Ngoài phần đất liền, Nha Trang có 19 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên Biển Đông, đảo Hòn Tre Hòn Lớn là lớn nhất, diện tích hơn 36 km2, nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang trở n
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ QUÍ ĐÔN
Tên tác giả: ĐOÀN VĂN XUÂN
Giáo viên môn Địa lí
NĂM HỌC 2013 – 2014
MỤC LỤC
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
1 Lí do chọn đề tài………3
2 Mục đích nghiên cứu……….…4
3 Đối tượng nghiên cứu………4
4 Phương pháp nghiên cứu……… 4
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……….……4
1 Cơ sở lí luận……….… 4
2 Thực trạng ……….…5
3 Các biện pháp tiến hành……….…6
3.1 Thiết kế các tiết của phần thực hành : Địa lí địa phương………….6
3.2 Viết tài liệu ĐỊA LÍ TỈNH KHÁNH HÒA……….….9
3.2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ, phân chia đơn vị hành chính…… 10
3.2.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên……….21
3.2.3 Dân cư và xã hội……… 31
3.2.4 Kinh tế……….39
4 Hiệu quả……… 58
III KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ……… 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO………62
PHỤ LỤC……… 64
Trang 3Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ PHẦN THỰC HÀNH
VỀ ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ 12 – THPT
Tác giả, đơn vị công tác:
ĐOÀN VĂN XUÂN - Trường THPT chuyên Lê Quí Đôn, Khánh Hòa
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Địa lí lớp 12 trung học phổ thông, phần về Địa lí địa phương: Tìm hiểu địa lí tỉnh, thành phố nơi học sinh đang sống Sau bài thực hành, học sinh cần đạt được các mục tiêu :
- Hiểu và nắm vững được một số đăc điểm nổi bật về vị trí địa lí, đặc điểm
tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm một số ngành kinh tế chính của tỉnh Khánh Hòa nơi học sinh đang sống
- Phát triển các kĩ năng : bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu thống kê
- Biết cách thu thập và xử lí thông tin; viết và trình bày báo cáo về một vấn
đề của địa phương
- Bước đầu nghiên cứu khoa học và biết tổ chức hội nghị khoa học
- Qua bài thực hành, sẽ tăng thêm tình yêu quê hương, ý thức xây dựng và bảo
vệ quê hương, đặc biệt trong giai đoạn phát triển mới
Tuy nhiên, để thực hiện phần thực hành này, qua nhiều năm, mặc dù thực hiện đúng theo yêu cầu hướng dẫn ở sách giáo khoa, sách giáo viên, nhưng việc thực hiện còn nhiều khó khăn và hạn chế sau:
- Trong chương trình và sách giáo khoa qui định 1 tiết dành cho học sinh chuẩn bị và viết báo cáo về một vấn đề địa lí địa phương là điểu rất khó (tiết còn lại để trình
bày báo cáo) Trên thực tế, học sinh cần có nhiều thời gian để chuẩn bị
- Tài liệu địa lí địa phương tỉnh Khánh Hòa cho đến nay vẫn chưa có trong nhà trường phổ thông
- Học sinh rất lúng túng trong việc thu thập và xử lí thông tin
Vì vậy, phần thực hành Địa lí địa phương qua nhiều năm thực hiện, chất lượng và hiệu quả còn hạn chế
2 Mục đích nghiên cứu
- Thiết kế thực hiện phần “ Địa lí địa phương” dựa trên yêu cầu của chương
trình Địa lí 12 hiện hành
Trang 4- Viết tài liệu “ Địa lí tỉnh Khánh Hòa” nhằm tạo nguồn tài liệu cơ bản cho
giáo viên và học sinh lớp 12 thực hiện phần “ Địa lí địa phương” được thuận lợi hơn
- Qua đó, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học Địa lí 12 – THPT, trước hết ở trường THPT chuyên Lê Quí Đôn, sau đó để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong toàn tỉnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lãnh thổ tỉnh Khánh Hòa
- Phạm vi nghiên cứu : Giới hạn nội dung phù hợp việc thực hiện giảng dạy Địa lí địa phương trong nhà trường phổ thông
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết :
+ Phân tích + Tổng hợp + Phân loại + Hệ thống + Đánh giá
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Quan sát khoa học + Tổng kết kinh nghiệm
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận
Theo tác giả Nguyễn Gia Cốc trong tác phẩm Chất lượng đích thực của giáo dục đào tạo, năm 1997, “Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông toàn diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học ”
Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả dạy học Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang lại kết quả cao nhất Chất lượng dạy học được nhìn từ góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn này muốn nói lên tác động ảnh hưởng của nhà trường với người học Để thực hiện việc đánh giá, người ta chuyển mục tiêu dạy học sang hệ thống tiêu chí Thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ
Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị và hành vi của người học
Chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông liên quan chặt chẽ đến yêu cầu kinh tế - xã hội của đất nước Sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng
Trang 5cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra với giáo dục trung học phổ thông
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học là một yêu cầu thường xuyên và rất thiết yếu đối với giáo viên, nhất là trong tình hình kinh tế – xã hội của đất nước đang có những chuyển biến sâu sắc
Việc nâng cao chất lượng dạy học có nhiều giải pháp như tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới cách biên soạn sách giáo khoa, đổi mới phương thức chọn môn học cho từng lớp của từng cấp học, đổi mới cách tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm… Ngoài ra, trong từng phần, từng chương, từng bài, cũng cần có sự nhìn nhận thực tế để có những cải tiến, điều chỉnh trong quá trình thực hiện
2 Thực trạng
2.1 Thuận lợi
- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong việc viết sáng kiến kinh
nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt, nhà trường luôn tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực
hiện đề tài
- Học sinh trường chuyên nhìn chung có ý thức học tập tốt, chăm chỉ, có năng
lực lĩnh hội, tự học
- Địa lí địa phương – Tỉnh Khánh Hòa là một đề tài cần thiết, có khả năng tạo
hấp dẫn cho học sinh trong việc tìm hiểu về quê hương mình đang sống
- Nguồn tài liệu khá phong phú và đa dạng, nguồn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang web của các cơ quan, ban ngành, các tổ chức kinh tế – xã hội , đặc biệt một số tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về tỉnh Khánh Hòa (Địa chí Khánh Hòa, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003; Du lịch Khánh Hòa từ cuối thế kỉ XIX đến nay, Nguyễn Thị Kim Hoa, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2006…)
Lê Quí Đôn, Khánh Hòa không có lớp chuyên Địa lí, đồng thời học sinh thi đại học khối C hàng năm rất ít) Vì vậy, để có thời gian chuẩn bị cho việc thực hành phần tìm hiểu “Địa lí địa phương – Tỉnh Khánh Hòa” rất khó khăn đối với học sinh
- Tài liệu chính thức về Địa lí tỉnh Khánh Hòa sử dụng trong nhà trường phổ thông đến nay vẫn chưa có Tài liệu trên các phương tiện thông tin thì phân tán, các tác phẩm về tỉnh Khánh Hòa thì chuyên sâu
Trang 6- Khả năng tiếp cận các cơ quan, ban ngành ở địa phương để có nguồn tài liệu
là rất khó khăn
3 Các biện pháp tiến hành
3.1 Thiết kế các tiết của phần thực hành về “ Địa lí địa phương”:
Gồm 1 tiết chuẩn bị, nhằm hướng dẫn học sinh tìm hiểu, viết báo cáo và
1 tiết học sinh báo cáo các chủ đề tìm hiểu
THIẾT KẾ CÁC TIẾT CỦA PHẦN THỰC HÀNH
VỀ “ ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG”
http://www.google.com.vn/url?sa=i&rct=j&q=Ti%CC%89nh+Kha%CC%81nh+Ho
%CC%80a&source=images&cd=&cad=rja&docid=-h5OlfuM_UyzSM&tbnid=Rq5uhc02HIv4lM:&ved=0CAUQjRw&url=http://dddn.com.vn/20110408035159419cat175/khanh-hoa-doi-trung-tam-hanh-chinh-ra-ngoai-o-nha-
trang.htm&ei=S2CHUdLJJ4rMiQLUsIGwAw&bvm=bv.45960087,d.cGE&psig=AFQjCNGEp1RA8ap1m9yFT1MUO6RTrAruKw&ust=1367912869958875
Trang 7Tiết 1 CHUẨN BỊ VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ ĐỊA LÍ TỈNH KHÁNH
HÒA
a Phân nhóm nghiên cứu về các chủ đề về Địa lí tỉnh Khánh Hòa
- Nhóm 1- Chủ đề 1: Vị trí địa lí, phạm vị lãnh thổ và sự phân chia hành chính của tỉnh Khánh Hòa
- Nhóm 2 – Chủ đề 2: Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Khánh Hòa
Gợi ý: + Các đặc điểm nổi bật về đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhiên
thiên nhiên đối với phát tiển kinh tế – xã hội
- Nhóm 3 – Chủ đề 3: Đặc điểm dân cư, lao động và xã hội của tỉnh Khánh Hòa
Gợi ý: + Các đặc điểm nổi bật về đặc dân cư và lao động
tiển kinh tế – xã hội
- Nhóm 4 – Chủ đề 4: Đặc điểm kinh tế và địa lí một số ngành kinh tế của tỉnh Khánh Hòa
Gợi ý: + Các đặc điểm nổi bật về kinh tế – xã hội
dịch vụ (giao thông vân tải, thông tin liên lạc, thương mại, du lịch)
b Thu thập tài liệu
- Thời gian: 2 tuần lễ trước khi tiến hành bài thực hành trên lớp
- Xác định nguồn tài liệu:
+ Giáo viên cung cấp tài liệu Địa lí địa phương đã biên soạn làm nguồn tài liệu cơ bản cho học sinh thực hiện
+ Sách, tạp chí, tranh ảnh, bản đồ, bảng số liệu thống kê, các cơ quan ban ngành có liên quan ở địa phương, các trang web trên mạng internet…
- Phân công trách nhiệm cho các nhóm, cử nhóm trưởng phụ trách
Trang 8c Xử lí tài liệu
- Đối chiếu so sánh, chọn lọc kiến thức từ các nguồn để xác định kiến thức chung nhất, chuẩn nhất phù hợp nội dung tìm hiểu
- Tính toán các số liệu , phân tích số liệu để làm rõ nội dung
- Chọn lọc hình ảnh minh họa phù hợp với yêu cầu của nội dung
d Viết báo cáo
Các bước tiến hành:
- Xây dựng đề cương chi tiết với bố cục chặt chẽ
- Viết báo cáo theo đề cương, chú ý làm rõ các nội dung chính của chủ đề
- Trong báo cáo ngoài kênh chữ, cần kết hợp kênh hình, bảng số liệu, biểu
đồ, bản đồ…một cách hài hòa để minh họa cho các nhận định của mình
Tiết 2 BÁO CÁO VỀ ĐỊA LÍ TỈNH KHÁNH HÒA
a Cách tiến hành
- Mỗi nhóm cử một học sinh lên trình bày báo cáo về chủ đề đã được phân công (mỗi nhóm tối đa 10 phút để trình bày)
- Trao đổi các vấn đề về Địa lí tỉnh Khánh Hòa
b Giáo viên tổng kết, đánh giá
Giáo viên tổng kết và đánh giá về phương pháp tiến hành, nội dung và kết quả của các chủ đề đã được nghiên cứu và trình bày của từng nhóm
Lưu ý
Nếu điều kiện cho phép, có thể chon thời điểm thích hợp với thời lượng nhiều hơn (2 tiết) thì việc tiến hành báo cáo, trao đổi, tổng kết thuận lợi hơn
3.2 Viết tài liệu “ ĐỊA LÍ TỈNH KHÁNH HÒA”
Tạo nguồn tư liệu cơ bản cung cấp cho học sinh để thực hiện
Trang 9ta Trên vùng biển, điểm cực đông ra đến kinh độ 117020’Đ (quần đảo Trường Sa)
Tỉnh Khánh Hòa phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây giáp tỉnh Đăk Lăk và tỉnh Lâm Đồng, phía đông giáp Biển Đông
Vị trí địa lí qui định đặc điểm tự nhiên của tỉnh mang tính chất nhiệt đới gió mùa với tính chất hải dương rõ rệt, nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên như tài nguyên biển, rừng, khoáng sản…
Trang 10Khánh Hòa nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước là quốc lộ 1, đường sắt Thống Nhất, nối Khánh Hòa với các tỉnh phía bắc, phía nam; quốc lộ 26, đường tỉnh 723 nối Khánh Hòa với Tây Nguyên Khánh Hòa có các cảng biển như Nha Trang, Cam Ranh, sân bay quốc tế Cam Ranh, nằm gần đường hàng hải quốc
tế nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Khánh Hòa nằm giữa hai thành phố lớn
là Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là một trong những cửa ngõ thông ra biển của Tây Nguyên Vị trí địa lí đó tạo cho Khánh Hòa khả năng phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu với cả nước và quốc tế, hình thành các khu trung chuyển hàng hóa và dịch vụ cho các tỉnh xung quanh
