1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm

75 518 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Quy Trình Hoàn Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Cục Thuế Tỉnh An Giang
Tác giả Huỳnh Hà Thái Dương
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Duy Nhứt
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ

TỈNH AN GIANG

(BẢN TĨM TẮT)

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S NGUYỄN DUY NHỨT HUỲNH HÀ THÁI DƯƠNG

LỚP: DH1KT3

Trang 2

Được sự hướng dẫn và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô trong bốn năm qua và được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị tại Cục thuế tỉnh An Giang

em đã hoàn thành bài khóa luận của mình

Em xin chân thành cảm ơn tất cả các quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp em có được nền tảng học vấn vững chắc phục vụ cho quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp và quá trình công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Duy Nhứt đã nhiệt tình hướng dẫn

em trong suốt thời gian làm khóa luận

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anh chị tại Cục thuế tỉnh An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận của mình

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu về lĩnh vực thuế còn quá ít, lại không có kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi nhiều thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến của quý thầy cô

Xin chân thành cảm ơn Long Xuyên, ngày 5 tháng 5 năm 2004

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Hà Thái Dương

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ - THUẾ GTGT 1

1 Khái niệm về thuế 1

2 Các đặc điểm của thuế Nhà nước 2

2.1 Thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước 2

2.2 Thuế Nhà nước là một hình thức động viên mang tính chất không hoàn trả trực tiếp 2

2.3 Thuế Nhà nước thuộc phạm trù phân phối chứa đựng các yếu tố kinh tế - xã hội 3

2.4 Trong nền kinh tế thị trường hình thức thu thuế bằng tiền là phổ biến 3

3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 3

3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước 3

3.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế 4

3.3 Thuế góp phần thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội 5

4 Phân loại thuế 6

4.1 Căn cứ vào đối tượng nộp thuế 6

4.1.1 Thuế trực thu 6

4.1.2 Thuế gián thu 7

4.2 Căn cứ vào đối tượng chịu thuế 7

5 Hệ thống Pháp luật về thuế 8

5.1 Thuế giá trị gia tăng 8

5.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp 8

5.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt 8

5.4 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 9

6 Thuế giá trị gia tăng 9

6.1 Khái niệm về thuế giá trị gia tăng 9

6.2 Đối tượng chịu thuế 10

6.3 Đối tượng nộp thuế 10

6.4 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT 10

6.5 Căn cứ tính thuế GTGT 11

6.5.1 Giá tính thuế GTGT 11

Trang 4

6.6.1 Phương pháp khấu trừ thuế 13

6.6.2 Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT 14

7 Cách sử dụng hóa đơn, chứng từ 15

8 Quy định về việc hoàn thuế GTGT 16

8.1 Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT 16

8.2 Hồ sơ hoàn thuế GTGT 18

Chương II: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THU THUẾ GTGT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 19

1 Đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 19

1.1 Đặc điểm tự nhiên và hành chính tỉnh An Giang 19

1.2 Đặc điểm dân cư 20

1.3 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang vài năm gần đây 20

1.3.1 Về kinh tế 20

1.3.2 Về văn hóa – xã hội 24

2 Khái quát về nhân sự của ngành thuế tỉnh An Giang 25

3 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh An Giang 26

3.1 Tình hình nhân sự tại Cục thuế tỉnh An Giang 26

3.2 Cơ cấu tổ chức của Cục thuế tỉnh An Giang 27

Sơ đồ tổ chức 29

3.3 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban 30

3.3.1 Phòng Tổng hợp, dự toán 30

3.3.2 Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế 30

3.3.3 Phòng Tin học và xử lý dữ liệu về thuế 31

3.3.4 Phòng Quản lý doanh nghiệp 31

3.3.5 Phòng Thanh tra 32

3.3.6 Phòng Tổ chức cán bộ 33

3.3.7 Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ 33

4 Tình hình và kết quả thu thuế GTGT trong vài năm gần đây 34

Chương III: CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ TỈNH AN GIANG 38

1 Điều kiện để đối tượng nộp thuế được hoàn thuế GTGT 38

1.1 Những trường hợp thông thường 38

1.2 Trường hợp đặc biệt 39

2 Trách nhiệm của đối tượng được hoàn thuế GTGT 39

Trang 5

3.1.1 Thẩm quyền giải quyết hoàn thuế 40

3.1.2 Thời gian xử lý hoàn thuế 40

3.1.3 Quy trình quản lý hoàn thuế tại Cục thuế tỉnh An Giang 41

3.1.4 Trách nhiệm của Cục thuế sau khi hoàn thuế và công việc kiểm tra, thanh tra 44

3.2 Trách nhiệm của kho bạc Nhà nước 45

4 Vấn đề quản lý hóa đơn của cơ quan thuế 46

4.1 Công tác quản lý hóa đơn của phòng Quản lý ấn chỉ 46

4.1.1 Công tác bán hóa đơn cho các cơ sở kinh doanh 46

4.1.2 Công tác quản lý hóa đơn 46

4.2 Công tác quản lý hóa đơn tự in 47

4.2.1 Ưu điểm của việc sử dụng hóa đơn tự in 47

4.2.2 Những tồn tại trong việc sử dụng hóa đơn tự in 47

5 Tình hình thực hiện hoàn thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh An Giang 48

6 Phương hướng, nhiệm vụ trong năm 2004 53

Chương IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOÀN THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH AN GIANG 54

1 Thuận lợi: 54

1.1 Về chính sách thuế 54

1.2 Về quản lý 54

2 Những tồn tại, hạn chế 56

2.1 Về chính sách thuế 56

2.2 Trong công tác quản lý thuế 56

3 Một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại 58

3.1 Tăng cường cung cấp dịch vụ cho đối tượng nộp thuế 58

3.2 Đảm bảo công tác giải quyết hoàn thuế đúng theo quy trình nghiệp vụ 59

3.3 Tăng cường công tác quản lý hóa đơn 59

3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra 61

3.5 Thực hiện phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong ngành thuế, giữa các ngành chức năng có liên quan với nhau 62

3.6 Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về thuế 62

3.7 Một số giải pháp khác 63

4 Kiến nghị 64 PHẦN KẾT LUẬN

Trang 6

Giá trị gia tăng: GTGT

Trang 7

* Các văn bản Pháp luật về thuế GTGT, TNDN

* Luật doanh nghiệp

* Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính

* Báo cáo tổng kết năm 1999 – 2003 của Cục thuế tỉnh An Giang

* Tạp chí Thuế Nhà nước, báo và bản tin về thuế

* Thông báo tình hình kinh tế - xã hội năm 2002, 2003 của Cục thống kê tỉnh An Giang

* Một số tài liệu khác có liên quan

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Chúng ta biết rằng, thuế là nguồn thu rất quan trọng, nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu ngân sách Nhà nước (khoản 70% - 80%) Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực là một vấn đề bức thiết mang tính tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia Vì vậy, vai trò của thuế ngày nay không chỉ dừng ở chỗ đảm bảo nguồn thu để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, mà nó phải đảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế quốc gia ngày càng phát triển

Vì vậy chính sách thuế đã được cải cách, sửa đổi cho phù hợp với xu hướng này Nhằm khuyến khích người dân mạnh dạn bỏ vốn ra đầu tư, khuyến khích các cơ sở kinh doanh mở rộng sản xuất… Bộ Tài chính đã ban hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật thuế doanh thu và thuế lợi tức nhằm khắc phục những nhược điểm của 2 Luật thuế này Những chính sách nhằm khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đầu

tư, tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:s

+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: Doanh nghiệp được miễn giảm thuế trong những năm đầu mới thành lập, trong thời gian đầu của các doanh nghiệp khi đầu tư thêm máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái Khi hoạt động bị lỗ sẽ được chuyển lỗ sang năm tiếp theo…

+ Thuế giá trị gia tăng đánh vào giá trị tăng thêm trong từng khâu của quá trình sản xuất nên không bị đánh thuế trùng lặp, thúc đẩy được sự chuyên môn hóa trong sản xuất Được hoàn thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; đầu tư tài sản cố định có giá trị lớn… đã khuyến khích được xuất khẩu phát triển, góp phần khuyến khích mạnh mẽ đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh với hiệu quả ngày càng cao

Trong quá trình áp dụng, bên cạnh những ưu điểm vốn có, công tác quản lý thuế của cán

bộ ngành cũng gặp không ít khó khăn Do một số đối tượng lợi dụng những kẻ hở do cơ chế thông thoáng và có nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư, kích thích sản xuất phát triển đã dùng mọi thủ đoạn gian lận tinh vi để trốn thuế

