PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
2014
LỜI CẢM TẠ
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CÁC MÔ HÌNH
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG VÀ TÔM SÚ THÂM CANH TỈNH NINH THUẬN
Trang 3Xin chân thành cảm ơn !Trước hết, tôi xin gửi lời tri ân đến PGs.Ts Lê Xuân Sinh đã giúp tôi hoànthành đề cương và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Nam Sơn vàPGs.Ts Đỗ Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiệnluận văn.
Quý Thầy, Cô Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt nhữngkinh nghiệm quý báu trong những năm tôi học tại trường
Dự án SEAT đã tài trợ kinh phí để tôi hoàn thành đề tài
Ban lãnh đạo Chi cục Thủy sản tỉnh Ninh Thuận, các hộ nuôi tôm huyện NinhPhước, Thuận Nam và Ninh Hải đã cung cấp thông tin và giúp đỡ cho tôitrong quá trình phỏng vấn và thu thập số liệu
Gia đình và bạn bè đã giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
PHÙNG THỊ HỒNG GẤM
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu phân tích hiệu quả sản xuất của các mô hình nuôi tôm thẻchân trắng và tôm sú tỉnh Ninh Thuận được thực hiện từ tháng 3 năm 2013đến tháng 3 năm 2014 nhằm phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất của các môhình nuôi tôm thẻ chân trắng bổ sung carbon hữu cơ, thẻ chân trắng truyềnthống ̣̣và tôm sú truyền thống
Nội dung nghiên cứu bao gồm: (i) Đánh giá hiện trạng nuôi thâm canhtôm thẻ chân trắng và tôm sú ở tỉnh Ninh thuận; (ii) Phân tích và đánh giáđược các yếu tố tài chính, kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuậntrong nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh và (iii) Phân tích nhữngthuận lợi và khó khăn nhằm đề xuất giải pháp nâng cao năng suất, giảm rủi ro
và đề xuất hướng phát triển nghề nuôi tôm thâm canh tại Ninh Thuận theohướng bền vững và thân thiện với môi trường Một trăm mười bốn hộ nuôitôm TCT và tôm sú được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn hiệu quả sản xuất củacác mô hình nuôi trong năm 2013
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với mô hình nuôi tôm TCT - C có mật
độ thả 152 con/m2 cao hơn mô hình nuôi TCT - TT là 87 con/m2 và sú - TT là
23 con/m2 Năng suất trung bình nuôi TCT - C là 15,97 tấn/ha/vụ cao hơn vàkhác biệt có ý nghĩa thống kê so với mô hình nuôi TCT - TT là 9,14 tấn/ha/vụ
và sú - TT là 4,22 tấn/ha/vụ Tổng chi phí đầu tư mô hình nuôi tôm bổ sungcarbon cao hơn mô hình nuôi tôm TCT - TT và sú - TT lần lượt là 1,7 và 3,1lần Lợi nhuận từ mô hình nuôi tôm bổ sung carbon cao 689tr.đ/ha/vụ, MHnuôi tôm TCT - TT là 225tr.đ/ha/vụ và nuôi tôm sú - TT 112tr.đ/ha/vụ Tỷ lệLN/TC mô hình nuôi tôm bổ sung carbon cao 0,57 và khác biệt có ý nghĩa sovới MH nuôi tôm TCT - TT 0,32 và nuôi tôm sú - TT 0,27 Tỷ lệ rủi ro MHnuôi tôm TCT - C là 22% thấp hơn MH nuôi tôm TCT - TT 53% và sú - TT64% Hộ nuôi có sử dụng ao lắng, sục khí đáy ao và kiểm tra PCR giống trướckhi thả thì tỷ lệ rủi ro thấp hơn nhóm không sử dụng
Khó khăn chung các MH nuôi tôm là: Bệnh tôm khó/không điều trị được vàtần suất xuất hiện bệnh ngày càng cao; thiếu vốn sản xuất; chất lượng congiống kém; CP đầu vào luôn tăng; nguồn nước ngày càng ô nhiễm
Từ khóa: tôm thẻ chân trắng, tôm sú, mô hình nuôi, chi phí – lợi nhuận
Trang 5The result showed that the added organic carbon system of white legshrimp had density about 152 shrimp/m2, the traditional system of white legshrimp: 87 shrimp/m2 and tiger shrimp: 23 shrimp/m2 The white leg shrimphad an average yield of 15.97 ton/ha/crop, higher than that of the traditionalsystem of white leg shrimp (9.14 ton/ha/crop) and traditional tiger shrimpsystem (4.22 ton/ha/crop) The total cost of added organic carbon system ofwhite leg shrimp was greater than 1.7 times the traditional system of white legshrimp and 3.1 the traditional system of tiger shrimp The average net income
of added organic carbon system of white leg shrimp was 689 VND/ha/crop,meanwhile the traditional system of white leg shrimp was 225 VND/ha/cropand the traditional system of tiger shrimp was 112 VND/ha/crop The ratio ofnet income per the total production of added organic carbon, the traditionalwhite leg shrimp and traditional of tiger shrimp systems was 0.57, 0.32 and0.27, respectively The percentages of net–loss farmers added organic carbonsystem white leg shrimp was 22% lower than that of the traditional of whiteleg shrimp system (53%) and the traditional tiger system (64%)
The use sedimentary pond, aeration system, test pathogen free (PCR)for PL resulted in reducing the percentage of net–loss farmers Difficulties ofthe shrimp culture systems are rising of production costs, poor seed quality,shrimp disease (Early Mortality Syndrome), and poor water quality
Keywords: white leg shrimp, tiger shrinp, farming system, benefit analysis.
Trang 6cost-CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứucủa tôi trong khuôn khổ dự án “Nuôi trồng Thủy sản bền vững theo tiêu chuẩnthương mại” (SEAT: Sustaining Ethical Aquaculture Trade, EU) và các kếtquả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ chuyên đề cùng cấp nàokhác Dự án có quyền sử dụng kết quả của luận văn này để phục vụ dự án
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
PHÙNG THỊ HỒNG GẤM
Trang 7
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
CAM KẾT KẾT QUẢ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú và thẻ chân trắng 3
2.1.1 Phân bố 3
2.1.2 Khả năng thích nghi với môi trường 3
2.1.3 Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng 3
2.1.4 Sinh sản 4
2.2 Tình hình nuôi tôm nước lợ Việt Nam 4
2.3 Điều kiện tự nhiên vùng nuôi tôm Ninh Thuận 6
2.4 Hiện trạng sản xuất giống 6
2.5 Hiện trạng nuôi tôm nước lợ ở tỉnh Ninh Thuận 7
2.6 Mô hình nuôi tôm ở Ninh Thuận 9
2.6.1 Nuôi tôm theo mô hình truyền thống 9
2.6.2 Nuôi tôm theo mô hình có bổ sung nguồn Carbon hữu cơ 10
2.7 Vấn đề sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm 13
Trang 8Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 16
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 16
3.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu 16
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 17
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18
4.1 Hiện trạng nuôi tôm biển Ninh Thuận 18
4.1.1 Hiện trạng nuôi tôm sú 18
4.1.2 Hiện trạng nuôi tôm thẻ chân trắng 19
4.1.3 Ứng dụng công nghệ biofloc (bổ sung carbon hữu cơ) vào ao nuôi tôm 20
4.2 Mô hình nuôi tôm tỉnh Ninh Thuận 21
4.2.1 Thông tin chung các mô hình nuôi tôm 22
4.2.2 Đặc điểm ao nuôi tôm 25
4.2.3 Cải tạo ao 27
4.2.4 Mùa vụ thả nuôi 28
4.2.5 Chất lượng con giống 28
4.2.6 Thức ăn và cách cho ăn 29
4.2.7 Quản lý chất lượng nước ao nuôi 29
4.3 So sánh thông tin kỹ thuật và hiệu quả sản xuất 3 mô hình nuôi tôm 31
4.3.1 Các yếu tố kỹ thuật 31
4.3.2 Các yếu tố tài chính 38
4.3.3 Các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất 3 mô hình nuôi 41
4.3.4 Phân tích tỷ lệ rủi ro 3 mô hình nuôi tôm 45
4.4 Tình hình sử dụng thuốc trong ao nuôi tôm 49
4.4.1 Thuốc và hóa chất diệt khuẩn trong khâu chuẩn bị ao nuôi 49
4.4.2 Nhóm khoáng thiên nhiên 50
Trang 9
4.4.3 Nhóm hóa chất, thuốc phòng trừ dịch bệnh 50
4.4.4 Các loại hỗn hợp dinh dưỡng bổ sung vào thức ăn 54
4.5.5 Nhóm chế phẩm sinh học (CPSH) 52
4.5 Những thuận lợi khó khăn các mô hình nuôi tôm ở tỉnh Ninh Thuận 54
4.5.1 Mô hình nuôi tôm truyền thống 53
4.5.2 Ứng dụng mô hình nuôi tôm theo công nghệ biofloc 55
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề xuất 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC A: CHI PHÍ BIẾN ĐỔI CÁC HỘ LỖ 3 MÔ HÌNH NUÔI TÔM 66
PHỤ LỤC B: PHIẾU PHỎNG VẤN NÔNG HỘ 67
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Số lượng và phân bố mẫu khảo sát 16
Bảng 3.2: Các biến phức và biến đơn thể hiện trong biểu mẫu phỏng vấn 16
Bảng 4.1 Cơ cấu về độ tuổi các hộ nuôi 22
Bảng 4.2: Trình độ học vấn các hộ nuôi 24
Bảng 4.3: Nguồn cung cấp thông tin cho các hộ nuôi 26
Bảng 4.4: Tỷ lệ các hộ nuôi có sử dụng và không sử dụng ao lắng 26
Bảng 4.5: Đặc điểm ao nuôi tôm của 3 mô hình 27
Bảng 4.6: Phương pháp kiểm tra chất lượng tôm giống của các hộ nuôi 30
Bảng 4.7: Lượng rỉ đường + bột gạo bổ sung vào trong thức ăn của tôm 32
Bảng 4.8: Thông tin về kỹ thuật 3 mô hình nuôi 34
Bảng 4.9: Tương quan mật độ, tỷ lệ sống và năng suất nuôi tôm TCT - C 37
Bảng 4.10: Lượng carbon hữu cơ bổ sung vào ao ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và năng suất tôm nuôi 38
Bảng 4.11: Mối tương quan giữa mật độ, tỷ lệ sống và năng suất TCT - TT 38
Bảng 4.12: Mối tương quan giữa mật độ, tỷ lệ sống và năng suất tôm sú - TT 39
