1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN

8 915 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 726,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ 2 CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG 3 VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ 2 CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG 3 VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ 2 CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG 3 VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ 2 CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG 3 VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ 2 CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG 3 VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN

Trang 1

1

ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ

1

CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG

2

VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH NINH THUẬN

3

Tạ Văn Phương(1,2) và Trần Văn Việt(2*)

4

1) Khoa Sinh học Ứng dụng, Đại học Tây Đô, 2) Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

5

*Emai: tvviet@ctu.edu.vn

6

ABSTRACT

7

White leg shrimp culture in traditional and biofloc technologies was studied in 2013 in

8

Ninh Hai, Ninh Phuoc and Thuan Nam districts, Ninh Thuan province, 60 households

9

were surveyed in the study area, they included 30 households on applying traditional

10

and 30 households on biofloc technologies The aim of study is to assess technical and

11

economic aspects of these two technologies Results found that biofloc technology was

12

applied in Ninh Thuan province since 2011, area of ponds in biofloc and traditional

13

technologies was 0,27±0,06 ha/pond and 0,32±0,08 ha/pond, respectilvely and depth of

14

its was 1,23±0,1and 1,4±0,08 m, respectivlely Duration of culture in biofloc technology

15

was shorter than in traditional technology, feed conversion ratio (FCR) of biofloc

16

technology was also lower than in traditonal technology Whereas density stocking of

17

biofloc was higher than traditional technologies, there are possitive correlation between

18

yield and period of culture, yield with survival rate, and cost for feeding occupied over

19

50% of total expenditure in both of the technologies, ratio of household have profit in

20

biofloc and traditoonal technologies was 80% and 60%, respectively The biofloc

21

technology has higher cost and profit than tranditional technology

22

Keywords: biofloc technology, Ninh Thuan, traditional technology, white leg shrimp

23

Title: Evaluation of technical and economic aspects in white leg shrimp (Litopenaeus

24

vannamei) by tranditonal and biofloc technologies in Ninh Thuan province

25

TÓM TẮT

26

Tôm thẻ chân trắng nuôi theo kỹ thuật truyền thống (KTTT)và kỹ thuật biofloc (KTBF)

27

được nghiên cứu năm 2013 ở 3 huyện Ninh Hải, Ninh Phước và Thuận Nam của ở tỉnh

28

Ninh Thuận Nghiên cứu đã khảo sát 60 hộ nuôi, trong đó 30 hộ nuôi theo KTTT và 30

29

hộ nuôi theo KTBF Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá khía cạnh kỹ thuật và kinh tế

30

của 2 kỹ thuật nuôi này Kết quả thấy rằng KTBF đã được áp dụng từ năm 2011, diện

31

tích ao nuôi theo KTTT và KTBF lần lượt là 0,32±0,08 ha/ao và 0,27±0,06 ha/ao, độ

32

sâu tương ứng là 1,23±0,1 và 1,4±0,08 m, thời gian nuôi của KTBF ngắn hơn và hệ số

33

chuyển hóa thức ăn và thấp hơn KTTT Trong khi mật độ nuôi của KTBF cao hơn, có

34

sự tương quan thuận giữa năng suất tôm nuôi với thời gian nuôi và tỷ lệ sống của tôm

35

cho cả kỹ thuật này Chi phí thức ăn chiếm trên 50% tổng chi phí chi cho cả 2 kỹ thuật

36

nuôi, ngoài ra, tỷ lệ hộ áp dụng KTBF có lãi chiếm 80% và hộ áp dụng KTTT là 60%,

37

chi phí đầu tư cao hơn và lợi nhuận của KTBF cao hơn KTTT

38

Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, Ninh Thuận, kỹ thuật biofloc, kỹ thuật truyền thống

39

1 GIỚI THIỆU

40

Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) được nuôi phổ biến nhiều nơi trên thế giới,

