Chất điều hòa sinh trưởng và chất kích thích tăng trưởng của cây 16 IV.1- Xác định nguyên nhân chết của cây bị úng 20 6/ Phương pháp xác định độ phân rã, nồng độ oxi nhả chậm của thanh I
Trang 1VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI CẤP VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU, ĐIỀU CHẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC HOẠT CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÀM TĂNG KHẢ NĂNG CHỊU ÚNG CHO CÂY ĂN
TRÁI ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS TSKH LƯU CẨM LỘC
TS NGUYỄN CỬU KHOA
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: VIỆN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC THUỘC HƯỚNG KH-CN: CHƯƠNG TRÌNH MIỀN NÚI VÀ
HẢI ĐẢO THỜI GIAN THỰC HIỆN: 2002 – 2004
Trang 2TP.HỒ CHÍ MINH 1-2005
CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Lê Lương Tề
Phan Thanh Thảo
Hoàng Quốc Khánh
Lê Xuân Thuyên
Hoàng Thị Kim Dung
Phạm Cao Thanh Tùng
Trần Ngọc Quyển
Lê Minh Quân
Nguyễn Thị Khánh Thuyên
Nguyễn Công Trực
GS., TS
TSTSTSThạc sĩThạc sĩ
Cử nhân
Cử nhânKỹ sưKỹ sư
Trường ĐH Nông nghiệp 1, Hà NộiViện Công nghệ Hóa họcViện Sinh học Nhiệt đới
PV Địa lý tại Tp.HCMViện Công nghệ Hóa họcViện Công nghệ Hóa họcViện Công nghệ Hóa họcViện Công nghệ Hóa họcViện Công nghệ Hóa họcViện Công nghệ Hóa học
Trang 3BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI CẤP TRUNG TÂM
Nghiên cứu, điều chế và sử dụng các hoạt chất điều hòa sinh trưởng làm tăng
khả năng chịu úng cho cây ăn trái đồng bằng sông Cửu Long
Vật tư văn phòng
Tuyên truyền, liên lạc
Công tác phí
Chi phí thuê mướn
Chi phí chuyên môn: vật tư, hóa chất
Chi phí khác
Mua tài sản cố định
24.700.000đ1.300.000đ4.000.000đ8.000.000đ55.000.000đ66.000.000đ7.000.000đ
4.000.000đ
Xác nhận của cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài
Kế toán Thủ trưởng
Trang 4Lưu Cẩm Lộc Nguyễn Cửu Khoa
MỤC LỤC
I.1- Lũ lụt và tác hại của chúng
1
I.4- Một số loại cây ăn quả được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long 51/ Khả năng chịu ngập úng của một số loại cây ăn quả 5
1.1: Ý nghĩa của nước trong đời sống của cây
7
1.3: Quá trình thoát hơi nước qua các khí khổng và qua cutin 9
2.1: Những qui luật chung của sinh lý chống chịu thực vật 9 2.2: Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ lên cây 10 (tính chịu nóng của cây)
Trang 52.3: Ảnh hưởng của nhiệt độ dương thấp lên cây (tính chịu rét) 10
I.6 Chất điều hòa sinh trưởng và chất kích thích tăng trưởng của cây 16
IV.1- Xác định nguyên nhân chết của cây bị úng 20
6/ Phương pháp xác định độ phân rã, nồng độ oxi nhả chậm của thanh
IV.3- Nghiên cứu khả năng sử dụng chất oxy nhả chậm 22đến khả năng chống úng của cây cam
IV.4- Nghiên cứu ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng 221/ Phương pháp nghiên cứu sử dụng chất ức chế sinh trưởng 22 trong thời gian ngập úng (không có chất oxy nhả chậm)
2/ Nghiên cứu sử dụng chất kích thích tăng trưởng sau khi 23 ngập úng (không có chất oxy nhả chậm)
Trang 63/ Nghiên cứu sử dụng kết hợp chất oxy nhả chậm và 23 điều hòa sinh trưởng
2/ Nghiên cứu sử dụng chất oxy nhả chậm trên đồng ruộng 24
V.1- Nguyên nhân chết của cây
26
V.2- Khả năng nhả chậm oxy của các chất oxy nhả chậm 28
3/ Ảnh hưởng của chất kết dính PVAc (polyvinyl acetate) 31 lên khả năng nhả chậm
4/ Đánh giá khả năng chống chết úng của chất
32
oxy nhả chậm đến cây cam
V.3- Nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 331/ Sự ảnh hưởng của chất ức chế sinh trưởng trong thời gian ngập úng 332/ Sự ảnh hưởng của chất kích thích tăng trưởng 343/ Đánh giá việc sử dụng kết hợp chất oxy nhả chậm
35
và chất điều hòa sinh trưởng
Trang 71/ Xác định độ phân rã của chế phẩm theo thời gian 372/ Xác định nồng độ oxy giải phóng theo thời gian 37
2 Kết quả thực nghiệm trên đồng ruộng
38
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 8I TỔNG QUAN:
I.1- Lũ lụt và tác hại của chúng:
Lũ lụt là gì?
Nước sông, suối luôn biến đổi theo mùa Vào mùa khô hay mưa ít, dòng sôngcạn kiệt (mùa cạn), còn thời kỳ nước sông dâng cao là mùa lũ
+ Lũ chỉ hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sauđó giảm dần, lũ lớn nước tràn qua bờ sông (đê), chảy vào những chỗ trống gâyngập lụt trên diện rộng
+ Lũ lụt là hiện tượng tự nhiên và gây ra những thiệt hại to lớn về người và củacải
Lũ lụt ở Việt Nam:
* Lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ: Sông Hồng từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã xảy ra hai
trận lũ đặc biệt lớn vào tháng 8-1945 và tháng 8-1971 Trận lũ 8-1945 đã gây ra vỡđê sông Hồng ở nhiều nơi làm cho 2 triệu người chết đói Trận lũ xảy ra tháng 8-
1971 là trận lũ lớn nhất trong vòng 100 năm qua ở sông Hồng, cũng đã gây ra vỡ đê
ở một số nơi, làm nhiều tỉnh bị ngập lụt Ngoài ra, các trận lũ xảy ra vào các năm:
1964, 1968, 1969, 1970, 1986, 1996 cũng là những trận lũ lớn
- Ở Bắc Bộ mùa lũ từ tháng 5,6 đến tháng 9,10 Mùa lũ ở các sông suối vừa và nhỏ
ở Tây Bắc Bộ và Đông Bắc Bộ thường bắt đầu sớm, từ tháng 5 và kết thúc sớm vàotháng 9 Trên sông Hồng và các nhánh sông lớn của nó, lũ thường từ tháng 6 đến
Trang 9tháng 10 Tháng 7 và tháng 8 thường có những trận lũ lớn nhất trong năm, có đến50% lũ trên sông Hồng xuất hiện vào tháng 8, tháng 8 là tháng lũ chính vụ.