Bảng 4.13: Chi phí và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 40
Bảng 4.14: Tỷ lệ phần trăm chi phí cố định, chi phí biến đổi 3 mô hình nuôi 41
Bảng 4.15: Phân nhóm mật độ ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 42
Bảng 4.16: Phân nhóm diện tích ao nuôi ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 43
Bảng 4.17: Phân nhóm sục khí đáy ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 44
Bảng 4.18: Phân nhóm ao lắng ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 45
Bảng 4.19: Phân nhóm kiểm tra PCR giống ảnh hưởng đến kỹ thuật và hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm 45
Trang 11Bảng 4.20: Tỷ lệ phần trăm hộ lời và lỗ 3 mô hình nuôi tôm 46
Bảng 4.21: Chi phí các hộ nuôi tôm bị lỗ 47
Bảng 4.22: Thuốc, hóa chất diệt khuẩn trong khâu chuẩn bị ao nuôi 51
Bảng 4.23: Các nhóm khoáng được sử dụng trong nuôi tôm 51
Bảng 4.24: Các loại hỗn hợp dinh dưỡng bổ sung vào thức ăn 53
Bảng 4.25: Những thuận lợi mô hình nuôi tôm truyền thống 55
Bảng 4.26: Những khó khăn mô hình nuôi tôm truyền thống 55
Bảng 4.27: Những thuận lợi mô hình nuôi tôm bổ sung carbon hữu cơ 56
Bảng 4.28: Những khó khăn mô hình nuôi tôm bổ sung carbon hữu cơ 56
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1: Bản đồ hành chính thành phố Phan Rang-Tháp Chàm tỉnh Ninh 15
Hình 4.1: Sản lượng và diện tích nuôi tôm sú qua các năm 19
Hình 4.2: Sản lượng và diện tích nuôi tôm TCT qua các năm 20
Hình 4.3: Cơ cấu về kinh nghiệm các hộ nuôi 23
Hình 4.4: Trình độ kỹ thuật các hộ nuôi 25
Hình 4.5: Tần suất bổ sung carbon vào ao nuôi tôm TCT - C 31
Hình 4.6: Tương quan kích cỡ PL và tỷ lệ sống nuôi tôm sú - TT 33
Hình 4.7: Sơ đồ tỷ lệ rủi ro ảnh hưởng các yếu tố đầu vào mô hình nuôi TCT - C 48
Hình 4.8: Sơ đồ tỷ lệ rủi ro ảnh hưởng các yếu tố đầu vào mô hình nuôi TCT - TT 49
Hình 4.9: Sơ đồ tỷ lệ rủi ro ảnh hưởng các yếu tố đầu vào mô hình nuôi Sú - TT 50
Hình 4.10: Thuốc hóa chất phòng trị bệnh mô hình nuôi tôm TCT - C và TCT - TT 52
Hình 4.11: Nhóm CPSH sử dụng trong nuôi tôm 54
Trang 13DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
(bệnh hoại tử gan tụy)
Bio Security shrimp culture (nuôi an toàn sinh học)
BMP Best management practice (thực hành quản lý tốt)BNN & PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
GAP Good aquaculture practice (thực hành nuôi tốt)
Trang 14TLKN Tài liệu khuyến ngư
Trang 15Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu
Nuôi tôm ở Việt Nam phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng,tạo việc làm tăng thu nhập cho hàng triệu người lao động, thu ngoại tệ đáng kể Sốliệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT, 2012)cho thấy, ngành tôm ở Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng trong những nămqua Nếu như năm 2007, sản lượng tôm nuôi chỉ đạt 376,7 ngàn tấn thì đến năm 2011sản lượng đã tăng lên 403,6 ngàn tấn và trong năm 2012, sản lượng tôm cả nước đạt476,4 nghìn tấn với sản lượng trên đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩutôm lớn nhất thế giới Ngoài tôm sú thì hiện nay tôm thẻ chân trắng (TTCT) đangđược chú trọng phát triển nhanh do tôm chân trắng là đối tượng dễ nuôi, thời giannuôi ngắn, hiện đang có hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi tôm sú cho nên ngườinuôi có xu hướng chuyển dần diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm chân trắng Nhưngcòn nhiều vấn đề bất cập, vấn đề hiện nay trong thời gian tới làm sao nuôi tôm phảigiảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất, gia tăng năng suất và sản lượng cho người nuôigiảm thiểu ô nhiễm và khống chế dịch bệnh để tạo ra sản phẩm thủy sản xuất khẩuđạt chất lượng tốt
Nhằm hướng đến phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên thế giới, các môhình nuôi cải tiến không ngừng đảm bảo an toàn sinh học, an toàn tiêu dùng và thânthiện môi trường được ứng dụng rộng rải giúp quản lý nghề nuôi tốt hơn như: thựchành nuôi tốt (GAP - good aquaculture practice), thực hành quản lý tốt (BMP - bestmanagement practice), nuôi an toàn sinh học (Bio - security shrimp culture), nuôi cótrách nhiệm, nuôi kết hợp, nuôi sinh thái (Boyd, 2003), nuôi theo công nghệ biofloc(biện pháp bổ sung nguồn carbon) vào ao nuôi tôm đã được thảo luận trong nhiềucông trình nghiên cứu Ở nước ta Ninh Thuận là tỉnh dẫn đầu nuôi tôm thẻ chân trắng
và tôm sú thâm canh với các mô hình nuôi khác nhau như nuôi theo truyền thống,nuôi bổ sung carbon hữu cơ Trong đó mô hình nuôi có bổ sung carbon hữu cơ đãđem lại thành công đáng kể và khống chế được dịch bệnh Vấn đề cấp thiết đặt ra lúcnày là lựa chọn phương thức nuôi và đối tượng nào để đảm bảo nghề nuôi phát triển
bền vững và thân thiện với môi trường Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Phân tích hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh tỉnh Ninh Thuận” được thực hiện là hết sức cần thiết.
1.2 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chung của đề tài nhằm làm rõ những mặt ưu điểm, mặt hạn chế củatừng đối tượng và mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh qua đó giúpnghề nuôi phát triển một cách hiệu quả và bền vững ở tỉnh Ninh Thuận
Trang 161.3 Nội dung thực hiện đề tài
1 Điều tra hiện trạng nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng và tôm sú ở tỉnh Ninhthuận
2 Phân tích và đánh giá được các yếu tố tài chính và kỹ thuật ảnh hưởng đếnnăng suất và lợi nhuận trong nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh
3 Phân tích những thuận lợi và khó khăn nhằm đề xuất giải pháp nâng cao năngsuất, giảm rủi ro và đề xuất hướng phát triển nghề nuôi tôm thâm canh tạiNinh Thuận theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Đề tài dự kiến được thực hiện từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014
Trang 17Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú và thẻ chân trắng
2.1.1 Phân bố
Tôm sú phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, phạm vi phân bố củatôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti,phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Motoh, 1985) từ 400 vĩ độ Bắc đến 400 vĩ
độ Nam Khi trưởng thành tôm sú sống ở ngoài biển khơi (không quá 180 m) và giaiđoạn ấu niên ở vùng ven bờ Môi truờng sống có nền đáy bùn hay cát Tôm thẻ chântrắng là loài tôm mang tính nhiệt đới, chủ yếu phân bố ở Nam Mỹ Thích sống đáybùn, phạm vi nhiệt độ 25-320C, là loài rộng muối, tôm trưởng thành chủ yếu sống ởvùng biển gần bờ, tôm con thích sống ở vùng cửa sông nhiều thức ăn để tìm mồi Donhu cầu phát triển nuôi loài tôm này, hiện nay thẻ chân trắng có mặt nhiều nơi trênthế giới (Trần Viết Mỹ, 2009)
2.1.2 Khả năng thích nghi với môi trường
Tôm sú là loài rộng muối 5 - 45‰ và rộng nhiệt 14 - 35oC Nhiệt độ tốt chotăng trưởng 25 - 30oC, độ mặn thích hợp nhất cho tăng trưởng là 25 - 30‰, oxy hòatan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nuôi tôm, hàm lượngoxy hòa tan thích hợp là 4 - 8 mg/L (Nguyễn Khắc Hường, 2007) Tôm thẻ chântrắng có khả năng thích ứng với biến động môi truờng rất cao Theo Nguyễn KhắcHường (2007), thẻ chân trắng chịu đựng nhiệt độ cao tốt, giới hạn tối đa là 43,5oC,nhưng trái lại nhiệt độ thấp thì rất kém dưới 18oC hoạt động bắt mồi giảm, duới 9oCthì tôm chết Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 - 30oC Theo ĐỗThị Thanh Hương (2008), tôm thẻ chân trắng có khả năng chịu đựng được với độmặn của môi trường thấp Loài này có thể tăng trưởng tốt ở môi trường nuôi có độmặn thấp tại một số vùng ở Mỹ và Ecuador Có thể chịu đựng độ muối trong phạm vi
2 - 78‰, thích hợp: 7 - 34‰ và tăng trưởng tốt ở độ mặn khá thấp: 10 - 15‰
2.1.3 Tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng
Tôm sú là loài ăn tạp, ăn đáy thiên về động vật Thức ăn của tôm bao gồmgiáp xác, các mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, côn trùn (Phạm Văn Tình, 2003) Tôm
sú có nhu cầu đạm rất cao (45% - 40%) nên thức ăn thường có giá cao hơn các loạithức ăn của các loại tôm khác Tôm thường ăn vào ban đêm (2/3 khẩu phần ăn củangày) và ăn lẫn nhau đặc biệt là khi nguồn thức ăn bị thiếu Vào những tháng cuốicủa thu hoạch thì nên cho tôm ăn thêm những loại thức ăn tươi sống như mực,nhuyễn thể để tôm chắc thịt và và có độ bóng nhất định Tôm thẻ chân trắng là loài
ăn tạp (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003), tôm thẻ ăn cả thực vật và động vật ởcác dạng phiêu sinh, ăn chất hữu cơ…Đối với thức ăn công nghiệp thì cần độ đạm
Trang 18tương tối thấp khoảng 35% nên giá thức ăn thường thấp hơn tôm sú Tốc độ sinhtrưởng nhanh sau 180 ngày thả tôm bột chúng có thể đạt 40 g/con.