41

chiếm 71,8% sản lượng tôm nuôi trên thế giới và chiếm 77,9% ở các nước ở Châu á

42

năm 2010 (FAO, 2012), loài này đã được nuôi đầu tiên ở Việt Nam năm 2001 (Bộ

43

NN&PTNT, 2010), lúc đầu diện tích nuôi kéo dài từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nơi

44

chiếm 87% sản lượng và 63,3% về diện tích năm 2004 (Briggs et al., 2005) Tổng diện

45

Trang 2

2

tích nuôi tôm thẻ chân trắng khu vực này tăng từ 4.227 ha năm 2008 lên 9.131 ha năm

46

2009 (VASEP, 2010), và 33.049 ha với sản lượng đạt 150.000 tấn năm 2011 (Tổng cục

47

Thủy sản, 2014), tôm được nuôi mật độ cao, vì vậy các vấn đề về ô nhiễm và dịch bệnh

48

là khó tránh khỏi (Jang et al., 2000) Hiện nay có nhiều biện pháp được áp dụng để cải

49

thiện môi trường ao nuôi như hóa học, sinh học và cơ học (Trần Xuân Điểm, 2013)

50

Trong đó biofloc được xem như là phương pháp sinh học mới (kết tủa sinh học) là tập

51

hợp các loại vi sinh vật khác nhau, chủ yếu là vi khuẩn, kết lại thành khối, với trung tâm

52

là hạt chất rắn lơ lửng trong nước (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2014) Điều kiện để tạo

53

nên biofloc phải có sự hiện diện của các vi sinh vật có khả năng sinh ra polymer sinh

54

học, các polymer này có tác dụng kết dính các thành phần khác tạo thành biofloc lơ

55

lững trong nước, nhằm loại bỏ vi khuẩn gây bệnh trong môi trường, thành phần biofloc

56

bao gồm hỗn hợp các vi sinh vật dị dưỡng và vi khuẩn sợi, mảnh vụn, keo, polymer sinh

57

học, nấm, động vật nguyên sinh và động vật phù du (Lục Minh Diệp, 2012) Do đó để

58

duy trì hoạt động của biofloc thì cần phải cung cấp nguồn năng lượng cho các vi khuẩn

59

này hoạt động, nguồn bổ sung này dưới dạng carbohydrate (Avnimelech et al., 2003), ở

60

Việt Nam các carbohydrate thường dưới dạng rỉ đường, bột mì hay bột gạo (Lục Minh

61

Diệp, 2012) Theo Avnimelech (2011) thì việc bổ sung carbohydrate có vai trò cải thiện

62

chất lượng nước giảm ô nhiễm môi trường nuôi và ít dịch bệnh

63

Ninh Thuận là tỉnh ven biển nam trung bộ (Hình 1), diện tích tự nhiên là 3.358 km2 gồm

64

6 huyện: Ninh Phước, Ninh Sơn, Ninh Hải, Thuận Bắc, Thuận Nam và Bác Ái và thành

65

phố Phan Rang Tháp Chàm Tổng chiều dài bờ biển của tỉnh khoảng 105 km, vùng

66

đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích của tỉnh, nơi có 1.825 ha đất thích hợp nuôi

67

trồng thủy sản, diện tích tôm thẻ chân trắng trong tỉnh chiếm 81% so với 9% diện tích

68

nuôi tôm sú năm 2013 (Sở NN & PTNT Ninh Thuận, 2013)

69

Ở Ninh Thuận, kỹ thuật biofloc (KTBF) đã được áp dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng

70

bên cạnh kỹ thuật nuôi truyền thống (KTTT) như nuôi tôm sú công nghiệp trước đây

71

(Pham Thi Anh và ctv, 2010) Tuy nhiên, chưa có đánh giá, so sánh về hiệu quả kinh tế

72

và KT của 2 mô hình này

73

Vì vậy mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá khía cạnh kinh tế và kỹ thuật trong nuôi