- Ngoài lũ lớn ngoài sông, mưa úng trong đồng cũng là loại thiên tai lớn làm tăngkhả năng ngập úng đối với các tỉnh đồng bắng Bắc Bộ Điểm đặc trưng ảnh hưởngđến ngập lụt ở đồng bằng Bắc Bộ là hệ thống đê Do có các công trình phòng lũ,nhất là hệ thống đê trên hệ thống sông Hồng, nên việc tiêu nước mưa ở các khu vựctrong đồng đều phải dựa vào các trạm bơm tiêu (trừ một số vùng cao và vùng đồngbằng ven biển) Song, việc tiêu nước mưa trong đồng cũng chỉ thực hiện được đến 1chừng mực nào đó, khi lũ trên sông lớn trên mức cho phép, các trạm bơm phảingừng hoạt động hoặc khi ngập úng sẽ xảy ra mưa lớn vượt quá khả năng tiêu củacác trạm bơm
* Lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long:
- Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng bằng phẳng, từ Châu Đốc tới cửa biển cókhoảng cách 200km, mặt đất hầu như không có độ dốc nên đã ảnh hưởng lớn đếnviệc tiêu thoát nước lũ của hệ thống sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Longhàng năm thường xảy ra ngập lụt, chỉ có khác nhau là mức độ ngập lụt tùy thuộcvào lũ lớn hay nhỏ
- Hàng năm lũ thường gây ra ngập lụt ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, vàcác vùng thấp ven sông Tiền, sông Hậu; diện tích ngập lụt hàng năm lên tới 1.2-1.4triệu ha, độ sâu ngập lụt 1-2m, có nơi 3-4m, thời gian ngập lụt tới 2-4 tháng Mùa lũthường từ tháng 7 - tháng 11, có tới 86% số trận lũ ở đồng bằng sông Cửu Long cóđỉnh lũ xuất hiện vào cuối tháng 9 và nửa đầu tháng 10
- Đồng bằng sông Cửu Long: đã xảy ra một số trận lũ, lụt lớn vào các năm: 1961,1966,1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000… Những trận lũ này thường làm cho hơn 1triệu hecta bị ngập, có nơi ngập sâu tới 3-3.5m và thời gian ngập ở nơi ngập nông là0.5-1 tháng, ở vùng ngập sâu là 3.5 - 4 tháng Theo số liệu thống kê của Ủy ban
Trang 10phòng chống bão lụt Trung Ương, trận lũ năm 2000 đã gây ngập úng hơn 100.000 hacây ăn trái làm thiệt hại gần 1000 tỷ đồng.
I.2- Giải pháp bao đê ngăn lũ:
+ Đồng bằng Sông Hồng: Đê bao dọc theo bờ sông
+ Đồng bằng Sông Cửu Long: Những năm gần đây đã xây dựng những đê bao ngănlũ
Theo nhận định của giới Khoa Học, thực tế đê bao ngăn lũ giúp người dân tránhđược thiệt hại về nhà cửa và tính mạng Nhưng có nhiều nhược điểm :
+ Gây nên tình trạng lũ đến vùng Đồng Tháp Mười quá nhanh và mực nước dângkhá cao, lưu trữ trên vùng này khá dài so với những năm trước
+ Sự kết hợp giữa lượng nước lũ lớn đổ về và triều cường từ biển Đông làm cho tìnhhình thoát lũ chậm và làm ngập lụt thêm các vùng phía nam của tỉnh Long Annhư Thủ Thừa, Bến Lức, Tân An
+ Lượng nước sông Mêkông 300-400 tỷ m3, với lưu lượng 50.000-60.000 m3/s thì
“bồn Trũng” Đồng Tháp Mười là một trong những bồn chứa đóng vai trò cânbằng nước trong vùng Nhưng do có quá nhiều khu vực có đê ngăn chặn khôngcho nước lũ tràn vào nên một lượng nước lớn từ Sông Tiền đổ vào Đồng ThápMười sẽ đi theo hệ thống kênh tiến nhanh vào vùng trung tâm như Tân Hưng,Vĩnh Hưng và Tháp Mười, làm cho vùng này bị ngập sớm hơn
+ Theo Dương Vân Nhã (Đại học An Giang) “Ngay sau khi bao đê triệt để, nôngdân có thể tăng vụ (3 vụ lúa/năm) và tăng thu nhập Tuy nhiên, chỉ sau 1 thờigian chi phí sản xuất tăng cao nhưng năng suất lúa lại giảm, dẫn đến giảm lợinhuận Và kết quả sau 6 năm bao đê triệt để, thu nhập của nông dân làm lúa 3vụ thấp hơn so với trồng lúa 2 vụ (trước khi bao đê)
+ Nhìn chung các nhà khoa học đều nhận xét :”Bao đê triệt để là có hại và hoàntoàn không ủng hộ” [7] Với các nhà khoa học, mặt lợi của loại đê bao này
Trang 11không được đặt nặng lắm mà chủ yếu tập trung phân tích những mặt hại: chẳnghạn như vấn đề ô nhiễm môi trường trong khu vực có đê bao triệt để Đó là chưakể đến đất trong vùng dễ bị thoái hoá do không nhận được phù sa, bị khai thácquá mức, dịch hại gia tăng, lưu tồn độc chất trên đồng ruộng không được giảiphóng, đặc biệt là những nơi có phèn Trong khi đó đê bao lửng được nhiều nhàkhoa học ủng hộ nhưng cũng cho rằng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng khi xây dựngloại đê bao này, vì phải bỏ ra khoản kinh phí quá lớn Kết quả nghiên cứu cũngcho thấy việc bao đê làm ảnh hưởng đến thành phần và kích cỡ của một số loạicá, tôm theo chiều hướng giảm dần khi đê bao hình thành Đặc biệt khi đê baotriệt để làm mất hẳn một số loài như tôm càng xanh, cá bống tượng, cá rô biển….100% người dân trên địa bàn nghiên cứu đều trả lời rằng kích cỡ cá bắt được saukhi đê