2.1.4 Sinh sản
Tôm sú cơ quan sinh dục của tôm đực là petasna còn tôm cái là thelycum.Tôm sú là loài có thelycum kín Sự phát triển của trứng trải qua 5 giai đoạn Quá tìnhsinh sản theo thứ tự: lột xác - giao vĩ - thành thục - đẻ trứng Thời gian giao vĩthường là ban đêm từ 18 giờ đến 6 giờ Sức sinh sản của tôm đạt 500.000 - 1.000.000trứng/tôm mẹ Tôm thẻ chân trắng là loài có thelycum hở Quá trình sinh sản tuântheo thứ tự: lột xác - thành thục - giao vĩ - đẻ trứng Tôm trưởng thành di cư ra vùngbiển có độ mặn cao để sinh sản (Vũ Thế Trụ, 2003)
2.2 Tình hình nuôi tôm nước lợ Việt Nam
Năm 1985, tôm sú đã được sinh sản nhân tạo thành công ở Nha Trang và dầntrở thành đối tượng nuôi chủ yếu trong sản xuất giống và nuôi tôm biển nước ta Hơnnữa, vì đây là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ lực cho chế biến xuất khẩu mang lạigiá trị kinh tế cao nên có nhiều chương trình để phát triển nuôi tôm sú như chươngtrình nuôi thủy sản nước mặn, lợ; chương trình phát triển nuôi tôm sú (BộNN&PTNT, 2008) Bên cạnh tôm sú thì tôm thẻ chân trắng được biết đến ở ViệtNam từ năm 2000, việc nuôi thử nghiệm tôm này đã cho năng suất cao và thu hútđược sự chú ý của các nhà nuôi tôm Tuy nhiên, nguồn giống phải nhập ngoại, nhằmphát triển đối tượng này trên qui mô bền vững ở Việt Nam thì việc sản xuất giốngnhân tạo trong nước là việc cần thiết Năm 2002, tôm thẻ chân trắng được nhập vàthử nghiệm sản xuất giống thành công Năm 2003 bắt đầu sử dụng tôm mẹ là tôm thẻchân trắng F1, năm 2003 Bộ thủy sản cho phép nuôi tôm này ở các tỉnh miền Trung
và cấm nuôi ở các tỉnh ĐBSCL Đầu năm 2008, Bộ NN&PTNT ban hành quyết địnhcho phép nuôi tôm thẻ chân trắng ở các tỉnh ĐBSCL, nhằm đa dạng đối tượng nuôi
và đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường
Nghề nuôi tôm phát triển mạnh ở Việt Nam, các vùng nước ngọt, ngập mặn,nước lợ ven biển đều được tận dụng để nuôi tôm đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó
đã từng bước góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ở những khu vực này.Năm 2012, nuôi tôm nước lợ cả nước phải đối diện với hàng loạt khó khăn, nhất làtình trạng dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quảsản xuất Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2012, cả nước có 30 tỉnh, thànhphố nuôi tôm nước lợ, với diện tích thả nuôi 657.523 ha, đạt sản lượng 476.424 tấn
So với năm 2011 diện tích tăng 0,2%, sản lượng giảm 3,9% Trong đó, nuôi tôm súchiếm 94,1% tổng diện tích và 62,7% sản lượng tôm nuôi trong cả nước Tôm thẻnuôi chiếm 5,9% diện tích, sản lượng chiếm 27,3% Khu vực Đồng bằng sông CửuLong là vùng nuôi tôm nước lợ chủ yếu của cả nước, diện tích nuôi tôm là 595.723
ha, sản lượng 358.477 tấn (chiếm 90,61% diện tích, 75,2% sản lượng nuôi tôm cảnước), trong đó diện tích nuôi tôm sú là 579.997 ha, sản lượng 280.647 tấn (chiếm93,6 % diện tích, 94% sản lượng tôm sú cả nước), diện tích nuôi tôm chân trắng là
Trang 1915.727 ha, sản lượng 77.830 tấn (chiếm 41,2.% diện tích, 42% sản lương tôm chântrắng nuôi cả nước) Năm 2012 cả nước có 1.529 cơ sở sản xuất tôm sú giống, sảnxuất được hơn 37 tỷ con giống và có 185 cơ sở sản xuất tôm chân trắng giống, sảnxuất được gần 30 tỷ giống Số lượng cơ sở sản xuất giống giảm đi so với 2009 gần
600 cơ sở nhưng quy mô cơ sở lại lớn hơn nên sản lượng giống không giảm mà tănglên Theo thống kê của Tổng Cục Thủy sản, đến cuối tháng 10 năm 2011, diện tíchtôm bị thiệt hại đã lên đến gần 85.000 ha, bằng 302% so với cùng kỳ năm 2010 vàđến năm 2012, cả nước có khoảng 100.776 ha diện tích tôm nước lợ bị thiệt hại dodịch bệnh (trong đó 91.174 ha nuôi tôm sú và 7.068 ha nuôi tôm thẻ), bao gồm hộichứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) (Bộ NN&PTNT, 2012)
Tuy vậy, nghề nuôi tôm ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức,ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành Đó là các tác động kinh tế, xã hội, môitrường của ngành nuôi tôm và gần đây là các vấn đề về rào cản chất lượng sản phẩm
và tranh chấp thương mại giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu Việc chuyển đổiquá nhanh một diện tích lớn ruộng lúa, ruộng muối năng suất thấp và đất hoang hoáven biển sang nuôi tôm kéo theo một loạt các vấn đề bất cập về cung ứng vốn đầu tư,giống, kỹ thuật công nghệ, quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh, quy hoạch vàphát triển cơ sở hạ tầng Nuôi tôm vẫn mang tính tự phát thiếu quy hoạch Ngoài một
số doanh nghiệp đã tham gia vào ngành nuôi tôm, góp phần đẩy nhanh tiến độ côngnghiệp hoá – hiện đại hoá, đem lại những chuyển biến rất đáng kể ở vùng nông thônven biển, nuôi tôm ở Việt Nam chủ yếu vẫn do các nông hộ thực hiện ở quy mô sảnxuất nhỏ Hình thức tổ chức nuôi tôm ở Việt Nam vẫn chủ yếu là kinh tế hộ gia đình,
có tính chất manh mún, nhỏ lẻ, chưa hình thành mạng lưới tổ chức chặt chẽ để nângcao hiệu quả sản xuất, quản lý tốt chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả cạnh tranh
và duy trì thị trường bền vững (Bộ NN&PTNT, 2012) Sự thâm canh hóa và tăngdiện tích hiện nay trong nuôi tôm ở Việt Nam là vượt tầm kiểm soát của nhà nước, sựđầu tư cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu trong thực tế Hệ thống kênh rạch đa phần
là sử dụng hệ thống thủy lợi cho nông nghiệp trước đây, sự đầu tư không đáp ứngcho vùng nuôi tôm, phần lớn các nông dân lấy nước trực tiếp không qua xử lý hoặc
bơm từ giếng khoan cấp cho các ao nuôi (Boyd et al 2003).
Quy trình kỹ thuật nuôi chưa hợp lý, chưa cải tiến theo thực tế sản xuất, hầuhết vùng nuôi không có ao lắng xử lý nước cấp và không có hệ thống xử lý nướcthải Việc quản lý điều tiết môi trường nước trong quá trình nuôi không kịp thời.Trong thời gian nuôi chính vụ, thời tiết khô hạn, độ mặn tăng lên theo đó các yếu tốmôi trường cũng có sự biến đổi tương ứng sẽ làm tôm sốc, bị ngộ độc với môitrường Đặc biệt, do chạy theo lợi nhuận nên người dân còn chưa tuân thủ lịch thời
vụ thường thả giống sớm, mùa vụ thả liên tục, không có thời gian ngắt vụ, việc cảitạo ao đầm không đảm bảo kỹ thuật, bệnh tiềm ẩn khi có điều kiện sẽ bùng phát Khitôm nuôi bị bệnh không báo cho cơ quan quản lý thú y thủy sản, thậm chí còn thảinước ao bị nhiễm bệnh ra môi trường xung quanh khu vực nuôi Đây cũng là những
Trang 20nguyên nhân chính khiến cho dịch bệnh lan rộng nhanh chóng trong vùng nuôi tôm(Bộ NN&PTNT, 2012).
2.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nuôi tôm biển Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, nơi có nhiều tiềm năng choviệc phát triển nuôi trồng thủy sản với lợi thế như bờ biển dài 105 km với vùng lãnhhải rộng trên 18.000 km2, có 3 cửa khẩu ra biển là Đông Hải, Cà Ná và Khánh Hải.Vùng ven biển có nhiều đầm vịnh phù hợp phát triển nuôi trồng thủy sản và sản xuấttôm giống là một thế mạnh của tỉnh Khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặctrưng khô nóng, thời tiết có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ngắn chỉ có ba tháng từ tháng 9đến tháng 11 với lượng mưa trung bình năm 750 mm; mùa khô từ tháng 12 đến tháng
8 dương lịch năm sau, gió nhiều, bốc hơi mạnh, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26
-27oC Chế độ thủy triều biển có tính chất phức tạp, vừa có nhật triều, vừa có bán nhậttriều, biên độ dao động từ 1,9 - 2,2 m nên có điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủysản Vùng nuôi tôm TCT tập trung chủ yếu huyện Thuận Nam và Ninh Phước, nuôitôm sú ở huyện Ninh Hải (vùng nuôi tôm Đầm Nại)
2.4 Hiện trạng sản xuất giống
Tôm sú giống: Đầu năm 2012 toàn tỉnh có khoảng 210 cơ sở hoạt động sản
xuất tôm sú, nhưng do chuyển đổi đối tượng nuôi tôm thương phẩm tại khu vực miềnTây nên đến giữa năm nhiều cơ sở chuyển sang sản xuất giống tôm TCT, cuối nămchỉ còn khoảng 50 cơ sở hoạt động sản xuất tôm sú Sản lượng giống tôm sú sản xuấtđược trong năm là 4,5 tỷ PL, đạt 82% so kế hoạch và so với năm 2011 Năm 2013tỉnh có 190 cơ sở sản xuất được 6,5 tỷ PL Hoạt động sản xuất tôm sú trong năm gặpkhó khăn: nhu cầu con giống giảm, khí hậu thay đổi thất thường, chất lượng nướcnuôi ngày càng ô nhiễm nên hiệu quả sản xuất không cao Ngoài một số cơ sở đầu tưnâng cấp trang thiết bị thì phần lớn các cơ sở sản xuất tôm sú mang tính sản xuất nhỏ
lẻ, đầu ra không ổn định, khả năng dự đoán thị trường và cạnh tranh không cao nêngây khó khăn cho quy hoạch và phát triển
Tôm thẻ chân trắng: Đầu năm 2012 toàn tỉnh có 86 cơ sở hoạt động sản
xuất tôm thẻ chân trắng giống, nhưng đến giữa năm nhiều cơ sở sản xuất giống tôm
sú chuyển sang sản xuất giống tôm TCT nên cơ sở sản xuất tăng lên 246 Sản lượnggiống tôm TCT sản xuất được trong năm 12,0 tỷ PL và 4 tỷ nauplius Năm 2013 toànvùng có 430 cơ sở sản xuất tôm giống và sản xuất được 20 tỷ PL Phần lớn các cơ sởsản xuất tôm thẻ là các công ty, doanh nghiệp lớn, chú trọng đầu tư mở rộng quy mô
và nâng cấp trang thiết bị nên giống tôm TCT tại Ninh Thuận được đánh giá cao vềsản lượng và chất lượng Trong sản xuất tôm giống, vùng sản xuất và kiểm địnhgiống thủy sản tỉnh Ninh Thuận tập trung xã An Hải huyện Ninh Phước Theo Chicục Thủy sản, tại đây đang có 103 cơ sở, tập đoàn, công ty hoạt động, trong đó có 47công ty lớn trong và ngoài nước Một số tập đoàn, công ty trong lĩnh vực thủy sảnnhư Minh Phú, Globert & Imei Việt Nam, Uni-President Việt Nam, CP Việt Nam
2.5 Hiện trạng nuôi tôm nước lợ ở tỉnh Ninh Thuận
Trang 21Sự phát triển nghề nuôi tôm trên cát mang lại hiệu quả kinh tế, nhưng do vấn
đề quy hoạch, đặc biệt là cơ sở hạ tầng nuôi tôm nên đã gây ảnh hưởng lớn đến môitrường, đặc biệt là việc xả nước thải ao nuôi tôm ra biển gây ô nhiễm nặng Bên cạnh