Đặc biệt là thuế GTGT, với cơ chế tính thuế theo phương pháp khấu trừ nhằm khắc phục được nhược điểm đánh thuế trùng lặp, khuyến khích các cơ sở mạnh dạn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu… nhưng đây cũng chính là kẻ hở để cho các đối tượng nộp thuế gian lận, trốn thuế với mục đích làm giảm tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước hoặc chiếm dụng tiền của ngân sách thông qua cơ chế hoàn thuế

Vấn đề nổi cộm và cấp thiết hiện nay là gian lận về việc mua bán hóa đơn; hóa đơn giả; mua bán khống, xuất khẩu khống và nhiều thủ đoạn gian lận khác qua mặt cán bộ ngành

Trang 9

mát to lớn cho xã hội, làm đau đầu các cơ quan chủ quản có liên quan, nhất là ngành thuế Cho nên, cần phải có ngay những giải pháp thiết thực ngăn chặn những hành vi gian lận này và những biện pháp xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, nhằm đảm bảo nguồn thu, tránh thất thoát cho NSNN, đem lại nhiều lợi ích cho toàn xã hội Vì tính cấp thiết của

nó, đó là lý do tôi chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY

TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH AN GIANG”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu về quy trình quản lý hoàn thuế tại Cục thuế tỉnh An Giang, phát hiện những hành vi gian lận và đề xuất biện pháp khắc phục

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Thu thập thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ ngành thuế

Các văn bản pháp luật về thuế GTGT

- Thu thập thông tin thứ cấp:

Bộ hồ sơ xin hoàn thuế trong một số trường hợp

Quyết định hoàn thuế của Cục thuế tỉnh An Giang

Các báo cáo kết quả thu thuế của Cục thuế tỉnh An Giang

Báo cáo tổng thu ngân sách của Cục thuế tỉnh An Giang

Thông tin trên sách, báo, tạp chí, truyền hình…

- Xử lý thông tin: Dùng phương pháp so sánh, phân tích, ước lượng, tổng hợp

4 Phạm vi nghiên cứu:

Luật thuế GTGT, Nghị định quy định chi tiết và thông tư hướng dẫn thực hiện thuế GTGT

Quy trình hoàn thuế GTGT

Báo cáo kết quả thu thuế của Cục thuế tỉnh An Giang

Bộ hồ sơ xin hoàn thuế của doanh nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ THUẾ - THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1 Khái niệm về Thuế:

Sau công xã nguyên thủy, xã hội loài người đã trải qua các chế độ xã hội có giai cấp, trong mỗi xã hội đó đều hình thành và tồn tại bộ máy Nhà nước, là tổ chức đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị để cai trị xã hội Cơ sở vật chất để bộ máy Nhà nước tồn tại là ngân sách Nhà nước, đó là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, hình thành từ nhiều nguồn lực tài chính khác nhau, trong đó nguồn thu chủ yếu là từ Thuế Như vậy sự ra đời, tồn tại và phát triển của Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước

Nhà nước bằng quyền lực của mình quy định các khoản đóng góp bắt buộc với dân chúng và các chủ thể khác trong xã hội Các khoản đóng góp đó có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như: ngày công lao động, hiện vật, bằng tiền Trong nền kinh tế thị trường chủ yếu được thực hiện bằng tiền

Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử Nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với Nhà nước, gắn liền với mục tiêu, chức năng của Nhà nước Thuế là một công cụ quan trọng mà Nhà nước nào cũng sử dụng để thực hiện chức năng của mình Thuế mang bản chất giai cấp của Nhà nước Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,

là người đại diện cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, vì vậy Thuế của nước ta ngoài việc trang trải cho bộ máy Nhà nước do nhân dân lập ra, còn nhằm phục vụ trở lại cho nhân dân thông qua các phúc lợi công cộng, bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh…

Có nhiều quan niệm khác nhau về Thuế:

+ Theo Philip E.Taylor: “Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho Chính

phủ để trang trải các chi phí và quyền lợi chung, mà ít căn cứ vào các lợi ích riêng được hưởng.”

+ Giáo sư Nghiêm Đằng thì cho rằng: “Thuế là một sự cung cấp tiền tài trực tiếp,

đòi hỏi ở các công dân bằng phương pháp quyền lực, để tài trợ các gánh nặng công cộng, sự cung cấp này có tính chất chung cục và không có đối giá.”

+ Theo tính chất kinh tế: “Thuế là một hình thức phân phối sản phẩm của xã hội và

thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân sáng tạo ra, hình thành nên quỹ tiền

tệ tập trung để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.”

Trang 11

+ Theo tính chất Pháp lý: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân

và pháp nhân được Nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp Luật, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.”

Các quan điểm trên tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thống nhất những nội chính của Thuế đó là:

+ Thuế là một biện pháp động viên của Nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước

+ Thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong

xã hội phải nộp vào NSNN

+ Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những chi phí nuôi bộ máy Nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng

+ Thuế là một hình thức phân phối thu nhập, được Nhà nước sử dụng để động viên phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào NSNN

Từ những nhận thức trên đây, chúng ta có thể đi đến khái niệm về Thuế như sau:

“Thuế là một khoản đóng góp của các cá nhân và tổ chức trong xã hội cho Nhà nước Khoản đóng góp này mang tính chất bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp, được Pháp luật quy định và được sử dụng theo chức năng của Nhà nước.”

2 Các đặc điểm của Thuế Nhà nước:

2.1 Thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước:

Tính bắt buộc của Thuế là tất yếu khách quan Bởi vì con người sẽ không tự nguyện nộp một phần thu nhập của mình đóng góp cho lợi ích chung của xã hội Trong xã hội bao giờ cũng có những người tự giác, nhưng lại có nhiều người chỉ thích “ăn không” họ sẽ không bao giờ tự giác trích một phần thu nhập để nộp cho Nhà nước Điều này kéo theo tất

cả mọi người sẽ không chịu tự giác đóng góp nữa Vì vậy, tính bắt buộc của Thuế phải được thể chế hóa trong Hiến pháp của mọi quốc gia Bằng quyền lực chính trị của mình, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước đã ấn định và ban hành các Luật thuế, bắt buộc tất cả mọi người phải thực hiện và không có quyền từ chối

2.2 Thuế Nhà nước là một hình thức động viên mang tính chất không hoàn trả trực tiếp:

Nộp thuế cho Nhà nước là nghĩa vụ của mọi công dân, Thuế không phải là một khoản đối giá và càng không phải là một khoản vay mượn Các thể nhân, pháp nhân không

Trang 12

có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp cho họ một lượng vật chất tương ứng với mức thuế mà họ đã nộp

Ta biết rằng trong các khoản động viên vào NSNN, ngoài thuế ra còn có các khoản mang tính chất thuế như phí và lệ phí Khác với thuế, phí là khoản động viên vào NSNN dùng để chi trở lại cho mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng đã định sẵn, lệ phí là khoản thu gắn liền với sự phục vụ trở lại của Nhà nước tương ứng với khoản người dân phải nộp

2.3 Thuế Nhà nước thuộc phạm trù phân phối chứa đựng các yếu tố kinh tế - xã hội:

Nguồn thu của thuế là kết quả của quá trình kinh tế Thuế Nhà nước luôn tác động đến lợi ích của các pháp nhân, thể nhân tồn tại và tham gia vào hoạt động của đời sống kinh

tế - xã hội

2.4 Trong nền kinh tế thị trường hình thức thu thuế bằng tiền là phổ biến:

Trong lịch sử đã tồn tại nhiều hình thức thu thuế như: thu bằng ngày công lao động, thu bằng hiện vật và thu bằng tiền Ở nước ta đã từng tồn tại cả ba hình thức trên, trong những năm trước khi chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, thì thuế nông nghiệp (thuế sử đất nông nghiệp hiện nay) được thu bằng thóc là hình thức thu bằng hiện vật, điều này cũng phù hợp với cơ chế

về giá cả thoát ly giá trị lúc bấy giờ và mọi thứ giá đều quy về thóc làm vật ngang giá chung Ngày nay, hầu hết các khoản thu thuế đều được thực hiện bằng tiền là phổ biến

Với những đặc điểm trên của Thuế cho thấy rằng Nhà nước dựa vào quyền lực của mình để ấn định các sắc thuế và mức thuế, bắt buộc mọi người nộp thuế phải thực hiện Nhờ

đó mà Nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên, đảm bảo trang trải các khoản chi diễn

ra trong hoạt động hàng ngày của Nhà nước

Tuy nhiên, mỗi Nhà nước mang tính giai cấp khác nhau, khi vận dụng đặc điểm của thuế đều tìm cách bảo vệ lợi ích của giai cấp mà Nhà nước đại diện Do đó Thuế mang bản chất giai cấp của Nhà nước đã ban hành ra nó

