Hiện nay đđể xác định nguồn gốc một cây trồng người ta thường dựa vào ba căn cứ như sau:1.Dựa vào nguồn biến dị di truyền (thuyết này theo ông Vavilov, nhà thực vật học người Nga). Cơ sở của học thuyết này là một cây trồng có nguồn gốc từ cây hoang dại qua trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo2.Dựa vào địa bàn phân bo (rộng lớn)3 Dựa vào tài liệu: sách báo, tạp chí, sách địa khai, chứng cứ khảo cổ.Đối với cây đậu nành cũng dựa vào các căn cứ trên hiện nay người ta đã xác định chính xác cây đậu nành có nguồn gốc (phát nguyên chính) từ Miền Đông Bắc Trung Quốc vào thời điểm thế kỷ 11 trước công nguyên tiếp theo đó là khu vực Mãn Châu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
TÀI LIỆU HỌC TẬP CÂY ĐẬU NÀNH
Biên soạn: TRẦN VĂN LỢT
Trang 2Tháng 6 năm 2010
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HỌC PHẦN
Chương 1: Giới thiệu chung (Mở đầu = Dẫn nhập)
1 1 Nguồn gốc- lịch sử phát triển cây đậu nành trên thế giới và Việt Nam1.1.1 Trên thế giới:
1.1.2 Việt Nam
1.2 Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới:
1.2.2 Việt Nam
1.3.Ý nghĩa kinh tế cây đậu nành
Chương 2: Phân loại – Đặc tính thực vật học
2.1 Phân loại
2.2 Đặc tính thực vật học
Chương 3: Nhu cầu sinh thái cây đậu nành
3.1 Nhiệt đ độ
3.2 Lượng mưa và ẩm độ
3.3 Aùnh sáng
3.4 Đất đai
Chương 4: Kỹ thuật canh tác
4.1 Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
4.2 Miền Tây ( Đồng bằng sông Cửu Long)
Trang 3Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Nguồn gốc- lịch sử phát triển cây đậu nành trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới
Hiện nay đđể xác định nguồn gốc một cây trồng người ta thường dựa vào ba căn cứ như sau:
1.Dựa vào nguồn biến dị di truyền (thuyết này theo ông Vavilov, nhà thực vật học người Nga) Cơ sở của học thuyết này là một cây trồng có nguồn gốc từ cây hoang dại qua trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo
2.Dựa vào địa bàn phân bố (rộng lớn)
3 Dựa vào tài liệu: sách báo, tạp chí, sách địa khai, chứng cứ khảo cổ
Đối với cây đậu nành cũng dựa vào các căn cứ trên hiện nay người ta đã xác định chính xác cây đậu nành có nguồn gốc (phát nguyên chính) từ Miền Đông Bắc Trung Quốc vào thời điểm thế kỷ 11 trước công nguyên tiếp theo đó là khu vực Mãn Châu.-Nơi đây hiện nay có nhiều giống hoang dại (ngân hàng gien)
-Địa bàn phân bố rất rộng lớn (kéo dài từ miền Đông Bắc Trung Quốc đến khu vực Mãn Châu)
-Tài liệu: Có một cuốn sách 2.538 BC (trước công nguyên) kể chuyện vua Thần Nông, người đầu tiên dạy cách sử dụng đậu nành: làm đậu hủ, làm thuốc…
* Lịch sử phát triển:
Ở Châu Aâu: nước đưa cây đậu nành vào đầu tiên là nước Pháp, nơi trồng đầu tiên là vườn thực vật Hoàng Gia , Paris vào năm 1739 Sau đậu nành được đưa sang các
Trang 4nước khác như: Anh (1790), Hoa Kỳ (1804) , Ý (1840); Uùc, Đức, Poland, Holland (1875);
Hulgari (1876), Nga (1901)
1.1.2 Việt Nam
Cây đậu nành được biết đến từ lâu đời (thời Hai Bà Trưng)
Tài liệu trong quyển sách “Vân Đài Loại Ngữ ”(Lê Quí Đôn) 1773, đã có đề cập tới cây đậu nành
Năm 1793, Louris đã có đề cập đến việc canh tác cây đậu nành ở Việt Nam và Malaysia
Năm 1877, Harmand đã sưu tập được một dạng đậu nành hoang dại (Glycine lastica) ở Huế.