Vị trí địa lí của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng Phần lãnh hải và hệ thống đảo, đặc biệt là huyện đảo Trường Sa, tạo thành cứ điểm tiền tiêu để bảo vệ đất nước Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo
b Phạm vi lãnh thổ
Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon ở hai đầu và phình ra ở giữa Chiều dài bắc - nam khoảng 160 km; chiều dài đông – tây nơi rộng nhất khoảng 60 km, nơi hẹp nhất khoảng 1 - 2 km ở phía bắc, 10 - 15km ở phía nam
Lãnh thổ tỉnh Khánh Hòa gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời
- Vùng đất: có diện tích phần đất liền và cả đảo và quần đảo là 5197 km2, chiếm 1,58% và thuộc loại trung bình trên cả nước
- Vùng biển có diện tích gấp nhiều lần so với đất liền, bờ biển dài khoảng
385 km, có khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ, đặc biệt có quần đảo Trường Sa ở xa
Năm 1653, vùng đất từ núi Đá Bia đến sông Phan Rang gồm 2 phủ: phủ Thái Khang (với 2 huyện là Quảng Phước và Tân Định), phủ Diên Ninh (gồm 3 huyện là Phước Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu)
Năm 1690, phủ Thái Khang đổi thành phủ Bình Khang
Năm 1742, phủ Diên Ninh đổi thành phủ Diên Khánh
Năm 1793, Nguyễn Ánh thu phục Bình Khang và cho xây thành Diên Khánh
Trang 11Năm 1803, đổi dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa, phủ Bình Khang thành phủ Bình Hòa Năm 1808, dinh Bình Hòa đổi thành trấn Bình Hòa
Năm 1832 (năm Minh Mạng thứ 13) tỉnh Khánh Hòa được thành lập trên cơ
sở trấn Bình Hòa
Năm 1958, thời chính quyền ngụy Sài Gòn, các huyện đổi thành quận Khánh Hòa gồm 6 quận là Vĩnh Xương, Ninh Hòa, Khánh Dương, Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Lâm và thị xã Nha Trang
Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước, Khánh Hòa và Phú Yên hợp nhất thành tỉnh Phú Khánh, gồm 2 thị xã (Nha Trang, Tuy Hòa) và 13 huyện
Tháng 3 năm 1977, thị xã Nha Trang đổi thành thành phố Nha Trang
Ngày 28 tháng 12 năm 1982, Quốc hội khóa VII ra nghị quyết sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh
Ngày 30/6/1989, tỉnh Khánh Hòa được tái lập với 1 thành phố là Nha Trang
và 7 huyện: Cam Ranh, Khánh Sơn, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Vạn Ninh và Trường Sa
Năm 2000, huyện Cam Ranh được trở thành thị xã Cam Ranh Năm 2007, huyện Cam Lâm được tái lập Đến năm 2010, thị xã Cam Ranh được công nhận là thành phố Cam Ranh trực thuộc tỉnh Khánh Hòa
Hiện nay, Khánh Hòa gồm có 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 6 huyện Các thành phố, thị xã và huyện được chia thành 35 phường, 6 thị trấn và 99
xã
http://www.google.com.vn/url?sa=i&source=images&cd=&cad=rja&docid=KNC5IytV4cxaaM&tbnid=aOtsjF1ba9Qz6M:&ved=0CAgQjRwwAA&url=http://www.tnmtkhanhhoa.gov.vn/index.php?nre_kh=OnlineMap&ei=8GiHUcifEcOniQK4iIGAAQ&psig=AFQjCNEN4FQmnjdNe1wmgceUaJzq8lx91Q&ust=1367915120319721
CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH KHÁNH HÒA
Ðơn vị
hành chính
Diện tích
(km²)
Dân số năm 2009
Trang 12Huyện Khánh Vĩnh 1165 33 714 13 xã, 1 thị trấn Khánh Vĩnh Huyện Khánh Sơn 337 20 930 7 xã, 1 thị trấn Tô Hạp Huyện Cam Lâm 547 100.850 13 xã, 1 thị trấn Cam Đức Huyện đảo Trường
Trang 13Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, có tọa độ địa
lí 12°15′22″B; 109°11′47″ Đ Ngoài phần đất liền, Nha Trang có 19 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên Biển Đông, đảo Hòn Tre (Hòn Lớn) là lớn nhất, diện tích hơn 36
km2, nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang trở nên kín gió và êm sóng, các đảo khác như Hòn Một, Hòn Tằm, Hòn Miễu, Hòn Đỏ, Hòn Nội, Hòn Ngoại, Hòn Lao…Nha Trang là thành phố biển xinh đẹp với bờ biển dài, cát trắng, khí hậu nhiều nắng ấm Vịnh Nha Trang là một trong các vịnh biển đẹp nhất thế giới Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hòa, là trung tâm du lịch và sự kiện lớn của cả nước Nha Trang là nơi từng diễn ra nhiều
Trang 14sự kiện lớn như Festival Biển (2 năm 1 lần), các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam năm 2006, Hoa hậu Thế giới người Việt năm 2007 và 2010, Hoa hậu Hoàn vũ năm 2008 và Hoa hậu Trái Đất năm 2010 Nha Trang cách thủ đô Hà Nội 1.280 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 448 km, cố đô Huế 630 km
Các danh lam thắng cảnh ở Nha Trang có các đảo trong vịnh Nha Trang, hồ
cá Trí Nguyên, Thuỷ Cung, chùa Đá Hang, đảo Khỉ, Tháp Bà Ponagar, Sông Lô, bãi Tiên, đảo Ngọc Thảo, đồi La San, biệt thự Bảo Đại, chùa Long Sơn, tượng Kim Thân Phật Tổ…
Ở Nha Trang có nhiều trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, các trường cao đẳng, trường dạy nghề… đã biến nơi đây thành một trung tâm khoa học - đào tạo của cả vùng Nam Trung Bộ Đặc sản nổi tiếng của Nha Trang – Khánh Hòa là yến sào Tất cả các đảo có chim Yến đến đều nằm trong địa phận Nha Trang
Thành phố Cam Ranh toạ lạc ở vị trí địa đầu phía Nam của tỉnh, với vịnh
Cam Ranh nổi tiếng dài 20km, chỗ rộng nhất 10km, sâu trung bình 18,2m, sâu nhất 30m, cửa vịnh thông ra biển rộng 3km, có đảo Bình Ba án ngữ nên vừa kín gió vừa
êm sóng, là một trong các vịnh biển tốt nhất thế giới, có thể sánh ngang với vịnh vịnh Rio de Janeiro của Brasil, San Francisco của Hoa Kì
Cảng Ba Ngòi là thương cảng nằm trong vịnh Cam Ranh Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngư nghiệp, làm muối, lâm nghiệp, thương nghiệp và dịch
vụ cảng
Cam Ranh có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng như Hòn Rồng, Hòn Qui, núi Cam Linh… Đặc sản của Cam Ranh xưa nay nổi tiếng như sò huyết, tôm hùm, hàu, ốc
tai tượng, muối…Khoáng sản có sa khoáng ilmenit, thạch anh
Huyện Cam Lâm nằm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa, huyện có diện tích rừng
tự nhiên khá lớn, khoáng sản nổi tiếng là cát thủy tinh Thủy Triều, tiềm năng du lịch lớn với các thắng cảnh đẹp Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh với bãi biển