3 Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường:

Trong nền kinh tế thị trường, Thuế Nhà nước đóng vai trò hết sức to lớn, nó là nguồn thu ổn định thường xuyên để trang trải cho nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước và các phúc lợi công cộng, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo sự công bằng xã hội…

3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:

Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại các thu nhập ở nhiều lĩnh vực và trong phạm vi rộng lớn, như: lĩnh vực nông nghiệp, khâu sản xuất, thương mại, tiêu dùng

Trang 13

Phương thức huy động tập trung nguồn lực tài chính của Thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc Nguồn huy động tập trung thông qua Thuế là một phần tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra Nhờ đó mà một bộ phận đáng

kể thu nhập của xã hội được tập trung trong tay Nhà nước, đảm bảo chi tiêu theo chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đồng thời, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách đầy

đủ, nhanh chóng, thường xuyên và ổn định

Thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức được quy định dưới hình thức Pháp lý cao với kích thích vật chất, nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng

và hiệu quả kinh doanh

Ở nước ta nhất là sau khi Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa bị sụp đổ thì nguồn thu viện trợ không hoàn lại từ nước ngoài không còn chiếm tỷ trọng cao như trước, các quan hệ kinh tế đối ngoại chuyển thành quan hệ “có vay, có trả” nên từ đó cho đến nay Thuế trở thành là nguồn thu chủ yếu

Tuy nhiên với bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, vì vậy không phải để đảm bảo vai trò chủ yếu của Thuế thì Nhà nước phải thu thuế bằng mọi giá Việc tăng thu phải đặt trong mối quan hệ với quá trình tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay Nguồn thu của NSNN chỉ có thể gia tăng khi và chỉ khi nền kinh tế

có sự tăng trưởng đạt được năng suất và hiệu quả cao Thu thuế vừa đảm bảo nguồn thu cho NSNN, nhưng phải vừa đảm bảo khơi dậy sức dân

Trong tổng thu NSNN thì số thu về thuế luôn chiếm tỷ trọng cao so với tất cả các khoản thu Số thu từ kinh tế địa bàn của Tỉnh An Giang năm 2003 đạt 1.050 tỷ thì số thu từ thuế và các khoản có tính chất thuế là 839,2 tỷ, lớn nhất trong tất cả các khoản thu, chiếm 79,92% trong tổng thu NSNN

3.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế:

Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực còn chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó, như: đầu cơ, tích trữ, cạnh tranh không lành mạnh, những cơ sở kinh doanh

có nguồn lực tài chính mạnh nuốt chửng các CSKD có nguồn vốn ít, sau đó các CSKD này

sẽ độc quyền trên thị trường… Do đó, chính sách thuế được áp dụng thống nhất sẽ bảo đảm

sự cạnh tranh lành mạnh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

Tuỳ tình hình cụ thể, Thuế được sử dụng là công cụ góp phần điều tiết nền kinh tế,

từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối, điều chỉnh các thành phần kinh tế hoạt động theo định hướng phát triển của Nhà nước; điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành nghề, các địa phương, các vùng kinh tế, giữa thị trường trong và ngoài nước; điều chỉnh các quan

hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân

Trang 14

Vì lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng hoặc giảm Thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp, nhằm mục đích kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của các lĩnh vực, các ngành khác nhau của nền kinh tế Cụ thể: những ngành nghề phục vụ nhiều cho lợi ích công cộng như giáo dục, y tế… những ngành nghề sản xuất được khuyến khích như trồng trọt, chăn nuôi, làm muối… khuyến khích phát triển kinh tế ở vùng sâu, miền núi, hải đảo…sẽ được miễn, giảm thuế, còn những ngành, nghề có lợi nhuận cao sẽ bị đánh thuế cao Bên cạnh đó, những mặt hàng trong nước được bảo hộ thì sẽ quy định mức thuế suất nhập khẩu cao; những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu sẽ được quy định mức thuế suất thấp và ngược lại

Thuế còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, kiểm soát, thúc đẩy hạch toán kinh doanh, sắp sếp lại tổ chức lao động, tăng năng suất, hạ giá thành, tăng hiệu quả kinh tế Trong cơ chế thị trường ở Việt Nam cũng cần khắc phục tình trạng đánh giá quá cao vai trò điều tiết đối với nền kinh tế, dẫn đến việc xây dựng hệ thống thuế suất phức tạp, nhằm đáp ứng mọi yêu cầu kinh tế - xã hội Điều này làm cho chính sách Thuế bị nhiễu, thiếu tính khả thi, kém hiệu quả Cần quan tâm đến xu thế chung trên thế giới về tính trung lập của Thuế và Nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạt động của nhà doanh nghiệp

3.3 Thuế góp phần thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội:

Điểm nổi bật trong nền kinh tế thị trường đó là sự cạnh tranh quyết liệt Cơ chế thị trường tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp có tài sản, tiền vốn, kỹ thuật, khả năng kinh doanh, khả năng thích ứng cao với sự biến động của thị trường, chăm chỉ làm ăn cho phép

họ làm giàu một cách chính đáng

Tuy nhiên, với xu thế “mạnh được, yếu thua” đã phát sinh một số mặt tiêu cực làm rối loạn thị trường như: mua, bán chèn ép, thậm chí tìm mọi thủ đoạn tinh vi để triệt tiêu lẫn nhau để vươn lên và những hoạt động gian lận trốn lậu thuế Điều này đã dẫn đến một số người giàu lên nhanh chóng và cũng không ít người làm ăn thua lỗ dẫn đến giải thể, phá sản, tăng thêm đội quân thất nghiệp, làm cho nền kinh tế bị kìm hãm Xã hội có sự phân hóa giai cấp rõ rệt, thu nhập xã hội có sự chênh lệch lớn giữa các tầng lớp dân cư, khả năng tiêu dùng ngày càng cách xa nhau

Để thu hẹp khoản cách này thông qua hệ thống chính sách thuế, thông qua khả năng thu thuế, Nhà nước có thể sử dụng một phần để đáp ứng các khoản chi tiêu, thực hiện chính sách xã hội, phúc lợi công cộng, trợ cấp khó khăn, xóa đói, giảm nghèo… nhằm thu hẹp bớt khoản cách về thu nhập và khả năng tiêu dùng giữa các tầng lớp dân cư

Về nguyên tắc, sự bình đẳng và công bằng xã hội về thuế được thể hiện thông qua việc áp dụng chính sách động viên cho NSNN Sự công bằng về thuế áp dụng ở người có

Trang 15

không phải Nhà nước điều tiết mọi thành viên trong xã hội có thu nhập ngang nhau theo kiểu bình quân chủ nghĩa Thuế tạo điều kiện cho người làm ăn có hiệu quả, có năng suất cao hơn phải có thu nhập cao hơn nhiều lần so với người làm việc lười biếng, kém hiệu quả

Từ đó khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân cải tiến kỹ thuật, đầu tư chất xám, tăng cường quản lý để có thu nhập cao, hợp pháp Phải xử lý nghiêm minh các đối tượng trốn lậu thuế, các đối tượng dựa vào đặc quyền, ô dù để trốn lậu thuế Có như thế thì công bằng xã hội mới được thực hiện

4 Phân loại Thuế:

Căn cứ vào những tiêu thức nhất định người ta chia hệ thống thuế ra làm nhiều loại khác nhau Phân loại về thuế giúp cho việc hoạch định các chính sách về thuế được đúng theo chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, cũng như tạo nguồn thu đầy đủ cho NSNN

4.1 Căn cứ vào đối tượng nộp thuế:

Căn cứ vào đối tượng nộp thuế, tức ai là người nộp thuế, ta biết rằng trong các sắc thuế khác nhau thì có sự điều tiết khác nhau đối với bản thân người nộp thuế Có sắc thuế, người nộp thuế cho Nhà nước là nộp số tiền mà họ đã thu hộ từ một chủ thể khác, được gọi

là hình thức gián thu, ở hình thức này người chịu thuế không trực tiếp nộp thuế vì vậy hình như họ dễ chấp nhận hơn, đó là Thuế gián thu Có sắc thuế, người nộp thuế cho Nhà nước cũng chính là người chịu sự điều tiết của sắc thuế đó một cách trực tiếp, chính điều này bản thân họ thấy ngay rằng họ bị điều tiết thực sự của khoản thuế mà họ nộp, đó là Thuế trực thu

4.1.1 Thuế trực thu:

Bản chất kinh tế của Thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, tức là thuế đánh trực tiếp lên thu nhập của người nộp thuế, gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế nhà, đất