1.2 Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Sau thế chiến thứ II, Đậu nành được chú ý đến nhiều hơn vì trong hạt đậu nành chứa hàm lượng N (40% N, 20% dầu) nhiều hơn Đậu phọng (30% N, 40% dầu) Đồng
thời trong hạt Đậu Phọng thường có chứa độc tố Aflatoxin (Aspergillus flavus) gây ung
thư gan cho con người
Xét về vị trí: Trước thế chiến I: Đối với cây lấy dầu: Đậu Phọng đứng thứ (I), đậu nành thứ ( II) Đối với cây lương thực: cây đậu nành đứng thứ (VI) sau các cây ngủ cốc
Sau thế chiến II: Đối với cây lấy dầu: Đậu nành thứ (I), Đậu phọng thứ (II) Còn đối với cây lương thực: đậu nành đứng thứ tư sau lúa mì, lúa nước và bắp
Trang 5Cây đậu nành được trồng nhiều và cho sản lượng cao tập trung các nước: Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Canada, Mêhicô, Indonesia, Argentina, Nhật, Paraway, Rumani Theo (Yeong Ho Lee, 1994) 88% sản lượng đậu nành thế giới tập trung 4 nước: Mỹ (52%), Brazil (17%), Argentina (10%), Trung Quốc (9%).
Theo thống kê diện tích và sản lượng đậu nành trên thế giới từ năm 1940 đến năm 1995 như sau:
Năm Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn)
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu nành trên thế giới từ 2001- 2008
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Trang 6(Nguồn: FAOSTAT Database, 2008)
Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy diện tích gieo trồng và sản lượng đậu nành trên thế giới tăng rất nhanh trong vòng 8 năm qua Hàng năm trên thế giới trồng khoảng trên 90 triệu ha với năng suất trung bình 22 – 24 tạ/ha đã tạo ra một sản lượng đậu nành gấp hơn 2 lần so với 20 năm về trước Các nước trồng đậu nành đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lượng là Mỹ, Brazin, Achentina và Trung Quốc
Bảng1 2: Diện tích đậu nành của một 4 nước đứng đầu thế giới giai đoạn 2001-2008
Đơn vị: triệu haST
29.330
29.930
28.834
30.190
25.960
30.206
4
16.365
18,52 21.53
8
22.948
22.047
20.565
21.271
3 Argentin
a
10.400
11.405
12,41 14.34
0
14.032
15.130
15.981
16.380
4 Trung
Quốc
9.481 8.721 9,31 9.581 9.593 9.304 8.753 9.127
(Nguồn: FAOSTAT Database, 2008)
Bảng 1 3: Năng suất đậu nành của 4 nước đứng đầu thế giới giai đoạn 2001 – 2008
Đơn vị: tạ /haST
Trang 7(Nguồn: FAOSTAT Database, 2008)
Bảng 1 4: Sản lượng đậu nành của 4 nước đứng đầu thế giới giai đoạn 2001 – 2008
Đơn vị: triệu tấnSt
(Nguồn: FAOSTAT Database, 2008)
2.1.3 Tình hình tiêu thụ đậu nành trên thế giới
Về thị trường giao dịch đậu nành trên thị trường thế giới: 25% tổng sản lượng đậu nành ở dạng nguyên hạt Nước xuất khẩu đậu nành lớn nhất là Mỹ, Brazil và Argentina Nhiều nước nhập khẩu đậu nành để làm thức ăn cho người, chế biến thành bột và ép dầu Những nước nhập khẩu lớn gồm: Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC); Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxemburg, Ý, Đan Mạch, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản Sau chiến tranh thế giới lần II, Mỹ và Trung Quốc là 2 quốc gia xuất khẩu đậu nành nhiều nhất trên thế giới Do nhu cầu tiêu thụ trong nước gia tăng từ năm 1974, lần đầu tiên Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu đậu nành cho đến nay
Theo số liệu hải quan, hiện nay Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu nành lớn nhất thế giới, hàng năm đã phải nhập trên 10 triệu tấn tính từ năm 2000 Việc nhập khẩu đậu nành tại Trung Quốc trong tương lai sẽ giảm bởi Trung Quốc có tiềm năng sản xuất đậu nành và có ưu thế về sản xuất đậu nành an toàn (đậu nành không biến đổi gen) Trung Quốc cũng đã có kế hoạch biến vùng Đông Bắc thành khu vực lớn nhất chuyên sản xuất đậu nành không biến đổi trong vòng 5 năm, có thể tăng từ 9 triệu ha hiên nay lên 13 triệu ha để có khả năng sản xuất 36 triệu tấn vào những năm tới, nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước và tiến đến xuất khẩu qua thị trường Châu Âu là khu vực
