Đối với những lời khai của bị can, bị hại, người làm chứng...phải lược ghi những nội dung chính; việc ghichép này giúp Kiểm sát viên tham gia phiên toà trực tiếp nghiên cứu toàn bộ
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài: “ Hoạt động chuẩn bị tham gia phiên tòa sơ thẩm
hình sự của Kiểm sát viên”
Địa điểm thực tập: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ
Sinh viên thực hiện: Hồ Văn Đức
MSSV: 1055021984 Lớp: 51B3 Chính trị – Luật
Vinh, tháng 4 năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
A Mở đầu: 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 6
3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục đề tài 6
B Nội dung báo cáo 7
Chương I: Nghiên cứu hồ sơ vụ án 7
1.1 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án 7
1.2 Nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án 11
1.3 Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, gặp bị cáo, thủ tục rút gọn và nghiên cứu hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát cấp trên tiến hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 12
1.4 Trường hợp tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung 13
1.5 Kiểm sát việc chuẩn bị xét xử của tòa án 15
1.5.1 Kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử 15
1.5.2 Kiểm sát việc áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn 16
1.5.3 Kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử 16
1.5.4 Kiểm sát việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án 17
1.5.5 Kiểm sát việc giao quyết định của tòa án……… 18
Chương II: Báo cáo với lãnh đạo viện 2.1 Nội dung báo cáo………18
2.1.1 Về hình thức……… 18
2.1.2 Về nội dung……… 18
2.1.3 Đề xuất áp dụng pháp luật………19
Trang 32.1.4 Đề xuất đường lối giải quyết vụ án……… 19
2.2 Rút truy tố trước khi mở phiên tòa……… 21
Chương III: Xây dựng đề cương xét hỏi, luận tội, tranh luận tại phiên tòa… 22 3.1.Xây dựng đề cương xét hỏi……… 22
3.2 Xây dựng bản thảo luận tội……….23
3.3 Cơ cấu của luận tội……… ……… 24
Chương IV: Dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên tòa……….27
C Kết luận ……… 28
D Tài liệu tham khảo ………33
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đờ̀ tài:
Viện kiểm sát nhõn dõn (VKSND) núi chung, VKSND huyện Lộc Hà núiriờng cú chức năng thực hành quyờ̀n cụng tụ́ và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trờn địa bàn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật VKSND huyện Lộc Hà
cú trụ sở tạị xó Thạch Bằng - huyện Lộc Hà – tỉnh Hà Tĩnh, với cơ cấu tổ chứcgồm 1 Viện trưởng, 2 phú viện trưởng và 09 cán bộ, Kiểm sát viờn cụng tác tạicác bộ phận nghiệp vụ như: Hỡnh sự; dõn sự; thi hành án hỡnh sự, thi hành án dõn
sự, văn phũng, khiếu tụ́…
Viện KSND huyện Lộc Hà đợc thành lập tháng 3/2007( quyết định số: 09/QĐ- VKS TC ngày 16/3/2007 của Viện KSND Tối cao).Đến tháng 8/2007 mớichính thức đợc các liên ngành cấp tỉnh giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt độngtheo chức năng, nhiệm vụ Trong phạm vi chức năng của mỡnh, VKSND huyệnLộc Hà cú nhiệm vụ gúp phần bảo vệ pháp chế xó hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ
xó hội chủ nghĩa và quyờ̀n làm chủ của nhõn dõn, bảo vệ tài sản của Nhà nước,của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhõn phẩmcủa cụng dõn, bảo đảm để mọi hành vi xõm phạm lợi ích của Nhà nước, của tậpthể, quyờ̀n và lợi ích hợp pháp của cụng dõn đờ̀u phải được xử lý theo pháp luật.Trong những năm qua tỡnh hỡnh phạm tội trờn địa bàn huyện Lộc Hà diễn biếnhết sức phức tạp; các loại tội phạm vờ̀ xõm phạm quyờ̀n sở hữu; sức khỏe, tộiphạm vờ̀ ma tỳy …diễn ra thường xuyờn và cú chiờ̀u hướng gia tăng đũi hỏi liờnngành tư pháp huyện Lộc Hà cần cú sự phụ́i hợp chặt chẽ để giải quyết tụ́t nhiệmvụ của mỡnh, bảo vệ trật tự an toàn xó hội
Chức năng, nhiệm vụ của VKSND huyện Lộc Hà được thực hiện thụng quanhững cụng tác sau đõy:
1 Thực hành quyờ̀n cụng tụ́ và kiểm sát việc tuõn theo pháp luật trongviệc điờ̀u tra các vụ án hỡnh sự của các cơ quan điờ̀u tra thuộc Cụng an huyện vàcác cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sụ́ hoạt động điờ̀u tra như:
Bộ đội Biờn phũng, Hải quan, Kiểm lõm trờn địa bàn huyện;
Trang 52 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongviệc xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân huyện;
3 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hànhchính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật của Toàán nhân dân huyện; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án,quyết định của Toà án nhân dân huyện; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongviệc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù
4 VKSND huyện có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếunại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về cáchoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật Có tráchnhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị
vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụcủa mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác của huyện có trách nhiệm phối hợpvới VKSND huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ này
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND huyện có quyền ra
quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luậtvề các văn bản đó VKSND huyện có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Toàán, Công an, Thanh tra, Tư pháp, các cơ quan khác của Nhà nước, Uỷ ban Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các đơn vị vũ trang nhândân ở địa phương để phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả, xử lý kịp thời,nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp;tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật
Với điều kiện là một huyện mới thành lập vẫn còn đó những khó khăn nhấtđịnh Tuy nhiên tập thể cán bộ Viện kiểm sát huyện Lộc Hà đã cùng nhau cốgắng thực hiện tốt trách nhiệm được giao được các cấp ủy đảng, chính quyền địaphương và Viện kiểm sát cấp trên đánh giá cao
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Trang 6- Nắm vững những công việc mà một Kiểm sát viên phải thực hiện khichuẩn bị tham gia phiên tòa sơ thẩm hình sự.
- Nâng cao năng lực và kỹ năng luận tội, tranh luận, nâng cao trách nhiệmcá nhân trong việc nghiên cứu hồ sơ, báo cáo án và chuẩn bị cho hoạt động tranhtụng tại phiên tòa
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian : Báo cáo tiến hành nghiên cứu hoạt động chuẩn bị thamgia phiên tòa sơ thẩm hình sự của các Kiểm sát viên trong Viện kiểm sát huyệnlộc hà
- Về thời gian: Báo cáo phân tích công việc chuẩn bị tham gia phiên tòa sơthẩm hình sự của các Kiểm sát viên trong giai đoạn 2007-2010
- Về nội dung: Nghiên cứu các hoạt động của một Kiểm sát viên khi thamgia phiên tòa sơ thẩm hình sự, đảm bảo chất lượng công việc của một Kiểm sátviên khi tham gia phiên tòa với tư cách là người thực hành quyền công tố vàkiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
5 Bố cuc bài báo cáo:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề báo cáo gồm có 4 chương:
CHƯƠNG I: Nghiên cứu hồ sơ vụ án
CHƯƠNG II: Báo cáo án với Lãnh đạo viện
CHƯƠNG III: Xây dựng đề cương xét hỏi, dự thảo luận tội, tranh luận tạiphiên tòa
CHƯƠNG IV: Dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên tòa
B NỘI DUNG BÁO CÁO
Chương I: Nghiên cứu hồ sơ vụ án
1.1.Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án
Trang 7Nghiên cứu hồ sơ vụ án là nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm sát viên khiđược phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ án sẽ bảo đảm cho Kiểmsát viên thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
Nếu không nắm vững hồ sơ, không nắm vững được các chứng cứ buộc tộicác tình tiết có liên quan đến vụ án thì khi luận tội và tranh luận không buộc tộiđược bị cáo hoặc buộc tội bị cáo một cách gượng ép, kém thuyết phục.Khôngnghiên cứu kỹ hồ sơ trước khi tham gia phiên tòa là việc làm thiếu trách nhiệm
và thường dẫn đến tình trạng lúng túng, bị động
