Phân tích, nêu ý kiến , trình tự , thủ tục đình công
Trang 1ĐỀ BÀI
A Phân tích và nêu ý kiến về trình tự , thủ tục đình công.
B Tình huống:
Anh H vào làm việc tại chi nhánh công ty bảo hiểm TPHCM tại Quận
Ba Đình – Hà Nội từ tháng 6/ 2005 với công việc là khai thác viên bảo hiểm thời hạn 1 năm , mức lương 3 triệu đồng/ tháng Hết hạn hợp đồng , mặc dù không kí tiếp hợp đồng mới nhưng anh vẫn tiếp tục làm công việc cũ với mức lương không thay đổi Ngày 30/6/2010 Phòng khu vực V thuộc chi nhánh công ty Bảo hiểm TP HCM tại Hà Nội đã họp kiểm điểm anh H vì lí do anh làm mất 6 ấn chỉ và chiếm dụng phí bảo hiểm trong một thời gian dài.Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo chi nhánh công ty bảo hiểm TP HCM tại Hà NỘI, Chủ tịch công đoàn nhưng không thông báo cho anh H tham dự vì cho rằng : chứng cứ đã đầy đủ Ngày 15/7/2010 , Giám đốc công ty Bảo hiểm TP HCM ra quyết định sa thải anh H theo Điều 85 BLLĐ
1 HĐLĐ giữa anh H và công ty Bảo hiểm TP HCM là loại HĐLĐ nào? Tại
sao?
2 Anh H có thể khởi kiện vụ tranh chấp này tại Tòa án nào?.
3 Việc xử lí kỉ luật của công ty có tuân thủ đúng các quy định về thủ tục
xử lí kỉ luật theo Điều 87 BLLĐ hay không?
4 Giải quyết quyền lợi cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành.
5 Giả sử hành vi làm mất ấn chỉ của anh H gây thiệt hại nghiêm trọng đến
lợi ích của công ty đủ để sa thải nhưng công ty Bảo hiểm TP HCM không ra quyết định sa thải mà ra quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ với anh H thì
có hợp pháp không? Tại sao? Nếu hợp pháp thì cần phải có điều kiện gì?
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ILO Tổ chức lao động quốc tế UBND Ủy ban nhân dân
TAND Tòa án nhân dân
BCH CĐ Ban chấp hành Công đoàn BLLĐ Bộ luật lao động
TTDS Tố tụng dân sự
HĐLĐ Hợp đồng lao động
NLĐ Người lao động
NSDLĐ Người sử dụng lao động
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh TTLĐ Tập thể lao động
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
A PHÂN TÍCH VÀ NÊU Ý KIẾN VỀ TRÌNH TỰ,
THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG ……….5
I ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 5
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……… 5
1 Khái niệm đình công ……… 5
a) Định nghĩa ……… 5
b) Bản chất ……….5
c) Dấu hiệu của đình công ……… 6
2 Trình tự , thủ tục đình công ……… 7
a) Trình tư, thủ tục đình công theo pháp luật hiện hành ………7
b) Nhận xét ……… 10
III KẾT THÚC VẤN ĐỀ ……… ……… 12
B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG ……….12
1 HĐLĐ giữa anh H và công ty Bảo hiểm TP HCM là loại HĐLĐ nào? Tại sao? ……… 13
2 Anh H có thể khởi kiện vụ tranh chấp này tại Tòa án nào? 14
3 Việc xử lí kỉ luật của công ty có tuân thủ đúng các quy định về thủ tục xử lí kỉ luật theo Điều 87 BLLĐ hay không? … 15
4 Giải quyết quyền lợi cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành ……… 15
5 Giả sử hành vi làm mất ấn chỉ của anh H gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty đủ để sa thải nhưng công ty Bảo hiểm TP HCM không ra quyết định sa thải mà ra quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ với anh H thì có hợp pháp không? Tại sao? Nếu hợp pháp thì cần phải có điều kiện gì? ……… 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 17
Trang 4BÀI LÀM
A PHÂN TÍCH VÀ NÊU Ý KIẾN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG.
I ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đình công là một hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường Nó có thể chứa đựng và bị ảnh hưởng bởi tất cả các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, văn hóa , pháp luật Đình công là quyền của NLĐ Đây là “vũ khí” của NLĐ để gây áp lực đòi quyền lợi từ NSDLĐ theo chiều hướng có lợi cho họ Tuy nhiên đình công đã và đang diễn biến với chiều hướng phức tạp không những tăng về số lượng mà cũng khó giải quyết hậu quả Một trong những nguyên nhân làm cho các cuộc đình công lâm vào tình trạng như vậy vì những quy định về trình tự, thủ tục đình công chưa thật phù hợp với thực tiễn
và ít tính khả thi
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Khái niệm đình công.
a) Định nghĩa.
Hiện nay , quan niệm về đình công còn nhiều điểm khác nhau vì thế có thể khẳng định rằng rất khó để đưa ra quan điểm nhất quán , có tính thuyết phục để trở thành quan điểm chính thống về đình công Tuy nhiên từ bản chất của vấn đề và từ thực tế tồn tại của hiện tượng đình công , Điều 172 BLLĐ đã
đưa ra định nghĩa về đình công khá chuẩn xác: “Đình công là sự ngừng việc
tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể”.
b)Bản chất.
Trang 5
Đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế của NLĐ với NSDLĐ phát sinh trong quan hệ lao động Nhu cầu đình công xuất phát từ đặc điểm của quan hệ lao động , trong đó NLĐ bị phụ thuộc vào NSDLĐ Ở vị thế đó , khi
có tranh chấp , những NLĐ thường liên kết với nhau , tạo thành sức mạnh tập thể đấu tranh với NSDLĐ để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình
Đình công gắn liền với tranh chấp lao động tập thể vì nó phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể ; nó được thực hiện khi tranh chấp lao đông tập thể
đã được đưa lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết nhưng không thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định.; nó biểu hiện tranh chấp lao động vẫn đang tồn tại
Đình công là “vũ khí” của NLĐ để gây áp lực đòi quyền lợi từ NSDLĐ theo chiều hướng có lợi cho họ bởi lẽ đình công là quyền của NLĐ
c)Dấu hiệu của đình công.
Thứ nhất, đình công biểu hiện bằng sự ngừng việc tạm thời của tập
thể lao động Tập thể lao động là những NLĐ cùng làm việc trong một doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp Đây là dấu hiệu cơ bản nhất , giữ
vị trí trung tâm ,liên kết các dấu hiệu khác tạo nên hiện tượng đình công Sự ngừng việc của đình công được hiểu là những phản ứng của NLĐ bằng cách không làm việc , không xin phép trong khi biết trước là NSDLĐ không đồng ý Trong ý thức của những người ngừng việc và trên thực tế , sự ngừng việc này chỉ diễn ra tạm thời , trong một thời gian ngắn và sau đó vẫn tiếp tục duy trì quan hệ lao động
Thứ hai , đình công phải có sự tự nguyện của tập thể lao động Đây là
dấu hiệu về mặt ý chí của NLĐ , kể cả người lãnh đạo hoặc người tham gia đình công, thể hiện ở việc họ được quyền quyết định và tự ý quyết định ngừng việc , tham gia đình công trong khi vẫn có những cách giải quyết khác cho vấn
đề đang phải đối mặt Đình công hoàn toàn xuất phát từ ý chí, lí trí của hai bên , không chịu sự chi phối từ ý chí của người thứ ba hoặc ý chí của bên kia
Thứ ba , đình công luôn có tính tập thể Đây là dấu hiệu không thể
thiếu , luôn gắn với hiện tượng đình công Nó không chỉ biếu hiện ở số lượng
có nhiều người tham gia ngừng việc mà còn thể hiện ở ý chí , hành động và mục đích chung của họ ; ở tính đại diện của những người đó cho những người khác không tham gia đình công , nhằm đạt được những quyền và lợi ích chung
Trang 6hoặc đạt được những nguyên tắc chung về quyền lợi trong lao động Phạm vi tập thể lao động tiến hành đình công có thể là toàn bộ , đa số hoặc một số lượng lớn lao động trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp, trong một doanh nghiệp
Thứ tư, đình công luôn có tính tổ chức.Điều này được biểu hiện bằng
sự có chủ định , có phối hợp, thống nhất về ý chí ,mục đích và hành động trong phạm vi những lao động ngừng việc Khi chuẩn bị và tiến hành đình công luôn
có sự tổ chức, lãnh đạo , điều hành thống nhất của một hay một số người và có
sự chấp hành, phối hợp thực hiện của những người khác trong phạm vi đình công Những người tham gia thường tiến hành đình công theo những trật tự chung do ho xác định nhằm đạt được mục đích chung
