD, đặc biệt là trong các tiết đọc - hiểu Văn học và các học sinh đều nhận thức được những ích lợi của việc sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu Văn học

* Thứ hai là tăng cường khả năng ghi nhớ, vận dụng kiến thức để làm tốt các bài kiểm tra

Điều này được kiểm định qua việc đối chiếu kết quả bài kiểm tra 15 phút giữa lớp dạy thực nghiệm 11D1 và lớp đối chứng 11D2 sau khi học xong các tác phẩm Cụ thể như sau:

- Sau khi học xong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, tôi cho học

sinh ở hai lớp làm bài kiểm tra 15 phút

Trang 23

+ Câu hỏi: Em hãy nêu lí do hai chị em Liên và An trong tác phẩm Hai

đứa trẻ của Thạch Lam cố thức để chờ chuyến tàu hằng đêm đi qua phố huyện nghèo? Ý nghĩa hình ảnh đoàn tàu?

+ Kết quả bài kiểm tra ở hai lớp:

- Sau khi học xong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tôi cho

học sinh ở hai lớp làm bài kiểm tra 15 phút

+ Câu hỏi: Em hãy lí giải vì sao cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục

ở cuối truyện ngắn Chữ người tử tù được Nguyễn Tuân gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”?

+ Kết quả bài kiểm tra:

Đồng thời, qua các bài kiểm tra của học sinh lớp dạy thực nghiệm, tôi còn thấy được khả năng tưởng tượng bay bổng, sự sáng tạo thông minh của các em khi vẽ một SĐTD để trình bày ý tưởng của mình

Trang 24

III KẾT LUẬN

1 Kết luận

Bản chất của việc dạy học là làm cho học sinh chủ động tiếp thu, dễ hiểu,

dễ nhớ kiến thức Học sinh tiếp thu kiến thức không phải chỉ thông qua kênh nghe, kênh nhìn mà còn phải được tham gia thực hành ngay trên lớp hoặc được vận dụng, trao đổi thể hiện suy nghĩ, chính kiến của mình Từ xa xưa, người

phương Đông đã có câu: “Tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn thì tôi nhớ, tôi làm thì

tôi hiểu” Những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại cũng đã cho thấy, học

sinh chỉ có thể nhớ được 5% nội dung kiến thức thông qua đọc tài liệu Nếu ngồi thụ động nghe thầy giảng thì nhớ được 15% nội dung kiến thức Nếu quan sát có thể nhớ 20% Kết hợp nghe và nhìn thì nhớ được 25% Thông qua thảo luận với nhau, học sinh có thể nhớ được 55% Nhưng nếu học sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì có khả năng nhớ tới 75% Còn nếu giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới được 90% Vì vậy, việc sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não; giúp cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa học, logic, dễ hiểu Sử dụng SĐTD góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Đồng thời, việc học sinh tự vẽ SĐTD còn giúp phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh Các em được tự do lựa chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), tự “sáng tác” “tác phẩm” của mình nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và SĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình

Trong các tiết đọc - hiểu theo cách dạy truyền thống, giáo viên làm việc là chủ yếu thông qua các phương pháp như thuyết giảng, phát vấn Cách dạy này

sẽ không thu hút toàn bộ học sinh tập trung vào bài học, học sinh cảm thấy chán nản vì lượng kiến thức phải chép và học thuộc quá nhiều Điều này sẽ dẫn đến

sự thụ động, chỉ biết học vẹt theo những gì đã chép trên lớp hay học một cách đối phó Thực trạng này tồn tại khá phổ biến trong việc dạy học môn Ngữ văn

từ trước đến nay Chính vì thế, việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy học môn Ngữ văn sẽ giúp giáo viên khắc phục được thực trạng trên Và thực tế hiện nay, ngày càng có nhiều giáo viên đã mạnh dạn sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu văn học nhằm đem lại không khí sôi nổi trong các giờ học, tạo sự chủ động tích cực của học sinh và giúp học sinh lĩnh hội nhanh và chắc kiến thức mà giáo viên truyền đạt

Qua thời gian thực hiện giải pháp ‘Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao

hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1945”, tôi nhận thấy các tiết dạy đọc - hiểu đạt hiệu quả cao hơn, việc tiếp thu

1930-bài học của học sinh không còn nhàm chán nữa mà phát huy được khả năng tư duy logic, liên hệ, liên tưởng, sáng tạo của học sinh Các em đã làm chủ việc

Trang 25

tiếp thu kiến thức của mình Khi sử dụng SĐTD trong các tiết dạy đọc - hiểu, tất

cả học sinh đều phải tập trung theo dõi nội dung bài học và phải động não để nảy sinh ý tưởng trình bày nội dung bài học bằng cách vẽ nào là hợp lí nhất Học sinh sẽ tự khám phá và khi ý tưởng hoàn chỉnh, được giáo viên và các bạn ngợi khen, các em sẽ phấn khởi rất nhiều và hứng thú hơn đối với môn học