Nghiên cứu hồ sơ vụ án đòi hỏi Kiểm sát viên phải có phương phápnghiên cứu một cách khoa học, có thể sử dụng những phương pháp như: Phươngpháp toàn diện; phương pháp hệ thống lôgic; phương pháp so sánh tổng hợp;phương pháp trích cứu hồ sơ Những phương pháp này đòi hỏi các tài liệu cótrong hồ sơ vụ án phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, không được phiến diện, chủquan Phải biết hệ thống các tài liệu chứng cứ để chứng minh sự kiện phạm tội.Trên cơ sở đó so sánh tổng hợp, xác định các tình tiết khách quan của vụ án, loạitrừ những tình tiết không lôgic, mâu thuẫn
Khi nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên phải ghi chép, trích cứu những tàiliệu quan trọng được sử dụng làm chứng cứ buộc tội Đối với những lời khai của
bị can, bị hại, người làm chứng phải lược ghi những nội dung chính; việc ghichép này giúp Kiểm sát viên tham gia phiên toà trực tiếp nghiên cứu toàn bộ hồ
sơ của vụ án để nắm vững: nội dung vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo; cácchứng cứ buộc tội, gỡ tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;các yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc trách nhiệm dân sự (nếu có) trong vụán; phân tích đánh giá tổng hợp vụ án; áp dụng các điều, khoản của Bộ luật hình
sự, Bộ luật dân sự để chuẩn bị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tạiphiên toà
Việc ghi chép này giúp Kiểm sát viên củng cố và nắm chắc thêm nội dungcủa vụ án và là cơ sở đấu tranh với bị cáo khi họ có thái độ khai báo không
Trang 8thành khẩn, quanh co chối tội tại phiên tòa Tài liệu ghi chép, cần phải sắp xếpkhoa học theo từng tập, có viện dẫn bút lục trong hồ sơ để dễ tìm khi cần thiết.Tránh tình trạng không ghi chép, chỉ sao chụp (photocoppy) lại các văn bản lờikhai, vì như vậy sẽ dẫn đến thiếu chủ động, lúng túng; nhất là khi gặp bị cáohoặc luật sư đưa ra những lý lẽ trái ngược với lời buộc tội của Kiểm sát viên.Đối với những chứng cứ quan trọng như Biên bản khám nghiệm hiện trường, kếtluận giám định v.v cần phải sao chép, photocoppy đẻ sử dụng tại phiên tòa, vìnhững tài liệu này khi viện dẫn cần phải chính xác.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đẻ chuẩn bị cho việc thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử, Kiểm sát hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải trích cứu đầy đủ,trung thực lời khai của bị can, của những người tham gia tố tụng và các tài liệu,chứng cứ liên quan đến vụ án Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn diện vụ án.Các tài liệu, chứng cứ (buộc tội hoặc gỡ tội) đều có mối quan hệ hữu cơ vớinhau Do vậy, không thể xem xét các tài liệu một cách biệt lập, tách rời
Kiểm sát viên cần phân loại tài liệu theo tập (nhóm) hợp lý phù hợp vớichủ đề nghiên cứu theo một trật tự nhất định Kiểm sát viên cần hệ thống các tàiliệu, chứng cứ chứng minh các sự kiện phạm tội, qua đó bằng hoạt động tư duy
có thể dựng lại được toàn bộ vụ án diễn ra trong thực tiễn Thông thường có thểphân thành các tập: Tập về thủ tục tố tụng; tập về kết quả khám nghiệm; tập về ýkiến của những nhà chuyên môn, kỹ thuật; tập về biên bản ghi lời khai; các tàiliệu kết thúc điều tra; các tài liệu về nhân thân bị can; các tài liệu về thu giữ vậtchứng, kê biên…
Hồ sơ vụ án gồm nhiều tài liệu như các tài liệu về lời khai của bị can,người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khámnghiệm tử thi v.v trong đó có tài liệu mâu thuẫn với nhau như các lời khai củangười làm chứng mâu thuẫn với các lời khai của bị can hoặc lời khai của bị canmâu thuẫn với các tài liệu khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, khámnghiệm tử thi v.v Khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Kiểm sátviên cần đối chiếu, so sánh để loại trừ những nội dung không hợp lý, chắt lọccác nội dung hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình tiết
Trang 9của vụ án Điều đó đòi hỏi Kiểm sát viên không những nghiên cứu một cáchtoàn diện, mà còn phải so sánh, tổng hợp để xác định các tình tiết có thực của vụán, loại trừ những tình tiết không có thực của vụ án
Kiểm sát viên có thể kiểm tra các tài liệu, chứng cứ trong các trường hợpcần thiết, nhằm xác định rõ các mâu thuẫn mà qua nghiên cứu hồ sơ Kiểm sátviên đã phát hiện được Để có quan điểm đánh giá chính xác về vụ án và trên cơ