hình thành nhỏ hơn so với thời điểm chưa có đê bao Thực tế cả nông dânvà những người lãnh đạo trong vùng bị ảnh hưởng lũ nặng ở khu vực ĐBSCL đềuthấy rõ mặt lợi và hại của đê bao triệt để Nhưng dưới con mắt người dân, bao đêmang lại lợi ích nhiều hơn thiệt hại… nên nhu cầu đê bao ngày một lớn Còn dướicon mắt các nhà khoa học thì không thích đê bao triệt để mà chỉ ủng hộ đê baotháng tám mà thôi (đến thời điểm này là thu hoạch xong lúa hè thu, đê bị phá vỡđể nước lũ tràn vào đồng) Các nhà khoa học khuyến cáo đê bao tháng tám nênxây dựng ở những vùng sâu trong nội đồng, nơi không thể phát triển rau màu hayvườn cây ăn trái Riêng đê bao triệt để các nhà khoa học cho rằng cần phải cânnhắc thật kỹ lưỡng vì nếu triển khai trên một diện tích lớn sẽ làm cho mực nướccác vùng lân cận dâng lên, gây ngập lụt và làm thay đổi sinh thái toàn vùngĐBSCL Ở góc độ nào đó, bao đê chống lũ rõ ràng là “lợi bất cập hại”, đặc biệtlà bao đê triệt để, có thể được cái lợi trước mắt nhưng phải gánh chịu những hậuquả sinh thái, môi trường lâu dài
I.3- Tính cấp thiết của đề tài:
Trang 12Công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã giúp cho kinh tế đất nước phát triển mạnhmẽ và liên tục trong vài thập kỷ vừa qua Đời sống của người nông dân được cảithiện và nâng cao rõ rệt Tuy nhiên khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nôngthôn ngày càng lớn, đặc biệt cuộc sống của người nông dân ở vùng sâu vùng xa còncực kỳ gian khó Cụ thể tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất củađất nước, người dân vẫn đang phải vật lộn với những khó khăn hàng ngày, đặc biệt
với nạn lụt lội ở nơi đây.
Trong những năm gần đây, lũ lụt đã xảy ra liên tiếp và ngày càng lớn, kéodài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bao nhiêu triệu nông dân vùngđồng bằng sông Cửu Long Lũ lụt đã gây nên ngập úng và tiêu phá toàn bộ nhữngvùng cây ăn trái sầm uất của 6 tỉnh miền Tây Theo số liệu của Ủy ban phòngchống lũ lụt miền Nam, riêng năm 2001, tính đến ngày 16-10-2001, úng lụt làmthiệt hại 17.094 ha cây trồng tại đồng bằng sông Cửu Long Giúp người nông dânbảo toàn được các cây trồng trong thời gian úng lụt đặc biệt là các cây lâu năm đólà nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết Từ phân tích ở trên cho thấy phương án sửdụng đê bao tránh lũ hoàn toàn chưa phải là tối ưu Do đó, sống chung với lũ là vấnđề cần được giải quyết Một trong những vấn đề quan trọng trong sống chung với lũđố với đồng bằng sông Cửu Long là bảo toàn vườn cây ăn trái
Nếu giải quyết được vấn đề tăng khả năng chịu úng của cây ăn trái, đó sẽ làmột động lực lớn lao để cải tổ toàn bộ cơ cấu cây trồng ở các vùng ngập úng, sửdụng tối đa hiệu quả đất đai và nâng cao được đời sống của người dân nơi đây, tạođiều kiện sống chung với lũ [11]
I.4- Một số loại cây ăn quả được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): 1/ Khả năng chịu ngập úng của một số loại cây ăn quả:
Trang 13Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, đất đai phì nhiêu, mưa thuận gió hòa,ĐBSCL là nơi nổi tiếng với các loại cây ăn trái đặc sản: bưởi Năm roi, cam VĩnhLong, xoài, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm,… Khả năng chịu úng của các loại câyăn trái được phân theo 3 nhóm:
a) Nhóm 1: chịu ngập úng kém (dưới 15 ngày): đu đủ, cóc, nhãn, sầu riêng, cam,quýt, mía…
b) Nhóm 2: chịu ngập úng trung bình (dưới 30 ngày): ổi, mận, vú sữa, dâu,…
c) Nhóm 3: Chịu ngập úng khá (đến 45 ngày): xoài, nhãn tiêu, xa-bô, mãng cầuxiêm,…
Như vậy, ngay cả với những cây chịu úng tốt nhất, thời gian ngập nước cũngkhông quá 45 ngày
Chúng tôi quyết định chọn đối tượng thí nghiệm là cây cam đại diện cho nhómcây chịu úng kém và cây cam được trồng nhiều ở các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang,Trà Vinh… Kết quả đạt được với cây cam co thể phát triển tiếp và áp dụng cho cáccây thuộc 2 nhóm chịu úng tốt hơn
2/ Cây cam ĐBSCL:
Cây cam được trồng nhiều ở ĐBSCL tuy nhiên được trồng nhiều nhất tại TiềnGiang, Vĩnh Long: đó là các giống cam giấy, cam mật, cam đường, cam xoàn
Điều kiện canh tác:
- Khí hậu: cam, quýt ít chịu lạnh, nhiệt độ trung bình mùa nóng không quá 22oC vàmùa lạnh không quá dưới 10-12oC, khi lập vườn ta nên tránh nơi có gió mạnh thổinhiều lần trong năm
- Vũ lượng và độ ẩm: những nơi có mưa điều hoà trong năm với vũ lượng
1.000-1.200 mm thì trồng cam tốt
- Đất đai: loại đất phù sa nhẹ, mát dễ thoát nước và giàu chất hữu cơ.