đó, việc sử dụng nước ngầm để nuôi tôm cũng khiến nguồn tài nguyên này bị cạnkiệt và nguy cơ xâm mặn cao Nghề nuôi tôm tại Ninh Thuận đã từng đem lại lợi íchlớn, nên người dân ồ ạt nuôi tôm, diện tích tăng mạnh nhưng hiện nay dịch bệnhcũng tăng theo và năng suất cũng giảm dần theo thời gian Trước những khó khăncủa nghề nuôi tôm, thời gian qua tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều biện pháp như: xâydựng, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, hệ thống cấp thoát nước tại các dự án nuôitôm lớn, quy hoạch lại các vùng nuôi tôm hùm, tăng cường quản lý kiểm dịch chấtlượng tôm giống Việc áp dụng các tiến bộ khoa học cũng được triển khai nhằm hạnchế những rủi ro trong nuôi tôm như đa dạng hóa đối tượng nuôi, áp dụng các tiêuchuẩn như GAP, BMP, đặc biệt là mô hình “CPF Turbo Program” và mô hình nuôitôm có bổ sung carbon hữu cơ được triển khai thời gian gần đây tại nhiều huyện củaNinh Thuận không chỉ giúp tôm thoát được “Hội chứng hoại tử gan tụy” trong thờigian qua mà còn mang lại hiệu quả cao hơn Hiện nay, mô hình này đang được đềxuất nhân rộng ra trong tỉnh, đặc biệt là các vùng nuôi tôm trên cát Để phát triển bềnvững nghề nuôi tôm thì ngoài sự định hướng và đầu tư của tỉnh, người nuôi tôm cũngcần nâng cao ý thức tự giác chấp hành những quy định của nhà nước Đặc biệt làchấp hành nghiêm các quy định về vùng nuôi, an toàn dịch bệnh, thời vụ từ đó nângcao ý thức, trách nhiệm với cộng đồng trong việc phát triển nghề nuôi tôm, một thếmạnh tiềm năng của tỉnh (Sở NN&PTNT NinhThuận, 2012)
2.6 Mô hình nuôi tôm ở Ninh Thuận
2.6.1 Nuôi tôm theo mô hình truyền thống
Trong ao nuôi truyền thống các chất thải hữu cơ trong ao nuôi được vi sinhvật phân hủy, tạo ra các muối dinh dưỡng được hấp thu bởi tảo nhờ vậy mà sạchnước và vi sinh vật phát triển Tuy nhiên, thời gian phân hủy các chất hữu cơ kéo dàitạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh phát triển ảnh hưởng đến sức khỏetôm nuôi Khi mô hình thâm canh và bán thâm canh phát triển trên diện rộng thì mộtlượng lớn chất thải từ thức ăn dư thừa, các loại phân bón, hóa chất xử lý nước và chấtthải của tôm được thải ra môi trường nước làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước vàgiảm đi tính ổn định trong nuôi tôm (Boyd, 1990) Vì vậy, nuôi trồng thủy sản quy
mô thâm canh có khả năng gây ô nhiễm cao hơn nhiều so với quảng canh và bánthâm canh Mức độ thâm canh hóa của mô hình nuôi chuyên tôm càng cao sẽ rủi rocàng cao, làm giảm năng suất do bùng phát dịch bệnh bởi chất lượng nước Trong aonuôi tôm thâm canh có lượng thức ăn dư thừa và vật chất hữu cơ chôn vùi nhiều vàotrong đất, tạo điều kiện yếm khí cho vi khuẩn phát triển và gây độc cho nguồn nước
ao nuôi Năng suất tôm nuôi đã suy giảm nghiêm trọng ở nhiều quốc gia trên thếgiới, nguyên nhân cơ bản là môi trường diễn biến ngày càng xấu ở nhiều quốc gia.Một trong những vấn đề chủ yếu đối với chất thải của ao nuôi tôm là chất thải của hộnày có thể là nguồn nước cấp của hộ khác ở gần đó, sẽ gây lan truyền ô nhiễm nước
Trang 22và dịch bệnh giữa các nông hộ nuôi tôm (Boyd, 2003) Theo Shatat (2003) kết thúc
vụ nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh mật độ vi khuẩn trung bình trong nước (1,8
- 4,5 x 103 CFU/ml) và trong lớp bùn đáy (1,85 x 105 - 6,18 x 106 CFU/g) đặc biệtmột số mẫu bùn đáy có số lượng vi khuẩn gram âm chiếm hơn 50% và phần lớn lànhững vi khuẩn gây bệnh Trong ao nuôi từ tháng thứ 3 trở đi hàm lượng dinh dưỡngtăng lên, đồng thời hàm lượng oxy trong ao giảm thấp là cơ hội cho các vi khuẩn giatăng về mật độ để tham gia vào các quá trình phân hủy yếm khí sinh ra nhiều khí gâyđộc cho tôm nuôi như NH3, H2S, CH4 Tất cả các yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn đếnquá trình sinh trưởng của tôm nuôi đồng thời làm cho ao nuôi tự thoái hóa nội tại vàkhi thải ra ngoài môi trường nhất là vùng cửa sông làm cho vùng cửa sông bị ônhiễm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả vùng nuôi
Thakur et al (2003) nghiên cứu về dinh dưỡng ao nuôi tôm sú thâm canh cho
thấy hàm lượng đạm lân mà tôm hấp thụ vào cơ thể chỉ chiếm 23-31% và 10-13%tương ứng Lượng nitrogen và phostphorus cho vào ao từ thức ăn chiếm 76-92% N
và 70-91% P tổng lượng đầu vào Lượng tích lũy ở bùn đáy ao là 14-53% N và 67%P đầu vào Hàm lượng đạm lân trong nước khi thu hoạch chứa 14-28% N và 12-29%P tổng lượng đầu vào Giới hạn lớp bùn đáy trên và lớp đất đáy ao là nơi vi sinhvật hoạt động mạnh nhất bởi chính nơi đây tập trung nhiều vật chất hữu cơ, trongđiều kiện kị khí các chất hòa tan như Nitrite, Ammonia, Phosphorus và Hydrogensulphide được phóng thích trở lại tầng nước từ lớp bùn đáy Ngoài ra nền đáy là nơi
39-cư trú cho phần lớn các vi khuẩn yếm khí có khả năng gây bệnh TheoChanratchakool (2003) tôm nuôi có nồng độ muối cao hơn 30‰ thường bị bệnh màđặc biệt là bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng, tôm có thể nuôi ở độ muối thấp thì haibệnh này ít xảy ra nhưng độ muối không nhỏ hơn 7‰ Nếu nồng độ muối thấp hơn
sẽ làm tôm bị còi, mềm vỏ và tỷ lệ sống thấp, khi tôm đạt trọng lượng từ 10 - 12 g thì
có thể nuôi ở độ muối thấp (3‰) mà ít làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, độ mặn tối
ưu cho sinh trưởng và phát triển của tôm sú là 15 - 25‰ và tôm thẻ là từ 10 - 15‰.Vật chất lơ lửng trong nước làm hạn chế quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh
do cản trở khả năng xuyên ánh sáng vào nước, làm giảm hàm lượng oxy hòa tantrong nước Trong ao nuôi tôm nếu độ đục được thể hiện bởi sinh lượng của phiêusinh vật thì đây là một yếu tố có lợi, nếu độ đục được biểu thị bởi vật chất lơ lửng làhạt sét thì sẽ gây bất lợi cho tôm nuôi Theo Jackson & Preston (2003) thì độ đục tốtcho ao nuôi dao động từ 40 - 100 ppm nhưng không dao động quá 10% Trong thực
tế ao nuôi thì độ đục thường tăng dần về cuối vụ, chúng chịu tác động của các yếu tốnội tại như sục khí (quạt nước) hay do bên ngoài tác động (sóng gió) làm xói lỡ thành
ao hay nguồn nước cấp và thức ăn dư thừa theo thời gian Hàm lượng N bài tiết ratích lũy trong chất cặn lắng tăng theo mật độ tôm nuôi, nguồn đạm trong ao có đến90% từ thức ăn đưa vào ao qua quá trình cho tôm ăn Đạm trong tôm tích lũy được là22% tổng đạm đầu vào và 38,4% hàm lượng N cung cấp vào ao nuôi tôm là từnguồn nước lấy vào, nguồn bốc hơi vào không khí và quá trình nitrate hóa chiếm từ9,7-32,4% trên tổng số Dinh dưỡng trong ao nuôi tôm bán thâm canh cho thấy sựtăng thêm đạm trong ao nuôi tôm chủ yếu từ nguồn nước lấy vào chiếm 63% và thức
Trang 23ăn chiếm 36%, lượng đạm mất đi từ sự trao đổi nước là 72% và thu hoạch tôm là14% Sản xuất được một kilogram tôm thì có đến 16,8 g đạm bị mất đi bởi sự traođổi nước.
Theo Limsuwan et al (1997) lân là một yếu tố dinh dưỡng rất cần thiết cho
thủy sinh vật, quá trình tổng hợp protein chỉ tiến hành được khi có sự tham gia của
H3PO4 và sự thiếu hụt nó trong thủy vực còn hạn chế quá trình phân hủy các hợp chấthữu cơ bởi vi sinh vật Trong môi trường tự nhiên lân tồn tại dưới các dạng muốiorthophosphate hòa tan như: H2PO4-, HPO42- và PO43- dưới dạng phosphate ngưng tụ(Pyrophosphate, P2O74- Metaphosphate và polyphosphate) Lớp nước giữa bùn đáy vànước ao nuôi là chất lắng từ nhiều nguồn khác nhau có khả năng tiềm tàng gây độccho các loài thủy sản Một ha ao nuôi tôm thâm canh ở Thái Lan phóng thích mỗingày khoảng 46 kg chất hữu cơ, hầu hết chúng tồn tại trong ao dạng chất bồi lắng ởđáy ao nhưng hàng ngày có khoảng 1,2 kg N/ha và 0,1 kg P/ha ao nuôi thải vào môitrường ven biển Theo nghiên cứu về chất thải của ao nuôi tôm sú thâm canh ở TháiLan cho thấy lượng bùn sau một vụ nuôi ước lượng khoảng 90 m3/ha với độ ẩm là73,8%, độ khô là 26,2%, mỗi ha tôm nuôi thải ra khoảng 99 tấn bùn ướt và khoảng
26 tấn bùn khô Chất bồi lắng ở vùng triều của rừng ngập mặn có đặc tính lý, hóatương tự như chất bồi lắng ở khu vực bờ ao nuôi tôm, điều này cho thấy đất đáy aotôm đã tích trữ một lượng lớn chất hữu cơ tương đương với chất hữu cơ mà đất rừng
đã nhận được trong nhiều năm Ngoài các chất thải hữu cơ từ ao nuôi tôm gây ônhiễm môi trường, thì việc xói mòn đất ao cũng là nhân tố quan trọng Ở Thái Lan đã
có quy định cấm các hoạt động thải trực tiếp bùn sên vét ao vào môi trường nướccông cộng, nhưng vẫn xảy ra hàng ngày, đặc biệt hoạt động này thường diễn ra khithu hoạch tôm, giai đoạn làm sạch ao để chuẩn bị cho vụ mới
2.6.2 Nuôi tôm theo mô hình có bổ sung nguồn Carbon hữu cơ
Nuôi tôm theo mô hình có bổ sung nguồn carbon hữu cơ là mô hình nuôi
theo hướng sử dụng vi khuẩn dị dưỡng Các vi khuẩn dị dưỡng có khả năng điều hòacác chất thải hữu cơ trong thời gian cực ngắn mà không cần ánh sáng như các loàitảo Để vi khuẩn dị dưỡng phát triển tốt, người nuôi cần bổ sung thêm nguồn carbonhữu cơ vào ao Trở ngại lớn nhất trong nuôi tôm là sự tích lũy của thức ăn dư thừa vàvật chất hữu cơ chưa được khoáng hóa như ammonia và nitrite, theo nghiên cứu của(Boyd, 2003) lượng đạm thải ra môi trường trong khoảng 60 - 80% Mức dinhdưỡng cao kéo theo mật độ tảo phù du phát triển mạnh có thể gây biến động pH vàtiêu hao oxy hòa tan rất lớn, thậm chí có thể đến mức gây chết vật nuôi Thôngthường, mật độ tảo phát triển quá mức đến độ nở hoa thì sau khi tảo tàn sẽ tạo ranhiều ammonia gây độc trong môi trường Mục tiêu đặt ra cho các nhà khoa học làtìm ra các giải pháp hạn chế nước thải trong NTTS Vì thế, để đảm bảo chất lượngnước tốt, người nuôi cần phải xử lý triệt để chất thải có trong nước ao Hiện nayhướng sử dụng vi khuẩn tự dưỡng để chúng có thể chuyển cơ chất (các chất thải hữucơ) trực tiếp thành sinh khối vi khuẩn được xem là giải pháp hiệu quả hơn Trongmôi trường ao nuôi luôn có sự hiện diện của các vi khuẩn dị dưỡng, chúng có khả
Trang 24năng đồng hóa các chất thải hữu cơ và chuyển thành sinh khối của vi khuẩn (thườngrất giàu protein) trong thời gian cực ngắn mà không cần ánh sáng như các loại tảo.