có khuynh hướng bài trừ nhập khẩu đậu nành từ Mỹ
Trang 8Mặc dù sản lượng đậu nành của Mỹ dự báo tăng 5%, song xuất khẩu bị giảm
do bị các nước Nam Mỹ cạnh tranh Theo dự báo cáo của Bơ Nơng Nghiệp Mỹ, xuất khẩu đậu nành của Mỹ trong năm 2003 – 2004 chỉ là 26,1 triệu tấn, giảm 361 ngàn tấn
so năm 2002 – 2003 và là mức thấp nhất kể từ năm 1998 (FAOSTAT, 2004)
2.1.4 Khuynh hướng sản xuất trên thế giới
Diện tích trồng đậu nành cĩ thể thay đổi do các chính sách quản lý, thương mại Năng suất là chỉ tiêu phản ánh tiến bộ tiến bộ nghiên cứu về cây đậu nành và chính sách là yếu tố quan trọng quyết định tương lai của cây trồng này Những yếu tố quan trọng quyết định năng suất là cải tiến kỹ thuật canh tác, giống mới cĩ tiềm năng năng suất cao hơn, thuốc trừ cỏ, sâu, bệnh tốt hơn, chất kích thích sinh trưởng mới, chương trình huấn luyện hiệu quả hơn
Trong tương lai, sự tác động của cơng nghệ sinh học, di truyền phân tử đối với cây trồng cĩ thể mở ra một tiềm năng mới trong tương lai phát triển của cây đậu nành
Cĩ thể làm tăng năng suất đậu lên nhiều thơng qua các giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Cơng nghệ sinh học cũng là yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng đậu nành Những tiến bộ kỹ thuật này cũng cĩ thể cải tiến hiệu quả sản xuất và tiêu dùng sản phẩm đậu nành
1.2.2 VIỆT NAM
Việc trồng cây đậu nành đã có từ lâu đời nhưng diện tích trồng cây đậu nành của cả nước lúc cao nhất cũng chỉ đạt dưới 200.000 ha với năng suất khá thấp (so với thế giới), chủ yếu do giá cả thị trường chi phối
Năm DT (1.000 Ha) NS (tạ/ha) Sản lượng (1.000 tấn)
1976 39,4 5,3 20,7
1985 102,0 7,8 79,1
1990 110,0 7,9 86,6
Trang 9* Ở Miền Bắc: vùng trồng Đậu Nành tập trung các vùng (sản xuất hàng hóa) miền núi
và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc và Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương…
* Ở Miền Nam: 3 vùng chính
+ Miền Đông Nam Bộ: Đồng Nai (Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc), Bình Thuận
+Vùng miền Tây (đồng bằng sông Cửu Long): Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng
+Vùng Tây Nguyên: Đắc Láêc, Gia Lai, Lâm Đồng (Đức Trọng), ĐakNông
@Phương hướng phát triển đậu nành ở Việt Nam
Nhằm thúc đẩy phát triển cây đậu nành để đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, bộ nông nghiệp đã có những điều cần lưu ý:
+ Thứ nhất: coi cây đậu nành như là cây trồng chính mang tính chiến lược, đòi hỏi có chính sách khuyến khích sản xuất, ưu tiên mở rộng diện tích cho các vùng trọng điểm cũng như trong các mùa vụ cho năng suất cao
+ Thứ hai: áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để giảm thiểu mức chi phí tối
đa, thâm canh đồng bộ để đưa năng suất cao và ổn định
Trang 10+ Thứ ba: tăng cường kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở nghiên cứu khoa học trong công tác giống để có giống năng suất cao, ổn định, ngắn ngày, kháng sâu, bệnh…
* Mục tiêu phát triển
a) Mục tiêu chung:
- Phát triển đậu nành đảm bảo nhu cầu cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng và từng bước hạn chế việc nhập khẩu đậu nành của các nước
- Dựa trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến để thâm canh, nâng cao năng suất nhằm phát huy hiệu quả sản xuất, giảm giá thành, tăng thu nhập cho hộ nông dân
b) Mục tiêu cụ thể:
- Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng thêm một vụ đậu nành trên đất lúa, nhằm mở rộng diện tích
- Đầu tư nghiên cứu, chọn giống đậu nành năng suất cao, ngắn ngày, trồng được nhiều vụ trong năm để đưa năng suất bình quân cả nước đạt 18 – 20 tạ/ha
*TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY ĐẬU NÀNH:
Thế Giới: Các nhà khoa học đi vào hướng nghiên cứu: Công nghệ phân tử: chuyển gien