Trang 14- Nước: thiếu nước cam phát triển không bình thường, nhưng đất quá ẩm cây sẽ bị
chết úng Không được dùng nước mặn hay nước có chất ma-nhê tưới cho cây
- Phân: cam là loại cây đa niên nên phải được bón phân nhiều lần tùy theo giai
đoạn sinh trưởng và từng loại đất
- Phương pháp canh tác: có thể trồng cam theo 4 cách như gầy giống bằng hột, giâm
cành, chiết hay tháp
I.5- Sinh lý thực vật của cây trồng:
1/ Sinh lý sự trao đổi nước của thực vật:
1.1 Ý nghĩa của nước trong đời sống của cây:
Nước là thành phần bắt buộc của tế bào sống có nhiều vai trò rất quan trọng.Sự có mặt lượng nước nhiều trong phần chất sống qui định cấu trúc, các tính chấthoá lý đặc sắc và cường độ cùng chiều hướng các quá trình trao đổi chất của chấtnguyên sinh Dựa trên sự tiêu thụ một lượng nước khổng lồ, hàm lượng nước lớn củaphần lớn thực vật và sự biến thiên có quy luật của độ no nước các mô trong chu kỳsinh sống ta cũng thấy rõ được vai trò quan trọng của nước là thành phần không thểthiếu được để xây dựng nên tế bào, để đảm bảo sự tồn tại bình thường của cơ thể.Vậy vai trò của nước là gì?:
- Nước là nhân tố bảo đảm sự thống nhất cơ thể thực vật
- Nước góp phần tích cực trong sự bảo đảm mối liên hệ khăng khít, sự thống nhấthữu cơ giữa cơ thể và môi trường
- Nước không chỉ là môi trường của các phản ứng hoá học phức tạp trong cây màcòn tham gia trực tiếp như là nguồn nguyên liệu vào nhiều quá trình trao đổi
Trang 15- Ngoài ra, nước thực hiện chức năng quan trọng trong việc duy trì hình dạng vàcấu trúc của thực vật đặc biệt là các loại cỏ bằng cách giữ tế bào ở trạng tháicăng.
- Ý nghĩa cuối cùng là điều hoà và ổn định nhiệt độ của cơ thể thực vật khiến cácquá trình sinh lý tiến hành được bình thường
1.2 Sự hấp thụ nước của cây:
Trong chu kỳ dinh dưỡng cây thường tiêu dùng một lượng nước rất lớn, trongkhi đó khả năng cấp nước cho cây trong môi trường đất rất hạn chế Trong suốt quátrình tiến hoá lâu dài từ đời sống ở nước lên cạn nhờ thích nghi với các điều kiệnsinh thái của môi trường đất, thực vật đã đạt được những đặc tính sinh học của bộ rễrất phù hợp với chức năng phức tạp và quan trọng là đảm bảo thoả mãn nhu cầunước cho cơ thể Khả năng hấp phụ nước từ đất và đẩy nó vào lòng mạch lên thâncủa rễ cây biểu hiện rõ ràng trong hiện tượng rỉ nhựa Nếu cắt ngang thân các loạivỏ và một số cây gỗ cách mặt đất một ít thì sau một thời gian ta thấy chỗ cắt bắt đầuchảy ra các giọt chất lỏng Nếu bao đầu thân bị cắt bằng một ống cao su và nối vớiáp kế ta thấy rằng dịch từ cổ rễ rỉ ra dưới tác dụng của một áp suất nhất định do rễsinh ra (gọi là áp suất rễ) Nhựa tiết ra có thành phần rất phức tạp Ngoài các muốikhoáng trong nhựa còn có các axit hữu cơ, axit amin, đường, protit và các chất hữu
cơ khác Áp suất rễ ở các cây khác nhau không giống nhau Ở các loài cỏ thườngkhông quá 1.5 atm, các loài cây gỗ có trị số áp suất rễ cao hơn ít nhiều lần Tínhchất sinh lý của hoạt động hút nước của rễ cũng thể hiện sự phụ thuộc của khả nănghút nước với đặc điểm sinh học của loài và lứa tuổi của cây Tốc độ hút nước của rễgiảm sút rõ rệt khi hạ thấp nhiệt độ, đặc biệt là các loại cây ưa nóng Mỗi loài câycó một nhiệt độ thích hợp đối với quá trình hút nước tuỳ theo nguồn gốc, đặc điểmsinh thái của chúng Hoạt động hút nước không những lệ thuộc với nồng độ mà cảvới thành phần các chất dinh dưỡng trong đất Các chất khoáng trong đất có ảnh
Trang 16hưởng trực tiếp và khác nhau đến tính chất hoá lý của hệ keo như độ ngậm nước.Mặt khác, các chất khoáng còn ảnh hưởng một các phức tạp đến khả năng hút nướcthông qua tác động đến quá trình tổng hợp các chất ưa nước, đến sự kích thích hoạttính các hệ men, đến sự thúc đẩy các quá trình trao đổi năng lượng Tóm lại quátrình hút nước của rễ cây là quá trình phức tạp, phụ thuộc vào tập hợp các điều kiệnbên trong và bên ngoài Cũng như ở từng tế bào, quá trình hút nước chủ động của rễtiến hành theo cả cơ chế thẩm thấu lẫn không phải thẩm thấu Để bảo đảm hoạtđộng hút nước của rễ cây bình thường và mãnh liệt chúng ta phải tạo điều kiệnngoại cảnh tối thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của hệ rễ nói riêng và toànbộ cơ thể nói chung.