Thứ năm, mục đích của đình công là nhằm đạt được những yêu sách về
quyền và lợi ích mà những người thực hiện quan tâm
2 Trình tự , thủ tục đình công.
a) Trình tự , thủ tục đình công theo pháp luật hiện hành.
Trình tự đình công được tiến hành theo các bước : Sau khi xác định được thời điểm đình công thì tiến hành các thủ tục để chuẩn bị đình công Thủ tục chuẩn bị đình công bao gồm ba bước: Lấy ý kiến TTLĐ; ra quyết định và lập bản yêu cầu; trao , gửi quyết định đình công và bản yêu cầu Đến thời hạn dự kiến đình công , nếu NSDLĐ không chấp nhận giải quyết yêu cầu thì TTLĐ có thể tiến hành đình công
*Thời điểm phát sinh quyền đình công.
Với tranh chấp lao động tập thể về quyền thì theo Điều 170a BLLĐ TTLĐ có quyền tiến hành các thủ tục đình công khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà hai bên vẫn còn tranh chấp hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại diểm a khoản 1 Điều 170a mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết và TTLĐ không yêu cầu Tòa án giải quyết Với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thì theo Điều 171 BLLĐ TTLĐ có quyền tiến hành các thủ tục đình công khi Hội đồng trọng tài lao động hòa giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết quy định tại khoản 1 Điều 171 mà Hội đồng trọng tài lao động không tiến hành hòa giải
*Thủ tục chuẩn bị đình công.
Trang 7Như trên đã nói thì Thủ tục chuẩn bị đình công bao gồm ba bước: Lấy
ý kiến TTLĐ; ra quyết định đình công và lập bản yêu cầu; trao , gửi quyết định đình công và bản yêu cầu
Bước thứ nhất: : Lấy ý kiến TTLĐ.
Điều 174a BLLĐ quy định về cách lấy ý kiến TTLĐ Theo đó, nếu phạm
vi đình công có dưới ba trăm NLĐ thì phải lấy ý kiến trực tiếp của họ Nếu phạm vi đình công có từ ba trăm NLĐ trở lên thì lấy ý kiến của người đại diện Đại diện được lấy ý kiến là các thành viên BCHCĐ cơ sở , tổ trưởng tổ công đoàn và tổ trưởng tổ sản xuất, nếu trong đơn vị có tổ chức công đoàn Nếu đơn
vị không có tổ chức công đoàn thì người tổ chức đình công lấy ý kiến của tổ trưởng , tổ phó tổ sản xuất
Nội dung lấy ý kiến bao gồm : những tranh chấp lao động đã được giải quyết mà tập thể lao đông không đồng ý , thời gian , địa điểm dự kiến đình công và việc đồng ý hay không đồng ý của người được lấy ý kiến
Khoản 2 Điều 174a BLLĐ quy định: “Việc tổ chức lấy ý kiến có thể
thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc lấy chữ kí.Thời gian và hình thức lấy ý kiến để dình công do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện TTLĐ quyết định và phải thông báo cho NSDLĐ biết trước ít nhất là một ngày”.
Bước thứ hai: ra quyết định đình công và lập bản yêu cầu.
Khoản 1 Điều 174b BLLĐ quy định: Nếu có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số NLĐ đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm NLĐ hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc
bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm NLĐ trở lên thì lúc này BCHCĐ cơ sở hoặc đại diện TTLĐ mới được ra quyết định đình công bằng văn bản và lập bản yêu cầu
Nội dung của quyết định đình công được quy định tại Khoản 2 Điều
174b BLLĐ: “Quyết định đình công phải nêu rõ thời điểm bắt đầu đình công ,
địa điểm đình công , có chữ kí của đại diện BCH CĐ cơ sở hoặc đại diện TTLĐ; trường hợp là đại diện của BCH CĐ cơ sở thì phải đóng dấu của tổ chức công đoàn”.