( chống hạn, kháng thuốc diệt cỏ…)
Việt Nam: Nghiên cứu đơn giản: so sánh giống, mật độ- khoảng cách, phân bón, vi khuẩn cố định đạm…
1.3.Ý NGHĨA KINH TẾ CÂY ĐẬU NÀNH
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng:
Đậu Nành có giá trị dinh dưỡng cao hơn hẳn các loại đậu thông dụng khác và một số dưỡng chất vượt hơn hẳn các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật Ngoài thành phần
Trang 11chất đạm cao, Đậu Nành còn có chứa một tỉ lệ chất béo lớn, nhiều sinh tố và muối khoáng rất cần thiết cho cơ thể con người và động vật (thể hiện qua các bảng dưới đây)
Bảng 1.5 THÀNH PHẦN TRUNG BÌNH CỦA HẠT ĐẬU NÀNH (%)
Aåm độ ( thủy phần) 8,0
Các hợp chất khác 7,1
Bảng 1.6.NHỮNG SINH TỐ CHÍNH CHỨA TRONG HẠT
ĐẬU NÀNH KHÔ (µg/gr chất khô)
Trang 12Bảng 1.7 BẢNG SO SÁNH GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA ĐẬU NÀNH VÀ CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC (Đơn vị/100 gram)
Thức ăn Calori Protein (g) Đường bột
1.3.2.1 Sử dụng làm thực phẩm
Từ hạt đậu nành người ta chế biến ra các sản phẩm như: Bột đậu nành, Sữa đậu nành, làm chao, tương hột, bơ và đặc biệt là dầu đậu nành
Dầu đậu nành là một Glycerin ester, có các thông số sau:
+ Chỉ số Iốt: 120 – 137
+ Chỉ số xà phòng hóa: 189 – 295
+ Chiết suất môi trường: 1,475 ( đo ở 15 o C)
Ngoài ra hiện nay còn có những giống đậu nành rau có thể sử dụng như một loại rau cải thông thường hoặc có thể sử dụng nguyên trái đóng hộp đông lạnh xuất khẩu
1.3.2.2 Sử dụng trong công nghiệp
Ly trích chất Casein trong hạt đậu nành để chế tạo thành một chất keo đậu nành, tơ hoá học, chất tạo nhủ tương trong công nghệ cao su
1.3.2.3 Sử dụng làm thức ăn gia súc
- Thân lá đậu nành để khô sử dụng như một loại cỏ cho trâu bò ăn, nhưng thường thường người ta hay sử dụng để ủ chua (thêm Urea + mật đường)
Trang 13- Bánh dầu đậu nành cũng là nguồn thức ăn cho gia súc (thức ăn tổng hợp) bởi vì trong bánh dầu đậu nành còn chứa khoảng 40 – 50% N.
1.3.2.4 Làm phân bón – cải tạo đất
- Thân, lá, vỏ trái đậu nành là nguồn phân xanh cung cấp dinh dưỡng trở lại cho đất
- Rễ đậu nành có vi khuẩn cố định đạm cộng sinh dùng để luân canh cây trồng và cải tạo đất rất tốt
Qua nhiều vụ trồng, chất dinh dưỡng trong đất dần dần bị mất đi nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời Để khắc phục được dinh dưỡng trong đất bị mất do cây sử dụng, có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó biện pháp trồng xen, luân canh với cây họ đậu là điều rất quan trọng
Ở cây họ đậu đặc biệt là cây đậu nành, ở rễ, có kích thước nốt sần thường to hơn nốt sần đậu phộng, là bộ phận cung cấp đạm cho đất nhờ sự cộng sinh của vi khuẩn
Rhizobium Có thể nói sau một vụ trồng đậu, đất được cung cấp tương đương 20 – 40 kg
đạm /ha làm giảm thiểu được chi phí cung cấp đạm cho đất ở vụ sau
2 1 3 Đậu nành trong lĩnh vực y học:
Trước đây ngành công nghiệp chế biến thực phẩm lấy dầu chưa phát triển Nguồn cung cấp protein trong bữa ăn hằng ngày chủ yếu từ mỡ động vật, ở nguồn mỡ này hàm lượng protein chứa nhiều cholesterol là tác nhân gây tắt nghẽn các mạch máu, làm chậm quá trình vận chuyển trao đổi chất cho cơ thể gặp khó khăn
Ngày nay giá trị dinh dưỡng từ cây đậu nành rất quan trọng cung cấp hàm lượng protein cao, dùng chế biến thức ăn
Trong chữa bệnh đậu nành vỏ đen phổ biến ở Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc có lợi cho tim, gan, thận, dạ dày, ruột, làm thức ăn cho người bị bệnh tiểu đường, thấp khớp, lao động quá sức Trong hạt đậu nành có chất lecithin, casein tạo sự trẻ hóa, tăng sức đề kháng nên người Nhật có tập quán ăn đậu nành tươi
Trang 14Trên thế giới, nhiều quốc gia đang thực hiện chương trình thay đạm động vật bằng đạm thực vật mà chủ yếu lấy từ cây đậu nành góp phần phục vụ sức khỏe cộng đồng.