1.3 Quá trình thoát hơi nước qua các khí khổng và qua cutin:
Trong chu kỳ sinh dưỡng của cây một lượng nước khổng lồ đã đi qua cơ thểvà đại bộ phận bốc thành hơi từ bề mặt lá và phần nào từ thân Quá trình thoát hơinước trước hết là một “cái họa tất yếu” của cây Sự thoát hơi nước và hấp thụ CO2
cần thiết cho quá trình quang hợp đều được thực hiện qua các “khí khổng” Ở cáccây thân gỗ một phần nước nhất định có thể thoát qua các vết sần (ở các bì khổng)trên cành và thân Nói chung tổng bề mặt bì khổng tương đối ít và cường độ thoáthơi nước qua thân và cành thấp hơn ở lá hàng chục lần và do đó con đường thoát hơinày là không đáng kể Hai hình thức thoát hơi nước của mọi thực vật là qua khíkhổng và qua toàn bộ bề mặt lớp cutin biểu bì của lá Tỉ lệ tham gia của 2 hình thứcđó tuỳ thuộc với loại cây, đặc điểm giải phẫu và hình thái của bộ lá Ở các lá nonvà các cây mọc trong bóng râm và trong không khí ẩm, lớp cutin của lá thường rấtmỏng và do đó cường độ thoát hơi nước qua cutin gần tương đương qua khí khổng.Còn ở cây trưởng thành sự thoát hơi nước qua cutin thường rất yếu (chẳng hạn theoMắcxinốp cường độ thoát hơi nước qua cutin của cây trưởng thành yếu hơn qua khí
Trang 17khổng 10-20 lần Theo Ghenken, sự thoát nước qua cutin ở lá táo non chiếm 73,4%còn ở lá già chỉ 22,4% của toàn bộ lượng nước bốc hơi của lá) Nhìn chung nhiềuloại cây trung sinh bình thường cách thoát hơi nước qua cutin chiếm 30% trị số toànbộ, ngược lại các cây hạn sinh ở sa mạc hầu như không thải nước qua bề mặt biểubì.
2/ Sinh lý chống chịu của cơ thể thực vật:
2.1 Những quy luật chung của sinh lý chống chịu thực vật:
Sinh lý chống chịu là một trong những vấn đề của sinh lý học thực vật, trongđó nghiên cứu mối liên quan khăng khít giữa cơ thể và môi trường xung quanh Hạnhán, băng giá và mặn muối của đất đều có ảnh hưởng đến cơ thể thực vật, gây nêntrong đó những phản ứng thích nghi-tự vệ trả lời Nghiên cứu các biến đổi sinh lýxảy ra trong cây khi có sự thay đổi lớn lao về điều kiện tồn tại là nhiệm vụ cơ bảncủa sinh lý học thực vật
2.2 Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ lên cây (tính chịu nóng của cây):
Ảnh hưởng của nhiệt độ cao lên cơ thể thực vật đã được các nhà nghiên cứulưu tâm từ thế kỷ 19 Kuhne (1864) đã từng nghiên cứu quan sát sự đông kết nhiệtthuận nghịch của chất nguyên sinh trong lông nhị ở Tradescantia viginica tại nhiệtđộ 40-45oC Sachs (1864) xác định cực đại nhiệt độ và thấy rằng đa số cây khôngchịu được nhiệt độ 51oC quá 10 phút, tuy nhiên tác dụng của nhiệt độ ở 49-500C câychịu được trong khoảng thời gian lâu hơn
2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ dương thấp lên cây (tính chịu rét):
Người ta gọi những cây chịu rét là những cây ở nhiệt độ gần số không (5-30Cvà thấp hơn) vẫn chưa tìm thấy dấu hiệu thương tổn và chưa giảm năng suất Câykhông chịu rét là những cây bị thương tổn hoặc bị chết khi ở nhiệt độ thấp
2.4 Ảnh hưởng của hạn lên cây:
Hạn là thời kỳ khô không bình thường qui định bởi áp suất không khí cao
Trang 18không bình thường, hạn có thể kèm theo gió khô, gió này qui định bởi dòng khôngkhí đi xuống Hạn ảnh hưởng lên cây theo hai hướng dẫn đến cây bị chết:
- Thứ nhất , tăng nhiệt độ của cơ thể cây
- Thứ hai, gây mất nước nhiều (sự thiếu nước hay héo)
Do đó tác hại của hạn lên cây và vấn đề đấu tranh chống hạn luôn được đặc biệtquan tâm
2.5 Tính chịu muối của cây:
Khả năng trồng trọt trên các đất mặn bị quy định bởi nồng độ muối trong lớpđất có rễ sống Thông thường người ta cho rằng nếu lượng muối vượt quá 0,5%(trọng lượng đất) thì không nên tiến hành trồng trọt trên đất đó và đất đó bị coi làrất mặn Các đất mặn trung bình có nồng độ muối 0,2-0,5%, có thể được sử dụngtrong nông nghiệp, nhưng thường với độ mặn như vậy sẽ không thể đạt được năngsuất cao Khi độ mặn 0,1-0,2% thì hoàn toàn có thể trồng mọi cây và các đất nhưvậy thuộc về loại đất không bị mặn
2.6 Tính chịu úng của cây:
Sự hô hấp của cây:
Các nghiên cứu cho thấy cây cần hô hấp để sống, có 2 dạng hô hấp:
- Hô hấp có oxy:
C6H12O6 + 6O2 6H2O + 6CO2 + 38ATP
- Hô hấp không có oxy (khi bị ngập úng):