Để quá trình này diễn ra tốt hơn người nuôi cần bổ sung thêm nguồn carbon vào aonuôi (Avnimelech, 2006) Để các vi khuẩn dị dưỡng phát triển mạnh bằng cách bổsung nguồn carbohydrate (C) vào môi trường ao để cân đối với hàm lượng N có sẵn,duy trì mức độ khuấy đảo nước trong ao và hàm lượng oxy hòa tan thích hợp Thìtrong ao xuất hiện nhiều hạt sinh học dạng ngưng tụ mà thành phần chính là vi khuẩn
dị dưỡng, các hạt này chứa hàm lượng protein cao mà các đối tượng nuôi có thể tậndụng làm thức ăn, từ đó làm giảm lượng thức ăn cung cấp vào ao do đó giúp làmgiảm chi phí vụ nuôi, quản lý thức ăn, quản lý môi trường, không thay nước, tạo rasản phẩm sạch, lớn nhanh ít gây ô nhiễm, giảm thức ăn, giảm chi phí tăng lợi nhuận
và có thể nuôi mật độ cao Các nghiên cứu mới nhất còn cho thấy vi khuẩn có khảnăng tạo poly-β-hydroxybutyrate là chất siêu kháng các vi khuẩn gây bệnh Như vậy
có thể thấy bổ sung nguồn carbon hữu cơ đem lại 3 tác dụng: xử lý chất thải, tạonguồn thức ăn và hỗ trợ công tác phòng bệnh (Megahed, Mohamed E 2010)
Theo Lê Xuân Phương (2008) các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật rất giàuhàm lượng Carbohydrate, có hàm lượng đạm nhất định, ít hàm lượng lipid và hàmlượng xơ dưới 18% Đây là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, phong phú và ổnđịnh cho vật nuôi Nguyên liệu trong nhóm này ngũ cốc là những nguyên liệu cungcấp nhiều năng lượng và dễ tiêu hóa Các loại củ (khoai lang, khoai mì và khoai tâycũng thường dùng chế biến làm thức ăn nhờ có giá trị năng lượng cao và giá thànhthấp Khoai lang giàu chất carbohydrate, caroten và có thành phần tạo chất kết dínhtốt nên thuận lợi trong chế biến thức ăn Khoai mì có hàm lượng tinh bột cao, nhưngchúng ít được sử dụng, nếu sử dụng cần phải sơ chế trước khi chế biến thức ăn Cáchạt từ cây họ đậu có hàm lượng protein rất tốt vì chúng chứa hàm lượng acid aminphong phú, đặc biệt là lysine (1,76 - 2,4%) Hạt đậu nành có hàm lượng đạm cao, nên
có thể pha trộn tỉ lệ lến đến 30 - 40% Trong những năm gần đây bột cá trở nên khanhiếm và giá thành cao thì bột đậu nành được xem là nguyên liệu thay thế rất tốt Nhìnchung nguồn nguyên liệu thực vật rất phong phú, giá rẻ nguồn cung ổn định khá giàudinh dưỡng là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu nhưng ít giá trị dinh dưỡng hơnnguồn nguyên liệu động vật Do nguồn nguyên liệu thực vật chứa nhiều chất sơ, hàmlượng acid amin và chất khoáng không cân bằng, nhất là các acid amin thiết yếu Bêncạnh đó một số còn chứa chất gây độc và khó bảo quản do độ ẩm cao Carbohydrate
là nguồn năng lượng rẻ tiền, nên tỉ lệ của chúng thích hợp trong thức ăn vừa làmgiảm lượng đạm vừa giảm chi phí, nhưng vẫn đảm bảo sự tăng trưởng và phát triểncủa tôm cá nuôi Sự chuyển hóa carbohydrate có liên quan đến sự chuyển hóa protein
và lipid Sự tích lũy carbohydrate trong tôm cá là có giới hạn, carbohydrate thừa dễchuyển thành tích lũy mỡ trong cơ thể Nguồn nguyên liệu chứa carbohydrate đangđược sử dụng nhiều nhất là mật rỉ đường, do đây là nguồn nguyên liệu rẻ tiền đồngthời hàm lượng đường rất cao Ngoài ra trong rỉ đường còn chứa protein, vitamin vàmuối khoáng Mật rỉ đường chiếm 15 - 20% là nước còn lại 80% là vật chất khô
Trang 25Trong chất khô đường chiếm tới 50% (sucrose: 30 35%, glucose và fructose: 15 20%) phần còn lại 50% (chất hữu cơ: 30 - 32% và chất vô cơ 18 - 20%)
-Nguyễn Như Hiền (2005) nitơ tham gia vào tất cả các cấu trúc trong tế bào visinh vật, giúp tế bào hoàn thiện mọi chức năng của hoạt động sống Nguồn nitơ lànguồn dinh dưỡng quan trọng không kém nguồn carbon Nitơ được cung cấp cho tếbào vi sinh vật dưới dạng các hợp chất vô cơ (NH4+) và hữu cơ (pespton các loại,các amino acid) Về tính chất protein của nấm men gần giống protein nguồn gốc củađộng vật, có chứa khoảng 20 amino acid, trong đó có đủ các amino không thay thế.Nuôi tôm theo quy trình bổ sung nguồn carbon hữu cơ do không thay nước nên sẽtích lũy một lượng lớn sinh khối vi khuẩn trong hạt floc chúng hấp thụ ammonia củamôi trường nước và là thức ăn cho tôm Bổ sung nguồn carbon hữu cơ có thể làmgiảm FCR, các amino acid, acid béo, vitamin bởi thành phần của chúng có nguồn gốcrất đa dạng từ vi khuẩn, vi tảo, động vật nguyên sinh, luân trùng và giáp xác chânchèo Nuôi tôm theo quy trình có thể được xem là giảm chi phí, thân thiện và an toàn
vệ sinh Ngoài ra, với vấn đề đang nổi lên là các virus có hại và tăng chi phí cho điện
năng Thật vậy, theo nghiên cứu Ray Andrew et at (2012) cho thấy khi nuôi tôm quy
trình không thay nước và kích thích sự phát triển của quần thể vi khuẩn dị dưỡng cóthể giải quyết đồng thời 3 vấn đề: Cho năng suất cao và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn caonên hệ số tiêu tốn thức ăn thấp (PCR), giảm áp lực của nghề nuôi đến môi trường vàngược lại, quy trình này là tiêu hao chi phí cho năng lượng nhưng có thể giảm chi phíthức ăn từ 10 - 20% Các công nghệ kết hợp với việc thu hoạch một phần (nuôi tỉa,thu tỉa) được lặp đi lặp lại tại Medan, Indonesia, với kết quả tốt hơn Trong năm 2008
và 2009, nuôi tôm theo quy trình bổ sung nguồn carbon hữu cơ đã được sử dụngtrong Java và Bali thành công Tại Indonesia, các giao thức an toàn sinh học đã đượckết hợp vào trong công nghệ Bổ sung nguồn carbon hữu cơ vào ao nuôi đã được ápdụng Indonesia tôm được nuôi trong các ao diện tích của ao nuôi khoảng 2.000 -2.500 m2, lót bạt HDPE hoặc bê tông hóa Mỗi ao sử dụng 8 - 10 dàn quạt nước Mật
độ thả 250 - 260 con/m2 Năng suất nuôi có thể đạt tới 38 - 49 tấn/ha/vụ, thôngthường từ 24 - 25 tấn/ha/vụ Tổng kết kết quả nuôi tôm thẻ chân trắng bổ sung nguồncarbon hữu cơ cho thấy chi phí sản xuất giảm khoảng 15 - 20%, năng suất và kíchthước tôm khi thu hoạch đều được cải thiện, nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh thấp dokhông cần phải thay nước (Taw Nyan, 2010)
2.7 Vấn đề sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm
Để tối đa hóa lợi nhuận và chống lại dịch bệnh, người nuôi tôm đã sử dụngrất nhiều loại kháng sinh, thuốc chống nhiễm khuẩn, phân bón thuốc trừ sâu TheoAsish (2003) cho biết phân bón có thể gây nên hiện tượng quá giàu chất dinh dưỡngkhiến thực vật thủy sinh phát triển mạnh gây giảm mức oxy trong nước Trong khi đóthuốc trừ sâu lại đầu độc sinh vật, dẫn tới hiện tượng tích lũy sinh học trong chuỗithức ăn Thuốc kháng sinh dùng không đúng cách và quá liều vì sợ bệnh tật làm ảnhhưởng đến các hoạt động của vi khuẩn tự nhiên và tạo điều kiện cho các mầm bệnhphát triển Các tác động này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi mất đi rừng ngặp
Trang 26mặn và đầm lầy vốn có chức năng lọc ô nhiễm (trích dẫn nguyễn Đình Xuân Quý,2005) Việc sử dụng kháng sinh đã trở nên khá phổ biến trong các trại tôm để phòng
và trị bệnh, các nhà nghiên cứu cho biết khoảng 95% không phát huy tác dụng vớitôm mà lọt ra ngoài môi trường (Khánh Hà, 2004) Theo báo cáo của Hội vi sinh vật
Mỹ năm 1995 thì sử dụng kháng sinh trong NTTS là nguyên nhân hàng đầu gây nênhiện tượng tiến hóa vi khuẩn kháng thuốc người Theo một nghiên cứu mới đây ởThái Lan thì 77% vi khuẩn ở trạng thái tôm có khả năng kháng ít nhất một loại khángsinh (Tookwinas, 2003)
Kháng sinh được sử dụng với nhiều hình thức, chúng được dùng để trộn vàothức ăn, tẩy trùng, diệt côn trùng và xử lý nước cũng như đất Một số chất sử dụng cókhả năng đe dọa đến sức khỏe của tôm và chất lượng sản phẩm (Macintosh andPhillips, 1992) Oxytetracycline và axit oxolinic được sử dụng rộng rãi ở các nước
Đông Nam Á, kết quả là đã xuất hiện một số dòng vi khuẩn Vibrio kháng thuốc làm cho việc điều trị một số bệnh nhiễm Vibrio khó khăn (Nash, 1990) Sự lưu tồn kháng