CHƯƠNG 2 : PHÂN LOẠI - ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC
Trang 152.1 PHÂN LOẠI:
2.1.1 Tên gọi:
Tiếng Việt: đậu nành (miền Nam), đậu tương (miền Bắc)
Tiếng Anh: Soybean; Tiếng Pháp: Soja
Tên khoa học (Latinh): Glycine max (L), Merrill.(1917), sau một hội nghị đậu
tương trên thế giới) Cây đậu nành thuộc bộ Phaseoleae, bộ phụ Glycininae, họ Leguminosae, họ phụ Papilionoideae, chi Glycine
Trước đó cây đậu nành có các tên như sau:
Soja officinarum (1751); Soja hispida (1794); Soja japonicum (1824); Glycine soja (1864); Glycine hispida (1873)
2.1.2 Phân loại:
Sau khi nghiên cứu 31 đặc tính sinh dưỡng và 27 đặc tính sinh sản của 58 nguồn vật liệu đặc trưng cho các loài người ta phân loại các loài Đậu nành dựa vào 2 cơ sở sau:
a Phân loại dựa vào hình thái thực vật học: chia làm 3 nhóm:
* Đậu nành hoang dại: Glycine ussuriensis
- Phân bố: thường thấy: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Triều Tiên
-Đặc điểm: Thân cao 3-4 m, dạng thân leo, cành nhỏ và thường xoắn lại Thân chính và cành khó phân biệt Sinh trưởng kém
-Thời gian sinh trưởng rất dài; có thể kéo dài đến 200 ngày
-Phản ứng với quang kỳ thuộc ngày ngắn Lá nhỏ hẹp, có lớp lông tơ ép sát mặt lá
-Hoa nhỏ, màu tím.Trái nhỏ, dẹp Mỗi trái chứa 2-3 hạt, khi chín dễ nứt ngoài đồng (đặc tính giống hoang dại để duy trì nòi giống)
-Hạt nhỏ , màu đen, lượng protein cao, P 100hạt: 2-3 g
Trang 16-Thường dùng làm thức ăn gia súc
* Đậu nành nửa hoang dại: Glycine gracilis ( dạng trung gian)
Phân bố: Dọc lưu vực sông Trường Giang và Dương Tử Giang ( Trung Quốc)-Đặc điểm: Thân cao trên dưới 1m , dạng thân đứng hoặc dạng thân leo
Khả năng cho trái vô hạn hoặc hữu hạn
Hoa nhỏ, màu tím.Kích thước trái và hạt trung bình
Hạt có màu nâu, đen, vàng P 100hạt:5-6 g
* Đậu nành trồng:
Đặc điểm: Thân cao: 0,5 – 1,2 m
Dạng thân đứng, phân biệt rõ thân cành Lá to, phiến lá dày
Khả năng cho trái hữu hạn.Kích thước trái và hạt to
Hạt có màu vàng, đen, nâu P.100hạt: 7- 20 g
b Phân loại dựa vào chu kỳ sinh trưởng ( Theo Pipper và Mosse)
Rất sớm: 75 – 90 ngày; chín sớm: >90 – 100 ngày
Trung bình: >100 – 110 ngày ; Muộn trung bình:>110- 129
Chín muộn: 130- 140 ngày; Rất muộn: >140- 160 ngày
2.2 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC
2.2.1 Rễ và nốt sần:
-Rễ mầm: là phần đầu trên của cây mầm Khi nẩy mầm rễ mầm đâm xuyên qua
lớp vỏ hạt và sẽ phát triển nhanh chóng hình thành một dạng móc câu vững chắc để cây mầm dưạ vào đó mà phát triển và ngoi lên khỏi mặt đất
Các rễ phụ và lông hút trên rễ phụ sẽ được hình thành ngay sau 3-4 ngày sau khi gieo
Trang 17Khỏang 5-6 tuần lễ sau khi gieo thì rễ đậu nành đã phân nhánh thành rễ cấp 1 và rễ cấp 2 và khi đó chúng tập hợp thành hệ rễ hoàn chỉnh có khả năng hút nước và dinh dưỡng nuôi cây trong suốt chu kỳ sinh trưởng.