Ưu điểm của Thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập vừa thì nộp thuế ít hơn, người có thu nhập ít hoặc không

có thu nhập thì không phải nộp thuế

Nhưng Thuế trực thu cũng có mặt bất lợi của nó: việc tính toán phức tạp hơn, thường

là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuế cho nên thường rất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế, trường hợp thu thiếu thì phải thu thêm, thu thừa thì phải thoái trả Một trở ngại khác là thuế thu trực diện vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân nên về tâm lý là dễ bị phản ứng, dẫn đến tình trạng trốn thuế Vì vậy, phải sử

Trang 16

dụng thêm Thuế gián thu để hỗ trợ cho nhau, phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế

4.1.2 Thuế gián thu:

Gồm thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu… Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bằng cách cộng gộp số thuế đó vào giá bán hàng hóa, dịch vụ

Do đó người nộp thuế không phải là người chịu thuế, mà người chịu thuế chính là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Vì thế, nó khắc phục được nhược điểm của Thuế trực thu Đó chính

là ưu điểm của Thuế gián thu

Nhưng nhược điểm của Thuế gián thu chính là tính lũy thoái của nó Vì Thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩm hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nên có hiện tượng người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế trên thu nhập càng thấp, nghĩa là gánh nặng Thuế của người có thu nhập cao ít hơn những người có thu nhập thấp

4.2 Căn cứ đối tượng chịu thuế:

Đối tượng chịu thuế được hiểu là những của cải mà một Luật thuế nhất định tác động vào nó, điều tiết nó, phân phối nó Đối tượng chịu thuế có thể là giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ, có thể là các khoản thu nhập đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh, có thể là lợi tức nhận được hoặc một khoản tiền thu nhập từ trúng xổ số độc đắc…

Căn cứ theo đối tượng chịu thuế có thể phân thành các nhóm sau:

- Thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ như: thuế GTGT

- Thuế đánh vào một số sản phẩm hàng hóa như: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất, nhập khẩu…

- Thuế đánh vào tài sản như: Thuế nhà, đất…

- Thuế đánh vào một số tài sản của Nhà nước như: Thuế tài nguyên, Thuế về sử dụng đất nông nghiệp…

- Thuế đánh vào thu nhập như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao

Hệ thống thuế được áp dụng với nhiều đối tượng khác nhau như trên nhằm vừa phát huy tác dụng riêng của từng sắc thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau để đảo bảo thực hiện chức năng toàn diện của cả hệ thống thuế

Trang 17

5 Hệ thống Pháp Luật về Thuế:

Hệ thống thuế là toàn bộ các sắc thuế và các khoản thu mang tính chất thuế trong từng thời kỳ của một quốc gia Hệ thống thuế được coi là có hiệu quả kinh tế – xã hội khi các chính sách trong hệ thống thuế đáp ứng các yêu cầu huy động nguồn lực tài chính tập trung vào NSNN một cách ổn định, thường xuyên để trang trải các chi phí của bộ máy Nhà nước, các chi phí công cộng đem lại lợi ích cho cộng đồng Bên cạnh đó hệ thống thuế phải kích thích được phát triển kinh tế - xã hội , tạo sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư

Để thực hiện tốt vai trò của thuế, Nhà nước phải ban hành một hệ thống thuế bao quát hết mọi nguồn thu có thể khai thác, động viên cho NSNN từ mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, từ mọi nguồn thu nhập, tiêu dùng, tài sản… Mỗi sắc thuế chỉ đảm nhiệm một số chức năng, mục đích nhất định, đồng thời hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau để phát huy tác dụng toàn diện cả hệ thống thuế

Hệ thống thuế hiện hành ở nước ta bao gồm:

5.1 Thuế giá trị gia tăng:

Là loại Thuế gián thu, là nguồn thu quan trọng của NSNN Nó là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, căn cứ để tính thuế là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng đánh thuế, từ đó có ưu điểm là đánh thuế không trùng lặp, khuyến khích xuất khẩu Có 3 mức thuế suất là 0%, 5% và 10%

5.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp:

Là loại Thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Thuế thu nhập trực tiếp làm giảm lợi nhuận của đối tượng chịu thuế, nó có vai trò điều tiết thu nhập, định hướng phát triển sản xuất kinh doanh trong từng ngành nghề, góp phần thực hiện công bằng xã hội Thuế suất thuế thu nhập áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh là 28%, thuế suất đối với từng CSKD tiến hành tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 28% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng CSKD

5.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt:

Là loại Thuế gián thu, đánh vào giá trị của một số hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước hoặc nhập khẩu Thuế này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hướng dẫn sản xuất hoặc tiêu dùng, những hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là những loại hàng hóa không được khuyến khích sản xuất hoặc tiêu dùng

Trang 18

Ở nước ta thuế tiêu thụ đặc biệt tập trung vào một số hàng hóa như rượu, bia, thuốc

lá, bài lá, vàng mã, các loại hàng xa xỉ, cao cấp… Nó có tác dụng điều tiết những người tiêu dùng có thu nhập cao và hạn chế tiêu dùng những hàng hóa độc hại cho con người

5.4 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu:

Là loại Thuế gián thu, đối tượng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu Nó đóng vai trò quan trọng trong chính sách mở cửa với bên ngoài, đồng thời là vũ khí để bảo vệ kinh tế trong nước và là một nguồn thu lớn của NSNN

Ngoài ra, còn nhiều sắc thuế khác như:

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế nhà, đất

- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

- Thuế môn bài

- Thuế tài nguyên

6 Thuế giá trị gia tăng:

Mục đích ban hành thuế GTGT là để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hóa, dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN

6.1 Khái niệm về thuế giá trị gia tăng:

Thuế giá trị gia tăng là một loại Thuế gián thu, tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, được phép tính cộng vào giá bán của hàng hóa, do người tiêu dùng chịu

Vì thuế GTGT là một loại thuế gián thu, thu trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch

vụ, do người bán thu hộ Nhà nước lúc bán hàng, nó không ảnh hưởng đến doanh thu của người bán Mặt khác, đối với người tiêu dùng, việc thu thuế GTGT cũng được dễ dàng hơn,

do thuế GTGT không đánh trực tiếp vào thu nhập của người chịu thuế mà đánh vào việc chi tiêu hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng Nó không nhằm vào một địa chỉ nhất định, vì thế bản thân người chịu thuế biết mình phải nộp thuế nhưng dễ dàng chấp nhận hơn là Thuế đánh trực tiếp vào thu nhập Vả lại, thuế GTGT được tính vào giá nên người tiêu dùng không thể không nộp thuế nếu họ mua hàng hóa, dịch vụ, tức là họ không thể trốn thuế Điều này đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Thuế GTGT đánh vào từng loại hàng hóa, đánh vào sự tiêu dùng của người tiêu dùng, vì thế đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là khác nhau

Trang 19

6.2 Đối tượng chịu thuế:

Đối tượng chịu thuế là khách thể của Thuế, đó là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam

6.3 Đối tượng nộp thuế:

Đối tượng nộp thuế là chủ thể của Thuế, đó là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế ở Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là CSKD) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa dịch

vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT từ nước ngoài

Là loại Thuế gián thu nên người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế và nhà sản xuất, người bán hàng chỉ làm công việc thu thuế hộ Nhà nước từ người mua hàng hóa, dịch vụ thông qua việc cộng thuế GTGT vào giá thanh toán để nộp cho Nhà nước Điều này không làm ảnh hưởng đến thu nhập của các CSKD, đồng thời việc thu thuế từ người tiêu dùng cũng thuận lợi hơn, bảo đảm nguồn thu cho NSNN Việc định thuế suất cao hay thấp không ảnh hưởng đến kết quả lãi, lỗ của các CSKD, nhưng nếu định mức thuế suất thuế GTGT quá cao sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng (làm giảm tiêu dùng) Như vậy các CSKD không bán được hàng hóa sẽ làm ảnh hưởng đến sản xuất (giảm sản lượng) Cho nên Nhà nước cần phải cân nhắc mức thuế suất hợp lý để có thể khuyến khích được tiêu dùng và kích thích được sản xuất ngày càng phát triển, có như thế thì việc huy động nguồn thu từ thuế đóng góp vào NSNN mới có hiệu quả và ngày một tăng cao

6.4 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT:

Ngoài đối tượng chịu thuế đã được quy định, Luật còn quy định một số đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT nhằm khuyến khích một số ngành, nghề này phát triển Đối tượng không thuộc diện chịu thuế được quy định bao gồm 28 khoản, có thể phân thành một số nhóm như sau:

+ Một số ngành, nghề được khuyến khích sản xuất như: sản phẩm muối; sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng; sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt…