74

tôm thẻ chân trắng theo kỹ KTTT và KTBL ở Ninh Thuận

75

Nội dung nghiên cứu bao gồm (i) đánh giá tình hình nuôi tôm chân trắng; (ii) phân tích

76

đánh khía cạnh kỹ thuật và (iii) hiệu quả kinh tế của KTTT và KTBF

77

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

78

Địa điểm: Tại 3 huyện Ninh Hải, Ninh Phước và Thuận Nam

79

Thời gian: Tháng 8 đến tháng 11 năm 2013

80

Số liệu thứ cấp: Các tài liệu sẳn có của ngành quản lý thủy sản trong tỉnh: Sở Nông

81

nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Nuôi trồng Thủy sản, qua các báo cáo tài liệu

82

trong và ngoài nước trên địa bàn nghiên cứu

83

Số liệu sơ cấp: Khảo sát 60 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở 3 huyện (Hình1), trong đó 30

84

phiếu nuôi theo KTTT và 30 phiếu nuôi theo KTBF (có bổ sung carbohydrate)

85

Xử lý số liệu: t.test đã được sử dụng để kiểm định trong so sánh từng cặp biến của 2 kỹ

86

thuật nuôi khác nhau

87

88

Trang 3

3

89

90

Hình 1: Bản đồ địa điểm vùng nghiên cứu

91

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

92

3.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng

93

Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trong tỉnh có từ năm 2007 và được nuôi như nuôi tôm sú

94

thâm canh truyền thống trước đây Trong khi quy trình biofloc có từ năm 2011 tập

95

trung ở huyện Ninh Phước và Thuận Nam với diện tích hiện tại khoảng 600 ha, trong số

96

các hộ nuôi áp dụng KTBF thì có lót bạt toàn bộ ao hoặc quanh thành ao (Chi cục Nuôi

97

trồng Thủy sản Ninh Thuận, 2013) Quy trình biofloc ra đời ở Ninh Thuận trong hoàn

98

cảnh dịch bệnh của gan tụy và bệnh phân trắng trên tôm sú diễn ra trên diện rộng, khiến

99

nhiều hộ nuôi chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng, và dịch bệnh vẫn xảy ra, vì vậy

100

ngành thủy sản của tỉnh kết hợp với một số công ty và các nhà khoa học đưa KTBF vào

101

tập huấn cho người nuôi, đây là quy trình kỹ thuật cao và chi phí đầu tư ban đầu 1,5-2

102

lần so với KTTT, nhưng nuôi theo quy trình biofloc cho thấy hiệu quả khả quan bước

103

đầu nên số người áp dụng ngày càng nhiều (SNN & PTNT Ninh Thuận, 2013)

104

Diện tích tôm thẻ chân trắng năm 2013 là 875ha, sản lượng 8.000 tấn năng suất trung

105

bình 8-12 tấn/ha/năm (Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Ninh Thuận năm 2013) Kết quả

106

cũng thấy rằng các hộ nuôi theo quy trình biofloc là những hộ có điều kiện kinh tế để

107

đầu tư, 65% trong số họ đã được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, tỷ lệ thành công

108

của kỹ thuật này đạt 80% các hộ khảo sát

109

Theo người nuôi thì thời gian nuôi càng lâu càng tốt vì khi đó tôm có kích cỡ lớn và bán

110

được giá cao, tuy nhiên thời gian nuôi kéo dài gây môi trường ao nuôi trở nên nhiễm

111

bẩn và khó kiểm soát, thời gian nuôi theo KTBF ngắn thời gian nuôi theo KTTT (Hình

112

2a và 2b) Thời gian nuôi ở KTBF (Hình 2b) là 18-103 ngày, trong đó các hộ nuôi có lợi

113

nhuận thì thời gian nuôi là 74-103 ngày; trong khi đó các hộ nuôi thua lỗ là 18-67 ngày