sở đó có biện pháp xử lý vụ án đúng với các quy định của pháp luật, Kiểm sátviên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá về vụ án Khi tổng hợp đánh giá cần chúý các nội dung sau:
- Đánh giá khái quát về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, diễn biếnhành vi phạm tội của các bị can, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của củahành vi phạm tội Trên cơ sở hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra và các tài liệukhác, Kiểm sát viên cần tổng hợp, đánh giá, phân tích toàn bộ vụ án, tiến hành
hệ thống các chứng cứ buộc tội và các chứng cứ gỡ tội
- Các chứng cứ buộc tội gồm có lời khai nhận tội của bị can, lời khaingười làm chứng về các tình tiết liên quan đến hành vi của bị can, nhân thân bịcan, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng, giám định chuyên môn, giám địnhpháp y, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và của Kiểm sát viên… có giá trịchứng minh hành vi của bị can là hành vi phạm tội Đây là các căn cứ hết sứcquan trọng khẳng định tính có căn cứ của hành vi phạm tội của bị can, đồngthời, đây là cơ sở pháp lý để Kiểm sát viên tiến hành tranh luận, đối đáp với bịcáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
- Các chứng cứ gỡ tội là các chứng cứ chứng minh bị can không phạm tộihoặc phạm tội nhẹ hơn so với tội phạm đã bị khởi tố, điều tra Ngoài ra, chứngcứ gỡ tội còn thể hiện các tài liệu đã thu thập có nhiều mâu thuẫn, nhưng khôngđược giải quyết, như các lời khai của bị can, người làm chứng mâu thuẫn vớinhau, hoặc lời khai đó không phù hợp với hiện trường Kiểm sát viên phải hệthống và nắm chắc các mâu thuẫn này để giải quyết
Trang 10- Kiểm sát viên phải tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để khẳngđịnh các nội dung cơ bản như: Vụ án có bao nhiêu bị can hành vi của các bị canphạm tội gì, cần áp dụng điểm, khoản, điều nào của BLHS, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ, các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội Trên cơ sở đó, đềxuất xử lý vụ án theo theo quy định tại khoản 1 Điều 166 BLTTHS.
- Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử những vụ án trọngđiểm, phức tạp của Viện kiểm sát cấp huyện, thì Viện kiểm sát cấp huyện phảithông báo cho Viện kiểm sát cấp tỉnh; những vụ án trọng điểm, phức tạp củaViện kiểm sát cấp tỉnh thì Viện kiểm sát cấp tỉnh phải báo cáo Vụ thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự hoặc Viện thực hành quyền côngtố và kiểm sát xét xử phúc thẩm khu vực biết để cử Kiểm sát viên theo dõi,nghiên cứu nắm vững hồ sơ vụ án nhằm phục vụ cho công tác thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử
- Khi cần thiết Kiểm sát viên đến xem xét tại chỗ đối với những vật chứngkhông thể đưa đến phiên toà được; xem xét nơi xảy ra tội phạm hoặc những địađiểm khác có liên quan đến vụ án; gặp bị cáo để hỏi cung đối với những trườnghợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâmthần hoặc thể chất, vụ án có bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù chungthân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thuẫn, bị cáo kêuoan hoặc những trường hợp Viện kiểm sát thấy cần thiết
- Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện tổchức thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường diễn lại hành vi,tình huống Khi thấy cần có thể đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị cho việc thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử,Kiểm sát viên phải đặc biệt chú ý phát hiện những thiếu sót,những mâu thuẫn trong các lời khai, các tài liệu buộc tội, gỡ tội đẻ có biện phápkhắc phục kịp thời Đối với những vụ án có bị can là người chưa thành niênphạm tội, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, có bị can bị truy tố vềtội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình,cần kiểm tra xem Cơ quan
Trang 11điều tra, Viện kiểm sát đã yêu cầu Đoàn luật sư hoặc Uỷ ban mặt trận tổ quốcViệt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử người bào chữa cho bị can haychưa? Nếu trong giai đoạn điều tra, kiểm sát điều tra chưa có người bào chữacho bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét quyết địnhkhắc phục ngay.