+ Khuyến khích đầu tư công nghệ mới, hiện đại loại trong nước chưa sản xuất được + Các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho lợi ích xã hội như: xe buýt, xe điện, giáo dục,

y tế, văn hóa, nghệ thuật, một số loại bảo hiểm; các dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố, khu dân cư…

+ Các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho an ninh, quốc phòng

+ Một số trường hợp không thuộc diện chịu thuế vì nó không phục vụ cho tiêu dùng trong nước

Trang 20

* Giá tính thuế GTGT là giá hàng hóa, dịch vụ của các CSKD bán cho người mua chưa tính thuế GTGT

Giá tính thuế bao gồm cả (+) khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch

vụ mà CSKD được hưởng, nó bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu phải nộp (nếu có), trừ (-) các khoản phụ thu và phí cơ sở phải nộp NSNN

* Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ

* Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như tem bưu chính,

vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết… ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT, giá chưa

có thuế được xác định như sau:

Giá chưa có Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem…) thuế GTGT = -

1+ (%) thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó

6.5.2 Thuế suất thuế GTGT:

Thuế suất thuế GTGT trước đây gồm có 4 mức thuế suất: 0%, 5%, 10% và 20%

- Mức thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là do hàng hóa, dịch vụ đó không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam

- Mức thuế suất 5% áp dụng đối với những những sản phẩm là hàng hóa, dịch vụ thuộc những ngành, nghề được Nhà nước khuyến khích đẩy mạnh sản xuất trong nước

Trang 21

- Mức thuế suất 10% áp dụng đối với những sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ thông thường

- Mức thuế suất 20% áp dụng đối với những sản phẩm là hàng hóa, dịch vụ có ưu thế, hoạt động kinh doanh có doanh thu và lợi nhuận cao

* Với nhiều mức thuế suất như thế nó làm cho việc tính thuế, thu và nộp thuế trở nên phức tạp Việc chọn các tiêu thức để phân định các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế theo từng mức thuế suất gặp nhiều khó khăn Đồng thời, thuế GTGT với nhiều mức thuế suất làm cho các doanh nghiệp phải hao tốn thêm công sức trong việc hoạch định chiến lược sản xuất, chiến lược mặt hàng, bởi vì họ phải đưa thêm một thông số vào tính toán – đó là mức thuế suất thuế GTGT của từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể Mặt khác, việc áp dụng nhiều mức thuế suất cũng làm cho hiện tượng phân phối thuế phải thu trong từng công đoạn không đều nhau, có khâu phải thu nhiều của người tiêu dùng, có khâu lại thu ít, có khâu lại không thu, đồng thời thuế hoàn và truy thu cũng tăng lên một cách không đáng có, làm tiêu hao công sức và của cải của xã hội

Vì vậy, sau một thời gian thực hiện nguồn thu ngân sách đã đi vào ổn định, một số ngành, nghề cần được khuyến khích sản xuất đã có vị trí khá vững vàng, Nhà nước nên thu gọn số lượng mức thuế suất, tiến đến thuế GTGT một mức thuế suất áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nước

Hiện nay, thuế GTGT chỉ còn 3 mức thuế suất: 0%, 5% và 10% Ở mỗi mức thuế suất với từng trường hợp được quy định cụ thể như sau:

- Mức thuế suất 0%: Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng hóa gia công

xuất khẩu, hàng hóa dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu

- Mức thuế suất 5%: Ở mức thuế suất này trước đây chỉ có 13 nhóm hàng hóa, dịch

vụ Nhưng hiện nay đã lên đến 21 nhóm, chủ yếu là các loại sản phẩm hàng hóa thiết yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng hàng ngày ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân

- Mức thuế suất 10%: Được áp dụng chủ yếu vào các đối tượng là hàng công nghệ,

xây dựng, dịch vụ, tư vấn và các loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng điều chỉnh của mức thuế suất 0% và 5%

Việc giảm số lượng mức thuế suất từ 4 mức xuống còn 3 mức thuế suất là một sự cải cách đáng kể trong quá trình hoàn thiện hơn Luật thuế GTGT ở nước ta

Trang 22

6.6 Phương pháp tính thuế GTGT:

Là cách thức xác định số thuế GTGT mà CSKD phải nộp thay cho người tiêu dùng vào NSNN Thông thường các nước trên thế giới chỉ áp dụng 1 phương pháp tính thuế GTGT đó là phương pháp khấu trừ thuế Nhưng do tình hình thực tế ở nước ta với nhiều CSKD nhỏ lẻ, kinh tế cá thể ở quy mô hộ gia đình, vì thế đã phân thành 2 phương pháp tính thuế GTGT cho phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta hiện nay

Hai phương pháp tính thuế GTGT, đó là:

+ Phương pháp khấu trừ thuế

+ Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Sở dĩ phải chia ra thành 2 phương pháp vì phương pháp khấu trừ thuế đòi hỏi CSKD phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và ghi chép sổ sách kế toán theo đúng quy định của chế độ

kế toán hiện hành Luật thuế GTGT còn rất mới ở nước ta, mặt khác ở nước ta đa số là những hộ kinh doanh nhỏ, lẻ, CSKD ở quy mô nhỏ chưa có thói quen sử dụng hóa đơn, chứng từ và ghi chép sổ sách kế toán theo đúng quy định Đặc biệt là người tiêu dùng khi mua hàng hóa chưa có nhu cầu lấy hóa đơn bán hàng, nên chưa thể áp dụng một phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Vì vậy, các CSKD chưa thực hiện được những quy định vừa nêu thì phải tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT

6.6.1 Phương pháp khấu trừ thuế:

Là cách tính thuế GTGT phải nộp vào NSNN bằng cách lấy số thuế GTGT (đầu ra)

mà cơ sở sản xuất kinh doanh phải nộp do xuất bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trừ (-) đi số thuế GTGT (đầu vào) mà cơ sở sản xuất kinh doanh đã nộp trong giá mua vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh

- Đối tượng áp dụng:

Các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế trên GTGT

- Phương pháp xác định thuế GTGT phải nộp:

Số thuế GTGT phải nộp bằng (=) số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-)

số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được khấu trừ

Công thức:

Số thuế GTGT = Thuế GTGT - Thuế GTGT đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ

Trang 23

Trong đó:

* Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu

* Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân (x) Thuế suất

* Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: Là thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT

+ Căn cứ để xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu

+ Thời điểm xác định được khấu trừ thuế GTGT: Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch

vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng, được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt xuất dùng hay còn để trong kho Trường hợp hóa đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau, thời gian tối

đa là 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh

Riêng đối với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo quy định của Chính phủ

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ thuế đầu vào phải:

· Được cơ quan Hải quan xác nhận là hàng hóa đã thực xuất khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu

· Có hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên nước ngoài

· Được thanh toán qua ngân hàng, trừ trường hợp thanh toán bù trừ giữa các hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước và một số thanh toán đặc biệt khác

· Được Chính phủ quy định cụ thể thủ tục, điều kiện thanh toán đối với hàng hóa, dịch

vụ xuất khẩu được khấu trừ thuế đầu vào

6.6.2 Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:

* Đối tượng áp dụng:

- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế

- CSKD mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ

Trang 24

* Phương pháp xác định thuế GTGT phải nộp:

Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bằng (=) doanh số trừ (-) cho giá vốn của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra, sau đó nhân (x) cho thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó

Công thức:

Số thuế GTGT Thuế suất thuế GTGT GTGT = của hàng hóa, dịch vụ x của hàng hóa,

phải nộp chịu thuế dịch vụ đó

GTGT của Doanh số của hàng Giá vốn của hàng hóa, Hàng hóa, dịch vụ = hóa, dịch vụ bán ra - dịch vụ bán ra

* Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với từng CSKD như sau:

- Đối với CSKD đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ

- Đối với CSKD đã thực hiện đầy đủ hóa đơn, chứng từ bán hàng hóa, dịch vụ nhưng không có đủ hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT được xác định như sau:

GTGT = Doanh thu (x) Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu

- Đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hóa đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ thì cơ quan Thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ

ấn định mức doanh thu tính thuế, GTGT được xác định như sau:

GTGT = Doanh thu ấn định (x) Tỷ lệ (%) tính trên doanh thu

7 Cách sử dụng hóa đơn, chứng từ:

Hóa đơn là bằng chứng chứng minh thực tế việc mua, bán hàng hóa bằng giấy tờ theo mẫu do Bộ Tài Chính quy định hoặc do cơ sở sản xuất kinh doanh tự in theo những điều kiện được quy định và được chấp thuận của cơ quan Thuế

Trang 25

- CSKD thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì khi bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hóa đơn, chứng từ, kể cả trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- CSKD nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hóa, dịch vụ phải sử dụng hóa đơn bán hàng Giá bán ghi trên hóa đơn là giá đã có thuế GTGT

