1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước

67 378 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Hình Thức Trả Lương Tại Công Ty Cơ Khí An Giang
Tác giả Đoàn Hà Hồng Nhung
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Tri Như Quỳnh
Trường học Cao Đẳng Nghề An Giang
Chuyên ngành Quản Trị Nhân Lực
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra các

của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước

Để tuyển dụng và giữ lại đúng người làm đúng việc, ban giám đốc cần

có một hệ thống thù lao cạnh tranh và công bằng Mặt dù tiền không phải là lý

do duy nhất để nhân viên làm việc cho một doanh nghiệp, nhưng những phương pháp trả lương không công bằng vẫn là nguyên nhân chính gây ra sự bất mãn của nhân viên và làm tăng tình trạng bỏ việc, giảm hiệu quả quan hệ lao động và gây ra những chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp

Hệ thống tiền lương và tiền công sẽ cho phép doanh nghiệp tuyển dụng các nhân viên mới với mức lương thỏa đáng, tăng mức lương phù hợp cho nhân viên và hình thành một con đường sự nghiệp cho các cá nhân Để thực hiện được tất cả các công việc này, cần phải có một hệ thống tiền lương và tiền công có tổ chức hợp lý Mục đích của một hệ thống tiền lương và tiền công là đảm bảo rằng những người thực hiện các nhiệm vụ được coi là có giá trị như nhau sẽ nhận được mức thù lao như nhau.Thù lao bao hàm tất cả các hình thức thu nhập mà các cá nhân nhận được cho phần lao động của họ

Bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người Trước đây, tiền lương được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường Giờ đây, với việc

áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp, tiền lương không chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động nữa Quan hệ giữa người chủ sử dụng sức lao động và người lao động đã có những thay đổi căn bản Liệu rằng với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, quan hệ này có thể chuyển

từ hình thức bóc lột, mua bán hàng hóa sang hình thức quan hệ hợp tác song phương, đôi bên cùng có lợi hay không và bản chất tiền lương là gì, hiện vẫn còn là những vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu phát triển

Ở Việt nam, hiện nay có sự phân biệt giữa các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc: tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi.Theo quan điểm của cải cách tiền lương năm

1993, “tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”,”Tiền lương của người lao động do hai

Trang 2

bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”

Kế toán phản ảnh trung thực, khách quan, cụ thể việc trả lương tại một doanh nghiệp Thông qua số liệu kế toán chúng ta có thể biết được doanh nghiệp trả lương cho người công nhân theo hình thức nào, những điểm mạnh

và điểm yếu của hình thức trả lương đó và tại sao họ áp dụng hình thức đó Trong thực tế có nhiều phương pháp để nâng cao kết quả hoạt động ở một doanh nghiệp, trong đó việc cải tiến hình thức trả lương cho nhân viên là một trong những vấn đề hàng đầu mà ban giám đốc cần quan tâm Trước đây lương

cơ bản là 140000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng năm 1997 ), rồi tăng lên

180000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng năm 2000) , 210000 đồng/ người/ tháng ( áp dụng năm 2001 ), 290000 đồng / người/ tháng ( áp dụng năm 2003 ), hiện nay chính phủ đang cân đối ngân sách để nâng lương cơ bản lên 400000 đồng/ người/ tháng ( năm 2007) Tại sao lương cơ bản phải tăng lên? Đó là những biệp pháp mà nhà quản trị cấp cao muốn cải thiện đời sống vật chất của người lao động, không những thế thông qua tiền lương ta có thể biết được xu hướng đời sống của người công nhân trong xã hội như thế nào; Thế nhưng khi trả lương cho công nhân quá cao sẽ ảnh hưởng đến tổng chi phí sản phẩm và giá thành sản phẩm sẽ tăng Chính vì vậy, thông qua kế toán tiền lương nhà quản trị sẽ đưa ra một hệ thống thang lương hợp lý

Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, bình đúng thù lao lao động và thanh toán kịp thời tiền và các khoản khác có liên quan cho người lao động sẽ kích thích họ quan tâm đến doanh nghiệp dẫn đến năng suất lao động cao, giảm chi phí về lao động sẽ hạ được giá thành sản phẩm,làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên, một mặt nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiền lương tôi quyết định

chọn đề tài: “Phân Tích Các Hình Thức Trả Lương Tại Công Ty Cơ Khí An

Giang” Đề tài sẽ giúp tôi tìm hiểu thực tế về việc trả lương tại Công Ty Cơ Khí tỉnh An Giang, đồng thời mong cùng công ty nghiên cứu, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc trả lương tại doanh nghiệp

II Mục đích nghiên cứu:

Phân tích và nghiên cứu tình hình trả lương ở công ty Cơ Khí nhằm trả lời các câu hỏi sau:

• Công ty đang áp dụng các hình thức trả lương nào? Tại sao phải áp dụng hình thức đó ?

Trang 3

• Tác động của hình thức trả lương đó đối với người lao động, đối với doanh nghiệp, đối với nhà nước

Khi nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi hiểu thực tế việc trả lương tại công ty như thế nào Từ đó tôi có những kiến nghị đối với hình thức trả lương tại công ty và mong cùng công ty hoàn thiện các hình thức trả lương tại công

ty

III Phương pháp nghiên cứu:

Với các mục tiêu trên đề tài được phân tích và phát triển dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau:

• Phân tích số liệu thứ cấp của công ty : Bảng báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh, kế hoạch tài chính doanh nghiệp, sổ lương của doanh

nghiệp, bảng cân đối tiền lương các tháng trong năm, các thông tin trên báo

chí, tạp chí kinh tế, các sách giáo khoa

• Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến của một số cán bộ liên quan đến đề tài trong công ty cũng như quý thầy cô trong khoa kinh tế-quản trị kinh doanh

trường đại học An Giang

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.Khái niệm và nhiệm vụ của kế toán tiền lương:

1 Khái niệm về lao động, tiền lương:

Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của

xã hội Trong một chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất không thể tách rời khỏi lao động, lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại

và phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, tính chất quyết định của lao động con người đối với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội càng biểu hiện rõ rệt Lao động còn là phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và sản xuất hàng hóa, là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra, nó là bộ phận của nguồn thu nhập, kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động

2.Nhiệm vụ kế toán tiền lương:

Để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành quản lý hoạt

động của doanh nghiệp, kế toán tiền lương cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

• Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ, tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động

• Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp, kiểm tra tình hình huy động lao động và sử dụng lao động Phản ánh kịp thời đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động

• Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình chấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương

• Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương

và các khoản liên quan khác vào chi phí sản xuất kinh doanh

• Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương Mở sổ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương

• Lập các báo cáo về lao động, tiền lương và các báo cáo khác thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao

Trang 5

động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm, vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương

II Một số hình thức trả lương:

1.Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa dù thực hiện bất kì chế độ tiền lương nào, muốn phát huy đầy đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của nó đối với sản xuất và đời

sống phải thực hiện đầy đủ những nguyên tắc sau:

• Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau

Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau có nghĩa là khi quy định tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên chức nhất thiết không được phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi người đồng đều số lượng, chất lượng mà họ đã cống hiến cho xã hội

• Bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc

độ tăng tiền lương bình quân trong toàn đơn vị và trong kỳ kế hoạch Tiền lương bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu do nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian tổn thất cho lao động, còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như: áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt lao động và các quá trình sản xuất Như vậy tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Đây là nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền lương Có như vậy mới tạo cơ

sở giảm giá thành, hạ giá cả, tăng tích lũy để tái sản xuất mở rộng

• Đảm bảo thu nhập tiền lương hợp lý giữa các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế

Khi trả lương cho công nhân cần chú ý các vấn đề sau:

Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về

kỹ thuật khác nhau Do đó đối với những người lao động làng nghề làm việc trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật phức tạp phải trả lương cao hơn những người lao động làm việc trong những ngành không có yêu cầu kỹ thuật cao

Tiền lương bình quân giữa các ngành có điều kiện lao động khác nhau cần có sự chênh lệch khác nhau.Công nhân làm việc trong điều kiện nặng nhọc

có hại đến sức khỏe phải được trả lương cao hơn những người làm việc trong điều kiện bình thường

Trang 6

Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh

tế quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến khích công nhân yên tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó,

sự khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầucủa việc phân phối sức lao động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế

Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu hút được công nhân đến làm việc

Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục tư tưởng cho người lao động

2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương:

Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:

H cb: hệ số lương cấp bậc công viêc bình quân

H pc: hệ số các khoản phụ cấp lương bình quân được tính trong đơn giá tiền lương

V vc: quỹ tiền lương của bộ máy gián tiếp mà số lao động này chưa tính trong định mức lao động tổng hợp

Đơn giá tiền lương của doanh nghiệp được xây dựng theo 4 phương pháp:

+ Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm ( hoặc sản phẩm quy đổi):

Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh được chọn là tổng sản phẩm bằng hiện vật (kể cả sản phẩm quy đổi) thường được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoặc một

số sản phẩm có thể quy đổi được

Trang 7

+ Đơn giá tiền lương tính trên doanh thu:

Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh

được chọn là doanh thu ( hoặc doanh số ) thường áp dụng đối với doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp

+ Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí:

Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh

được chọn là tổng doanh thu trừ tổng chi không có lương, thường áp dụng đối

với các doanh nghiệp quản lý được tổng thu, tổng chi một cách chặt chẽ trên

cơ sở các định mức chi phí

+ Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận:

Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh

được chọn là lợi nhuận, thường áp dụng đối với doanh nghiệp quản lý được

tổng thu, tổng chi và xác định lợi nhuận kế hoạch sát với thực tế thực hiện

Z V kh

V đg =

Z P kh Trong đó:

Vđg: đơn giá tiền lương ( đồng/1000đồng )

Z V kh: tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch

Z P kh: lợi nhuận kế hoạch

* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:

V c = V kh + V pc + V bs + V tg Trong đó:

Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch

Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương

Vpc: quỹ các khoản phụ cấp lương kế hoạch và các chế độ khác ( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định

Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh

nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm

Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt

quá số giờ làm thêm của bộ luật lao động quy định

3 Hình thức trả lương theo sản phẩm:

Hiện nay phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta đều áp dụng hình

thức trả lương theo sản phẩm Trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương

căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất ra của mỗi người và đơn

giá lương sản phẩm để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức

Trang 8

Sở dĩ như vậy là vì chế độ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp chưa kiểm tra giám sát được chặt chẽ về sức lao động của mỗi người để đãi ngộ về tiền lương một cách đúng đắn Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình thức căn bản để thực hiện quy luật phân phối theo lao động Để quán triệt đầy

đủ hơn nữa nguyên nhân, nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động nghĩa là căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động của mỗi người sản xuất Ai làm nhiều, chất lượng sản phẩm tốt, được hưởng nhiều lương, ai làm

ít chất lượng sản phẩm xấu thì hưởng ít lương Những người làm việc như nhau thì phải được hưởng lương bằng nhau Mặt khác chế độ trả lương theo sản phẩm còn phải căn cứ vào số lượng lao động, chất lượng lao động kết tinh trong từng sản phẩm của mỗi công nhân làm ra để trả lương cho họ, làm cho quan hệ giữa tiền lương và năng suất lao động, giữa lao động và hưởng thụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

3.1 Tác dụng của hình thức trả lương theo sản phẩm:

- Làm cho mỗi người lao động vì lợi ích vật chất mà quan tâm đến việc nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước Vì hình thức lương sản phẩm căn

cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm của mỗi người sản xuất ra để tính lương nên nó có tác dụng khuyến khích người công nhân tích cực sản xuất, tận dụng thời gian làm việc tăng năng suất lao động Hơn nữa chỉ những sản phẩm tốt mới được trả lương cao nên người công nhân nào cũng cố gắng sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt Như vậy năng suất lao động tăng, chất lượng sản phẩm bảo đảm thì giá thành sản phẩm sẽ hạ

- Khuyến khích người công nhân quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học kĩ thuật hợp lý hóa sản xuất

và lao động Tích cực sáng tạo và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến Khi thực hiện trả lương theo sản phẩm, công nhân phải phấn đấu để thường xuyên đạt và vượt mức các định mức lao động đề ra do đó họ không đơn thuần dựa vào sự lao động hết sức mình, tận dụng thời gian làm việc mà phải cố gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vững và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến Hơn nữa họ còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huy sáng kiến,cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất Có như vậy thì sản phẩm làm ra sẽ tăng và sức lao động sẽ giảm xuống Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế Khi áp dụng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi có sự chuẩn bị sản xuất nhất định Phải

Trang 9

củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao động đảm bảo cho quá trình sản xuất được cân đối hợp lý Trong quá trình thực hiện do năng suất lao động của công nhân tăng, nhiều vấn đề mới đặt ra cần giải quyết như cung cấp nguyên vật liệu đúng quy cách, chất lượng, kịp thời gian Kiểm tra nghiệm thu được chính xác số lượng, chất lượng sản phẩm Điều chỉnh lại lao động trong dây chuyền sản xuất Thống kê thanh toán tiền lương nhanh chóng, chính xác, đúng kì hạn,…Các vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất tiền lương của công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và yêu cầu giải quyết Bất kì một hiện tượng nào vi phạm đến kỹ thuật công nghệ và chế độ phục công tác, người công nhân không những tìm cách khắc phục kịp thời mà còn tích cực đề phòng các khuyết điểm có thể xảy ra Đồng thời, đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, làm việc thiếu trách nhiệm trong cán bộ quản lí và công nhân sản xuất