114

Ngoài ra, có sự khác biệt về hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) giữa 2 kỹ thuật (p<0, 05),

115

FCR của tôm nuôi KTBF thấp hơn KTTT (Hình 2c và 2d), FCR trong KTTT là 1,5± 0,3

116

(Hình 2c), đối với các hộ nuôi có lãi thì hệ số huyển hóa thức ăn (FCR) là 1,3±0,3 và

117

các hộ bị lỗ là 1,7±1,7 Vì vậy, để đảm bảo nuôi tôm cho lợi nhuận cần quản lý tốt thức

118

ăn cũng như cần ước lượng chính xác sản lượng tôm trong ao, phải có kế hoạch dõi

119

lượng thức ăn để hiệu chỉnh tốt lượng thức, không để FCR vượt quá 1,4 Trong khi FCR

120

Trang 4

4

KTBF là 1,3±0,5 (Hình 2d); các hộ nuôi có lợi nhuận thì FCR là 1,3±0,04, đối với các

121

hộ nuôi thua lỗ thì FCR là 2,2±0,4

122

123

Hình 2: Thời gian nuôi: (a) KTTT; (b) KTBF và hệ số chuyển hóa thức ăn FCR

124

của (c) KTTT; (d) KTBF

125

Diện tích ao nuôi trong KTBF nhỏ hơn trong KTTT (p<0,05), ở KTTT là 0,32±0,08

126

ha/ao, ao kích cỡ này chiếm 70% tổng số ao trong vùng, tôm nuôi trong các ao kích cỡ

127

này có tỉ lệ sống là 84% và và năng suất tôm là 9,3 tấn/ha/vụ, trong khi ao có diện tích

128

lớn hơn 0,3 ha/ao (chiếm 30% tổng số ao), tỷ lệ sống của tôm là 79% và năng suất là

129

8,7 tấn/ha/vụ Trong khi ở KTBF thì diện tích ao là 0,27±0,06 ha/ao chiếm 83,8% số ao

130

và diện tích từ 0,35-0,4ha chiếm 16,2% số ao Theo các hộ nuôi thì tôm thẻ thì kích cỡ

131

tôm post từ PL10-PL12 và không có sự khác biệt về kích cỡ tôm nuôi theo KTTT và

132

biofloc (p>0,05), tuy nhiên kích cỡ PL10 cho tỷ lệ sống khoảng 83%, PL11 (82%) và tôm

133

PL12 là 81% cho cả 2 kỹ thuật

134

3.2 Các khía cạnh kỹ thuật

135

Các hộ áp dụng KTBF có mật độ thả nuôi cao hơn KTTT (Hình 3a và 3b), mật độ tôm

136

của các hộ nuôi của các hộ áp dụng KTTT là 35-100 cá thể/m2, trong khi đó mật độ của

137

các hộ áp dụng KTBF là 40-160 con/m2 chiếm 75,5%; mật độ từ 117-135 con/m2 chiếm

138

13,5% và nhóm mật độ trên 160 con/m2 chiếm 11% Các hộ nuôi thua lỗ do mới bắt đầu

139

áp dụng quy trình biofloc nên mắc phải một số vấn đề kỹ thuật như: Mất điện vào ban

140

đêm, tạt một lượng lớn rỉ đường ở giai đoạn đầu vụ làm pH và Oxy trong thời gian đầu

141

giảm đột ngột đưa đến tôm nuôi có tỷ lệ sống thấp

142

143

Hình 3: Mật độ của (a) KTTT; (b) KTBF; Năng suất của (c) KTTT; (d) KTBF

144

145

Tôm nuôi được sử dụng thức ăn viên chuyên dụng, những loại thức ăn này có hàm

146

lượng protein từ 36-44%, đây là thức ăn có độ đạm cao, vì sẽ giảm được lượng vật chất

147

hữu cơ thêm vào ao và giúp tôm nuôi ăn tốt hơn, và tăng trưởng nhanh hơn (Lê Thanh