uốn cong dài, nằm trên trục đường nối thành phố Nha Trang và sân bay Cam Ranh
Thị xã Ninh Hòa nằm ở phía bắc thành phố Nha Trang, cách Nha Trang
33km Trung tâm thị xã nằm tại ngã ba nơi giao nhau giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 26
đi Buôn Ma Thuột Ninh Hòa trở thành cửa ngõ quan trọng nối Tây Nguyên với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngư nghiệp, làm muối, tiểu thủ công nghiệp và lâm nghiệp
Ninh Hòa có nhiều danh lam thắng cảnh giá trị như Dốc Lết, Ba Hồ, hồ chứa nước Đá Bàn, suối nước nóng Trường Xuân, thác Bay (Ea Krông Rou), suối
Đá Chẹt, đảo du lịch sinh thái Hòn Thị, suối Hoa Lan, Lăng Bà Vú , nhiều địa danh nổi
tiếng như chiến khu Đá Bàn, chiến khu Hòn Hèo, căn cứ địa Cần Vương Hòn Khói
- Đầm Vân, xã anh hùng Ninh An, Ninh Thọ Khoáng sản chủ yếu của Ninh Hòa là sét cao lanh, đất sét, đất laterit, đá granit phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng tại địa
phương, có mỏ nước khoáng Trường Xuân với trữ lượng lớn…
Trang 15Huyện Diên Khánh là huyện nội địa, nằm về phía tây của thành phố Nha
Trang, huyện lỵ là thị trấn Diên Khánh (Thành), cách Nha Trang 10 km, nơi đây có công trình Thành cổ Diên Khánh do Nguyễn Ánh xây dựng năm 1793 theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự nổi tiếng vào thế kỷ XVII, XVIII ở Tây Âu Thành Diên Khánh và thành nội Huế là hai ngôi thành trì phong kiến nguyên vẹn còn sót lại cho đến ngày nay trên lãnh thổ Việt Nam Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Những địa danh nổi tiếng của huyện Diên Khánh gắn liền với truyền thống hào hùng của nhân dân Khánh Hoà như ngã ba Cây Dầu Đôi, chiến khu Hòn Dữ, căn cứ Tứ thôn Đại Điền…Núi sông Diên Khánh tạo ra rất nhiều kỳ quan thiên nhiên như Đại An, Am Chúa, suối Ngỗ, suối Đỗ, suối Tiên, núi Trường Tiên Diên Khánh còn là vùng đất có nhiều chứng tích lịch sử lớn của non nước Khánh Hoà như khu lưu niệm Yersin, bia Võ Cạnh, miếu thờ Huỳnh Thúc Kháng, miếu thờ Trịnh Phong, đền thờ Trần Quý Cáp, Văn
Miếu
Về khoáng sản, Diên Khánh có nhiều sét cao lanh để phát triển nghề gốm sứ
và vật liệu xây dựng Ngoài ra, nước khoáng ở Đảnh Thạnh - Diên Tân với chất lượng cao là nguồn tài nguyên vô tận, đang được khai thác hiệu quả
Huyện Vạn Ninh nằm xa nhất về phía bắc của tỉnh Khánh Hoà Tại Mũi
Đôi, bán đảo Hòn Gốm, thuộc xã Vạn Thạnh là điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam, nơi đón ánh mặt trời đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như cả bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á lục địa Nơi này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia
Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp
Vạn Ninh có một số khoáng sản như cao lanh (Xuân Tự), cát trắng (Đầm Môn), sa khoáng ilmenit (Vĩnh Yên - Hòn Gốm), đá granit (Tân Dân), vàng (Xuân Sơn)
Bãi biển Đại Lãnh nằm dưới chân đèo Cả, có một bờ biển thoải dài, cát trắng mịn, nước trong xanh, là điểm du lịch tiềm năng và đang được phát huy Bãi biển này vào năm 1836 đã được vua Minh Mạng chọn làm biểu tượng khắc trên 1 trong
9 đỉnh đồng đặt trước Thế Miếu trong kinh thành Huế
Vịnh Vân Phong có phần đất vươn ra biển Đông xa nhất Việt Nam, với độ sâu trung bình 20-27 mét và ưu thế kín gió, gần đường hàng hải quốc tế, vịnh được qui hoạch thành cảng trung chuyển quốc tế Đồng thời với ưu điểm về sự trong sạch, yên tĩnh và nét hoang sơ, vịnh cũng được phát triển thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng giá trị, đặc biệt cho khách du lịch quốc tế Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã đánh giá:
“Vịnh Vân Phong là một trong những thắng cảnh nghỉ ngơi đẹp nhất trong khu vực Châu Á và Viễn Đông, vượt xa Phuket (Thái Lan) và có thể so sánh được với bãi biển tuyệt mỹ ở Sierra Leone (châu Phi) Vịnh Vân Phong là một trong những
nguồn dự trữ của ngành du lịch nghỉ ngơi nhiệt đới ” (Dự án VIE89/003)
Huyện Khánh Sơn là huyện miền núi vùng cao ngăn cách với đồng bằng
của tỉnh bởi con đèo Khánh Sơn cao vời vợi Diện tích đất lâm nghiệp của Khánh
Trang 16Sơn chiếm đến 94% tổng diện tích tự nhiên Khánh Sơn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, lâm nghiệp Văn hoá truyền thống đầy bản sắc dân tộc được thể hiện qua bộ "Đàn đá Khánh Sơn" và "Văn hoá cồng chiêng" đặc trưng của vùng cao nguyên Nam Trung Bộ
Trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, Khánh Sơn từng là căn
cứ địa cách mạng với những mặt trận ác liệt như "Thung lũng tử thần", căn cứ Tô Hạp, sân bay Tà Nía
Khánh Sơn có nhiều loại lâm sản giá trị, đặc biệt nhựa cây Tô Hạp được dùng làm gia vị rất giá quí, nhựa thông ba lá, loại cây mọc thành rừng ở Khánh Sơn Chè Khánh Sơn thơm ngon, cây cà phê gần đây đã trở thành cây chủ lực của huyện
Huyện Khánh Vĩnh là huyện miền núi, địa phận huyện nằm ở đầu nguồn
của sông Cái Nha Trang Huyện lị là thị trấn Khánh Vĩnh nằm trên đường tỉnh lộ 2, cách Nha Trang 35km về phía tây Đường tỉnh 723, trục giao thông mới, nối liền
Nha Trang với Đà Lạt chạy qua thị trấn Khánh Vĩnh
Khánh Vĩnh là căn cứ địa cách mạng của quân dân Khánh Hòa trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến với các địa danh hào hùng như sân bay dã chiến Hòn
Xã, Hòn Nhạn, Soi Mít, Hòn Dù, buôn Gia Lê, Hòn Bà và căn cứ lịch sử Hòn Dữ
Núi sông Khánh Vĩnh rất hùng vĩ, tạo ra các kỳ quan thiên nhiên như: thác Ngựa, thác Hòn, thác Yang Bay có nhiều tiềm năng phát triển thủy điện, kết hợp với thủy lợi và cải tạo nguồn nước cho hạ lưu sông Cái Nha Trang
Khánh Vĩnh có diện tích rừng chiếm 90% diện tích tự nhiên với nhiều loại
gỗ quí, tổng trữ lượng gỗ của rừng Khánh Vĩnh lên đến 10 triệu m3 Khoáng sản có thiếc, cao lanh
Dân cư chủ yếu sống bằng nông nghiệp và lâm nghiệp Đồng bào các dân tộc thiểu số đã có cuộc sống định canh định cư, đã có tập quán sản xuất lúa nước tương đối ổn định và đang phát triển trồng mía thành vùng chuyên canh cây