- CSKD trực tiếp bán lẻ hàng hóa cho người tiêu dùng đối với hàng hóa có giá bán dưới mức quy định phải lập hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng, nếu cơ sở không lập hóa đơn thì phải lập bảng kê hàng hóa bán lẻ theo mẫu bảng kê của cơ quan Thuế để làm căn cứ tính thuế GTGT Trường hợp nếu người mua yêu cầu lập hóa đơn thì phải lập theo đúng quy định

- Khi lập hóa đơn, CSKD phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hóa đơn

8 Quy định về việc hoàn thuế giá trị gia tăng:

Hoàn thuế giá trị gia tăng là khoản tiền Nhà nước hoàn trả lại cho cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, thông qua cơ chế khấu trừ thuế các CSKD có số thuế GTGT đầu ra phải nộp nhỏ hơn số thuế GTGT đầu vào đã nộp thì sẽ được hoàn lại phần chênh lệch, do CSKD đã nộp nhiều hơn số thuế đầu ra phát sinh theo quy định của từng trường hợp cụ thể

8.1 Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT:

8.1.1 CSKD thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:

- CSKD trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết

Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế Trường hợp này áp dụng cho cả CSKD có đầu tư mới, đầu tư chiều sâu

- CSKD trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng Trường hợp trong tháng thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết bao gồm cả thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng được tính vào số thuế được hoàn trong tháng

Đối với quy định này đã góp phần tích cực hơn trong việc khuyến khích các CSKD xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ Giúp cho CSKD thu hồi được vốn một cách nhanh chóng để tái đầu tư phục vụ kịp thời cho lần xuất khẩu tiếp theo, đảm bảo uy tín cho CSKD

Trang 26

8.1.2 Đối với CSKD đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế theo

phương pháp khấu trừ thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên trong từng quý thì được xét hoàn thuế theo quý

8.1.3 Đối với CSKD thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có

dự án đầu tư của cơ sở sản xuất đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho

dự án đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý CSKD phải kê khai, lập

hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư

Những quy định về việc hoàn thuế GTGT đối với những dự án đầu tư mới, đầu tư

mở rộng, nâng cấp máy móc, thiết bị… đã góp phần thiết thực vào việc khuyến khích sự đầu

tư đối với các tổ chức và các nhân nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới

8.1.4 CSKD quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản,

chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có thuế GTGT nộp thừa, số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết

8.1.5 CSKD được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy

- Đối với các dự án sử dụng vốn ODA thuộc diện NSNN đầu tư không hoàn trả: chủ

dự án hoặc nhà thầu chính được hoàn lại số thuế GTGT đã trả khi nhập khẩu hoặc mua hàng hóa, dịch vụ trong nước sử dụng cho dự án

8.1.7 Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức cá nhân nước

ngoài mua hàng hóa tại Việt Nam có thuế GTGT để viện trợ nhân đạo, thì được hoàn lại số thuế GTGT của hàng hóa đó

Trang 27

8.1.8 Đối tượng được miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh về Ưu đãi

miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam theo giá có thuế GTGT để sử dụng thì được hoàn lại số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT

8.2 Hồ sơ hoàn thuế GTGT:

Để được giải quyết hoàn thuế CSKD phải gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ hoàn thuế tới cơ quan quản lý thu thuế cơ sở Hồ sơ hoàn thuế gồm những biểu, mẫu sau:

- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại

- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan đến việc xác định thuế GTGT được hoàn

- Biên bản thanh lý hợp đồng xuất khẩu hoặc ủy thác gia công hàng xuất khẩu

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở

- Hình thức thanh toán, số, ngày, số tiền của chứng từ thanh toán tiền hàng hóa, dịch

Tùy theo từng trường hợp mà có quy định bộ hồ sơ hoàn thuế cho phù hợp

(Đính kèm bộ hồ sơ hoàn thuế cho từng trường hợp ở phần phụ lục)

Trang 28

CHƯƠNG II:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THU THUẾ GTGT TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH AN GIANG

1 Đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang:

1.1 Đặc điểm tự nhiên và hành chính tỉnh An Giang:

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một phần nằm trong vùng Tứ Giác Long Xuyên, là tỉnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo Kinh tế chủ yếu là nông – công nghiệp

An giang có diện tích tự nhiên là 3.424 km2 Có 11 đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện (Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn) Là tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long (phần ở Việt Nam), nằm ở vị trí: phía Bắc tây bắc giáp Campuchia, Tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, Nam giáp với tỉnh Cần Thơ và phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp

Thế mạnh của An Giang là trồng lúa và nuôi trồng thủy sản, bởi vì hai nhánh lớn của

hạ lưu sông Mê Kông là sông Tiền Và sông Hậu đều chảy qua An Giang Hàng năm 2 con sông này mang đến cho vùng đất An Giang một lượng phù sa màu mỡ rất thích hợp cho việc trồng lúa nước và nhiều loại hoa màu khác

Bên cạnh nhiều thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi, An Giang phải chịu những thiệt hại nặng nề do lũ, lụt, sụp lở, chua phèn, ngập mặn… gây ra Nhưng hiện nay An Giang đã xây dựng thành công nhiều công trình thủy lợi nhằm hạn chế tác hại của lũ, và những công trình

đê bao khép kín chống lũ triệt để đã giúp nhân dân sản xuất lúa 3 vụ trong năm an toàn, không còn bị ảnh hưởng của lũ, kinh tế ngày một phát triển hơn

An Giang có địa hình rất đặc biệt, nó là một vùng có cả đồng bằng, rừng và núi Tạo điều kiện thuận lợi phát triển một nền kinh tế đa dạng như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thêm vào đó ở vùng núi An Giang với những bãi cỏ rất thích hợp cho việc nuôi bò, dê mang lại giá trị kinh tế cao

Bên cạnh sự phát triển của ngành nông nghiệp, An Giang đang ra sức đầu tư, phát triển ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến thực phẩm Nhằm mục đích đưa sản phẩm nông nghiệp của An Giang tiêu thụ trong cả nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới Vùng đất An Giang với cảnh sắc thơ mộng, còn có nhiều di tích lịch sử và khu văn hóa, điều này khá thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch ở An Giang

Trang 29

Về hệ thống giao thông, An Giang có hệ thống các đường giao thông thủy, bộ rất

thuận tiện Với trục lộ 91 nối quốc lộ số 2 của Campuchia; sông Tiền, sông Hậu là con

đường giao lưu quốc tế quan trọng nối ĐBSCL với các nước Campuchia, Lào, Thái Lan

An Giang còn có nhiều cửa khẩu với Campuchia như cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương

(thuộc huyện Tân Châu), cửa khẩu Tịnh Biên (thuộc huyện Tịnh Biên), cửa khẩu Khánh

Bình, Vĩnh Hội Đông, Đông Đức (thuộc huyện An Phú)… với mối quan hệ giao lưu kinh tế

giữa An Giang và Campuchia đã có từ lâu, ngày nay đó là một trong những điều kiện khách

quan, thuận lợi để nền kinh tế An Giang và cả nước nhanh chóng hội nhập cùng nền kinh tế

khu vực và thế giới

1.2 Đặc điểm dân cư:

Theo số liệu năm 2003 của Cục thống kê thì dân số của tỉnh An Giang là 2.155.121

người, sống ở nông thôn chiếm tỷ trọng khoản 73%, giảm khoản 3% so với năm 2002 Mật

độ dân số trung bình: 629 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1.427%/năm

1.3 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang vài năm gần đây:

1.3.1 Về kinh tế:

Trong vài năm gần đây, kinh tế của An Giang gặp nhiều khó khăn, liên tiếp bị lũ lụt

tàn phá nặng nề gây nhiều thiệt hại cho đời sống nhân dân, làm cho kinh tế tỉnh nhà giảm

sút Tiếp đến là vụ kiện cá da trơn gây tổn thất to lớn cho người dân nuôi cá bè trong tỉnh,

giá trị xuất khẩu thủy sản giảm mạnh… Trước những khó khăn, thử thách Tỉnh ủy và chính

quyền các cấp đã tích cực chủ động lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ các cấp, các ngành có liên

quan, cùng với sự quyết tâm của nhân dân đã từng bước vượt qua khó khăn và khôi phục lại

nền kinh tế với thành tích đáng tự hào Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 3 năm 2001, 2002,

2003 như sau:

TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

ĐVT: % Năm

2001 2002 2003 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 4,52 10,54 9,13

+ Khu vực công nghiệp-xây dựng 11,65 10,84 12,77

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang năm 2002, 2003)