148

Hùng và Ong Mộc Quý, 2011)

149

Trang 5

5

Lượng thuốc hóa chất sử dụng trong KTBF chiếm khoảng 80% so với kỹ thuật nuôi tôm

150

truyền thống, tuy nhiên về chủng loại và số hộ sử dụng tương tự như nuôi tôm truyền

151

thống, các hóa chất dùng để diệt cá, giáp xác và ốc đinh, các loại hóa chất như: Saponin,

152

Chlorine, BKC, Cleaner 80

153

Việc phát triển tôm thẻ chân trắng đi đôi với việc sử dụng ngày càng nhiều thức ăn, hóa

154

chất con giống, nguy cơ ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên huỷ hoại các hệ

155

sinh thái, giảm tính đa dạng sinh học nguy cơ phát triển dịch bệnh gây thiệt hại ngày

156

càng nghiêm trọng và mức độ lây lan trên diện rộng, vì vậy tìm mô hình sinh học thân

157

thiện môi trường thay thế dần các biện pháp hóa học là điều cần thiết cho sự phát triển

158

bền vững (Boyd và ctv, 2002)

159

Ngoài ra, cách tạo màu nước của 2 kỹ thuật nuôi cũng khác nhau, ở kỹ KTTT người

160

nuôi dùng các loại phân bón như phân Urê, N-P-K, DAP Trong khi ở KTBF thì trên

161

86,7% hộ dùng bột đậu nành, cám gạo để tạo màu nước, giúp kích thích vi khuẩn phát

162

triển đồng thời sự hạn chế tảo lam, tảo lục và tảo đáy phát triển thời gian gây màu kéo

163

dài giúp cho hệ vi khuẩn nitrate hóa phát triển và ổn định Năng suất tôm nuôi trong

164

KTBF cao hơn KTTT (hình 3c và 3d) Tôm nuôi theo KTBF có tỷ lệ sống cao

165

71,8±24,3%, trong đó nhóm hộ có lợi nhuận thì tỷ lệ này là 82±4%; nhóm thua lỗ có tỷ

166

lệ sống là 27±23%

167

3.3 Đầu tư và hiệu quả kinh tế

168

Tuy nhiên mỗi kỹ thuật thì các tỷ lệ chi khác nhau, trong KTTT thì chi phí thức ăn

169

chiếm tỷ lệ cao nhất 43,4±12,3 %, thuốc hóa chất là 20,4%, chi phí con giống cũng

170

chiếm tỷ lệ khá cao 9,3%, nhiên liệu chiếm 5,1% và những chi phí còn lại chiếm dưới

171

4% (Hình 4a), tuy nhiên trong KTBF thì thức ăn chiếm 54±3 % tổng chi phí, chi phí lót

172

bạt và chi phí con giống tương nhau chiếm tỷ lệ 11,7% và 11,1%, các khoản chi khác thì

173

không có sự chênh lệch nhiều (Hình 4b) Kết quả cũng thấy rằng ở KTBF người nuôi

174

dùng thuốc và hóa chất rất hạn chế, sản phẩm sử dụng nhiều là các chất khoáng và chế

175

phẩm sinh học

176

Bên cạnh đó cũng có sự khác biệt về lượng thức ăn tiêu tốn cho 2 kỹ thuật nuôi

177

(p<0,05), ở KTTT là 12±2 tấn/ha/vụ tương ứng khoảng 264-473 triệu đồng/ha/vụ, trong

178

khi lượng thứa ăn nuôi theo KTBF là 19,2±5,4 tấn/ha/vụ, tương ứng khoảng 372-756,4

179

triệu đồng/ha/vụ

180

Trong các hộ nuôi có lãi ở KTBF thì có khoảng 70% hộ có ao lót bạt ao hoàn toàn và

181

30% lót bạt thành bờ, năng suất tôm của các hộ lót bạt hoàn toàn là 15,9 tấn/ha/vụ và