- Củng cố và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, xây dựng tác phong thái độ lao động xã hội chủ nghĩa Phong trào thi đua phát triển là do nhiệt tình yêu nước, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ văn hóa kỹ thuật của công nhân, do năng suất lao động được nâng cao

mà có Muốn thi đua đạt được bền bỉ thường xuyên liên tục thì phải được bồi dưỡng bằng vật chất mới có tác dụng Trả lương theo sản phẩm là phương tiện tốt để thực hiện yêu cầu đó Động viên thi đua liên tục và mạnh mẽ đồng thời

áp dụng một cách đúng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm sẽ kết hợp chặt chẽ được hai mặt khuyến khích bằng vật chất và động viên tinh thần để thúc đẩy và phát triển sản xuất Hai vấn đề này phải dựa vào nhau và thúc đẩy lẫn nhau làm cho năng suất lao động ngày càng tăng và phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng và có chất lượng cao Ngoài ra chế độ lương sản phẩm còn góp phần bồi dưỡng giáo dục cho công nhân có hứng thú nhiệt tình trong lao động _ có ý thức và trách nhiệm quan tâm đến việc của tập thể

Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có

ý nghĩa kinh tế, chính trị quan trọng Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích cực sản xuất với chất lượng tốt và năng suất cao Vừa tăng thu nhập cho cá nhân người lao động vừa làm tăng hơn sản phẩm cho xã hội góp phần thay đổi nền kinh tế cả nước

3.2 Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm:

Muốn tổ chức trả lương theo sản phẩm xí nghiệp chuẩn bị các điều kiện sau đây:

3.2.1 Công tác chuẩn bị sản xuất:

Trang 10

- Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc chuẩn bị về nhân lực là vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất Con người có quán triệt ý nghĩa tác dụng cúa chế độ lương sản phẩm thì mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện chế độ lương sản phẩm Để chuẩn bị tốt yếu tố con người cần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng làm bừa, làm ẩu Thiếu chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây hoang mang dao động trong công nhân Phải giải thích giáo dục cho công nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ thấy mục tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chát lượng sản phẩm, chi phí sản xuất Ngoài ra còn phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm,…

- Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: kế hoạch sản xuất phải rõ ràng cụ thể, phải tổ chức cung cấp đầy đủ thường xuyên nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và phương tiện phòng hộ lao động để công nhân có thể sản xuất được liên tục

3.2.2 Xác định đơn giá lương sản phẩm:

Để thực hiện chế độ lương sàn phẩm cần xác định đơn giá lương sản phẩm cho chính xác trên cơ sở xác định cấp bậc công việc và định mức lao động chính xác

Xác định cấp bậc công việc như ta đã biết đơn giá lương sản phẩm được tính như sau:

Mức lương cơ bản công nhân + phụ cấp Đơn giá sản phẩm =

Mức sản lượng Như vậy muốn có đơn giá hợp lý, chính xác phải xác định đúng đắn cấp bậc công việc Nếu cấp bậc công việc được đánh giá xác định cao hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ cao hơn hoặc ngược lại nếu cấp bậc công việc được đánh giá xác định thấp hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ thấp hơn Do đó nếu xí nghiệp chưa có cấp bậc công việc thì phải xây dựng cấp bậc công việc Nếu có rồi thì phải rà soát lại để kịp thời sữa đổi những cấp bậc công việc đã lạc hậu

O Định mức lao động: là thước đo tiêu chuẩn về tiêu hao lao động, đánh giá kết quả lao động và tính đơn giá sẽ sai và tiền lương của công nhân

sẽ tăng hoặc giảm không hợp lý Do đó sẽ không khuyến khích công nhân tăng năng suất lao động

Trang 11

Định mức lao động để trả lương sản phẩm là mức lao động trung bình tiên tiến_do đó phải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở xí nghiệp đã được chấn chỉnh Các mức lao động đang áp dụng ( nếu có ) phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lí không sát thực tế sản xuất

3.2.3 Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm:

Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương theo đúng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S do đó cần phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynh hướng chạy theo sản lượng

để tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn, kịp thời

Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm nhiều chế độ trả lương như sau:

Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế:

Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm và theo đơn giá nhất định Tiền lương của công nhân căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả lương Bất kì trường hợp nào công nhân sản xuất hụt mức, đạt mức hoặc vượt mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đều được trả lương nhất định gọi là đơn giá sản phẩm Như vậy tiền lương của công nhân sẽ tăng theo số lượng sản phẩm sản xuất ra Nếu sản xuất được nhiều sản phẩm thì được trả nhiều lương và ngược lại sản xuất được ít sản phẩm thì được trả ít lương Đơn giá sản phẩm là cơ sở của chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế Khi xác định đơn giá sản phẩm người ta căn cứ vào hai nhân tố: định mức lao động và mức lương cấp bậc công việc

Công thức tính đơn giá sản phẩm như sau:

• Nếu công việc được định mức thời gian:

Đơn giá = Mức lương cấp bậc công viên * mức thời gian

• Nếu công việc định mức sản lượng:

Mức lương cấp bậc công việc + Phụ cấp Đơn giá =

Mức sản lượng

Trang 12

Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương tính trả cho ngừơi lao động theo kết quả lao động _ khối lượng sản phẩm công việc và lao vụ đã hoàn thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc lao vụ đó Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hoặc một tập thể người lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất

Tiền lương được lĩnh

trong tháng =

Số lượng ( khối lượng ) công việc hoàn thành *

Đơn giá tiền lương

Khi tính đơn giá sản phẩm ta phải lấy mức lương cấp bậccông việc để tính chú không lấy mức lương cấp bậc công nhân được giao làm công việc đó,

vì có những trường hợp lương cấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc công việc được giao làm cho đơn giá sản phẩm thay đổi, sẽ phá vỡ tính thống nhất của chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và tính hợp lý của quy luật phân phối theo lao động

Về định mức lao động, khi tính đơn giá ta phải xác định định mức của công việc đó là mức thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế ) thích hợp với những loại công việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và nghiệm thu từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được Tùy theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất Nếu những công việc mà người công nhân có thể tiến hành sản xuất độc lập thì có thể quy định mức lao động

và tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng công nhân và trả lương sản phẩm trực tiếp cho từng công nhân Nếu công việc cần nhiều công nhân phối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến hành trả lương trực tiếp cho nhóm hoặc tổ sản xuất đó

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:

Chế độ lương này không áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà chỉ áp dụng cho công nhân phục vụ sản xuất Công việc của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt và vượt mức của công nhân chính hưởng lương theo sản phẩm Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của công nhân đứng máy tiền lương của công nhân phục vụ được tính căn cứ vào

số lượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra Những công nhân sửa chữa máy nếu áp dụng lương sản phẩm gián tiếp cần phải quy định và

Trang 13

tượng tiêu cực đồng tình với công nhân đứng máy chạy theo sản lượng, cho máy chạy quá mức làm cho máy hỏng

Đơn giá sản phẩm gián tiếp được tính bằng cách lấy mức lương tháng của công nhân phục vụ chia cho định mức sản xuất chung của công nhân đứng máy do công nhân đó phục vụ

Mức lương tháng của công nhân phục vụ Đơn giá

= Định mức sản xuất chung Như vậy nếu những công nhân đứng máy trực tiếp sản xuất sản phẩm càng nhiều, tiền lương của số công nhân phục vụ ngày càng nhiều và ngược lại nếu những công nhân đứng máy sản xuất được ít sản phẩm thì tiền lương của công nhân phục vụ ngày càng ít

Tiền lương được lĩnh

trong tháng =

Tiền lương được lĩnh của

bộ phận trực tiếp *

tỷ lệ lương gián tiếp

Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp cũng được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận gián tiếp phục vụ sản xuất hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản xuất

Khi thực hiện chế độ tiền lương này thường xảy ra hai trường hợp và cách giải quyết như sau:

• Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính sản xuất ra sản phẩm hỏng, hàng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ hưởng theo chế độ trả lương khi làm ra hàng hỏng, hàng xấu_xong vẫn đảm bảo ít nhất bằng mức lương cấp bậc của người đó

• Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành định mức sản lượng thì tiền lương của công nhân phục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián tiếp mà theo lương cấp bậc của họ

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gían tiếp có tác dụng làm cho công nhân phục vụ quan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công nhân chính mà họ phục vụ

Chế độ tiền lương sản phẩm lũy tiến:

Chế độ tiền lương này được tính như sau:

Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm lũy tiến thì được trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm sản xuất ra vượt mức khởi điểm lũy tiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều

Trang 14

đơn giá cho những sản phẩmvượt mức khởi điểm lũy tiến Nếu vượt mức với

tỷ lệ cao thì được tính những sản phẩm vượt mức bằng đơn giá cao hơn

Chế độ lương này áp dụng cho công nhân sản xuất ở những khâu quan trọng, lúc sản xuất khẩn trương để bảo đảm tính đồng bộ ở những khâu mà năng suất tăng có tính chất quyết định đối với việc hoàn thành chung kế hoạch của xí nghiệp

Tiền lương của công nhân làm theo chế độ sản phẩm lũy tiến được tính theo công thức:

L = [ Q1 * P ] + [ Q1 – Q0 ] * P * K

Trong đó:

L: tổng tiền lương công nhân được lĩnh

Q1: sản lượng thực tế của công nhân sản xuất ra

Q0: mức sản lượng

P: đơn giá lương sản phẩm

K: hệ số tăng đơn giá sản phẩm

Tiền lương tính theo sản phẩm lũy tiến là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp kết hợp với suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức sản xuất sản phẩm

Suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất sản phẩmdo doanh nghiệp quy định Ví dụ cứ vượt 10% định mức thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượt là 20%, vượt từ 11%-20% định mức thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượt là 40%…vượt từ 50% trở lên thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượt là 100%…

Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến cũng được tính cho từng người lao động hay tập thể người lao động ở những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy sáng tạo cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động đảm bảo cho đơn

vị thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện Tuy nhiên, khi áp dụng tính lương theo sản phẩm lũy tiến doanh nghiệp cần chú ý khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến nhằm hạn chế hai trường hợp có thể xảy ra

đó là, người lao động phải tăng cường độ lao động, không bảo đảm sức khỏe cho lao động sản xuất lâu dài và tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động

Muốn thực hiện chế độ lương này cần phải chuẩn bị những điều kiện sau:

• Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật, đây là vấn đề quan trọng vì đơn giá sản phẩm sẽ tăng lũy tiến theo tỉ lệ vượt mức sản lượng

Trang 15

• Phải thống kê xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm tiền lương của công nhân, mức lũy tiến, mức hạ thấp giá thành và giá trị tiết kiệm được

• Phải dự kiến được kết quả kinh tế của chế độ lương tính theo sản phẩm lũy tiến nhằm xác định mức lũy tiến cao nhất của đơn giá sản phẩm Vì khi thực hiện chế độ tiền lương này lương của công nhân sẽ tăng nhanh hơn sản lượng làm cho phần tiền lương trong đơn vị sản phẩm cũng tăng lên Do đó giá thành sản phẩm cũng tăng theo, bởi vậy khi áp dụng chế độ lương này phải tính toán kết quả kinh tế, nâng cao năng suất lao động làm hạ giá thành sản phẩm

Chế độ lương khoán sản phẩm:

Chế độ lương khoán sản phẩm là chế độ lương sản phẩm khi giao công việc đã quy định rõ ràng số tiền để hoàn thành một khối lượng công việc cho một đơn vị thời gian nhất định Chế độ lương này áp dụng cho những công việc mà xét thấy giao từng việc chi tiết không có lợi về mặt kinh tế, bởi vì trong sản xuất có nhiều công việc mang tính chất tổng hợp không thể giao việc

mà thống kê kinh nghiệm thu kết quả lao động theo từng đơn vị sản phẩm từng phần riêng biệt của từng công nhân hoặc từng tổ sản xuất Như vậy ngay từ khi nhận việc, công nhân đã biết ngay toàn bộ số tiền lương mà mình sẽ được lãnh sau khi hoàn thành khối lượng công việc giao khoán thì tiền lương tính theo ngày làm việc của mỗi người trong đơn vị sẽ được tăng lên Ngược lại nếu kéo dài thời gian hoàn thành công việc thì tiền lương tính theo ngày của mỗi người sẽ ít đi Do đó chế độ lương khoán có tác dụng khuyến khích công nhân nâng cao năng suất lao động, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn hoặc giảm bớt số người không cần thiết

Trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, tiền lương khoán có thể thực hiện theo cách khoán từng phần công việc hoặc khoán thu nhập ( khoán gọn ) cho người lao động

Trong các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng có thể thực hiện theo cách khoán gọn quỹ lương theo hạn mục công trình cho đội sản xuất

Khi áp dụng chế độ lương khoán cần phải làm tốt công tác thống kê và định mức lao động cho từng phần việc, tính đơn giá từng phần việc rồi tổng hợp lại thành khối lượng công việc, thành đơn giá cho toàn bộ công việc Cần phải xây dựng chế độ kiểm tra chất lượng trong quá trình sản xuất, vì trong thực tế khi áp dụng lương khoán công nhân không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ lao đông để xảy ra hiện tượng công nhân tự ý làm thêm giờ để mau chóng hoàn thành công việc chung nhưng không ghi vào phiếu giao khoán làm