Về độ ăn sâu của rễ đậu nành :có khả năng ăn sâu tới 1 m nhưng thường tập trung tầng mặt 30- 40 cm( tùy thuộc đặc tính của đất)
Độ ăn lan ngang thường 20-40 cm, có trường hợp 60-80cm
* Nốt sần:
Cũng như các cây họ đậu khác, rễ đậu nành cũng có vi khuẩn cố định đạm ( N)
cộng sinh: Rhizobium japonicum
Vi khuẩn đậu nành có gram âm (_ ), có hình que , háo khí
Thời gian xâm nhập: ngay sau khi rễ đậu nành được hình thành , vi khuẩn
Rhizobium japonicum có thể xâm nhập vào lông hút
@ Quá trình xâm nhập: có 2 giả thuyết ( 2 cơ sở khoa học)
* Cơ sở 1: cho rằng chỉ có những cây họ đậu mới có khả năng tiết ra các kích thích tố
có nhịêm vụ dẫn dụ vi khuẩn cố định đạm đến gần Các chất đó là: Galactosa, A malic, A uranic và Triptophan Sau đó, vi khuẩn cố định đạm lại sinh ra một kích thích tố khác có nhiệm vụ biến Triptophan thành alpha NAA (đây là kích thích tố phân chia tế bào) Đầu tiên nó làm lông hút bị uống cong lại và làm cho vách tế bào mỏng đi sau đó tạo thành những lỗ hỏng và khi đó vi khuẩn mới chui vào được
* Cơ sở 2: ( Birkel và Rudakor, 1954)
Hai ông tiến hành thí nghiệm: lấy một chậu đất đã khử trùng ( không có lọai vi sinh vật nào trong đất) và trồng cây đậu nành vào châïu đất này Tiếp sau đó ông thả vi khuẩn cố định đạm vào nhưng kết quả cuối cùng khi quan sát rễ đậu nành thì thấy rễ đậu nành không hình thành được nốt sần Tiếp tục thí nghiệm lại cũng tương tự thí nghiệm trên
Trang 18nhưng lần này hai ông thả thêm vào chậu đất hai con vi khuẩn khác nữa: Bacterium polymysa và Achromobacter radiobacterium Kết quả cuối cùng thì rễ đậu nành hình
thành được nốt sần
Từ kết quả này cho thấy: vi khuẩn cố định đạm muốn xâm nhập được vào rễ đậu nành thì phải cóù 2 vi khuẩn khác có nhiệm vụ làm mòn vách péctin của tế bào, và tạo khe hở cho vi khuẩn cố định đạm chiu vào tế bào lông hút
@ Quá trình hình thành nốt sần:
Vi khuẩn mới xâm nhập ban đầu là một khối nhầy sợi nhiểm khuẩn (dày đặc những vi khuẩn) Chúng tấn công thẳng vào lớp biểu bì sau đó dần dần chiếm hết khối tế bào chất của tế bào tạo thành khối khuẩn và nó lấy dinh dưỡng của cây để sinh sản (giai đoạn ký sinh) Do phản ứng tự nhiên của cây, sau đó những tế bào lân cận lại sinh sản mạnh hơn sẽ đẩy nguyên khối khuẩn ra ngoài và tạo thành nốt sần
* Đặc điểm nốt sần
Kích thước nốt sần đậu nành thường to hơn nốt sần đậu phọng, đường kính trung bình từ 3-4 mm, và có khả năng đạt 10 mm
Số lượng: ít hơn số lượng nốt sần đậu phọng và thường biến động từ 0 – 200 nốt sần / cây
Màu sắc : khi mới hình thành nốt sần có màu trắng ngà sau đó biến thành màu hồng nhạt, rồi màu nâu đen, sau đó khô teo lại và rụng đi
Về đặc điểm của nốt sần hữu hiệu là nốt sần phải to, màu hồng nhạt và số lượng phải nhiều ( trên 50 nốt/ cây)
Chú ý: Hiện nay để gia tăng lượng vi khuẩn nốt sần cho cây đậu nành người ta
thường sử dụng một số chế phẩm sinh học như: Nitrazin, VIDANA Và khi chủng vi khuẩn nốt sần chúng ta cần chú ý các yếu tố sau:
pH đất phải từ: 5,2- 7,2 tốt nhất pH=6
Trang 19Ẩm độ (W) đất tối hảo: 50- 80 %
Nhiệt độ đất: 18 – 28 o C
Phải bón phân N,P,K đầy đủ, nhất là phân N phải bón sớm giai đoạn đầu ( giai đoạn vi khuẩn ký sinh)
2.2.2.Thân và cành
a Thân: Được cấu tạo bơiû những đốt và lóng nối liền nhau
Dạng thân cây bụi mọc thẳng, ít phân cành Màu sắc thân : màu xanh hoặc màu tím (Quan sát cổ rễ: Phía trên thường đều có một màu xanh)
Thân màu tím thường cho hoa màu tím Thân màu xanh thường cho màu trắng.Thân cây có trung bình 14- 15 lóng
Chiều cao 0,5-1,2 m ( Chiều cao lý tưởng: 0,8 m, chiều cao đóng trái trên 10 cm), để thuận tiện cho việc cơ giới hóa cây đậu nành
b Cành:
Chỉ cho tối đa tới cành cấp II
Trung bình một cây có từ 4-6 cành ( cây tốt có thể 10-14 cành), trong đó thường có 80 % cành cấp I, 20 % cành cấp II
Cành có khả năng đâm ra từ mắc (đốt)1 đến mắc 13, nhưng mạnh nhất là mắc 2-7
c Sự phát triển thân cành: (Đối với giống có thời gian sinh trưởng 90 ngày)
Từ gieo hạt- trước ra hoa: tốc độ phát triể khá từ 0,5- 0,8 cm/ngày
Ra hoa- 60 ngày sau gieo: Tốc độ phát triển rất mạnh 1- 1,5 cm/ngày
60-70 ngày sau gieo: tốc độ phát triển chậm lại: 0,3-0,5 cm ngày
70 ngày sau gieo - thu hoạch: tốc độ ngừng hẳn (kích thước thân cành ổn định)
2.2.3 Lá đậu nành: có 3 loại lá
- Lá mầm: là tử diệp, thành phần dinh dưỡng (40% N, 20% dầu) có khả năng nuôi
cây con khoảng 14 ngày
Trang 20Lá mầm khi còn trong hạt có màu vàng, khi mọc ra ngoài ánh sáng có màu xanh, Lá mầm có khả năng rụng đi và cũng có khả năng tồn tại cho đến khi thu hoạch (tùy thuộc giống)
- Lá đơn: (cặp lá đơn): mọc đối, lá to và có màu xanh bóng (theo dõi sự sinh
trưởng phát triển của cây) Sau này cặp lá đơn sẽ phát triển thành cặp cành đối
- Hệ lá kép: ( lá thật)
Lá kép gồm 3 lá chét Mỗi lá chét đều có cuống lá riêng và có cùng một cuống lá chính Kích thước lá rất to so với lá đậu phọng
Số lượng lá / cây rất nhiều (Trung bình trên cây:25- 30 lá, có giống tốt có khả năng có 40 – 60 lá/ cây)
Hìng dạng lá: hình xoan dài, hình mũi giáo
Màu lá: màu xanh từ trung bình đến màu xanh nhạt Vào khoảng 70 ngày sau gieo toàn bộ lá đậu nành chuyển sang màu vàng và sau đó sẽ rụng đi (hiện tượng bình thường)
Nếu ngược lại lá vẫn xanh và không rụng đi đó là hiện tượng đậu nành không chín (khi đó quan sát thấy mô phình ở cuống lá không hình thành được tầng rời: mô phình phải teo lại)
Nghiên cứu của Bernard, 1972: Giống đậu nành có lá rộng thường cho năng suất cao hơn vì tiếp thu ánh sáng nhiều hơn nhưng giống có lá hẹp có hiệu suất quang hợp nhiều hơn và khi trồng ở mật độ cao hoặc trồng xen với cây trồng khác thì năng suất giống lá hẹp cao hơn giống lá rộng
2.2.4 Hoa đậu nành:
Hoa đậu nành thuộc hoa cánh bướm
Vị trí hoa mọc: hoa đậu nành có thề nách lá, đầu ngọn thân, cành và thường mọc thành từng chùm
Trang 21Số lượng hoa / chùm: Trung bình 7-8; cây tốt có thể đạt 15 hoa/ chùm.
Màu sắc hoa: có màu tím , màu trắng tùy thuộc giống và quyết định bởi sắc tố anthocyanin
* Sự phát triển của hoa
Hoa nở từ dưới gốc lên ngọn và từ trong tán ra ngoài tán
Hoa nở từ mắc (đốt) thứ 8-10 đối với giống sinh trưởng hữu hạn, có thể ra hoa từ mace (đốt) thứ 1 đối với giống sinh trưởng vô hạn
Khi cây đậu nành trồng được khoảng 30 - 35 ngày thì bắt đầu ra hoa và thời gian ra hoa kéo dài 3-5 tuần lễ
Hoa nở cao điểm lúc 8 - 10 giờ sáng
Chú ý: khi ẩm độ không khí thích hợp thì hoa sẽ nở bung ra, ngược lại thì hoa không nở nhưng có khả năng vẫn hình thành trái
Hoa nở 2 ngày sau sẽ héo và 4-5 ngày sau sẽ hình thành trái non (kích thước khoảng 1 cm)
2.2.5 Trái đậu nành
Trái thuộc loại quả nang tự khai (phải thu hoạch kịp thời)
Trái lúc còn non có màu xanh khi già chín có màu vàng
Kích thước trái trung bình có chiều dài: 2,7 - 7 cm, rộng 0,5 - 1,5 cm
Mỗi trái trung bình 2 - 3 hạt, cũng có trái có thể 4 hạt Số trái/ cây biến động khoảng 20 - 150 trái
Sự phát triển trái: (đối với giống đậu nành 90 ngày)
Sau khi hình thành trái non, khoảng 7-8 ngày sau trái hình thành nhân hạt, 18 ngày tiếp theo hạt đạt kích thước tối đa, sau đó khoảng 20 ngày nữa thì hạt đậu nành đã chín hòan toàn
Trang 22- Theo K Hinson và E.Hartwig, 1982: yếu tố làm hạn chế số trái /cây không phải là số hoa mà là những yếu tố khác làm hạn chế khả năng hình thành và phát triển trái từ số hoa đã có.