1.2 Nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu, kiểmtra thủ tục giao nhận hồ sơ vụ án và vật chứng của vụ án, kiểm tra các quyếtđịnh tố tụng, hành vi tố tụng, các tài liệu về thân nhân bị can Kiểm tra tính hợppháp của các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, tính có căn cứ và hợp pháp củacác quyết định và hành vi này
Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các tài liệu chứng cứ của hồ sơ vụ ánnhư bản kiết luận điều tra; biên bản hỏi cung bị can; lời khai của những ngườitham gia tố tụng; biên bản đối chất, nhận dạng; biên bản khám nghiệm hiệntrường, khám nghiệm tử thi; biên bản thực nghiệm điều tra; biên bản khám xét,thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm; nghiên cứu các kếtluận giám định; các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan điều tra; nghiên cứu giảiquyết định khiếu nại, tố cáo, các dư luận xã hội về vụ án
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra phải được đánh số theotrật tự nhất định Từng trang tài liệu trong các hồ sơ này phải được đóng dấu bútlục của Cơ quan điều tra và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu, số trang từng tàiliệu và lưu trong hồ sơ vụ án Kiểm sát viên phải kiểm tra từng trang, tập hồ sơ,đối chiếu với bảng kê tài liệu có trong hồ sơ để quyết định nhận hay không nhận
hồ sơ Nếu phát hiện hồ sơ thiếu bút lục thì phải trả hồ sơ để yêu cầu cơ quanđiều tra khắc phục Nếu đủ và đúng thì nhận và vào sổ thụ lý và ghi ngày nhận hồ
sơ vào bìa hồ sơ
1.3 Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, gặp bị cáo, thủ tục rút gọn vànghiên cứu hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát cấp trên tiến hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra
Trang 12Đối với những vụ án phức tạp, cần phải phúc cung bị can, hoặc hỏi lạingười làm chứng, bi hại, hoặc cần phải xem xét hiện trường nơi xảy ra vụ án,xem xét lại vật chứng, dấu vết, Kiểm sát viên cần chủ động kiểm tra kỹ lưỡngtrước khi tham gia phiên tòa.
Để chuẩn bị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa,Kiểm sát viên có thể đến xem xét tại chỗ đối với những vật chứng không thể đưađến phiên tòa được, xem xét nơi xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm có liênquan đến vụ án; phúc cung đối với bị cáo trong trường hợp có bị cáo là ngườichưa thành niên, bị cáo có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, bị cáo dự kiếnđề nghị hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, bị cáo kêu oan, bị cáo có lời khaicòn nhiều mâu thuẫn
Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh Đạo Viện cho tổ chứcdựng lại hiện trường, đối chất, vẽ sơ đồ hiện trường; tất cả mọi hoạt đọng củaKiểm sát viên phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điều 95BLTTHS
Đối với những vụ án điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn, trong khi nghiêncứu hồ sơ Kiểm sát viên cần chú ý kiểm sát những căn cứ cho phép để áp dụngthủ tục rút gọn và thời hạn điều tra – truy tố - xét xử đối với vụ án được áp dụngtheo thủ tục rút gọn
Nếu phát hiện thấy không có đủ căn cứ như đã quy định thì Kiểm sát viênphải kịp thời báo cáo với lãnh đạo viện đẻ có ý kiến với Tòa án không xét xửtheo thủ tục rút gọn mà tiến hành xử theo thủ tục chung
Đối với những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên ủy quyền thực hàn quyềncông tố và kiểm sát xét xử, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cần lưu ý: Nếu có quanđiểm truy tố khác với quan điểm của Viện kiểm sát cấp trên (tội danh, điều luậtáp dụng, diện truy tố ) thì Kiểm sát viên phải kịp thời báo cáo với Lanh ĐạoViện kiểm sát cấp mình để báo cáo lên Viện kiển sát cấp trên xem xét quyết định.Cần chú ý đảm bảo thời hạn hồ sơ ở Viện kiểm sát Thời hạn giao cáo trạng
1.4 Trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung
Trang 13Khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu
kỹ các nội dung Toà án yêu cầu điều tra bổ sung, xác định căn cứ Toà án trả lại
hồ sơ để điều tra bổ sung Xem xét lại các tài liệu có trong hồ sơ để xác địnhnhững yêu cầu của Toà án đã được phản ánh trong hồ sơ như thế nào? Các yêucầu đó đã đúng với tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quy định của BLHS,BLTTHS hay không?