182

các hộ chỉ lót bạ quanh miệng ao là và 13,7 tấn/ha/vụ, có sự khác biệt về năng suất giữa

183

2 kỹ thuật này (p<0,05) Trường hợp các hộ có sử dụng bạt lót trong KTBF thì chi phí

184

mua bạt lót đối với các hộ lót bạt hoàn toàn chiếm 11,9±3,2 % và chỉ lót bạt quanh ao

185

chiếm 5,5±2,1 % của tổng chi (p<0,05)

186

Ngoài ra, doanh thu các ao lót bạt hoàn toàn là 2.082 ± 0,45 triệu/ha/vụ trong khi các ao

187

lót bạt quanh bờ là 1.736± 0,35 triệu/ha/vụ và lợi nhuận thu được lần lượt là 905 ±132

188

triệu/ha/vụ và 754 ± 321 triệu/ha/vụ Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận của 2 nhóm này là

189

0,76

190

Trang 6

6

191

Hình 4: Các khoản chi phí của: (a) của KTTT và (b) KTBF

192

Có 100% hộ nuôi bổ sung carbohydrate là rỉ đường và có 50% hộ bổ sung thêm bột gạo,

193

tuy nhiên các hộ có bổ sung thêm bột gạo có hiệu quả kinh tế cao hơn những hộ chỉ bộ

194

sung rỉ đường, năng suất tôm nuôi và thời gian gia tăng đáng kể khi có bổ sung

195

Số lượng carbohydrate bổ sung vào ao là 657±294 kg/ha/vụ, với chi phí là 11,25 ± 5,11

196

triệu đồng/ha/vụ Trong đó, lượng rỉ đường sử dụng là 586±288 kg/ha/vụ và lượng bột

197

gạo là 71±128 kg/ha/vụ, giá rỉ đường là 9.000 đồng/kg, và bột gạo là 10.000 đồng/kg

198

199

Hình 5: Tổng chi phí và lợi nhuận của (a) KTTT (b) KTBF

200

Tổng chi phí cho nuôi tôm KTTT là 682,5±144,7 triệu/ha/vụ và KTBF là 997,6±232,1

201

triệu/ha/vụ (Hình 5) Giá bán tôm của KTTT là 80,6±2,1 ngàn đồng/kg, do kích cỡ tôm

202

nhỏ, doanh thu của hộ nuôi 977±130 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận thu được từ kỹ thuật

203

này khoảng 288±108 triệu đồng/ha/vụ Với chi phí đầu tư cao rủi ro lớn nhưng lợi

204

nhuận thu được thấp, nên tỷ suất lợi nhuận của kỹ thuật nuôi tôm thẻ theo truyền thống

205

0,32±0,17 Các hộ nuôi tôm thua lỗ là 170±114 triệu đồng/ha/vụ, do quản lý thức ăn

206

không tốt, nên hệ số FCR rất cao từ 1,4- 2,0 Các yếu trên đã đẩy giá thành của sản

207

phẩm tôm nuôi lớn hơn giá bán đưa đến thua lỗ mặc dù có hộ nuôi tôm đạt năng suất rất

208

cao từ 9,5-10 tấn/ha/vụ

209

Trong khi tôm nuôi KTBF có giá bán 130,6±4,2 ngàn đồng/kg, tôm kích cỡ lớn, doanh

210

thu của hộ nuôi là 1.980±354 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận thu được từ kỹ thuật này

211

khoảng 862±197 triệu đồng/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận là 0,76±0,09, có 20% hộ bị lỗ so

212

với 40% của KTTT (Hình 5a và Hình 5b)

213

Trang 7

7

214

Hình 6: Tương quan đa biến trong: (a) KTTT; (b) KTBF với * với mức ý nghĩa

215

p<0,05 và *** với mức ý nghĩa p<0,01

216

Trong KTTT có sự tương quan thuận giữa năng suất tôm và thời gian nuôi (R2=0,84) ở