nguyên liệu tập trung theo qui hoạch của tỉnh
Huyện đảo Trường Sa nằm về phía đông nam bờ biển Việt Nam, được thiết
lập dựa trên cơ sở là toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc Biển Đông, trải dài từ 6°50' - 12°00' vĩ độ Bắc và từ 111°30' - 117°20' kinh độ Đông Quần đảo Trường
Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 250 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) trên 600 hải lí và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lí Quần đảo Trường Sa nằm rải trên một vùng biển rộng, từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lí, từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 360 hải lí, chiếm một diện tích biển khoảng 160.000 - 180.000km2
Trang 17Quần đảo Trường Sa là một tập hợp hơn 100 đảo nhỏ, bãi đá ngầm hình thành từ san hô (nằm lập lờ hoặc nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống thấp), bãi cát ngầm, bãi ngầm Khoảng cách giữa các đảo cũng khác nhau, gần nhất khoảng 1,5 hải lí (giữa đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây), xa nhất đến 230 hải lí (giữa đảo Song Tử Tây đảo An Bang) Diện tích phần đất nổi khoảng 3 km2 Quần đảo Trường Sa được chia thành tám cụm đảo là Song Tử, Loại Ta , Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên Đảo có diện tích lớn nhấtlà đảo Ba Bình (khoảng 0,6km²), tiếp đến là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn Đảo cao nhất là đảo Song
Tử Tây, cao 4 - 6 m, khi thủy triều thấp nhất Bãi ngầm lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30 km; rộng 5 km (ngập nước khi triều lên)
Theo nghị định số 65/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, huyện Trường Sa có ba đơn vị hành chính trực thuộc là thị trấn Trường Sa (gồm đảo Trường Sa và các đảo, bãi
đá, bãi phụ cận), xã Song Tử Tây (gồm đảo Song Tử Tây và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận) và xã Sinh Tồn (gồm đảo Sinh Tồn và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận)
Trang 18Đảo Song Tử Tây (Ảnh: Vũ Ngọc Hoàng)
Đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùn cây, có
bề dày từ 5 đến 10cm Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại
Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loài cá tập trung với mật độ cao; nhiều loại hải sản quý như: hải sâm, rùa biển, cá ngừ, tôm hùm, rong biển và các loại ốc có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn, nếu được khai thác, chế biến tốt sẽ mang lại thu nhập lớn cho nhân dân và tạo sản phẩm xuất khẩu thu lợi nhuận cao cho Nhà nước Về tài nguyên khoáng sản, ngoài phốt phát vôi, đá san hô thì khu vực quần đảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn
Với vị trí ở giữa Biển Đông, quần đảo Trường Sa có thế mạnh về dịch vụ hàng hải, nghề cá, là địa điểm du lịch hấp dẫn trong và ngoài nước
Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Đương và Đại Tây Dương, giữa Châu Âu, Châu Phi, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc
Á, một tuyến đường huyết mạch có lưu lượng tàu thuyền tấp nập vào hàng thứ
2 trên thế giới (sau Địa Trung Hải) Hiện nay trên các đảo và bãi san hô đã có một số công trình kiên cố và nhà ở, dân cư sinh sống, có trường học, đền chùa,
có luồng vào, trên luồng có thiết bị phao dẫn luồng và phao buộc tàu tạo thuận lợi cho tàu thuyền tránh giông bão Trên đảo Song Tử Tây, An Bang đã có đèn biển của Tông công ti bảo đảm hàng hải Việt Nam, trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng theo dõi và thông báo các số liệu về thời tiết của vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khí tượng thế giới
Trong một vài thập kỉ tới, với tốc độ phát triển kinh tế cao của các nước trong khu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông sẽ tăng gấp hai, ba lần hiện nay, khi đó Biển Đông nói chung, vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa nói riêng có vai trò lớn trong thương mại quốc tế Đặc biệt ngay sau
Trang 19khi xây dựng xong kênh Kra ở Thái Lan, sẽ thu hút thêm một lượng tàu biển quốc tế lớn đi qua đây, tạo cơ hội cho chúng ta chia sẻ thị phần vận tải quốc tế, khi đó vùng biển Việt Nam và quần đảo Trường Sa sẽ trở thành chiếc “cầu nối” cực kỳ quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới
Sự liên kết giữa các đảo, cụm đảo, tuyến đảo của quần đảo Trường Sa tạo thành lá chắn quan trọng phía trước vùng biển và dải bờ biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ, bảo vệ sườn phía Đông của đất nước, tạo thành một hệ thống cứ điểm tiền tiêu để ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động lấn chiếm của tàu thuyền nước ngoài
Vì thế, từ lâu quần đảo Trường Sa luôn được các nhà quân sự, khoa học, chính trị đánh giá cao Sau khi xâm lược nước ta và đánh giá cao vị trí chiến lược của quần đảo Trường Sa, người Pháp đã tổ chức khảo sát, đo đạc, vẽ bản
đồ vùng Biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa Sau Hiệp định Gienève (Giơnevơ) năm 1954, Mỹ can thiệp, đưa quân vào miền Nam Việt Nam đã ủng
hộ và tạo điều kiện cho chính quyền Sài Gòn đóng giữ đảo Trường Sa, ép chính phủ Philippin cho Mỹ lập căn cứ hải quân và không quân trên lãnh thổ Philippin để khống chế lực lượng quân sự của các nước trong khu vực và đường hàng hải quốc tế qua Biển Đông Bàn về Biển Đông, nhiều nhà quân sự thế giới cho rằng ai làm chủ Hoàng Sa và Trường Sa sẽ làm chủ Biển Đông 3.2.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
a Địa hình
Địa hình Khánh Hòa tương đối phức tạp, cao từ tây sang đông , là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn Nam, đồng thời tiếp giáp Biển Đông nên có địa hình
đa dạng với địa hình núi, đồi, đồng bằng, ven biển và biển khơi
Vùng núi và bán sơn địa
Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 60 m Diện tích vùng đồi núi chiếm hợn 9/10 diện tích tự nhiên Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh núi cao, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với phần cuối phía nam của dãy Trường Sơn Nam nên địa hình núi khá đa dạng
Phía bắc và tây bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn 1000
m, trong đó có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264 m), Hòn Ngang (1128 m) và Hòn Giúp (1127 m) Dãy Vọng Phu - Tam Phong có hướng tây nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa ba tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên và Đắk Lắk
Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường có độ cao kém hơn, chủ yếu dưới 1000m, có các ngọn núi cũng là địa danh nổi tiếng như Hòn Giữ (căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ), Núi Chúa, Hòn Bà (núi của Bà Thiên Y A Na), Hòn Cù Lao (có Tháp Bà Pô Nagar) Vùng núi này có nhiều nhánh đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp
Trang 20Đến phía nam và tây nam, lại xuất hiện một vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có đỉnh Hòn Giao (2062 m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh Hòa Do có nhiều núi cao, mật độ chia cắt lớn bởi sông, suối tạo thành nhiều hẻm vực, thung lũng sâu, gây khó khăn cho giao thông Thung lũng Tô Hạp (cao 400m) khá bằng phẳng, thung lũng Ô Kha, được biết đến như một vùng nguy hiểm của ngành hàng không Việt Nam
Đồng bằng
Diện tích vùng đồng bằng khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển Do đó, để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì
Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135 km2; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km2 Cả hai đồng bằng này đều được cấu tạo
từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển
Bờ biển và biển ven bờ
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam Đường bờ biển dài khoảng 385 km, từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, là một trong những đoạn bờ biển khúc khuỷu nhất Việt Nam
Dọc bờ biển có các bán đảo là Hòn Gốm, Hòn Khói, Hòn Hèo, Cam Ranh,
có nhiều cửa lạch, đầm, vũng, vịnh, bãi triều, bãi cát mịn cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ
Khánh Hòa có các vịnh biển lớn là vịnh Vân Phong, vịnh Hòn Khói, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh Trong đó, nổi bật nhất là vịnh Cam Ranh với chiều dài 20 km, chiều rộng 10 km, thông với biển qua eo biển rộng 1,6
km, có độ sâu từ 18 - 20 m, và được xem là một trong các cảng biển có điều kiện
tự nhiên tốt nhất thế giới, sau cảng San Francisco của Hoa Kì, cảng Rio de Janeiro của Brasil
Vịnh Vân Phong dài 35 km, rộng 25 km, cách Nha Trang 80 km
Vịnh Nha Trang rộng khoảng 400 km2, đã được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộ Các vịnh đẹp nhất thế giới (tháng 5, năm 2003)
Các bãi biển và đầm nổi tiếng của Khánh Hòa là bãi biển Đại Lãnh, Dốc Lết, Đầm Môn, Nha Trang, Bãi Dài, đầm Nha Phu (rộng khoảng 100 km2, sâu nhất từ 3
-5 m), Thủy Triều
Trang 21
Vịnh Cam Ranh
Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp, địa hình vùng thềm lục địa phản ánh
sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra biển, không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà (Con Rùa) mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày nay đã bị nước biển phủ kín Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun
Xen giữa các đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các “đồng bằng biển”, đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh
Ngoài các đảo đá ven bờ, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảo Trường Sa Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách
đá vôi san hô, cao vài ba mét
b Địa chất – Khoáng sản
Về kiến tạo, phần lãnh thổ của tỉnh Khánh Hòa đã được hình thành từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía đông-nam của địa khối cổ Kom Tum, được nổi lên khỏi mặt nước biển từ đại Cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm Trong đại Trung sinh, cách đây 250 triệu năm, với 2 chu kỳ tạo sơn Inđôxini và Kimêri có ảnh hưởng đến Khánh Hòa Đến vận động Himalaya ở đại Tân sinh, cách đây 23 triệu năm, gây nên những biến động nhất định, dãy Trường Sơn Nam được nâng lên, sườn đông trở thành vách đứng chênh vênh về phía biển, đồng thời tạo các đứt gãy sâu dọc bờ biển nên động đất có thể xảy ra Do quá trình phong hóa vật lý,
Trang 22hóa học diễn ra trên nền đá granit, riôlit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, đa dạng và phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng
Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit và riôlit có nguồn gốc mác ma xâm nhập hoặc phún xuất kiểu mới Ngoài ra còn có các loại đá trầm tích
ở một số nơi như sa thạch, diệp thạch…
Khánh Hòa có nhiều loại khoáng sản như môlipđen, vàng sa khoáng, cao lanh, sét, sét chịu lửa, cát san hô, đá granit, …Trong đó, nổi bật nhất là cát thủy tinh ở Thủy Triều (Cam Lâm), trữ lượng ước tính khoảng 500 triệu tấn, chất lượng cát tốt bậc nhất thế giới với hàm lượng SiO2 đến 99,8%, là nguyên liệu quí giá cung cấp cho các nhà máy hóa chất và công nghiệp sản xuất thủy tinh quang học, pha lê; cát ở bán đảo Hòn Gốm (Vạn Ninh), trữ lượng khoảng 1 tỉ tấn; đá granit, trữ lượng 2 tỉ tấn; nước khoáng ở Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh; vàng sa khoáng ở Ninh Hòa, Vạn Ninh; thiếc ở Cam Ranh, Khánh Vĩnh Biển Khánh Hòa thuận lợi để khai thác muối (Ninh Hòa, Cam Ranh)
Trên quần đảo Trường Sa, ngoài phốt phát vôi, đá san hô, thì theo các chuyên gia, khu vực quần đảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn
Tài nguyên khoáng sản của Khánh Hòa là nguồn lực đáng kể để phát triển nhiều ngành công nghiệp, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh
c Khí hậu
Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa, đồng thời có những nét độc đáo với các đặc điểm riêng biệt so với các tỉnh, thành phía Bắc phía Nam Mùa hè không bị oi bức, mùa đông ấm áp
Nhiệt độ trung bình năm là 260C, tổng nhiệt độ khoảng 95000C, ánh sáng dồi dào, có số giờ nắng trung bình năm tới 2.600 giờ
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 mm, trong đó vùng đồng bằng ven biển phổ biến từ 1000 – 2000 mm, còn khu vực miền núi như huyện Khánh Sơn lượng mưa lên đến 2600 mm
Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến tháng 12, nhất là vào tháng 10 và tháng 11, mùa mưa chiếm đến 70 - 80% lượng mưa cả năm, nhiệt độ thay đổi từ 20 -27 °C ở Nha Trang và 20 - 28 °C ở Cam Ranh Những tháng còn lại từ tháng 1 đến tháng 8 xem như là mùa khô, thời tiết thay đổi dần, những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37 - 38 °C (ở Cam Ranh) Độ ẩm cao khoảng 80,5% Ở vùng núi cao (núi Hòn Bà, cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu mát mẻ như
Đà Lạt
Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam Các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào Khánh Hòa trong những năm gần đây
Trang 23thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay khi gần vào bờ Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt
Khí hậu, thời tiết của vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn so với các vùng ven bờ: mùa hạ mát hơn và mùa đông ấm hơn Một năm có thể chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Lượng mưa trung bình lớn, hơn 2500mm/năm Hằng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên Hiện tượng dông rất phổ biến, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông.Bão lớn cũng thường đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa
d Thủy văn
Dãy Trường Sơn Nam chạy gần sát biển nên các sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc Mạng lưới sông phân bố khá dày, mật độ dòng chảy của khánh Hòa là 0,5 – 1,0 km/km2 Cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía đông Dọc bờ biển, cứ khoảng 5–7 km có một cửa sông Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng tây - đông, nhưng tùy theo hướng của mạch núi hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi ở huyện Khánh Sơn, chảy về phía Ninh Thuận, đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy theo hướng đông - tây Sông ngòi Khánh Hòa có chế độ nước theo mùa, mức
độ tập trung lũ cao, mùa lũ từ tháng 10 – 12 Tuy nhiên, vào tháng 5 và 6 thường
có lũ tiểu mãn Hai con sông lớn nhất tỉnh là Sông Cái Nha Trang và sông Cái Ninh Hòa (sông Dinh)
Sông Cái Nha Trang có độ dài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân) Lưu vực có lượng mưa lớn 1750 mm, sông có lưu lượng trung bình 55,7 m3/s, mùa kiệt 7,32 m3/s Đây là con sông lớn nhất và lượng nước dồi dào nhất tỉnh Gắn liền với sông Cái (Nha Trang) là đồng bằng Diên Khánh – Nha Trang
Sông Cái Ninh Hòa (sông Dinh) bắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, có tổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua thị xã Ninh Hòa và đổ ra cửa Hà Liên, đầm Nha Phu Lưu lượng trung bình 23,9 m3/s, mùa kiệt 0,6m3/s Gắn liền với sông Cái ninh Hòa là đồng bằng Ninh Hòa
Sông của Khánh Hòa có tiềm năng về thủy điện, nguồn nước cho sản xuất
và đời sống Tuy nhiên, Khánh Hòa mưa tập trung chủ yếu trong 3 tháng mùa mưa (70 -80%), nhưng lại tổn thất do lượng bốc hơi lớn, cho nên mùa khô dễ bị thiếu nước
Khánh Hòa có nhiều hồ nhưng phần lớn là hồ nhỏ, nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo (hồ thủy lợi) Các hồ chủ yếu là Hòa Sơn, Đồng Điền (Vạn Ninh); Đá Bàn, Ba Hồ, Suối Trầu (Ninh Hòa); Vĩnh Lương, Đắc Lộc, Núi Sạn (TP Nha Trang ), Láng Nhớt,
Trang 24Suối Dầu, Suối Thương (Diên Khánh); Lệ Lương, Suối Cát, Suối Hành (TP Cam Ranh)
e Đất đai
Khánh Hòa có các nhóm đất chính sau:
- Đất phù sa có diện tích 39300 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở các vùng đồng bằng ven biển như Ninh Hòa, Diên Khánh, Vạn Ninh, Cam Ranh Đất khá giàu dinh dưỡng, được sử dụng để trồng lúa và màu
- Đất cát và cồn cát có diện tích 10550 ha, chiếm 2% diện tích tự nhiên, phân
bố dọc ven biển Đất có độ phì kém, nghèo mùn, chủ yếu trồng cây ăn quả và trồng rừng ven biển
- Đất măn và phèn có diện tích 7950 ha, chiếm 1,5% diện tích tự nhiên, phân
bố vùng ven biển ở Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Ranh Đất này thích hợp cho làm muối, nuôi trồng thủy sản
- Đất xám bạc màu có diện tích 24250 ha, chiếm 4,6% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng đồi núi bị thoái hóa, bạc màu Đất này có thể trồng màu và cây công nghiệp, nhưng cần phải đầu tư lớn
- Đất feralit đỏ vàng và các loại đất khác có diện tích lớn nhất với 443750
ha, chiếm 84,4% diện tích tự nhiên Đất feralit hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, phân bố chủ yếu ở khu vực đồi núi Đây là loại đất có thể trồng được các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, nhưng cần được canh tác đúng kĩ thuật và thường xuyên cải tạo
- Trên quần đảo Trường Sa, chất đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùn cây, có bề dày từ 5 đến 10cm., phát triển các cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại
Trang 25Vấn đề sử dụng đất, nhìn chung có một số đặc điểm sau:
- Đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế Hầu hết diện tích canh tác có điều kiện thuận lợi và vùng thấp ở hạ lưu các sông đã được khai thác Ở các vùng đất cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh lại thiếu nước tưới, nên còn khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác Đất nông nghiệp bình quân chỉ có 670 m2/người (năm 2000), thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước
- Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh Đất chưa sử dụng còn chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên, đây là tiềm năng lớn để phát triển nông lâm nghiệp Tuy nhiên, phần lớn các loại đất này là cồn cát, bãi cát, đất chua măn, đất đồi núi nghèo dinh dưỡng, phân bố rải rác Do
đó để khai thác vào phát triển nông, lâm nghiệp cần đầu tư vốn, kĩ thuật, thủy lợi…
f Tài nguyên rừng
Diện tích rừng hiện có 186,5 nghìn ha, trữ lượng gỗ 18,5 triệu m3, trong đó 64,8% là rừng sản xuất, 34% rừng phòng hộ và 1,2% là rừng đặc dụng Rừng phòng hộ có 34%, song hầu hết là rừng giàu ở khu vực núi cao, đầu nguồn các huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và thị xã Ninh Hòa Độ che phủ của rừng là 38,5%, lớn nhất là ở Khánh Vĩnh và Khánh Sơn Ngoài ra, Khánh Hòa còn có khoảng 104
ha rừng ngập mặn phân bổ rải rác ở các vùng ven bờ vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, cửa sông Vĩnh Trường (Nha Trang), đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh với khoảng 34 loài cây ngập mặn như: đước, đưng, bần trắng, mắm trắng, mắm biển…
Có thể nói, Khánh Hòa là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học rừng, bao gồm nhiều thành phần di cư từ nhiều luồng khác nhau từ Bắc vào Nam,
có cả các hệ thực vật Nam Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, trong đó có nhiều loài bản địa quý hiếm Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch (1996), cả tỉnh có 1.035 loài thực vật thuộc 559 chi và 161 họ Riêng Hòn Bà có 595 loài xếp trong
401 chi và 120 họ chiếm tới 57% số lượng loài thực vật của cả tỉnh
Sự phong phú về sinh học rừng Khánh Hòa còn đặc biệt được biết đến với
sự đa dạng về nguồn gen, nổi bật trong đó là cây Dó bầu (Aquilaria crassna), loài cung cấp các sản phẩm trầm kì nổi tiếng trong và ngoài nước.Trầm là lõi của cây
Dó bầu, bên trong lõi gỗ của những cây trầm già, nhất là những cây đang tàn lụi, thân nhiều u bướu, thường có một miếng mềm nhuyễn, tập trung cao độ tinh dầu thơm, năng hơn gỗ trầm, gọi là kì nam Kì nam có giá trị kinh tế và xuất khẩu rất lớn Từ xưa người trong nước, người nước ngoài, nhất là người Trung Quốc và Nhật Bản tìm đến Khánh Hòa “ xứ trầm hương” để mua kì nam Hiện nay do khai thác quá mức nên lâm đặc sản này đã bị mai một
Trang 26Trầm hương Khánh Hòa
Rừng Khánh Hòa đã bị suy giảm do chiến tranh, khai thác quá mức…làm cho các cây gỗ và lâm sản quí cũng mất dần theo như pơ mu, dó, nhựa thông, song mây, lá buông… Việc suy giảm tài nguyên rừng còn ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái như nạn xói mòn đất, nguồn nước cho các con sông cạn kiệt vào mùa khô, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt cho dân cư Những năm qua, nhà nước đã chú trọng việc bảo vệ rừng, tu bổ và trồng mới rừng làm cho diện tích rừng đang được tăng lên
g Tài nguyên biển
Vùng biển Khánh Hòa giàu về hải sản ước khoảng 150 nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%), khả năng cho phép cho phép khai thác 70 nghìn tấn, đặc biệt gần ngư trường lớn Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa-Vũng Tàu Ở các đảo ven bờ Khánh Hòa như Hòn Nội, Hòn Ngoại…là nơi cư ngụ của loài chim yến, hằng năm cho phép khai thác khoảng 2000 -3000 kg yến sào Đây là một đặc sản quí, có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao, còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, dược phẩm bổ dưỡng cao cấp
Trang 27Tổ chim yến
Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loại cá tập trung với mật độ cao; đặc biệt có vích là loài động vật quý hiếm và cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế cao
Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp
Sản xuất muối ở Ninh Diêm, Ninh Hòa (Ảnh: Đoàn Văn Xuân, 5/2013)
Dọc biển Khánh Hòa có nhiều bãi tắm đẹp như bãi biển Nha Trang, nằm ngay tung tâm thành phố, dài 6 km, bãi Tiên ở phía bắc thành phố; Dốc Lết (huyện Ninh Hòa), dai 4 km, Đại Lãnh (huyện Vạn Ninh), dài 2 km; Bãi Dài (huyện Cam Lâm) Dọc biển tập trung nhiều đảo có nhiều khả năng tổ chức du lịch như đảo Hòn Tre, quanh đảo có nhiều bãi đẹp như bãi Trũ, bãi Bích Đầm
Ðảo Hòn Mun là nơi thiết lập khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam có những rạn san hô với một quần thể sinh vật biển còn nguyên sơ, gần như độc nhất
Trang 28vô nhị không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Ðông Nam Á Ranh giới tạm thời của Khu bảo tồn biển Hòn Mun là vùng biển trong đó có các đảo: Hòn Tằm, Hòn Miễu, Hòn Nọc, Hòn Hố, Hòn Ðụn, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Tre Đây là những hòn đảo không chỉ có những cảnh đẹp trên bờ, dưới nước mà còn đem lại nguồn thu nhập lớn cho tỉnh Khánh Hòa, do có chim yến cư trú và làm tổ
Bờ biển Khánh Hòa bị cắt xẻ mạnh, tạo nên nhiều vũng, vịnh sâu, kín gió như vịnh Vân Phong, Hòn Khói, Nha Trang, Cam Ranh, cơ sở để xây dựng cảng biển, đặc biệt các cảng nước sâu
3.2.3 DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI
a Dân số
Năm 2011, Khánh Hòa có số dân là 1174,1 nghìn người, xếp thứ 5/8 tỉnh, thành phố của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, nhiều hơn số dân của thành phố Đà Nẵng, tỉnh Phú Yên và Ninh Thuận; đứng thứ 38/63 tỉnh, thành phố của cả nước
Dân số Khánh Hòa có xu hướng tăng dần qua các năm, nhưng tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm
Giai đoạn từ 1990 – 2000, dân số tăng từ 861,3 nghìn người lên 1049,6 nghìn người, trung bình tăng mỗi năm 18,83 nghìn người
Giai đoạn từ 2000 – 2010, dân số tăng từ 1049,6 nghìn người lên 1164,6 nghìn người, trung bình tăng mỗi năm 11,50 nghìn người
SỐ DÂN, DIỆN TÍCH VÀ MẬT ĐỘ DÂN SỐ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ NĂM 2011