Kiểm sát viên cần kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trả hồ sơ điều tra
bổ sung Căn cứ Điều 179 BLTTHS thì Thẩm quyền ban hành quyết định trả hồ
sơ phải là Thẩm phán chủ toạ phiên toà; Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sungphải nêu rõ thuộc trường hợp cụ thể nào quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều
179 BLTTHS và những vấn đề cụ thể cần điều trả bổ sung
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sungcủa Tòa án, nếu xác định việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án làkhông có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện về nội dung quyết địnhtrả hồ sơ; phân tích sự thiếu căn cứ và không hợp pháp của quyết định này(chứng minh bằng hồ sơ vụ án và các quy định của BLTTHS) hoặc xác định rõcác yêu cầu của Toà án là không thể thực hiện được hoặc xác định rõ vấn đề Toàán yêu cầu hoàn toàn có thể làm rõ tại phiên toà và Kiểm sát viên đề xuất hướnggiải quyết là: Chuyển lại hồ sơ cho Toà án, tiếp tục đề nghị truy tố Nếu lãnh đạođồng ý thì Kiểm sát viên lập văn bản trả lời Toà án, trong đó nêu rõ lý do giữnguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra xét xửtheo quy định tại khoản 2 Điều 179 của BLTTHS
Nếu xác định việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án là có căn cứthì Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo Viện hoặc lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ,đồng thời đề xuất rõ hướng bổ sung chứng cứ theo yêu cầu của Toà án theo mộttrong những cách sau đây:
- Nếu những yêu cầu điều tra bổ sung không quá phức tạp và Viện kiểmsát có thể tiến hành được theo quy định của BLTTHS, Quy chế nghiệp vụ củangành thì Kiểm sát viên đề xuất không phải trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra mà
Trang 14Viện kiểm sát tự mình bổ sung chứng cứ Nếu Lãnh đạo viện đồng ý với phươngán này thì Kiểm sát viên phải lập kế hoạch cụ thể để tiến hành việc bổ sungchứng cứ và thông qua Lãnh đạo đơn vị phê duyệt (cần thiết thì xin ý kiến chỉđạo của lãnh đạo Viện).
- Nếu các yêu cầu điều tra bổ sung quá phức tạp thì Kiểm sát viên đề xuấtvới Lãnh đạo viện trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra tiến hành việc điều tra bổsung Trong văn bản trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra cũng phải nêu rõ lý do,những yêu cầu điều tra bổ sung cụ thể; thời hạn thực hiện
- Sau khi có kết quả điều tra bổ sung (do Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điềutra thực hiện), Kiểm sát viên phải xem xét kỹ các tài liệu này và đánh giá với hệthống tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án xem đã đầy đủ, chính xác chưa?
Có đúng với yêu cầu điều tra bổ sung của Toà án không?
- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung không làm thay đổi nội dungquyết định truy tố trước đây hoặc việc điều tra bổ sung không thể tiến hành theoyêu cầu của Toà án thì Kiểm sát viên báo cáo với lãnh đạo Viện để ban hành vănbản trả lời Toà án và giữ nguyên quan điểm truy tố
- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung làm thay đổi nội dung quyếtđịnh truy tố, cụ thể như:
+ Thay đổi về tội danh hoặc xác định có đồng phạm khác thì Kiểm sát viênphải đề xuất với lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởitố vụ án, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.Sau khi hoàn thành việc điều tra bổ sung, Kiểm sát viên phải lập lại bản cáo trạngphù hợp với các chứng cứ, tài liệu mới thu thập được
+ Trường hợp thay đổi về điểm, khoản, áp dụng của điều luật thì Kiểmsát viên yêu cầu Cơ quan điều tra kết luận điều tra bổ sung sau đó lập cáo trạngtruy tố theo điểm, khoản mới
- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung dẫn đến việc phải đình chỉđiều tra theo quy định của BLHS và BLTTHS thì Kiểm sát viên báo cáo với lãnhđạo Viện quyết định Trường hợp đình chỉ điều tra toàn bộ vụ án thì phải thông