217

(Hình 6a), nuôi tôm thời gian kéo dài được là do môi trường tốt, tôm phát triển nên xu

218

hướng là để tăng kích cỡ và tăng giá thành sản phẩm Kết quả cũng thấy rằng năng suất

219

tôm cũng tương quan với tỷ lệ sống (R2=0,68), vì vậy chất lượng con giống và thời gian

220

chăm sóc ban đầu có ý nghĩa quan trọng đến năng suất nuôi, tương quan giữa năng suất

221

và mật độ là (R2=0,53) điều này khẳng định năng suất ít bị ảnh hưởng bởi mật độ thả

222

nuôi Tương tự như ở KTTT, năng suất tôm nuôi ở KTBF có tương quan chặc chẽ với

223

thời gian nuôi (R2=0,87) và năng suất với tỷ lệ sống R2=0,89 của tôm (Hình 6b) Ngoài

224

ra, thời gian nuôi và tỷ lệ sống có mối liên hệ rỏ nét, điều này khẳng định môi trường

225

tốt, thời gian nuôi được duy trì và năng suất sẽ cao hơn

226

4 KẾT LUẬN

227

Tôm thẻ chân trắng được nuôi ở Ninh Thuận từ năm 2007 theo KTTT, và KTBF được

228

bắt đầu từ năm 2011, KTBF đã thể hiện nhiều ưu điểm hơn KTTT như ít rủi ro hơn

229

năng suất cao, mật độ cao, lợi nhuận cao hơn thời gian nuôi ngắn hơn, số hộ có lãi nuôi

230

theo KTTT chiếm 60% và KTBF chiếm 80%, tuy nhiên KTBF có chi phí cao hơn và

231

cần kỹ thuật cao hơn KTTT

232

TÀI LIỆU THAM KHẢO

233

Avnimelech, Y and Ritvo, G., 2003 Shrimp and fish pond soils: processes and

234

management, Israel Institute of Technology

235

Avnimelech Y., 2011 The development of bio-flocs technology (BFT) is based upon a

236

sequence of motivations, principles, and suitable operative technologies World

237

Aquaculture 2011

238

Boyd C, E., Wood C.W and Thunjai T., 2002 Aquaculture pond bottom soil quality

239

managment, Pond Dynamics/Aquaculture Collaborative Research Support

240

Program, Oregon State University, Corvallis, Oregon 97331-1641

241

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010 Báo cáo chuyên đề áp dụng VIETGAP –

242

phát triển bền vữngng nghề nuôi tôm www.fistenet.gov.vn

243

244

Trang 8

8

Briggs, M, S Funge – Smith, R P Subasinghe, and M Phillips, 2005 Introduction and

245

movement of two penaeid shrimp species in Asia and the Pacific FAO,

246

Fisheries Technical Paper, 476pp

247

Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Ninh Thuận, 2013 Sơ kết tình hình hoạt động 09 tháng

248

đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 03 tháng cuối năm 2013 Ngày 2/10/2013 tại

249

UBND tỉnh Ninh Thuận www.ninhthuan.gov.vn

250

FAO, 2012 The state of world fisheries and aquaculture Cover photographs courtesy of

251

FAO, O Barbaroux, G Bizzarri, M.R Hasan, L Miuccio, J Saha, J Sanders, J

252

Spaull and J Van Acker Publishing Policy and Support Branch Office of

253

Knowledge Exchange, Research and Extension FAO, Viale delle Terme di

254

Caracalla Rome, Italy ISSN 1020-5489

255

Jang In-Kwon, Su-Kyeong Kim, Zhenguo Pang, Young-Rok Cho, 2011 Effect of

256

biofloc with different concentration on growth and immune activity of pacific

257

white shrimp, Litopenaeus vannamei West Sea Mariculture Research Center,

258

National Fisheries Research & Development Institute, Taean, Chungnam

357-259

945, Republic of Korea World Aquaculture 2011

260

Lê Thanh Hùng và Ong Mộc Quý, 2011 Hiện trạng sử dụng và quản lý thức ăn nuôi

261

tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở Việt nam Kỷ yếu Hội nghị Khoa