Mỗi học sinh có một tính cách, một ý tưởng rất khác nhau khi trình bày

sơ đồ tư duy của mình nhưng điều quan trọng là các em ghi nhớ lâu kiến thức bài học, biết vận dụng kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong giờ học Còn giáo viên đứng lớp cảm thấy hào hứng với cách dạy mới vì được học sinh hưởng ứng, ủng hộ nhiệt tình và đáp ứng được mục đích của việc dạy học Đó là động lực để các thầy cô chuyên tâm vào sự nghiệp trồng người của mình hơn nữa

2 Ý kiến đề xuất

Qua việc vận dụng giải pháp ‘Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu

quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930-1945”

cho học sinh lớp 11 trường THPT Lý Tự Trọng, tôi xin rút ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất đối với đối với học sinh:

- Học sinh là một tương tác cho giáo viên thực hiện kế hoạch lên lớp, cho nên, học sinh phải tích cực, tự giác, cũng như tăng cường giao lưu học hỏi một cách khiêm tốn ở thầy cô, bạn bè về việc vẽ, học và ghi chép với SĐTD

- Cần rèn luyện kỹ năng thực hiện SĐTD trong việc học các môn văn hóa

ở trường cũng như trong việc lên kế hoạch học tập và sinh hoạt hằng ngày

Thứ hai là đối với giáo viên:

- Muốn vận dụng SĐTD trước hết phải có nghiên cứu, rèn luyện kỹ năng xây dựng về SĐTD, phải chọn lọc loại sơ đồ phù hợp cho bài, mục bài Cần có sự cân nhắc khi ứng dụng SĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra đánh giá, tổ chức hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ môn Ngữ văn

- Cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế SĐTD tức là phải biết chọn lọc những ý cơ bản, những kiến thức thật cần thiết

- Cần đầu tư thời gian hợp lí vào việc soạn bài, lập trước các sơ đồ cần thiết cho tất cả các khâu của quá trình lên lớp đối với từng bài học

Thứ ba là đối với tổ chuyên môn

- Trong sinh hoạt chuyên môn nên dành thời gian trao đổi kinh nghiệm giảng dạy bằng SĐTD vào thảo luận trong các buổi họp tổ, họp nhóm để mọi giáo viên trong tổ quen dần với cách dạy mới và vận dụng vào việc dạy học trên lớp

Trang 26

- Tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên đề về sử dụng SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong các tiết đọc - hiểu để các giáo viên trong

tổ bộ môn có điều kiện học tập, rút kinh nghiệm

Thứ tư là đối với nhà trường:

- Cần tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khóa để giới thiệu cho học sinh về SĐTD, cách vẽ SĐTD, những lợi ích khi sử dụng SĐTD trong học tập để giúp các em nhanh chóng nắm bắt được phương pháp học tập mới

- Cần thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng cho giáo viên trong trường các phương pháp dạy học tích cực trong đó có dạy học bằng SĐTD

để việc dạy học bằng SĐTD được vận dụng rộng rãi ở tất cả các môn học trong nhà trường, tạo sự hứng thú say mê ở cả học sinh và giáo viên

Thứ năm là đối với Sở Giáo dục & Đào tạo Khánh Hòa Trong những

năm học tới, tôi rất mong Sở sẽ tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn

về việc vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học hiện nay, trong đó có dạy học bằng SĐTD để chúng tôi có điều kiện nâng cao kĩ năng vận dụng SĐTD trong dạy học được hay và hiệu quả hơn

Trên đây chỉ là một số kiến nghị của bản thân để việc vận dụng SĐTD vào việc dạy học nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng, đặc biệt là các tiết đọc - hiểu văn học phát huy hiệu quả hơn nữa, đáp ứng yêu cầu mới của thời đại Trong thời gian tới, để giải pháp này gần hơn với thực tế giảng dạy, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong và ngoài bộ môn để giải pháp được hoàn chỉnh hơn, sử dụng được rộng rãi ở tất cả các khối lớp và đối với nhiều môn học khác nhau

Ngày đăng: 16/04/2015, 14:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy theo đề cương       6 hs - 16%        9 hs -  22% - SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc- hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1945-1954 trong chương trình Ngữ văn lớp 11
Sơ đồ t ư duy theo đề cương 6 hs - 16% 9 hs - 22% (Trang 8)
Sơ đồ tư duy theo đoạn văn      10 hs - 26%      15 hs -  37% - SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc- hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1945-1954 trong chương trình Ngữ văn lớp 11
Sơ đồ t ư duy theo đoạn văn 10 hs - 26% 15 hs - 37% (Trang 8)
Sơ đồ tư duy trên tóm lược những ý chính của bài giảng Hai đứa trẻ  trong  tiết  01.  Giáo  viên  có  thể  nghiên  cứu,  chỉnh  sửa,  hoàn  thiện  dần  để  hệ  thống  kiến  thức  trên  SĐTD  được  trình  bày  một  cách  logic,  khoa  học,  giúp  học  sinh - SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc- hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1945-1954 trong chương trình Ngữ văn lớp 11
Sơ đồ t ư duy trên tóm lược những ý chính của bài giảng Hai đứa trẻ trong tiết 01. Giáo viên có thể nghiên cứu, chỉnh sửa, hoàn thiện dần để hệ thống kiến thức trên SĐTD được trình bày một cách logic, khoa học, giúp học sinh (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w