- Năm 2001 với tốc độ tăng trưởng GDP là 4,52%, tốc độ tăng trưởng chậm nhất

trong 12 năm vừa qua Nguyên nhân chủ yếu là do ngành nông nghiệp là thế mạnh của An

Trang 30

Giang, nhưng trong năm lại có mức tăng trưởng âm (-) Nguyên nhân: do lũ tăng cao đột ngột và kéo dài gây thiệt hại nặng nề cho nông dân; mặt khác giá lúa năm này lại giảm thấp, thấp hơn cả giá thành sản xuất; đồng thời tỉnh còn gặp khó khăn trong việc xuất khẩu cá da trơn làm kim ngạch xuất khẩu thủy sản giảm mạnh

- Trước những khó khăn trên, trong năm 2002 Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp và chỉ đạo điều hành có hiệu quả Các ngành, các cấp ra sức khôi phục lại nền kinh tế Và năm 2002 nền kinh tế của tỉnh đã hồi phục một cách tuyệt vời, từ tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2001 là 4,52% lên 10,54% và đến năm 2003 vẫn giữ được tốc

độ tăng trưởng cao, đạt 9,13% Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh trong 3 năm 2001, 2002, 2003 như sau:

TỔNG SẢN PHẨM TRONG TỈNH (GDP)

(Theo giá so sánh 1994)

ĐVT: triệu đồng

Thực hiện năm 2001

Thực hiện năm 2002

Ước năm

2003

Tăng trưởng

2002 so

2001 (%)

Tăng trưởng

2003 so

2002 (%)

GDP phân theo khu vực kinh tế 7.067.383 7.812.584 8.525.979 10,54 9,13

1 Khu vực nông, lâm-thủy sản 2.826.073 3.118.106 3.203.729 10,33 2,75

2.Khu vực CN-xây dựng 1.065.321 1.180.817 1.331.565 10,84 12,77

- Công nghiệp khai thác mỏ 29.047 39.316 43.429 35,35 10,46

- SX và phân phối điện nước 69.347 81.318 95.020 17,26 16,85

(Nguồn: Thông báo tình tình kinh tế xã hội của Cục thống kê tỉnh An Giang năm 2002, 2003)

- Trong năm 2001, tổng sản phẩm của tỉnh là 7.067.383 triệu đồng, trong đó:

+ Khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 2.826.073 triệu đồng, chiếm 39,99%

+ Khu vực công nghiệp xây dựng đạt 1.065.321 triệu đồng, chiếm 15,07%

+ Khu vực dịch vụ đạt 3.175.988 triệu đồng, chiếm 44,94%

Trang 31

- Trong năm 2002, tổng sản phẩm của tỉnh đạt 7.812.584 triệu đồng, tăng 10,54% so với năm 2001, trong đó:

+ Khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 3.118.106 triệu đồng, tăng 10,33% so với năm

2001, chiếm 39,87% Nổi bậc là sản lượng lúa đạt trên 2,59 triệu tấn, tăng 480 ngàn tấn tương đương 22,7% so với năm 2001 Sản lượng cá đạt trên 111 ngàn tấn, trong đó cá bè trên 58 ngàn tấn… Đồng thời, trong năm này giá lúa và cá khá cao đem lại nhiều lợi nhuận cho người dân

+ Khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.180.817 triệu đồng, tăng 10,84% so với năm 2001, chiếm 12,53% Nhưng mức tăng trưởng này lại không cao so với các năm trước

đó Trong khu vực này nổi bậc là thủy sản chế biến đạt 19.000 tấn, tăng 65% so với năm 2001; ciment các loại đạt 235.000 tấn, vượt 36,6%; quần áo may sẵn đạt 5,5 triệu cái gấp 2 lần kế hoạch… bên cạnh đó vẫn còn một số sản phẩm chưa đạt kế hoạch như trụ bê tông ly tâm, trung đại tu ôtô… đã làm ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng chung của khu vực + Khu vực dịch vụ đạt 3.513.661 triệu đồng, tăng 10,63% so với năm 2001, chiếm 47,6%

Xuất khẩu cả năm ước đạt 144 triệu USD, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là gạo và cá (gạo: 62 triệu USD, cá: 60 triệu USD)

Trong năm này lượng gạo xuất khẩu chỉ được 317.509 tấn, bằng 68,7% so với cùng kỳ, do khó khăn về thị trường và giá cả, nhưng bù lại thị trường gạo nội địa tăng mạnh

Mặt hàng thủy sản đông lạnh đã xuất được 23.523 tấn, tăng 87,6% so cùng kỳ, trong đó cá xuất được 23.330 tấn, tăng 91,4% và rau củ đông lạnh xuất được 1.936 tấn, tăng 42,1%

Bộ phận thương nghiệp tăng 15,8%; giao thông vận tải và thông tin liên lạc tăng 12,1%; tài chính tín dụng tăng 11,12%… Hoạt động du lịch đã dần dần đi vào hiệu quả, doanh thu tăng 32% so với cùng kỳ

- Đến năm 2003, kinh tế của tỉnh vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, tăng 9,13% so với năm 2002, tổng sản phẩm của tỉnh đạt 8.525.979 triệu đồng Trong đó:

+ Khu vực nông, lâm, thủy sản chỉ tăng 2,75%, đạt 3.203.729 triệu đồng, chiếm 37,65% Sở dĩ tốc độ tăng trưởng thấp là do gặp thời tiết không thuận lợi, đặt biệt là khi sản xuất lúa vụ 3 đã bị ảnh hưởng của bão lúc thu hoạch nên năng suất lúa giảm; do nắng nóng kéo dài đã xảy ra 3 vụ cháy rừng gây thiệt hại nặng nề, diện tích thiệt hại tăng 15,63 ha so với cùng kỳ; về thủy sản số lồng nuôi cá bè giảm đáng kể, giảm 21,6% (875 cái), và do nước kém lượng đánh bắt thủy sản chỉ đạt 71.000 tấn, giảm 10%… Nhưng riêng về hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, diện tích nuôi tôm và khai thác lâm sản đều có tốc độ tăng khá

Trang 32

Sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã đi vào tăng tốc và đảm bảo phát triển đúng hướng

về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ tăng dần lên, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản đang giảm dần thể hiện qua cơ cấu GDP trong 3 năm 2001, 2002, 2003 như sau:

TỶ TRỌNG CỦA CÁC NGÀNH TRONG TỔNG GDP CỦA TỈNH

ĐVT: % Năm

2001 2002 2003

Khu vực công nghiệp - xây dựng 15,07 12,53 12,73

(Nguồn: Thông báo tình hình kinh tế xã hội của Cục thống kê tỉnh An Giang năm 2002, 2003)

An Giang còn nhiều tiềm năng kinh tế cần được khai thác, ví dụ như ngành công nghiệp còn non trẻ cần được quan tâm phát triển nhiều hơn, dần dần chuyển dịch kinh tế theo cơ cấu công – nông nghiệp hiện đại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đưa khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng hàng nông sản Kết hợp với phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm để chế biến hàng nông sản do chính mình làm ra, nâng cao hiệu quả kinh tế, từ đó cải thiện được đời sống của nhân dân trong tỉnh (nhất là người nông dân) Bên cạnh đó cần phải

có những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng tốc độ phát triển các ngành trong khu vực dịch vụ, khu vực tỉnh còn tiềm năng phát triển lớn Nâng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ trong nền kinh tế tỉnh nhà

1.3.2 Về văn hóa – xã hội:

- Về thu nhập của người dân: trong năm 2003, GDP bình quân là 6,2 triệu

đồng/năm/người, tăng 0,6 triệu đồng/năm/người so với năm 2002 tương đương 10,71% Trong năm 2003 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhiều so với năm 2002, cụ thể là:

+ Số hộ nghèo: - Năm 2002 là: 29.970 hộ

- Năm 2003 là: 22.277 hộ, giảm 7.693 hộ + Tỷ lệ hộ nghèo: - Năm 2002 là: 6,7%

- Năm 2003 là: 4,96%, đã giảm 1.74%

- Về giáo dục và đào tạo: Trong năm 2003 toàn tỉnh có 693 trường học các cấp, tăng

17 trường so với năm 2002: có 1 trường đại học An Giang, 3 trường trung học chuyên nghiệp, 2 trường nghiệp vụ, 6 trung tâm dạy nghề hoặc dịch vụ hỗ trợ việc làm, 7 trung tâm