Nội dung bản yêu cầu được quy định tại Khoản 3 Điều 174b BLLĐ:
“Bản yêu cầu phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Những vấn đề tranh chấp lao động tập thể đã được cơ quan , tổ chức giải quyết nhưng TTLĐ không đồng ý;
Trang 8b)Kết quả lấy ý kiến đồng ý đình công;
c) Thời điểm bắt đầu đình công;
d) Địa điểm đình công;
đ) Địa chỉ người cần liên hệ để giải quyết”.
Bước ba:Cử đại diện trao, gửi quyết định đình công , bản yêu cầu.
Sau khi đã lập được nội dung của quyết định đình công và bản yêu cầu
thì“ Ít nhất là năm ngày , trước ngày đình công , BCHCĐCS hoặc đại diện
TTLĐ phải cử đại diện nhiều nhất là ba người để trao quyết định đình công và bản yêu cầu cho NSDLĐ , đồng thời gửi một bản cho cơ quan Lao động cấp tỉnh và một bản cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh.” (Khoản 4 Điều 174b
BLLĐ) Như vậy pháp luật nước ta không thừa nhận đình công bất ngờ Quan điểm này cũng được thể hiện trong pháp luật của một số nước khác
Thủ tục gửi yêu sách đến NSDLĐ sẽ tạo điều kiện cho NSDLĐ có
cơ hội xem xét lại những yêu sách củaTTLĐ, cân nhắc giữa việc chấp nhận những yêu sách của NLĐ hay để đình công xảy ra Thủ tục thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp chính quyền sở tại biết trước về khả năng xảy ra đình công và dự liệu những hậu quả của đình công để có biện pháp
xử lý kịp thời, hoặc khắc phục những hậu quả của đình công, đặc biệt là những bất ổn về chính trị, xã hội (nếu xảy ra); Giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của đình công do đã được thông báo và có sự chuẩn bị trước để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của đình công
*Tiến hành đình công.
“ Đến thời điểm bắt đầu đình công đã được báo trước quy định tại
điểm c khoản 3 Điều này , nếu NSDLĐ không chấp nhận giải quyết thì BCHCĐCS hoặc đại diện TTLĐ tổ chức và lãnh đạo đình công”.(khoản 5 Điều
174b BLLĐ).Thực tế việc đình công không chỉ phải tuân theo những thủ tục luật định mà khi tiến hành thường phải có những cách thức nhất định Luật lao động nước ta chưa có quy định cụ thể về hình thức tiến hành đình công , chỉ có quy định về những những hành vi cấm thực hiện khi đình công Như vậy cũng
có thể cho rằng khi đình công , những người đình công có thể thực hiện tất cả những hành vi mà luật không cấm, không trái với quan niệm chung của đạo đức xã hội Những hành vi này được quy định tại Điều 174đ BLLĐ như : cản trở việc thực hiện quyền đình công của NLĐ hoặc kích động , lôi kéo,ép buộc
Trang 9NLĐ đình công, cản trở NLĐ không tham gia đình công đi làm việc; dùng bạo lực , làm tổn hại máy móc , thiết bị , tài sản của doanh nghiệp…
b) Nhận xét.