C6H12O6 2C2H5OH + 2CO2 + 2ATPSự hô hấp là một loạt các phản ứng hoá học bắt đầu bằng sự phân giải đườngvà kết thúc bằng sự nhả CO2 và H2O Có hàng chục phản ứng hoá học xảy ra trongchuỗi biến đổi này Các phản ứng trung gian này có thể xảy ra được là do trong tếbào, chủ yếu là trong lạp ty thể có chứa các prôtit phức tạp, gọi là các men Men cónhiệm vụ làm cho các phản ứng hoá học tiến hành nhanh thêm, vì nếu tiến hành
Trang 19quá chậm thì không thể có sự sống được Các phản ứng hoá học xảy ra nhờ các mengây ra trong quá trình thở Đó là các chất hữu cơ dùng làm nguyên liệu để tổng hợpcác chất hữu cơ khác như chất béo, prôtit Như vậy sự thở không phải là sự phân giảiđường thuần túy giống như sự cháy mà nó là một chuỗi các quá trình oxy hoá phứctạp nối tiếp nhau, là quá trình biến năng lượng của ánh sáng mặt trời tích lũy trongcây thành dạng năng lượng có thể sử dụng được Lúc thực vật thở không phải tất cảnăng lượng đã tích lũy trong quá trình quang hợp đều biến thành nhiệt cả mà cònbiến thành dạng năng lượng khác dùng cho các quá trình sống trong cây Khoảng50% năng lượng hoá học chuyển thành nhiệt còn 50% dùng trong tế bào Nhiệt dosự thở của cây có thể thấy được nếu ta lấy hạt giống ngâm ẩm nước cho vào 1 cáiphích, ở miệng phích có cắm nhiệt kế Quanh nhiệt kế có cuộn bông để nút miệngphích Bạn sẽ thấy nhiệt độ tăng lên 40-500C Hay trong đống rơm ẩm các vi sinhvật làm cho rơm nóng lên và có lúc có thể tự bốc cháy Cơ thể thực vật không giốngnhư của động vật nên nhiệt toả ra trong không khí ngay Còn năng lượng do sự thởtạo ra để tiến hành các hoạt động sống khác thì ở dạng sau:
Thở và các điều kiện bên trong:
Trong quá trình thở, năng lượng hoá học của đường được chuyển sang nănglượng của các chất trung gian gọi là Ađênôzintriphôphat (ATP) Các chất ATP cóchứa các nhóm photphat tức là các nhóm lân Các nhóm phôtphat này lúc tách ra sẽphát ra năng lượng Ta có thể ví ATP như là một cái ăcquy chứa điện Lúc thở nănglượng tích lũy vào đấy Lúc các quá trình sống trong cây cần năng lượng thì nó lạinhả ra Quá trình này viết bằng công thức như sau:
Lúc thở:
A – P P + năng lượng = A – P P PLúc sử dụng năng lượng:
A – P P P = A – P P + P năng lượng
Trang 20(A – P P: ađênozidiphôphát có 2 đầu lân).
A – P P P: ađênozitriphôphát có 3 đầu lân
: gọi là liên kết năng lượng có giá trị bằng 6-7 KcalNhư vậy sự tích lũy năng lượng trong ATP đi đôi với sự kết hợp lân là do câyhút từ đất lên Mỗi lần cây thở với không khí đủ để tiêu thụ hết một phân tử đườngsẽ tích lũy được 38 phân tử ATP Còn nếu thở không có không khí thì tích lũy được 2phân tử ATP Như vậy là thở có khí lợi hơn là không có không khí Lúc bắt đầu thởkhông có khí cây tốn rất nhiều đường, dự trữ đường trong cây cạn, cây dễ chết Đâylà trường hợp các cây lúa nẩy mầm dưới lớp nước ngập mặt ruộng bị chết vì hếtđường hay của rễ cây lúc đất bị ngập nước vì trong đất thiếu không khí Năng lượngmà cây tích lũy trong ATP được dùng trong nhiều quá trình sống như:
- Tổng hợp prôtit và các chất hữu cơ khác;
- Tham gia vào quá trình quang hợp;
- Tham gia vào quá trình thở;
- Hút nước và các chất khoáng từ đất lên
ATP là ắcquy của cây chứa năng lượng dự trữ cho các quá trình sống Tronglúc thở một mặt cây tạo ra năng lượng để tiến hành các quá trình sống, một mặtkhác tạo ra các nguyên liệu để tổng hợp các chất hữu cơ cần để xây dựng cơ thểcây Nếu hai quá trình này phối hợp với nhau tốt thì cây lớn mạnh
Thở và điều kiện bên ngoài:
Thở tiến hành trong chất nguyên sinh của tế bào và do các men quyết định,
do đó tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến men và chất nguyên sinhđều ảnh hưởng đến sự thở
- Yếu tố thứ nhất là nhiệt độ Lúc nhiệt độ tăng cao thì hô hấp cũng tăng Nếunhiệt độ tăng đến 400C thì cây hô hấp rất mạnh, lượng đường tiêu hoá vượt quálượng đường do lá cây quang hợp được Nếu tiêu hao nhiều quá cây sẽ chết Nếu
Trang 21nhiệt độ quá 500C thì chất nguyên sinh và men bị đông lại và tế bào chết; hô hấpngừng hẳn Ở nhiệt độ thấp, cây không đủ năng lượng để sống nên bị hại Khi nhiệtđộ xuống đến 100C dưới độ không thì cây ngừng thở.