sinh hoặc một số hóa chất khác trong thịt tôm có thể dẫn tới việc từ chối các loại sảnphẩm này tại các thị trường xuất khẩu Theo Nguyễn Thị Phương Nga (2004) thì tìnhhình sử dụng thuốc trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam hiện nay gồm các nhóm cơbản: kháng sinh, vitamin, hoá chất, chế phẩm sinh học và khoáng Các nhóm nàyđược sử dụng để phòng bệnh, trị bệnh, tăng sức đề kháng hoặc khử trùng bằng cáchtrộn vào thức ăn, cho trực tiếp xuống ao Lượng thuốc và hóa chất sử dụng trongnuôi tôm là rất lớn Theo Nguyễn Hoài Châu (2003) thì trung bình 1ha ao nuôi tômnước lợ ven biển trong một vụ sử dụng 300kg chlorin, 200 lít formalin hay 100kgthuốc tím (trích dẫn Nguyễn Thị Phương Nga,2004)
Trang 27CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 3năm 2014
Địa điểm: Khảo sát tại huyện Ninh Hải, Ninh Phước và Thuận Nam tỉnh NinhThuận
Trang 28Hình 3.1: Bản đồ Phan Rang-Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận
(Nguồn: Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Ninh Thuận, 2013)
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp thu tại các nghành chức năng có liên quan đến lĩnh vựcnghiên cứu như: Các báo cáo định kỳ hoặc hàng năm của Sở Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn, Chi cục Thủy sản, qua các báo cáo tài liệu có liên quan trên địa bànnghiên cứu Các thông tin thứ cấp chính sẽ được thu thập bao gồm: các số liệu vềdiện tích, sản lượng nuôi, con giống, tình hình dịch bệnh, sử dụng thuốc thú y thủysản (thuốc, hóa chất, vi sinh vật có lợi, carbon hữu cơ) cho ao nuôi, thuận lợi khókhăn, tiềm năng phát triển và trở ngại
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp: 114 hộ nuôi tôm được phỏng vấn trực tiếp bằng phiếuphỏng vấn soạn sẵn (Bảng 3.2) Biểu mẫu điều tra được phỏng vấn thử và hiệu chỉnhtrước khi tiến hành điều tra đại trà
Bảng 3.1: Số lượng và phân bố mẫu khảo sát
Trang 293.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu
Phương pháp tính các chỉ tiêu chủ yếu
Số liệu điều tra sau khi thu thập sẽ được hiệu chỉnh, kiểm tra tính phù hợp,đơn vị tính, tính đồng nhất, mức độ chính xác và được mã hóa, nhập vào máy tính và
sử dụng phần mềm Excel và SPSS for Windows để xử lý và phân tích
Bảng 3.2: Các biến phức và biến đơn thể hiện trong biểu mẫu phỏng vấn
Thông tin chung
Tên chủ hộ, dân tộc, số nhân khẩu, lao động gia đình, nămkinh nghiệm, trình độ văn hóa, mức độ tham gia tập huấn,kinh nghiệm về NTTS, sở hữu đất
Kỹ Thuật
Năm hình thành ao, cải tạo ao: sên vét hóa chất cải tạo (loại,lượng, giá), tháng thả giống, mật độ kích cỡ giống, giá congiống, hệ số thức ăn, loại thức ăn (viên, tự chế), giá, độ đạmthức ăn qua các giai đoạn, các loại nguyên liệu bổ sung vào
ao nuôi (lượng tần suất sử dụng, nơi cấp thoát nước, tỷ lệthay nước, xử lý bùn, tình hình dịch bệnh
Tài chính
Thông tin trang trại ao nuôi: tổng diện tích, tổng số ao, sốkhu vực nuôi, số ao mỗi khu vực, diện tích mặt nước, độ sâutrung bình ao, số vụ nuôi, kích cỡ, giá bán
Chi phí sản xuất: cải tạo ao giống thức ăn, vitamin, thuốc,hóa chất, giá thành sản xuất chi phí thuê nhân công
Môi Trường Các vấn đề chất lượng nước, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh,
xử lý và quản lý nước thải, chất thải trong quá trình nuôi.Các biến khác liên
quan tới các mô
Trang 30Tổng chi phí (TC): là toàn bộ tiêu hao về vật chất và lao động cho sản xuất mà đơn
vị thực tế chỉ ra để sản xuất cho một khối lượng sản phẩm nào đó trong một kỳ kinhdoanh nhất định (đợt, vụ, năm) Tổng chi phí (TC) gồm tổng chi phí cố định (TFC)
và tổng chi phí biến đổi (TVC) (TC = TFC + TVC)
Tổng lợi nhuận (PR):
PR = TR - TC Trong đó TR: Tổng thu nhập (triệu đồng)
TC: Tổng chi phí (triệu đồng)
Tỷ suất lợi nhuận/vụ nuôi = (TR - TC)/TC = LN/TC
3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được phân tích bằng thống kê mô tả qua việc tính toáncác giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần xuất, tỷ lệ phần trăm và các giá trị thống kêkhác, nhằm mô tả đặc điểm nghiên cứu, các thông tin về nông hộ Sự khác biệt hiệuquả sản xuất của các mô hình nuôi tôm phân theo các nhóm biến độc lập sẽ được sosánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (phép thử “independent T-test” hoặc
“Tukey –test” Mối tương quan giữa các biến được xác định bằng phương phápPearson (p<0,05), phương pháp Chi - Square kiểm định sự khác biệt tỷ lệ phần trăm(p<0,05)
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng nuôi tôm biển Ninh Thuận
4.1.1 Hiện trạng nuôi tôm sú
NTTS là ngành kinh tế quan trọng có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Ninh Thuận Nghề nuôi tôm biển phát triển từ những năm 90, chủ yếutheo hình thức quảng canh, dựa vào điều kiện tự nhiên để phát triển Năm 2000, từquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp thì nghề nuôi tôm của tỉnh cónhững bước phát triển mạnh Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2000 là 890,7 ha đếnnăm 2013 là 2.090 ha Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2000 là 1.902 tấn vàđạt 12.559 tấn năm 2013 Trước đây tôm sú là đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh manglại nhiều lợi nhuận, đời sống người dân được cải thiện Tuy nhiên từ năm 2007 đếnnay sản lượng nuôi tôm sú có xu hướng giảm xuống do người dân chuyển sang nuôi
Trang 31đối tượng khác Cụ thể theo Chi cục Thủy sản tỉnh Ninh Thuận, năm 2007 sản lượngtôm sú đạt 1.891 tấn đến năm 2013 là 131 tấn (Chi cục NTTS tỉnh Ninh Thuận,2014).
131
392 348
350 300
400 1891
Hình 4.1: Sản lượng và diện tích tôm sú qua các năm
Khó khăn: Trước tình hình khó khăn chung của cả nước nghề nuôi tôm ở
Ninh Thuận cũng gặp nhiều khó khăn như thời tiết, ô nhiễm môi trường làm dịchbệnh gia tăng, ảnh hưởng đến năng suất nuôi Trong những năm gần đây thời tiết thấtthường, thiên tai xảy ra nhiều, gây bất lợi cho nuôi trồng thủy sản, chính sách bảohiểm sản xuất khi gặp rủi ro chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi Tổ chức bộ máy
và kinh phí đầu tư cho nuôi trồng thủy sản chưa tương xứng với kết quả nghề nuôimang lại Ngoài ra, các vùng ven biển ưu tiên cho phát triển du lịch, phần nào đã ảnhhưởng đến khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó chi phí đầu vào tăngcao như thức ăn, thuốc thú y thủy sản trong khi giá tôm thịt tăng giảm có thời kỳgiảm mạnh làm cho người nuôi không có lãi và tỷ lệ hộ nuôi bị lỗ ngày càng tănglên
4.1.2 Hiện trạng nuôi tôm thẻ chân trắng
Từ năm 2006, việc đưa tôm TCT vào nuôi dưới sự quản lý chặt chẽ, sử dụnghợp lý nguồn nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nước lợ đồng thờiđảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường Nuôi tôm TCT được xác định là đốitượng dễ nuôi, thời gian nuôi ngắn, năng suất cao, rủi ro dịch bệnh trên tôm cũngthấp hơn tôm sú Nhiều diện tích trước đây nuôi tôm sú bị bệnh chuyển sang nuôitôm TCT đạt hiệu quả cao
Trang 327343 6500
6000 5400
Khó khăn: Nguyên nhân do thời tiết thay đổi thất thường, chất lượng tôm
giống và chất lượng nước chưa được kiểm soát chặt chẽ hội chứng tôm chết sớm(EMS) xuất hiện, lây lan tại các vùng nuôi trọng điểm khiến người nuôi bị thiệt hại,tổng diện tích tôm bệnh lên đến 525 ha, trong đó 83% diện tích tôm bệnh tập trungkhu vực Đầm Nại huyện Ninh Hải Tôm chết chủ yếu ở giai đoạn 10 - 30 ngày tuổivới các dấu hiệu hoại tử gan - tụy, đường ruột và đốm trắng Một phần do người nuôilạm dụng quá nhiều hoá chất, thuốc kháng sinh trong xử lý, cải tạo ao trước và trongkhi nuôi Một nguyên nhân khác nữa đó là ở khu vực Đầm Nại mật độ ao nuôi caonhưng cơ sở hạ tầng không được chú trọng đầu tư, hệ thống kênh mương xen kẽ
Trang 33vùng dân cư và nông nghiệp, nên dẫn đến tình trạng năm nào các khu vực này cũngbùng phát dịch bệnh với quy mô lớn
4.1.3 Ứng dụng công nghệ biofloc (bổ sung carbon hữu cơ) vào ao nuôi tôm
Để nghề nuôi tôm phát triển một cách bền vững, tránh được dịch bệnh, manglại thu nhập cao cho người nuôi thì cần có một mô hình nuôi mới Nuôi tôm theocông nghệ biofloc đáp ứng được yêu cầu trên, đây là công nghệ sinh học theo hướngmới với ưu thế giảm thiểu nguy cơ phát bệnh, tăng năng suất, tiết kiệm chi phí thức