Thủ tục , trình tự đình công luôn có sự chi phối bởi sự định hướng của nhà nước cụ thể nếu một nhà nước muốn hạn chế việc sử dụng quyền đình công củaNLĐ, nhà nước đó sẽ quy định thủ tục chuẩn bị đình công phức tạp, trải qua nhiều bước và phải tuân thủ những quy định có tính chất cấm đoán nghiêm khắc Ngược lại, nếu quan điểm của nhà nước là tạo thuận lợi cho NLĐ trong việc sử dụng quyền đình công, nhà nước sẽ quy định thủ tục chuẩn bị và tiến hành đình công đơn giản, có thể dễ dàng áp dụng trong thực tế
Trình tự , thủ tục đình công được pháp luật quy định cụ thể và rõ ràng, không chỉ có ý nghĩa định hướng hành vi của NLĐ khi sử dụng quyền đình công, mà còn góp phần hạn chế tình trạng đình công tràn lan, vô tổ chức, gây những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
*Điểm tích cực:
Quy định về trình tự , thủ tục đình công theo pháp luật hiện hành đã có những sự thay đổi nhất định để có thể phù hợp hơn với thực tiễn, tạo ra tính khả thi cho các cuộc đình công
Quy định về thủ tục lấy ý kiến đình công chặt chẽ hơn trước Cụ thể BLLĐ năm 1994(đã được sửa đổi năm 2002) quy định phải đảm bảo đủ trên
50% số người trong TTLĐ tán thành bằng cách lấy chữ ký hoặc bỏ phiếu kín
thì mới được phép tiến hành đình công là không hợp lí ,sẽ có rất ít cuộc đình công theo đúng quy định này, vì thủ tục này chỉ khả thi ở những nơi có ít người lao động; với những cơ sở tập trung nhiều lao động, hoặc doanh nghiệp có nhiều cơ sở sản xuất đặt ở những địa điểm khác nhau thì đây lại là quy định khó thực hiện được Cũng vì quy định về thủ tục như vậy, nên 100% các cuộc đình công đã xảy ra đều vi phạm quy định này Theo quy định hiện hành thì nếu có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số người lao động đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm NLĐ hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ
ba trăm NLĐ trở lên thì TTLĐ được phép đình công Quy định của pháp luật lao động hiện hành đã mang tính thực tế hơn, khả thi hơn
Trang 10Việc quy định thủ tục lấy ý kiến đình chặt chẽ như trên nhằm những mục đích cơ bản sau đây:
Thứ nhất, bảo đảm quyền tự do định đoạt và ý chí tự nguyện của
những NLĐ khi quyết định đình công Mỗi cá nhân NLĐ trong tập thể lao động đều có quyền tự mình cân nhắc về việc có tham gia đình công hay không, không ai có quyền đe doạ hay buộc NLĐ tham gia đình công;
Thứ hai, Tạo điều kiện để TTLĐ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các tiền đề cơ
bản, tạo khả năng thành công cho cuộc đình công (như thu hút thêm sự tham gia của đông đảoNLĐ, chuẩn bị vật chất để hỗ trợ cho NLĐ nếu đình công kéo dài, tạo sự chú ý của dư luận, các cơ quan thông tin đại chúng và sự quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền )
Thứ ba, Có thể coi giai đoạn này là quá trình làm nguội đi những bức
xúc củaNLĐ , nhằm tránh một cuộc đình công không thực sự cần thiết hoặc nếu không thể ngăn chặn được cuộc đình công thì giai đoạn này cũng có tác dụng làm dịu đi tính quyết liệt của đình công, tránh những biểu hiện quá khích của NLĐ trong thời gian tiến hành đình công
*Điểm hạn chế:
Pháp luật quy định thời gian gửi quyết định đình công và bản yêu cầu cho NSDLĐ và gửi một bản cho cơ quan lao động cấp tỉnh, một bản cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh trong thời hạn ít nhất năm ngày là chưa hợp lí Năm ngày là khoảng thời gian quá dài không đảm bảo tính thời cơ của cuộc đình công Kéo dài thời gian chuẩn bị đình công thông qua các thủ tục phức tạp hay chờ đợi ý kiến trả lời của NSDLĐ sẽ làm mất đi cơ hội gây sức ép kịp thời củaTTLĐ, do đó, làm giảm khả năng thắng lợi của cuộc đình công
* Giải pháp hoàn thiện:
Từ thực tế nêu trên,theo em các quy định của pháp luật về đình công nên sửa đổi một số điều khoản về thủ tục đình công để việc đình công mang lại hiệu quả cao nhất cho NLĐ:
Thời hạn gửi bản thông báo nên quy định chậm nhất là 24h trước thời điểm đình công được ấn định Việc rút ngắn thời hạn báo trước vừa nhằm bảo đảm tính thời cơ của cuộc đình công vừa đảm bảo lợi ích hợp pháp của NSDLĐ kịp thời giải quyết những yêu cầu bức xúc củaNLĐ Không thể quy định là TTLĐ không phải báo trước với NSDLĐ về việc mình sẽ đình