Trang 33

giáo dục thường xuyên, 1 trường dạy nghề và nhiều cơ sở tư nhân khác… nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện nay Số lượng lao động qua đào tạo vẫn còn rất ít so với yêu cầu, năm 2001 là 9,6%, năm 2002 là 12,3%, năm 2003 ước khoản 15% Vì vậy cần phải quan tâm đến vấn đề đào tạo nhiều hơn nữa, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tri thức đủ đáp ứng nhu cầu Nâng cao năng lực làm việc của người lao động, năng suất lao động tăng cao góp phần xây dựng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao mức sống của nhân dân trong tỉnh

- Về y tế, các hoạt động thể dục - thể thao, văn hóa thông tin, bảo vệ trật tự an toàn xã hội được Tỉnh ủy và UBND các cấp quan tâm, đề ra nhiều chính sách lãnh đạo, chỉ

đạo các ngành, các cấp thực hiện tốt

Đặc biệt là việc xây dựng cụm tuyến dân cư tránh lũ, trong năm 2002 toàn tỉnh đã xây dựng 82 cụm tuyến dân cư với quy mô 389,99 ha với tổng mức đầu tư là 337 tỷ đồng, giải quyết chỗ ở cho 18.154 hộ Sang năm 2003 tiếp tục xây dựng thêm 83 cụm tuyến dân

cư với qui mô hơn 243 ha nhằm giải quyết chỗ ở cho 13.155 hộ, có một số công trình đã hoàn thành, còn lại thì đang trong quá trình xây dựng Bên cạnh việc đầu tư nhà ở, tỉnh còn đầu tư các chương trình giếng nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường ở các cụm tuyến dân cư nhằm đảm bảo cuộc sống cho nhân dân vùng lũ

2 Khái quát về nhân sự của ngành thuế tỉnh An Giang:

Trên địa bàn tỉnh An Giang có Cục thuế tỉnh và 11 Chi cục thuế huyện, thị, thành Tổng số cán bộ trong toàn ngành trên địa bàn tỉnh tính đến 31/12/2003 là: 1.127 người, trong đó: số cán bộ trong biên chế là 849 người và số cán bộ theo hợp đồng là 278 người

- Về giới tính:

Số lượng cán bộ nữ chỉ chiếm 18,3%, cán bộ nam chiếm đa số Điều này phù hợp với nhiệm vụ đặc thù của ngành thuế, nhất là ở các Chi cục thuế, vì cán bộ thuế phải trực tiếp nhắc nhở và thu thuế các hộ kinh doanh nhỏ, lẻ trên địa bàn Thiết nghĩ công việc này nam giới sẽ phù hợp hơn

- Về trình độ:

+ Đại học và trên đại học có 246 người, chiếm tỷ lệ 21,83%

+ Cao đẳng có 14 người, chiếm 1,24%

+ Trung cấp có 604 người, chiếm 53,6%

+ Khác có 263 người, chiếm 23,34% nhưng trong đó theo hợp đồng có đến 196 người, chiếm 74,5% trong tổng số cán bộ có trình độ khác

Cùng với sự phát triển của xã hội, để thích ứng được với sự thay đổi, quản lý thuế một cách khoa học và đạt được hiệu quả ngày càng cao Lãnh đạo ngành, lãnh đạo các Chi

Trang 34

cục cần đưa cán bộ đi đào tạo thêm để thích ứng nhanh chóng, kịp thời với những sự thay đổi, nhằm quản lý thuế ngày một có hiệu quả hơn, tăng nguồn thu cho NSNN

3 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh An Giang:

Cục thuế tỉnh An Giang nằm tại số 10 Bùi Văn Danh, phường Mỹ xuyên, thành phố Long Xuyên Được thành lập vào ngày 20 tháng 3 năm 1990

3.1 Tình hình nhân sự tại Cục thuế tỉnh An Giang:

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2003 tình hình nhân sự tại văn phòng Cục thuế tỉnh

An Giang có 97 cán bộ trong biên chế và 18 nhân viên theo hợp đồng Sang năm 2004 về nhân sự không có sự thay đổi nhiều so với năm 2003 Trong số 97 cán bộ công chức trong biên chế gồm có 22 nữ chiếm 22,68% Số Đảng viên chiếm trên 50%, cụ thể là 53 Đảng viên Về trình độ, về độ tuổi, về lý luận chính trị, về trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, tin học… của cán bộ Cục thuế được thống kê như sau:

Về độ tuổi và tuổi nghề: Cán bộ ít tuổi nhất là 28 tuổi và các cán bộ trong văn phòng

Cục thuế đều có kinh nghiệm công tác lâu năm, kinh nghiệm làm việc ít nhất là 6 năm trở lên

Về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị:

Trình độ chuyên môn Trình độ lý luận chính trị Trình độ Số cán bộ Tỷ trọng (%) Trình độ Số cán bộ Tỷ trọng (%)

Trang 35

+ Khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.331.565 triệu đồng, tăng 12,77%, chiếm 12.73% Trong đó các ngành đều có tốc độ tăng trưởng trên 10%, riêng lĩnh vực công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm vừa qua, ước giá trị sản xuất tăng 14,52%

Hiện toàn tỉnh có 11.270 cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp, với hơn 62.600 lao động chuyên nghiệp Ngoài ra còn hơn 10.164 cơ sở, giải quyết việc làm cho hơn 22.500 lao động kinh tế phụ gia đình Hiện nay sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những bước tăng trưởng ổn định, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh

+ Khu vực dịch vụ tăng mạnh, tăng 13,58% so với cùng kỳ, đạt 3.990.685 triệu đồng Hầu hết các lĩnh vực trong khu vực dịch vụ đều tăng trên 12%, riêng thuế nhập khẩu chỉ tăng 6,47%

Lượng gạo xuất khẩu chiếm trên 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, ước năm

2003 xuất khẩu được 525 ngàn tấn, tương đương 92,4 triệu USD, so cùng kỳ tăng 63,4% về lượng và tăng 48,6% về trị giá

Về xuất khẩu thủy sản, tuy gặp nhiều khó khăn, lượng xuất khẩu sang thị trường

Mỹ giảm mạnh, giảm tương đương 30% so với cùng kỳ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao (chiếm 25%), để giảm bớt rủi ro do phụ thuộc vào thị trường Mỹ, các doanh nghiệp thủy sản

đã đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác như: Úc, Trung Quốc, Mêxicô, Ả Rập… và trong năm lượng xuất sang Hồng Kông chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm đến 26,4% trong tổng lượng xuất khẩu thủy sản, đồng thời các doanh nghiệp này đã quan tâm đến thị trường trong nước nhiều hơn, đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành thủy sản

Bên cạnh đó các mặt hàng rau quả đông lạnh, hàng may mặc, giày thể thao, hàng thêu tay… giá trị xuất khẩu cũng tăng cao

Lĩnh vực dịch vụ du lịch ước tổng doanh thu đạt 53,1 tỷ đồng tăng 20%, ước tổng lượt khách đến tỉnh đạt 2,765 triệu người tăng 13,3% so với năm 2002…

Đạt được kết quả như trên là do Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã tập trung vào phát triển nông nghiệp – nông thôn, thắng lợi trong lĩnh vực nông nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến sức mua trong xã hội, kéo theo hoạt động thương mại đã diễn ra sôi động, thêm vào đó các doanh nghiệp đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn, thử thách để duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, kích thích nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó Tỉnh ủy, UBND tỉnh có nhiều chính sách hiệu quả mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa trong và ngoài nước, tăng cường ưu đãi và thu hút đầu tư theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 36

- Phó Cục trưởng Tô Đại Đồng giúp Cục trưởng trực tiếp phụ trách 3 phòng chức năng:

Trang 37

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 29

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH AN GIANGm

PHÒNG TIN HỌC

PHÒNG THANH TRA I

PHÒNG THANH TRA II

PHÒNG HÀNH CHÍNH - QUẢN TRỊ -TÀI VỤ

PHÒNG TỔNG HỢP VÀ

DỰ TOÁN

PHÒNG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP I

PHÒNG TUYÊN TRUYỀN

VÀ HỖ TRỢ

PHÒNG QUẢN LÝ

Ngày đăng: 04/04/2013, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VĂN PHềNG CỤC THUẾ TỈNH AN GIANGm - Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm
m (Trang 37)
BẢNG TỔNG KẾT SỐ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ QUA 3 NĂM 2001, 2002, 2003 - Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm
3 NĂM 2001, 2002, 2003 (Trang 45)
BẢNG TỔNG KẾT THUẾ GTGT QUA 3 NĂM 2001, 2002, 2003 - Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm
3 NĂM 2001, 2002, 2003 (Trang 46)
BẢNG SỐ THU VÀ TIỀN HOÀN THUẾ GTGT QUA 5 NĂM - Tăn cường quản lý của nhà nước và tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực nông sản thực phẩm
5 NĂM (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w