ăn cho người nuôi bằng cách bổ sung lượng carbon hữu cơ vào ao nuôi (rỉ đường, bộtgạo, bột mì) Mô hình này đã được áp dụng thành công ở Indonesia và một số nước ởChâu Á Ngoài ra, công nghệ biofloc còn làm giảm tối đa sự xuất hiện của dịch bệnhđốm trắng trong ao nuôi xuống dưới 5% và không cần thay nước trong suốt quá trìnhnuôi, sản lượng tôm nuôi tăng từ 5 - 10%, kích cỡ tôm lớn hơn ít nhất 2 g/con và chiphí sản xuất thấp hơn từ 15 - 20% so với áp dụng quy trình nuôi truyền thống (TT),bên cạnh đó các thông số môi trường ổn định khi thời tiết thay đổi hay nuôi trongmùa lạnh (Taw Nyan, 2009) Tuy nhiên đây là công nghệ mới, vì thế hiện tại ngườinuôi tôm tỉnh rất cần các cơ quan chức năng, các chuyên gia về lĩnh vực nuôi trồngthủy sản quan tâm, tổ chức các lớp tập huấn, nhằm giúp người nuôi nắm vững kỹthuật để phát triển nghề một cách bền vững, tránh được dịch bệnh, mang lại thu nhậpcao từ con tôm
Tóm tắt quy trình nuôi tôm bổ sung carbon hữu cơ tỉnh Ninh Thuận
Cải tạo ao: Ao nuôi được lót bạt, các chất rắn ở đáy ao được loại bỏ bằngcách xả nước hoặc bơm hút bùn từ trung tâm ao nuôi Trước khi thả giống, xử lý toàn
bộ đáy ao và xung quanh bờ ao, dùng BKC hoặc Chlorine với nồng độ 50 mg/L xịtxung quanh sau đó phơi khô đáy ao 3 - 7 ngày Bơm nước từ ao lắng vào ao nuôi quatúi lọc Gây màu nước: Dùng 31 ± 13 kg rỉ đường + 10 ± 13 kg bột gạo (1 lần sửdụng/ 1 ha) ủ kín trong thùng 100 lít sục khí sau 24 - 36 giờ Sau đó tạt đều xuống
ao, kết hợp chạy quạt nước liên tục (3 - 4 ngày) Trước khi thả giống kiểm tra độ
kiềm, đảm bảo trong ngưỡng 80 - 120 mg/L Mật độ thả: Mật độ thả dao động từ 130
- 200 con/m2 Quản lý chất lượng nước ao nuôi: Mô hình nuôi hạn chế hoặc không thay nước, chỉ cấp thêm nước Ao nuôi định kỳ bổ sung carbon hữu cơ 3 ngày/lần, 7
ngày/lần hoặc tùy theo chất lượng nước trong ao
4.2 Mô hình nuôi tôm tỉnh Ninh Thuận
4.2.1 Thông tin chung các mô hình nuôi tôm
4.2.1.1 Độ tuổi và kinh nghiệm nuôi
Nuôi tôm TCT theo mô hình bổ sung carbon hữu cơ (TCT - C): Kết quả
(Bảng 4.1) cho thấy tuổi trung bình các hộ nuôi tôm TCT - C dưới 35 tuổi chiếm47% độ tuổi từ 35 - 45 chiếm 35%, lớn hơn 45 chiếm 18% Điều này cho thấy các hộ
Trang 34nuôi tôm theo mô hình bổ sung carbon hữu cơ đều là nhóm độ tuổi trẻ dễ tiếp cận với
Nuôi tôm TCT theo mô hình truyền thống (TCT - TT): Độ tuổi lao động
trung bình của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng truyền thống (TCT - TT) dao động từ
46 ± 8,73 tuổi, với hộ có tuổi tham gia nuôi tôm lớn nhất là 63 tuổi và nhỏ nhất là 32tuổi Kết quả cho thấy độ tuổi lớn hơn 45 tham gia nuôi tôm nhiều nhất (47%), đây lànhóm tuổi nhiều kinh nghiệm (TB 5,19 ± 0,98 năm)
Nuôi tôm sú truyền thống (sú - TT): Độ tuổi tham gia nuôi tôm sú truyền
thống (tôm sú - TT) lớn nhất là 70 và nhỏ nhất là 26 tuổi, trung bình 47,2 ± 12,71tuổi
1-5 năm > 5-10 năm >10 năm
Hình: 4.3: Cơ cấu về kinh nghiệm các hộ nuôiNghề nuôi tôm sú ở đây bắt đầu từ năm 1998 đến năm 2002 việc nuôi tôm mới pháttriển mạnh, có đến 66% hộ nuôi trên 10 năm Tôm TCT được nuôi từ năm 2002nhưng đến năm 2006 nuôi tôm mới bắt đầu được mở rộng Phần lớn hộ nuôi tôm thẻchân trắng là từ các hộ nuôi tôm sú chuyển sang nên số năm kinh nghiệm sản xuấttrên đối tượng này TB 4,49 ± 1,3 năm, số hộ nuôi có 1 - 5 năm kinh nghiệm là 73%
và 5 - 10 năm là 27% số hộ nuôi thấp nhất là 2 năm và cao nhất là 6 năm Kinhnghiệm nuôi nhiều sẽ góp phần hạn chế rủi ro, những hộ nuôi tôm TCT - TT kinh
Trang 35nghiệm từ 1 - 3 năm tỷ lệ hộ lời chiếm 50% và 59% là tỷ lệ hộ nuôi có lời kinhnghiệm từ 4 - 6 năm Kỹ thuật quản lý, chăm sóc tôm TCT truyền thống được đúckết từ quá trình nuôi tôm sú trước đây mà ra Mô hình nuôi tôm thẻ bổ sung carbonđược tỉnh Ninh Thuận biết từ năm 2011 nhưng sang năm 2012 mô hình này mớiđược phát triển mạnh Phần lớn hộ nuôi tôm TCT truyền thống chuyển sang nên sốnăm kinh nghiệm sản xuất trên đối tượng này tương đối trẻ TB 1,8 ± 1,06 năm Hộ
có nhiều năm kinh nghiệm nhất là 3 năm và ít nhất là 1 năm kinh nghiệm
TCT - C: Các hộ nuôi tôm theo mô hình bổ sung carbon hữu cơ trình độ cấp
2 là cao nhất chiếm 51%, cấp 1 là 23%, cấp 3 là 19% và 7% là kỹ sư Đây là mộttrong những ưu điểm để áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm giảm giá thành, tăng lợinhuận và sử dụng thuốc thú y thủy sản đúng mục đích, đảm bảo an toàn thực phẩmcho người tiêu dùng và xuất khẩu cũng như môi trường và sức khỏe cho người nuôi
TCT - TT: Qua thu thập thông tin của các hộ nuôi cho thấy tỷ lệ các chủ hộ
nuôi tôm TCT - TT, trình độ cấp 1 chiếm tỷ lệ 30%, cấp 2 là 53%, cấp 3 là 14% vàtrung cấp trở lên chiếm 3%
Sú - TT: Những hộ nuôi tôm sú - TT có trình độ cấp 1 và 2 cao nhất chiếm
44% và 40%, cấp 3 là 10% và trình độ trung cấp trở lên chiếm 6%
Chất lượng lao động là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến quá trình phát triển NTTS.Lao động trong nuôi trồng thủy sản đòi hỏi phải am hiểu về kỹ thuật, tổ chức quản lýtheo những quy mô nhất định Số liệu điều tra cho thấy nuôi tôm TCT theo mô hình
bổ sung carbon hữu cơ người nuôi có trình độ kỹ thuật cao nhất kế đến là mô hìnhnuôi tôm TCT - TT và thấp nhất là mô hình nuôi tôm sú - TT
TCT - C: Mô hình nuôi tôm TCT bổ sung carbon hữu cơ có trình độ kỹ sư
chiếm 7% các hộ nuôi tôm đa số được tham gia lớp tập huấn chiếm 60% và 33% làhọc hỏi kinh nghiệm với nhau (Hình 4.4) Công nghệ càng tiên tiến đòi hỏi nhu
Trang 36cầu huấn luyện kỹ thuật cho người nuôi cao hơn Quản lý hệ thống nuôi theo môhình bổ sung carbon hữu cơ kỹ thuật tương đối phức tạp, để đảm bảo cho hệ thốnghoạt động tốt và đạt năng suất cao, cần có những hiểu biết nhất định về kiến thứcchuyên môn Do đó người nuôi rất cần các cơ quan chức năng, các chuyên gia vềlĩnh vực nuôi trồng thủy sản tập huấn về kỹ thuật nuôi tôm
60
64
6 0
TCT - TT: Nuôi tôm TCT - TT có 3% là trình độ kỹ sư, 37% là kiến thức
chuyên môn được cung cấp từ các lớp tập huấn của các cán bộ khuyến nông và cáccông ty thức ăn thuốc thủy sản, 60% hộ nuôi dựa vào kinh nghiệm
Sú - TT: Nuôi tôm sú - TT trình độ kỹ sư là 6%, các hộ nuôi tiếp cận kỹ thuật
là nhờ các lớp tập huấn của địa phương tổ chức hàng năm hoặc theo định kỳ chiếm30% và đa số hộ dựa vào kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm chiếm 64%
4.2.1.3 Nguồn cung cấp thông tin cho các hộ nuôi
Để tiếp cận được những tiến bộ về kỹ thuật và nâng cao trình độ hiểu biết vềđối tượng nuôi Chính quyền địa phương cần mở ra nhiều lớp tập huấn, hội thảo để
hỗ trợ kỹ thuật cho người dân giúp họ cập nhật thông tin mới đưa vào sản xuất Đây
là việc cần thiết với tốc độ phát triển diện tích nuôi như hiện nay
TCT - C: Nguồn thông tin kỹ thuật người nuôi tôm TCT - C tiếp cận được
chủ yếu là từ tập huấn 43%, học hỏi từ hộ dân nuôi với nhau chiếm 24%, nguồn cungcấp giống TA 15% còn lại 18% là từ thông tin khác (tivi, internet, báo, đài) có được.Nhận biết được đây là mô hình nuôi mới nên người dân tham gia nuôi tôm chịu khóhọc tập, tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (Bảng 4.3)
TCT - TT: Nuôi tôm TCT - TT, nguồn thông tin mà hộ nuôi tiếp cận nhiều
nhất 47% từ các nông dân, 26% từ tập huấn TLKN và người cung cấp thức ăn 20%,7% là từ thông tin khác (Bảng 4.3)
Trang 37Bảng 4.3: Nguồn cung cấp thông tin cho các hộ nuôi
Sú - TT: Nuôi tôm sú là nghề nuôi truyền thống, hình thành rất lâu ở tỉnh
Ninh Thuận nên các hộ nuôi tích lũy và chia sẻ kinh nghiệm với nhau, thông tin nàychiếm 55%, 17% là tỷ lệ số hộ nuôi tiếp cận từ tập huấn TLKN và nguồn cung cấpgiống và TA, từ thông tin khác là 11%
4.2.2 Đặc điểm ao nuôi tôm
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004) cho rằng ao lắng là điều kiện bắt
buộc trong hầu hết các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh Kết quả khảo sát
có 100% tỷ lệ hộ nuôi tôm TCT bổ sung carbon hữu cơ đều có ao lắng, do nuôi vớimật độ cao nên nhu cầu trao đổi nước trong vụ nuôi cũng thường lớn Vì vậy các hộnuôi đã dành một phần diện tích để xây dựng ao lắng cho mô hình này
ao nuôi (Burford et al 2002).