Trang 16

cho việc thống kê phân tích năng suất lao động của công nhân không chính xác, làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, ảnh hưởng đến sức khỏe và các mặt sinh hoạt của công nhân

Chế độ tiền lương theo sản phẩm có thưởng và chế độ lương khoán có thưởng:

• Chế độ lương khoán sản phẩm có thưởng là chế độ lương khoán kết hợp với khen thưởng khi công nhân đạt những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng hay thời gian đã quy định Nhưng nếu vượt được các chỉ tiêu đã quy định về chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng cao năng suất máy móc, thiết bị,…thì được thêm tiền thưởng Khoản tiền thưởng này chi trả khi công nhân hoàn thành định mức sản lượng

Thực hiện chế độ lương này phải xác định rõ những chỉ tiêu và điều kiện thưởng Tỷ lệ tiền thưởng cũng phải xác định đúng đắn

• Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp kết hợp với chế độ khen thưởng do doanh nghiệp quy định như thưởng chất lượng sản phẩm_tăng tỷ lệ chất lượng sản phẩm chất lượng cao, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên liệu,…

Tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hoặc cho một tập thể người lao động

Ví dụ: công ty may S quy định đơn giá tiền lương cho 1 sản phẩm là

2000 đồng, nhưng đơn giá có các sản phẩm thứ 11 sẽ là 2.200 đồng

Tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng:

Theo cách tính lương này, tiền lương đối với các doanh nghiệp sản xuất

có tính chất khai thác sẽ dựa trên cơ sở giá trị sản lượng đạt được sau khi trừ

đi các khoản tiêu hao vật chất, nộp thuế, trích nộp các quỹ theo chế độ quy định và tỷ lệ thích đáng phân phối cho người lao động: đối với các doanh nghiệp có tính chất chế biến, doanh nghiệp cần tạo các điều kiện ổn định sản xuất, tổ chức lại từng dây chuyền sản xuất và xác định rõ giai đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành phẩm Trên cơ sở xác định giai đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành phẩm để xác định tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng cho từng người lao động hay một tập thể người lao động

Cách tính lương này là tiến bộ nhất vì nó gắn trách nhiệm của cá nhân hoặc tập thể người lao động với chính sản phẩm mà họ đã làm ra Như vậy trong trường hợp tính lương theo sản phẩm cuối cùng, tiền lương phải trả cho người lao động không thuộc chi phí sản xuất mà nằm trong thu nhập còn lại

Trang 17

sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lý và các khoản phân phối lợi nhuận theo quy định

Tiền lương tính theo sản phẩm nếu tính cho tập thể người lao động thì doanh nghiệp cần vận dụng những phương án chia lương thích hợp để tính chia lương cho từng người lao động trong tập thể, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động và khuyến khích người lao động có trách nhiệm với tập thể cùng lao động Tính chia lương cho từng người lao động trong tập thể có thể được tiến hành theo các phương án khác nhau:

- Chia lương theo cấp bậc tiền lương và thời gian lao động thực tế của từng người lao động trong tập thể đó Các bước tiến hành như sau:

• Xác định hệ số chia lương:

Tổng tiền lương thực tế được lĩnh của tập thể

Hệ số chia

lương = Tổng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc

của các công nhân trong tập thể

• Tính tiền lương chia cho từng người:

Tiền lương được lĩnh

từng người =

Tiền lương theo cấp bậc

và thời gian làm việc của

• Xác định tiền lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc cho từng người:

Tiền lương theo

cấp bậc công việc =

Thời gian thực tế làm việc (ngày, giờ) *

Đơn giá tiền lương theo cấp bậc ( ngày, giờ )

• Xác định chênh lệch giữa tiền lương thực lĩnh của tập thể với tổng tiền lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc của tập thể là phần lương do tăng năng suất lao động, chia theo số điểm được bình của từng công nhân trong tập thể

Trang 18

Tổng tiền lương do tăng năng suất

*

số điểm được bình mỗi người

• Xác định tiền lương được lĩnh của từng người là số tổng cộng phần lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc với phần lương được lĩnh do tăng năng suất lao động

- Chia lương theo bình công chấm điểm hàng ngày cho từng người lao động trong tập thể đó

Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao động trong tập thể lao động có phù hợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với cấp bậc công việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ thuật cao… để lựa chọn phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên, khuyến khích và tạo điều kiện chi người lao động phát huy hết năng lực của mình

Trong thực tế, hình thức trả lương này thường áp dụng trong các dây chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, sửa chữa cơ khí, trong nông nghiệp,…

để kích thích các nhân viên trong nhóm làm việc tích cực, việc phân phối tiền công giữa các thành viên trong nhóm thường căn cứ vào các yếu tố sau:

• Trình độ của nhân viên (thông qua hệ số mức lương Hsi của mỗi người)

• Thời gian thực tế làm việc của mỗi người (Tti)

• Mức độ tham gia tích cực, nhiệt tình của mỗi người vào kết quả thực hiện công việc của nhóm (Ki)

Như vậy, thời gian làm việc quy chuẩn của công nhân i sẽ được tính theo công thức:

Tci = His * Tti * Ki

Tci là thời gian làm việc chuẩn của công nhân thứ i

Tổng thời gian làm việc quy chuẩn của tất cả công nhân trong nhóm sẽ được tính theo công thức:

Trong đó n là số công nhân trong nhóm

Trang 19

Tiền công của mỗi công nhân sẽ được xác định trên cơ sở số tiền khoán chung cho cả nhóm và thời gian làm việc chuẩn của mỗi người, theo công thức:

Số tiền khoán cho cả nhóm * Tci

Wi =

Tổng thời gian chuẩn

Ví dụ: sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện ,

phân xưởng khoán cho 3 công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là 60.000đồng 3 người thợ sửa chữa trong nhóm sẽ được trả lương tương ứng với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tích cực của mỗi người như trong bảng 9.1

Bảng 9.1 : trả lương khoán cho nhóm người lao động

tế làm việc( giờ )

Mức độ tíchcực của mỗingười ( Ki )

Thời gian quy chuẩn ( giờ )

Tiền công ( ngàn )