- Thứ hai là nước Tế bào phải no nước thì mới thở được Nếu thiếu nước, hô hấp
bị giảm, năng lượng tích lũy kém; cây không sống được
- Thứ ba là phải có nguyên liệu thở, tức là có đường Nguyên liệu thở tổng hợp là
do quang hợp Nếu thiếu ánh sáng cây không quang hợp được Trường hợp các câytrồng quá dày hay có diện tích lá cao quá, lá trên che lá dưới, trong lúc các lá trênquang hợp tạo thành đường thì các lá dưới chỉ thở, cây không tích lũy thêm đượcchất khô để tạo nên năng suất Nếu ánh sáng nhiều quá và nhiệt độ cũng tăng làmcho cây hô hấp mạnh Hô hấp mạnh quá cũng làm hại cho sự tích lũy đường Lượngôxy trong không khí lúc ít quá cũng làm cho cây thở yếu đi Lúc thiếu ôxy sự thởchuyển sang thở không có không khí như đã nói ở trên Yếu tố này nếu tác dụng vớiliều lượng nhỏ thì có tác dụng kích thích sự thở, làm cho cây lớn mạnh, nhưng nếutác dụng với một liều lượng nhiều quá thì ngược lại, kìm hãm hô hấp làm cho câylớn chậm hoặc chết
Bộ rễ của cây:
Rễ là bộ phận dưới đất có hai nhiệm vụ chính:
- Giữ cho các bộ phận của cây ở trên mặt đất đứng vững không đổ
- Hút nước và các chất khoáng hòa tan trong nước từ đất lên
Gần đây người ta còn thấy rằng rễ còn tổng hợp các chất hữu cơ cần dùng chocây Cách đầu rễ khoảng 1-3mm về phía trên là vùng có lông hút Vùng này gọi làvùng hút vì ở đây là nơi rễ hút nước và chất dinh dưỡng Vùng trên nữa là vùng tếbào già không có lông hút chỉ dùng để dẫn nước và các chất dinh dưỡng lên trên gọilà vùng dẫn Ở bên trong có các mạch dẫn nước và chất dinh dưỡng lên thân, lá vàcó các mạch dẫn các chất hữu cơ trên thân, lá xuống nuôi rễ Riêng rễ cây lúa vì
Trang 22mọc dưới nước nên rất ít lông hút, chỉ lúc nào bị hạn hay lúa nương mới có lông hút.Số lượng lông hút của rễ rất nhiều, nhờ vậy diện tích hút của cây rất lớn Thí dụ mộtbụi lúa mì có 12 triệu rưỡi lông hút với chiều dài 1649m và diện tích hút là 7677
cm3 Một cây đỗ tương có 6,1 triệu lông hút, dài 59,7m và diện tích 277cm3 Lônghút bám sát lấy các hạt đất để hút lấy thức ăn trong đất Hằng ngày, lông rễ cũ chết
đi và ở các bộ phận khác lại sinh ra lông rễ mới nên đất được thay đổi luôn Rễ pháttriển mạnh là một yếu tố bảo đảm năng suất cao vì cây sẽ hút được nhiều nước vàthức ăn Tuy vậy nếu thiếu nước hay thiếu phân thì rễ cũng phát triển rất mạnh,đâm sâu xuống đất có lúc hàng 2-3m có lúc đến 5-10m để tìm nước và thức ăn Bấygiờ nó sẽ tranh mất các chất hữu cơ của các bộ phận trên mặt đất và năng suất sẽrất thấp Do đó trong kỹ thuật nông nghiệp cần phải làm thế nào cho bộ rễ pháttriển vừa phải, vừa đủ hút nước và thức ăn cung cấp cho thân, lá, quả Muốn vậycần:
- Cày sâu cho đất tơi Đối với lúa cần cày sâu đến 20cm và bông đến 30cm
- Bón phân lót cho sâu, nếu phân bón trên mặt thì rễ chỉ mọc ở lớp trên mặt
- Tưới nước cho cây vừa đủ vì tưới nhiều rễ cây không phát triển được(trừ câylúa)
- Làm cho đất thoáng, vì rễ cũng cần có hô hấp mới sống được Nếu đất chặtkhông khí không xuống được thì rễ sẽ chết Vì vậy mà lúc bị úng nước trong đấtkhông có không khí rễ bị thối Rễ lúa sở dĩ mọc được dưới nước vì có ống dẫn khítrong lòng rễ từ lá xuống cho rễ hô hấp Đó là đặc điểm của các cây sống dưới nướchay ở chổ bùn, lầy như lúa, sen, sú, vẹt, cói…
Cây bị ngập úng:
Khi bị ngập úng cây không có không khí nên chỉ có phản ứng hô hấp yếm khíxảy ra:
C6H12O6 2C2H5OH + 2CO2 + 2ATP
Trang 23Đó là phản ứng bất lợi về mặt năng lượng vì chỉ sản sinh ra 2ATP so với 38 ATP cóoxy, dẫn đến cây, rễ cây chết vì hết đường Khi nghiên cứu về khả năng hút nướccủa cây ta thấy khi bị ngập úng, môi trường thiếu không khí rễ cây không thở được,khi đó dù bên ngoài có nhiều nước, nước có loãng hơn bên trong cây, cây vẫn bịchết hạn Theo Rubin, Lôghinôva, Phan Nguyên Hồng: các thực vật sống thích nghivới điều kiện ngập nước thường có khả năng vận chuyển nhanh chóng oxy từ các cơquan trên đất xuống rễ hoặc hình thành các loài rễ thở chui ra khỏi bùn lầy đi hấpthụ oxy.
Theo tác giả Lê Thanh Phong và nhiều tài liệu khoa học khác thì nguyênnhân của cây bị chết khi ngập úng là do:
- Đất bị ngập úng nên rễ thiếu oxy để hô hấp, không hấp thu được dinh dưỡng đểnuôi cây và rễ sẽ bị thối Ngoài ra, các chất độc bên trong cây tích lũy ngày càngnhiều, chất điều hoà sinh trưởng thì không đủ cho nhu cầu của cây
- Quá trình quang hợp bị giảm dần do khẩu đóng lại và diệp lục tố bị phá hũy
- Các chất độc trong đất tăng nhanh như H2S, Mn++, Fe++… các chất này góp phầnphá hủy hệ thống rễ của cây
- Nấm bệnh phát triển và gây hại trong điều kiện ngập úng (Phytophthora sp.Pythium sp….)
Tóm lại, khi bị ngập úng cây dễ bị chết trong các điều kiện sau: có bón phânvà xử lý ra hoa trước khi lũ về; cây đang ra hoa; làm sạch cỏ vườn; đất bị đóngváng; cây bị dộng gốc; bón phân chuồn chưa hoai; nước cầm, nước bị ô nhiễm nặngvà nấm bệnh gây hại
I.6 Chất điều hòa sinh trưởng và chất kích thích tăng trưởng của cây:
1 Chất điều hòa sinh trưởng:
Người ta gọi nhóm các chất điều hoà sinh trưởng trong cây là những chất sinhtrưởng (hocmon thực vật, auxin, chất kích thích, chất hoạt hoá, chất kìm hãm, chất
Trang 24làm rụng lá,v.v…) Đặc điểm của những chất sinh trưởng tự nhiên hay tổng hợp là ởchỗ chúng tác dụng với lượng cực kỳ nhỏ ( một vài phần trong hàng triệu phầnnước), bởi vậy chúng thuộc về những chất ít biến động Những chất sinh trưởngtham gia vào quá trình phân chia tế bào, phân hoá các mô, phát sinh phôi Tác dụnglên những chức năng ADN và ARN , chúng ảnh hưởng lớn đến những quá trình chủyếu của các hoạt động sống: sự tổng hợp các enzym, hô hấp, dinh dưỡng rễ, quanghợp, sự di truyền và huy động các chất Những chất sinh trưởng điều hoà nhưngtương quan thuộc sinh lý và hình thái, đảm bảo cho sự sống của cây như một thểthống nhất; chúng giữ vai trò trong sự tái sinh các cơ quan bị mất đi, trong sự chuyểncây qua một giai đoạn phát triển sinh sản hay đi vào trạng thái ngủ, v.v…
Một số chất ức chế sinh trưởng:
- CCC (chlorcholin chlorit): ức chế sinh trưởng chiều cao của cây.