262

học Thủy sản Toàn quốc lần thứ IV, tháng 6 tại ĐH Nông Lâm, TP HCM, trang

263

151-160

264

Lục Minh Diệp, 2012 Ứng dụng công nghệ biofloc, giải pháp kỷ thuật thay thế cho

265

nghề nuôi tôm he thương phẩm hiện nay ở Việt Nam Kỷ yếu hội thảo khoa học

266

ứng dụng công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản ĐH Nha Trang, tháng 11,

267

trang 3-13

268

Nguyễn Văn Hòa, Đặng Kim Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Hồng Vân,

269

Trương Chí Linh và Phạm Thị Tuyết Ngân, 2014 Ảnh hưởng của độ mặn đến

270

sự hình thành và phát triển của biofloc trong bón phân Tạp chí Đại học Cần Thơ

271

30: 53-63

272

Pham Thi Anh, Carolien K., Simon R B.Arthur P.J M., 2010 Water pollution by

273

intensive brackish shrimp farming in south-east Vietnam: Causes and options for

274

control, Journal of Agricultural Water Management: 97, 872–882

275

Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Ninh Thuận, 2013 Báo cáo kết quả thực hiện

276

nhiệm vụ kế hoạch năm 2013 và giải pháp phát triển sản xuất và chỉ đạo điều

277

hành năm 2014 Ngày 18/3/2014 tại UBND tỉnh Ninh Thuận

278

www.ninhthuan.gov.vn

279

Tổng cục Thủy sản, 2014 Hội nghị triển khai kế hoạch nuôi tôm nước lợ các tỉnh phía

280

Nam và giải pháp phòng chống dịch bệnh năm 2014 Ngày 28/2/2014 tại Bà Rịa

281

Vũng Tàu www.fistenet.gov.vn

282

Trần Xuân Điểm, 2013 Một số biện pháp xử lý – cải tạo ao nuôi và kiểm soát chất

283

lượng môi trường nước trong ao nuôi thủy sản Bộ Nông nghiệp và Phát triển

284

nông thôn, Tổng cục Thủy sản, Trung tâm Thông tin Thủy sản, 18 trang

285

VASEP, 2010 Báo cáo ngành tôm Việt Nam năm 2009 và xu hướng năm 2010 Hiệp

286

hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hà Nội tháng 12/2010

287

Ngày đăng: 16/04/2015, 09:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ địa điểm vùng nghiên cứu - ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ   CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG   VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH  NINH THUẬN
Hình 1 Bản đồ địa điểm vùng nghiên cứu (Trang 3)
Hình 2: Thời gian nuôi: (a) KTTT; (b) KTBF và hệ số chuyển hóa thức ăn FCR - ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ   CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG   VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH  NINH THUẬN
Hình 2 Thời gian nuôi: (a) KTTT; (b) KTBF và hệ số chuyển hóa thức ăn FCR (Trang 4)
Hình 4: Các khoản chi phí của: (a) của KTTT và (b) KTBF. - ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ   CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG   VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH  NINH THUẬN
Hình 4 Các khoản chi phí của: (a) của KTTT và (b) KTBF (Trang 6)
Hình 6: Tương quan đa biến trong: (a) KTTT; (b) KTBF với * với mức ý nghĩa - ĐÁNH GIÁ KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM THẺ   CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BẰNG KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG   VÀ KỸ THUẬT BIOFLOC Ở TỈNH  NINH THUẬN
Hình 6 Tương quan đa biến trong: (a) KTTT; (b) KTBF với * với mức ý nghĩa (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w