Bảng 4.5: Đặc điểm ao nuôi tôm của 3 mô hình
Trang 38chungDiện tích ao nuôi (ha) 0,25±0,07a 0,29±0,09a 0,32±0,07b 0,3±0,07Diện tích ao lắng/Diện
TCT - C: Diện tích trung bình ao nuôi tôm TCT - C là 0,25 ± 0,07 ha, độ sâu
mực nước TB 1,40 ± 0,22 m, số năm ao sử dụng là 7,49 ± 4,61 năm Các hộ nuôi tômTCT bổ sung carbon hữu cơ trên địa bàn là do sự chuyển đổi từ mô hình nuôi tômTCT và tôm sú truyền thống sang, do đây là mô hình nuôi mới vì vậy mà các hộ đãxây dựng và thiết kế khu nuôi khá hoàn chỉnh để phù hợp với đối tượng nuôi Quakết quả khảo sát có 87% hộ lót bạt PE toàn ao nuôi và 13% là lót bạt xung quanh bờ
ao Có 23% số hộ nuôi sử dụng sục khí đáy ao, công suất máy sục khí HP 36 ± 8,9 và
vị trí của cánh quạt rất quan trọng phải bố trí tốt đảm bảo có thể tạo dòng chảy theohình tròn để gom chất thải tránh tạo nên những khu vực nước tĩnh trong ao Chất rắnphải được giữ ở trạng thái lơ lửng trong nước liên tục 24/24 giờ Không khuấy đảo,biofloc sẽ lắng xuống đáy và nhanh chóng tiêu thụ lượng oxy lớn trong hệ thống
TCT - TT: Ao nuôi tôm TCT - TT trung bình 0,29 ± 0,09 ha, ao nuôi có diện
tích lớn nhất là 0,4 ha, thấp nhất 0,15 ha, số năm sử dụng ao 8,03 ± 4,34 năm, độ sâumực nước ao nuôi trung bình từ 1,23 ± 0,10 m Có 20% số hộ sử dụng sục khí đáy ao
và công suất máy sục khí HP 11 ± 4,95
Tôm sú - TT: Diện tích TB các ao nuôi tôm sú là 0,32 ± 0,07 ha, thời gian ao
nuôi đã được sử dụng 9,27 ± 3,04 năm (dao động từ 3 đến 15 năm) Độ sâu mực 1,21
± 0,08 m, dao động từ 1,1 - 1,4 m, trong đó 62,2% số hộ nuôi xây dựng ao có độ sâu
là 1,4 m, 20% hộ xây ao 1,1 m Hầu hết hộ nuôi tôm sú - TT không sử dụng sục khí
đáy Theo Lê Thanh Hùng và ctv (2010) diện tích ao nuôi tôm khu vực Miền Nam
đa số dao động từ 0,3 - 0,6 ha lớn hơn diện tích ao nuôi trên địa bàn nghiên cứu
4.2.3 Cải tạo ao
Sên vét, cải tạo ao là khâu quan trọng trong các mô hình nuôi thủy sản, đặcbiệt là nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng Trong ao nuôi tôm thâm canh
có lượng thức ăn dư thừa, vật chất hữu cơ chôn vùi nhiều vào trong đất, tạo điều kiện
yếm khí cho vi khuẩn phát triển và gây độc cho nguồn nước ao nuôi (Peterson et al.
1996) Sên vét, cải tạo ao sẽ hạn chế các mối nguy như sinh vật mang mầm bệnh chonuôi tôm, đặc biệt là các bệnh có thể lây truyền theo chiều ngang như bệnh đốmtrắng Khâu cải tạo trong nuôi thâm canh có ý nghĩa rất lớn về mặt kỹ thuật và kinh
tế cho hộ nuôi, đảm bảo các yếu tố môi trường thuận lợi cho tôm phát triển tốt, tăng
tỷ lệ sống, năng suất và doanh thu Kết quả điều tra cho thấy 100% số hộ nuôi tômthẻ chân trắng và tôm sú thâm canh có sên vét, cải tạo ao nuôi trước khi thả giống
Trang 39TCT - C: Đối với mô hình nuôi tôm TCT có bổ sung carbon thì thời gian cải
tạo giữa hai vụ nuôi kế tiếp nhau ngắn khoảng 12,2 ± 6,62 ngày Thời gian cải tạo tối
đa là 30 ngày/vụ chiếm 4,6% và tối thiểu là 5 ngày/vụ chiếm 11,53% Vì vậy phầnlớn hộ nuôi sử dụng phương pháp cải tạo ướt để nhanh chóng thả giống cho vụ nuôisau, một số hộ có sử dụng phương pháp khô Đối với ao nuôi lót bạt thì phương phápcải tạo cũng đơn giản và ít tốn công hơn Các chất rắn ở đáy ao có thể được loại bỏbằng cách xả nước hoặc bơm hút bùn từ trung tâm Trước khi thả giống, xử lý toàn
bộ đáy ao và xung quanh bờ ao, dùng sản phẩm BKC hoặc Chlorine với nồng độ 50mg/L xịt xung quanh sau đó phơi khô đáy ao, bơm nước từ ao lắng vào ao nuôi quatúi lọc Tôm TCT là đối tượng nuôi có khả năng lây nhiễm nhiều loại bệnh với mức
độ cao Sự chủ quan của các hộ nuôi là cơ hội tìm ẩn nhiều rủi ro, trong đó nghiêmtrọng nhất là dịch bệnh EMS gây tổn thất lớn các hộ nuôi hiện nay Do đó việc quyhoạch và kiểm soát nuôi tôm hiện nay là rất cần thiết nhằm đảm bảo lợi ích về kinh
tế - xã hội
TCT - TT: Mô hình nuôi tôm TCT - TT thời gian cải tạo ao TB 19,45 ± 8,16
ngày Thời gian cải tạo ao nuôi tôm sú - TT trung bình 45,1 ± 15,65 ngày, thời giancải tạo cao nhất là 60 ngày chiếm 33,3% và thấp nhất 30 ngày chiếm 40% Thời giancải tạo ao nuôi truyền thống kéo dài, quá trình cải tạo cần nhiều loại thuốc, hóa chất:Chlorine, thuốc tím, Zeolit, vôi, diệt giáp xác Phần lớn các hộ nuôi dùng vôi để xử
lý vì loại này vừa có giá thành thấp lại có tác dụng diệt khuẩn cao nên được nhiềungười chọn Sau khi cải tạo xong các hộ nuôi phơi ao từ 20 - 30 ngày rồi cho nướcvào qua cống có màng lưới lọc để ngăn cá tạp và địch hại để chuẩn bị cho công tácthả giống Bên cạnh việc sên vét, cải tạo ao vào cuối vụ thì trong quá trình nuôi các
hộ dân cũng định kỳ hút bùn và dùng hóa chất để xử lý nước như vôi, BKC, Sunfatđồng, Chlorine, Iodine giúp cải thiện môi trường nước chiếm 86% số hộ, ngoài racũng có những hộ nuôi chỉ dùng hóa chất để xử lý nước mà không cần hút bùn chiếm14%
4.2.4 Mùa vụ thả nuôi
Nuôi tôm Ninh Thuận tập trung thả giống từ tháng 3 - 9 dương lịch Tuynhiên mùa vụ nuôi tôm phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, sự biến động các yếu tốmôi trường, khí hậu của từng vùng miền Người nuôi đã tận dụng đặc tính rộng muốicủa tôm thẻ chân trắng nên được thả nuôi quanh năm, do đó những hộ nuôi tôm thẻchân trắng thường gặp rủi ro cao hơn Trước tình hình sản xuất nói trên người nuôitôm TCT truyền thống, đặc biệt là những hộ nuôi thẻ chân trắng quanh năm cần tuânthủ hướng dẫn của cơ quan thủy sản về mùa vụ, cũng như tăng cường công tác tuyêntruyền kỹ thuật và quản lý vùng nuôi Tìm ra những biện pháp phù hợp phát triển,nhằm giảm tổn thất về kinh tế và môi trường cho các vùng nuôi
4.2.5 Chất lượng con giống
Với mô hình nuôi thâm canh thì chất lượng con giống tốt là rất quan trọng nóquyết định lớn đến hiệu quả vụ nuôi Việc lựa chọn đàn giống chất lượng, không
Trang 40nhiễm bệnh (WSSV, MBV) là điều người nuôi rất quan tâm Nếu thả giống khôngtốt, mang mầm bệnh có thể dẫn đến tôm chết hàng loạt sau 1-2 tháng nuôi hoặc tômchậm lớn dẫn đến thời gian nuôi dài, FCR cao, tỷ lệ sống thấp Theo Trần Văn Việt(2006) nhận định tôm giống có nguồn gốc ở miền Trung chất lượng cao hơn so vớicon giống có nguồn gốc ở ĐBSCL Với lợi thế là trung tâm sản xuất giống lớn của cảnước, là nơi tạo ra con giống chất lượng cao Vì vậy mà các hộ nuôi tôm ở tỉnh trựctiếp lấy mẫu xét nghiệm PCR trước khi mua chỉ có 23% đối với mô hình nuôi tômTCT - C và 27% hộ nuôi tôm TCT - TT áp dụng phương pháp kiểm tra giống trướckhi thả Đa số người nuôi mua giống thả với sự đảm bảo của người bán (77% môhình nuôi tôm TCT - C, 73% tôm TCT- TT và 100% hộ nuôi tôm sú - TT).
Bảng 4.6: Phương pháp kiểm tra chất lượng tôm giống của các hộ nuôi
4.2.6 Thức ăn và cách cho ăn
Kết quả khảo sát cho thấy sản phẩm thức ăn cho tôm được sử dụng ở khu vựcnghiên cứu là Lotus, Nuri, Tomboy Theo điều tra, người dân sử dụng thức ăn tôm
TCT có chứa độ đạm từ 32 - 40% Trong khi đó, theo Trần Ngọc Hải và ctv (2009)
lợi thế khi nuôi tôm thẻ chân trắng yêu cầu về đạm không cao khoảng 25 - 35% tômvẫn tăng trưởng tốt Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ kinh nghiệm nuôi tôm sú, là loài cónhu cầu độ đạm từ 36 - 42% (Shiau, 1998) Thêm vào đó, tôm TCT được thả với mật
độ cao nên người nuôi thường sử dụng thức ăn có độ đạm cao để đáp ứng nhu cầudinh dưỡng cho tôm Việc điều chỉnh thức ăn hàng ngày dựa vào sàng ăn với lượngthức ăn bỏ vào sàng 2%, cho ăn 3 - 4 lần/ngày Hầu hết những người nuôi tôm thẻchân trắng và tôm sú cho rằng trong quá trình nuôi việc bổ sung dinh dưỡng hỗ trợtiêu hóa quá trình hấp thụ thức ăn rất quan trọng, vì nó quyết định được hệ số FCR,quyết định chi phí nuôi tôm Trong thức ăn của tôm TCT và tôm sú, người nuôithường bổ sung thêm một số chất nhằm tăng cường sức đề kháng để chống lại mầmbệnh, kích thích tăng trưởng nhanh và tăng độ tiêu hóa Trong đó bao gồm vitamin
C, hỗn hợp dinh dưỡng, premix khoáng và men vi sinh, mặt dù tôm TCT có khả năng
sử dụng một tỷ lệ nhất định thức ăn tự nhiên, hấp thụ các vitamin và muối khoáng từ
môi trường nước (Moss et al 2006)