- ABA (axit abxixic): ức chế sinh trưởng chất kháng GA.
- MH (malein hydrazid): ức chế sự nảy mầm kéo dài thời kỳ ngủ của hạt, củ…
- Chế phẩm azol-1-yl) pentan-3-ol: chất ức chế sinh trưởng của công ty Hagro- chem
Peclobutazol(2RS,3RS)-1-(4-chrorophenyl)-4,4-dimethyl-2-(1H-1,2,4-tri AOA (aminooxy acetic acid): ức chế sự phát triển của thân cây nhưng không làm
ảnh hưởng đến sự ra hoa
- Ethrel: chất ức sự phát triển của mầm cây thường dùng trong bảo quản khoai tây
giống
2 Chất kích thích tăng trưởng:
Một số chất kích thích tăng trưởng:
- GA (giberelin): Giberelin kích thích tăng cường sinh trưởng của thân do sự kéo dài
của lóng, gây nên sự hình thành mầm hoa của những cây ngày dài đem trồng trongđiều kiện ngày ngắn Xử lý bằng giberelin thường dẫn đến bệnh úa vàng, làm thândài ra một cách yếu ớt
Trang 25- Auxin: có tác dụng làm dài cây, kích thích rễ gồm
IAA (Axit ß-indolylacetic);
NAA (- napthalen acetic acid);
IBA (indole butylic acid);
2,4-D (2,4 dichlorophenoxyacetic acid)
- Xytokinin: (kinetin, BA hoặc nước dừa) quyết định sự hình thành chồi.
- Chế phẩm DEKAMON (có chứa NAA) kích thích sinh trưởng của công ty bảo vệ
thực vật II
- Chế phẩm GIBRO T (có chứa GA): kích thích sinh trưởng của công ty bảo vệ thực
vật II
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Từ lâu nghiên cứu sinh lý cây trồng ở các nước trên thế giới đã được quantâm Song hầu hết các đề tài đều nhắm tới năng suất cây trồng và khắc phục câychống hạn, chống rét Còn vấn đề giúp cây vượt qua ngập úng rất ít được quan tâm.Cho đến nay giải pháp đưa ra vẫn còn hạn chế; chỉ mới là những biện pháp ngăn bờđắp đê chống lụt hoặc nếu bị lụt thì tránh bón phân hữu cơ chưa hoai, cắt tỉa bớt lá,đọt non và sau khi bớt ngập thì cắt bỏ bớt cành lá và khai rãnh ở mặt liếp để thoátnước nhanh… với các biện pháp sơ đẳng như trên, khi ngập úng lâu từ 1-2 tuần thìcác cây ngập úng trung bình và khá như ổi, mận, vú sữa, xoài, nhãn cũng đềukhông sống nổi
Nhằm tăng khả năng chịu úng của các cây ăn trái, giúp chúng vượt qua cácđợt lũ hàng năm, chúng tôi đã nghiên cứu và điều chế một số chế phẩm hoá học cókhả năng điều khiển sự sinh trưởng của cây trồng và đề ra giải pháp tối ưu cho mụcđích trên
Trang 26* Đối tượng nghiên cứu: Cây cam giấy được trồng nhiều ở Tiền Giang và Vĩnh
Long, là loại cây chịu úng kém (dưới 15 ngày)
* Giải pháp đề xuất:
Từ phân tích nguyên nhân chết cây do bị ngập úng, chúng tôi nghiên cứu giảiquyết vấn đề theo hai hướng hỗ trợ cho nhau:
- Cung cấp oxy cho cây để giúp cây hô hấp trong quá trình bị ngập úng
- Điều hòa sinh trưởng cây trong thời gian lũ và sau lũ Cụ thể:
+ Sử dụng chất ức chế sinh trưởng để kìm hãm sự hoạt động của cây, giảm tiêuhao năng lượng ở cây và rễ cây trong thời gian ngập úng
+ Sử dụng chất kích thích sinh trưởng để giúp cây nhanh chóng phục hồi bộ rễsau khi hết ngập úng
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Xác định nguyên nhân chết của cây bị úng
2 Chứng minh khả năng chịu úng của cây được nâng cao khi có nguồn cung cấpthêm oxy cho bộ rễ
3 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nhả chậm oxy
4 Nghiên cứu ứng dụng chất ức chế sinh trưởng cho cây cam trong thời gian ngậpnước
5 Nghiên cứu ứng dụng chất kích thích sinh trưởng cho cây cam sau khi thoát úng
6 Thí nghiệm tăng khả năng chịu úng của cây ở phòng thí nghiệm
7 Thí nghiệm tăng khả năng chịu úng của cây ở ngoài đồng ruộng
Trang 27IV THỰC NGHIỆM:
IV.1- Xác định nguyên nhân chết của cây bị úng:
Để xác định nguyên nhân chết của cây chúng tôi thực hiện 2 nội dung sau
a) Hợp tác để cùng Viện Sinh học Nhiệt đới tập hợp tài liệu, viết tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nguyên nhân chết của cây do
bị ngập úng (xem phần trên).
b) Thực nghiệm chứng minh khả năng chịu úng của cây được nâng cao khi cónguồn cung cấp thêm oxy cho bộ rễ của cây cam
Đối tượng : Cây cam (cao trung bình 70–80 cm) được thu mua tại cơ sở cây
giống Thủ Đức- Tp HCM với số lượng 50 cây/2 đợt
Phương pháp :
- Tạo ngập úng nhân tạo trong phòng thí nghiệm (nước tạo úng được lấy từ nguồnkhông có Clo)