Tuy nhiên để hình thức tính lương theo sản phẩm có thể áp dụng một cách thuận lợi vá phát huy đầy đủ những ưu điểm của hình thức này doanh nghiệp phải xây dựng được một hệ thống định mức lao động thật hợp lý, xây dựng được đơn giá tiền lương trả cho từng loại sản phẩm, từng loại công việc, lao vụ một cách khoa học, hợp lý Bên cạng đó doanh nghiệp phải xây dựng được chế độ thưởng phạt rõ ràng, xây dựng suất thưởng lũy tiến thích hợp với từng loại sản phẩm, công việc lao vụ Việc nghiệm thu sản phẩm, công việc lao vụ hoàn thành cũng phải được tổ chức quản lý chặt chẽ, đảm bảo đủ, đúng

số lượng, chất lượng theo quy định Các điều kiện cần thiết cho quá trình sản

Trang 20

xuất cũng phải được đảm bảo như cung cấp vật tư, thiết bị, điện, các điều kiện

về an toàn, vệ sinh công cộng,…

4 Hình thức tiền lương theo thời gian:

Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày hoặc giờ làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp

Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hoặc thời gian có thưởng

• Tiền lương thời gian giản đơn: tính theo thời gian làm việc và đánh giá lương thời gian

• Tiền lương có thưởng: là hình thức thời gian giản đơn kết hợp với chế

Mức lương ngày = mức lương tháng / 22 ( hoặc 26 )

Mức lương giờ = mức lương ngày / số giờ tiêu chuẩn

Nhược điểm chính của hình thức tiền lương này là không gắn liền giữa

số lượng và chất lượng lao động mà người công nhân đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm Nói cách khác, phần tiền lương mà người lao động được hưởng không gắn liền với kết quả lao động mà họ làm ra Chính vì lẽ đó, nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không mang lại cho người công nhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không tạo điều kiện thuận lợi để uốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không khuyến

Trang 21

khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian, vật tư trong quá trình công tác

Thông thường ở doanh nghiệp, người ta sử dụng hình thức tiền lương theo thời gian cho những bộ phận mà quá trình sản xuất đã được tự động hóa, những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, những công việc mà khối lượng hoàn thành không xác định được hoặc những loại công việc cần thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm như công việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, công việc sửa chữa thiết bị máy móc

Do những hạn chế trên, khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian cần thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng, động viên khuyến khích vật chất, tinh thần dưới các hình thức tiền thưởng; thường xuyên kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian lao động Việc phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động tự giác lao động có kỷ luật, có kỷ thuật và có năng suất cao

5 Chế độ phụ cấp, tiền thưởng:

5.1 Phụ cấp:

Điều 04 nghị định số 26/CP ngày 23/05/1993 quy định các khoản phụ cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp như sau: phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp làm thêm giờ

5.2 Tiền thưởng:

Bộ Luật Lao Động quy định tại Điều 64: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc từ một năm trở lên theo quy định của Chính Phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp”

Cụ thể:

- Đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc thành phần kinh tế quốc doanh, mức tiền thưởng tối đa không quá 06 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp, mức tiền thưởng do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động

- Đối với doanh nghiệp tư nhân, mức tiền thưởng do hai bên thỏa thuận, nhưng mức trích thưởng ít nhất là 10% lợi nhuận (Điều 9 Nghị định 197/CP ngày 31-12-1994)

Trang 22

* Tóm lại: Hệ thống tiền lương và tiền công nhất quán là một bộ phận

then chốt của các thông lệ quản lý nguồn nhân lực công bằng và thống nhất Khi có một hệ thống tiền lương và tiền công tốt, các nhân viên và những người quản lý được trả lương một cách công bằng cả theo tầm quan trọng của công việc họ tiến hành và trong mối tương quan với nhau Các nhân viên có thể biết trước được thu nhập nếu như kết quả làm việc của họ thỏa mãn nhu cầu và những người quản lý không phải phán đoán tiền lương hoặc không phải tính toán mức tăng lương cho mỗi lần nâng bậc Như vậy, kế toán tiền lương cung cấp các thông tin cần thiết về việc trả lương cho ban giám đốc doanh nghiệp

Trang 23

CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

CÔNG TY CƠ KHÍ AN GiANG

I Khái quát về công ty Cơ Khí An Giang:

1 Giới thiệu chung về công ty:

- Tên tiếng việt : Công Ty Cơ Khí An Giang

- Tên giao dịch quốc tế : Angiang Mechanical Company

- Trụ sở giao dịch: 165 đường Trần Hưng Đạo, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

- Diện tích mặt bằng: 19.560 m2

- Điện thoại : 076.852969 – 076.854161 – 076.856638

- Fax: 076.853052

- Tài khỏan giao dịch:

710A.00003 ngân hàng Công Thương An Giang

7301.0019F ngân hàng Đầu Tư & Phát Triển An Giang

- Vốn sản xuất kinh doanh:

Cơ cấu vốn Năm 2002 Năm 2003

Trang 24

2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:

Công ty Cơ Khí An Giang trước đây là Xí Nghiệp Cơ Khí quốc doanh được thành lập theo quyết định số 117/QĐ.UB ngày 04/09/1976 của UBND tỉnh An Giang Quyết định số 572/QĐ.UB ngày 21/11/1992 của UBND tỉnh

An Giang thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo nghị định 388/CP Quyết định số 764/QĐ.UB ngày 20/04/1999 của UBND tỉnh An Giang đổi tên doanh nghiệp thành Công Ty Cơ Khí An Giang

Cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu lúc mới thành lập có nhiều khó khăn, máy móc thiết bị cũ kỹ không đồng bộ, tuy nhiên công ty đã nổ lực phấn đấu vươn lên từ hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh, để tái đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và sửa chữa nâng cấp nhà xưởng mở rộng sản xuất, đáp ứng yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường

3 Phạm vi hoạt động:

Công ty Cơ Khí An Giang là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp cơ khí góp phần đẩy nhanh tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển giao thông nông thôn tại địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng Nhà nước và tham gia thị trường xuất khẩu

II Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sơ đồ tổ chức công ty:

1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty:

1.1.Chức năng, nhiệm vụ :

- Nghiên cứu thiết kế sản xuất các loại máy móc thiết bị sản xuất nông nghiệp, chế biến và bảo quản nông sản thực phẩm

- Sửa chữa ô tô, máy kéo, máy nông nghiệp

- Đóng mới và sửa chữa các loại sà lan đến 800 tấn

- Thi công các loại móng công trình, công việc xây lắp, kết cấu công trình, kết cấu kim loại

- Sản xuất các loại cấu sắt nông thôn

- Nhận thầu các công trình thuộc dự án nhóm C: sản xuất và thi công các loại cầu sắt nông thôn có tải trọng dưới 30 tấn

- Thiết kế cơ khí

- Kinh doanh các loại vật tư công nghiệp và thiết bị văn phòng

- Liên doanh khai thác, chế biến đá xây dựng

Trang 25

1.2.Quyền hạn và trách nhiệm của công ty:

- Công ty có đủ quyền hạn và trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục đăng ký kinh doanh và họat động theo đúng quy định của pháp luật

- Công ty được trực tiếp ký kết các hợp đồng kinh tế với các đơn vị,

tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân trong ngòai nước về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa

- Liên doanh liên kết sản xuất kinh doanh theo chức năng, nhiệm vụ được giao đúng luật định

- Được ký kết hợp đồng tuyển dụng lao động theo chế độ và chính sách tuyển dụng lao động của nhà nước

2 Sơ đồ tổ chức và nhiệm vụ các phòng ban :

2.1 Sơ đồ tổ chức:

Trang 26

GHI CHÚ : - Giám đốc lãnh đạo toàn diện

- Lãnh đạo trực tuyến chức năng

- Quan hệ trao đổi phối hợp

- Quan hệ trực tuyến nghi ệp vụ

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY CƠ KHÍ AN GiANG

Phòng KHVT

Phòng KHVT

Phòng KHVT

Phòng KHVT

CHVT.TBVP XNCK.LX

Tổ Kinh Doanh

Tổ Kế Toán Tổ Kỹ Thuật P.Kế Toán X ÔTÔ X Tiện Hàn CHVT

PGĐ.PT LIÊN DOANH PGĐ.SẢN XUẤT

PGĐ.TRỰC

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Trang 27

2.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban tại văn phòng công ty:

Cơ cấu tổ chức của công ty được tổ chức theo trực tuyến chức năng Đây

là mô hình mà trong đó giám đốc là người chịu trách nhiệm quản lý và điều hành cao nhất mọi hoạt động của công ty

- Phó giám đốc trực: thay giám đốc điều hành công việc khi giám đốc đi công tác vắng mặt dài ngày, trực tiếp điều hành phòng kỹ thuật và phòng KCS

- Phó giám đốc phụ trách sản xuất: trực tiếp chỉ đạo điều hành phòng điều phối sản xuất và 2 phân xưởng sản xuất tại văn phòng công ty

- Kế toán trưởng: tham mưu cho giám đốc về công tác tài chính kế toán toàn doanh nghiệp

2.2.2/ Phòng kỹ thuật:

- Nhân sự: 10 người, có 1 trưởng phòng

- Chức năng, nhiệm vụ: nghiên cứu, quản lý công tác kỹ thuật, công nghệ sản xuất, định mức vật tư, định mức lao động nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới

2.2.3/ Phòng KCS:

- Nhân sự: 3 người, có 1 trưởng phòng

- Chức năng, nhiệm vụ: nghiên cứu quản lý công tác kiểm tra chất lượng chi tiết sản phẩm và thành phẩm khi xuất xưởng

2.2.4/ Phòng điều phối sản xuất:

- Nhân sự: 4 người, có 1 trưởng phòng

- Chức năng nhiệm vụ: nghiên cứu quản lý điều phối công việc hợp đồng kinh tế đã ký kết và tiến độ sản xuất; quản lý nhập xuất vật tư

2.2.5/ Phòng kinh doanh tiếp thị:

- Nhân sự: 8 người, có 1 trưởng phòng

- Chức năng nhiệm vụ: đối tác tham mưu giám đốc trong việc ký hợp đồng kinh tế, tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ và cung cấp vật tư đáp ứng yêu cầu sản xuất

Trang 28

2.2.6/ Phòng kế toán tài vụ:

- Nhân sự: 4 người , có 1 trưởng phòng

- Chức năng nhịêm vụ: quản lý công tác tài chính kế toán và báo cáo thống kê toàn doanh nghiệp

2.2.7/ Phòng tổ chức hành chánh:

- Nhân sự: 5 người, có 1 trưởng phòng

- Giúp ban lãnh đạo theo dõi, đánh giá công chức, tham mưu cho ban lãnh đạo sắp xếp, bố trí cán bộ công chức, quản lý hồ sơ công chức, giúp việc cho hội đồng thi đua khen thưởng của công ty

- Quản lý việc sửa chữa, xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác, theo dõi cấp phát kinh phí , chi tiêu thường xuyên của cơ quan theo chế độ, tổ chức phục vụ cuộc họp

- Quản lý công văn đi đến, chịu trách nhiẹm về các văn thư, hồ sơ lưu trữ

2.2.8/ Các phân xưởng sản xuất tại văn phòng công ty:

Phân xưởng sản xuất có nhiệm vụ quản lý máy móc thiết bị và tổ chức sản xuất đáp ứng kịp thời các hợp đồng kinh tế theo chỉ đạo của ban giám đốc, có 2 phân xưởng sản xuất là: phân xưởng cơ khí ( 57 người ) và phân xưởng

gò hàn ( 64 người ) Lãnh đạo phân xưởng có quản đốc và phó quản đốc: 5 người tính lương theo thời gian ( bộ phận quản lý )

Biểu đồ số lượng lao động văn phòng công ty Cơ Khí An Giang

Đvt: người

42 0

10 20 30 40 50 60 70

Trang 29

3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán:

3.1.Tổ chức phòng kế toán tại công ty:

Thuộc mô hình công ty có quy mô lớn, các đơn vị trực thuộc phân tán trên địa bàn tỉnh An Giang, chính vì vậy để tiện cho việc quản lý, hạch toán kế toán kịp thời công ty đã áp dụng hình thức kế toán vừa tập trung vừa phân tán Đây cũng là mô hình hiện nay được rất nhiều công ty áp dụng

Trong mô hình này, tại văn phòng công ty và các đơn vị trực thuộc đều

có bộ phận kế toán riêng, tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được bộ phận

kế toán tại chỗ ghi chép, cập nhật hàng ngày Định kỳ hàng quý các đơn vị trực thuộc lập báo cáo gởi về văn phòng công ty để tổng hợp báo cáo tài chính gởi các cơ quan ban ngành chức năng

Nếu xét góc độ toàn công ty thì bộ phận kế toán mang tính chất phân tán

vì như thế sẽ đảm bảo tính khách quan độc lập, mặt khác do tính chất nghiệp vụ ở từng đơn vị khác nhau do đó nhất thiết phải hạch toán độc lập

3.2 Chức năng các phận hành kế toán:

- Kế toán trưởng: kiêm trưởng phòng kế toán phụ trách về mặt quản lý nhân sự làm công tác kế toán và tham mưu giám đốc trong công tác tài chính kế toán thống kê của toàn công ty

- Kế toán tổng hợp:

• Phụ trách phòng khi kế toán trưởng đi vắng

• Chỉ đạo và hướng dẫn chung công tác nghiệp vụ

• Theo dõi việc quản lý và sử dụng công cụ lao động, tài sản cố định, tình hình tăng giảm tài sản cố định, phân bổ công cụ lao động xuất dùng trong kỳ

• Theo dõi công tác tài chính các đơn vị trực thuộc

• Theo dõi tình hình công nợ, nợ vay ngân hàng, lập kế hoạch trả vốn

nợ và lãi đúng quy định, lập hóa đơn xuất kho cho khách hàng

- Kế toán thanh toán và kế toán nguyên vật liệu:

• Lập phiếu thu chi tiền mặt, kiểm tra đối chiếu tình hình tăng giảm và tồn kho vật tư nguyên liệu

• Thu hồi tạm ứng cán bộ công nhân viên và thường xuyên kiểm tra đối chiếu công nợ

- Thủ quỹ:

• Quản lý tiền mặt thu chi đúng quy định

• Mở sổ theo dõi quỹ và báo cáo đối chiếu sự biến động quỹ tiền mặt hành ngày

- Kế toán trên máy vi tính

Trang 30

• Căn cứ chứng từ gốc thông qua sổ cái để nhập số liệu phát sinh hàng ngày theo từng mã vật tư và mã công tác hoặc mã khách hàng

• Vào cuối tháng chạy sổ kế toán tổng hợp, phân bổ chi phí gián tiếp, tính toán giá thành, lập bảng cân đối, sổ cái, chi tiết công nợ và in ra giấy để lưu giữ, cuối mỗi quý lập báo cáo kết quả kinh doanh

Sơ đồ tổ chức phòng kế toán

* Các đặc điểm về chế độ kế toán áp dụng tại công ty:

- Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm

- Đơn vị tiền tệ áp dụng: Việt Nam đồng

- Kế toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên và nhập trước xuất trước

- Hình thức kế toán áp dụng: chứng từ ghi sổ

- Phương pháp trích khấu hao: đường thẳng

SƠ ĐỒ LƯU CHUYỂN CHỨNG TỪ

Trang 31

Hóa đơn, biên nhận, hợp đồng kinh tế, giấy đề nghị thanh toán, phiếu thu, phiếu chi kế toán thanh toán ghi vào sổ, lập chứng từ ghi sổ để định khoản các tài khoản liên quan, đồng thời mở sổ theo dõi chi tiết đối với các khách hàng mua bán nợ (TK 141, TK 136, TK 331 ) Căn cứ chứng từ ghi sổ để lập sổ cái, căn cứ

sổ cái lập bảng tổng hợp chi tiết, căn cứ sổ cái lập báo cáo tài chính, sổ quỹ chỉ

để theo dõi thu, chi số dư cuối ngày để đối chiếu nhật biên hàng ngày

III Những thuận lợi, khó khăn, phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh và một số thành tích đạt được:

- Nhãn hiệu sản phẩm của công ty cơ khí An giang từ lâu đã trở nên quen thuộc, có uy tín với người tiêu dùng, do công ty luôn quan tâm đặt biệt đến công tác quản lý chất lượng sản phẩm hiện nay sản phẩm của công ty đã có mặt rộng khắp tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và cả nước

- Công ty tham gia tích cực các chương trình, mục tiêu của Đảng nhà nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Công ty tiếp tục giữ vững ổn định và đẩy mạnh phát triển, tập hợp được

sự đoàn kết nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy cơ sở, tập trung nội lực giành lấy thời cơ, tổ chức thực hiện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp theo yêu cầu xã hội, đảm bảo lợi ích kinh tế của nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động

- Trong công tác quản lý công ty được đơn vị QUACERT cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001-2000

tế thị trường, giá bán không thể tăng được, do đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh của công ty

Trang 32

- Công nghệ sản xuất chưa đồng bộ, máy móc thiết bị còn lạc hậu, trình độ tay nghề của công nhân có mặt còn hạn chế

- Vừa hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tiến hành công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại văn phòng công ty, nên môi trường sản xuất kinh doanh và không gian làm việc cũng gặp một số khó khăn nhất định

3 Phương hướng phát triển trong sản xuất kinh doanh:

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao bằng các biện pháp sau:

Tập trung mở rộng tìm kiếm thị trường mới, tăng cường chính sách hậu mãi Chú ý đầu tư mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh; Đặt trọng tâm chiến lược kinh doanh là không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm đi đôi với tập trung công tác tiếp thị mở rộng thị trường, hướng ra xuất khẩu

Quan tâm nghiên cứu cải tiến chất lượng sản phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm, sự định giá hợp lý

Coi nghĩa vụ nộp ngân sách là nhiệm vụ chính trị số một, đơn vị thực hiện nộp ngân sách đúng, đủ theo thông báo của ngành thuế không để khê đọng, day dưa Ngòai ra, doanh nghiệp còn tham gia đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, cứu trợ thiên tai lũ lụt, xóa đói giảm nghèo,…

4 Một số thành tích đạt được:

4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2002-2003:

Ta thấy công ty cơ khí An giang luôn đạt được doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, lao động luôn vượt hơn so với kế hoạch đề ra, cho thấy công ty làm

ăn có hiệu quả Chính vì vậy mà tiền lương bình quân trả cho nhân viên cũng cao hơn so với số kế hoạch

Năm 2003 do công ty tổ chức quy trình công nghệ sản xuất tốt nên số lao động thực tế của công ty nhỏ hơn số kế hoạch đề ra Sản phẩm cầu sắt nông thôn

là sản phẩm được nhiều khách hàng ưa chuộng

Điều này được thể hiện cụ thể thông qua bảng sau:

Trang 33

BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TỪ NĂM 2001- 2003

Số

- Sc đóng mới sà lan

- Khung nhà tiền chế

Ngày đăng: 04/04/2013, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 9.1 : trả lương khoán cho nhóm người lao động - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
Bảng 9.1 trả lương khoán cho nhóm người lao động (Trang 19)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ   CÔNG TY CƠ KHÍ AN GiANG - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
i ANG (Trang 26)
Sơ đồ tổ chức phòng kế toán - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
Sơ đồ t ổ chức phòng kế toán (Trang 30)
BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TỪ NĂM 2001- 2003  Năm 2001  Năm 2002  Năm 2003 Số - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
2001 2003 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Số (Trang 33)
Hình thức này áp dụng cho khối kinh doanh ( khối gián tiếp ) bao gồm  các phòng ban của công ty như: Ban giám đốc, phòng kế toán tài vụ, phòng tổ  chức hành chánh, phòng điều phối, phòng kỹ thuật,… - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
Hình th ức này áp dụng cho khối kinh doanh ( khối gián tiếp ) bao gồm các phòng ban của công ty như: Ban giám đốc, phòng kế toán tài vụ, phòng tổ chức hành chánh, phòng điều phối, phòng kỹ thuật,… (Trang 50)
BẢNG CHẤM CÔNG TỔ 1 PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ THÁNG 2       NĂM 2003 - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
1 PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ THÁNG 2 NĂM 2003 (Trang 58)
BẢNG CHẤM CÔNG TỔ ĐÚC PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ 2/2003  Đvt: đồng - Một số giải pháp tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
2 2003 Đvt: đồng (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w