2.2.6 Hạt đậu nành
Thành phần hạt đậu nành gồm có: phôi chiếm 2%, vỏ hạt 8%, tử diệp 90%
Vỏ hạt có nhiều màu: vàng, vàng xanh, nâu đen, lớp vỏ hạt đậu nành đính nhau tại hợp điểm
Tể hạt dùng để phân biệt giống Tể có thể dài, ngắn ; rộng hẹp khác nhau (trong chọn giống tể càng nhạt, càng ngắn càng tốt) Dưới tể có một lỗ noãn ( noãn khổng) giúp rễ mầm khi nẩy mầm chui ra ngoài dễ dàng
Tử diệp: là 2 lá mầm nằm ép sát nhau, giữa là phôi
Phôi đậu nành gồm 3 phần: chồi mầm, thân mầm và rễ mầm
Hình dạng hạt: hình tròn, bầu dục, tròn dẹp Đây cũng là chỉ tiêu nhận dạng giống Thí dụ: giống Nam Vang: hạt tròn đều; Palmetto, A 5: tròn dẹp
Trọng lượng 100 hạt (P.100hạt): 7 -25 g, trung bình: 10 -12g Giống ĐH4 P.100hạt có thể đạt 23g
2.2.7 Giống đậu nành
Giống giữ một vai trò đặc biệt quan trong trong sản xuất nông nghiệp Về mặt kinh tế, việc chọn đúng các giống thích hợp có năng suất cao để đưa vào sản xuất là biện pháp rẻ tiền nhất để nâng cao năng suất cây trồng Riêng đối với đậu nành là cây rất mẫn cảm với ngọai cảnh, thì việc xác định cho đúng giống để gieo trồng trong những điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác nhất định càng được quan tâm đúng mức hơn
2.7.1 Tình hình nghiên cứu cây đậu nành trên thế giới và Việt Nam
Trang 23Hiện nay (năm 2008) đậu nành được trồng trên thế giới với diện tích 96,9 triệu ha, năng suất bình quân là 2,38 tấn/ha, sản lượng 230,6 triệu tấn Nước trồng đậu nành nhiều nhất là Mỹ (30,2 triệu ha), kế đến là Brazil (21,3 triệu ha), Argentina (16,4 triệu ha), Trung Quốc (9,3 triệu ha), Những nước có năng suất bình quân cao nhất là Ý (3,5 tấn/ha), Brazil (2,8 tấn/ha), Canada(2,75 tấn/ha), Mỹ (2,7 tấn/ha), … đã đưa năng suất bình quân lên trên 2 tấn/ha Năng suất cao do các nước này sử dụng những giống tốt qua lai tạo và chọn lọc.
Việc nghiên cứu chọn tạo giống đậu nành đã được triển khai mạnh ở nhiều nước trồng và xuất khẩu đậu nành trên thế giới như: Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đài Loan, … đã tạo được các giống có năng suất cao dùng trong chế biến thực phẩm và xuất khẩu hạt Các nước này đã thu được một nguồn ngoại tệ lớn
Năm 1940, các nhà chọn giống đã đưa giống đậu nành Puynjiell Illini chịu đất nghèo dinh dưỡng từ Trung Quốc sang Bắc Mỹ
Năm 1971, Cục thống kê nông nghiệp Mỹ đã chọn được 5 giống đậu nành để sản xuất đại trà là Wayne, Clark, Lee, Arksay và Corray
Năm 1986, Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI), đã thử nghiệm 20 giống đậu nành tại 5 nước là Nepal, Việt Nam, Indonesia, Sri-lanca, Philippines; kết quả chọn được 5 giống gồm IR1682 – 1343; I-10IR; 7267-1; IRII-4; CC-3-290-LL-II
Năm 1988, Wolak, F, J cho thấy phân bón qua lá có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển chiều cao, bộ lá của cây tăng trên 50%, dẫn tới năng suất tăng 43% so với đối chứng không phun
Năm 1991, Fernandez – Pinto, V, E; Vaamonde, C; Montani, M, L cho thấy ảnh hưởng của nhiệt độ, thời gian tưới nước và ẩm độ môi trường lên cây đậu nành rất có ý nghiõa, qua thử nghiệm cho thấy nếu nhiệt độ dưới 150 C và trên 370C làm năng suất
Trang 24của cây đậu giảm từ 30 – 38% so với nhiệt độ từ 25 – 300C, Và ẩm độ trên 95% và dưới 65% cũng có tác động tương tự.
Năm 1992, Smelser, R, B và Peigo, L, P nghiên cứu trên 20 giống đậu nành cho thấy năng suất chúng biến thiên rất lớn, năng suất trung bình từ 1,2 – 2,2 tấn/ha, có giống đạt năng suất 2,6 tấn/ha, tác giả cũng cho thấy ảnh hưởng của sâu bệnh trên cây đậu nành, sâu bệnh có thể gây thiệt hại từ 30 – 50% năng suất của cây đậu
2.7.1.2 Tình hình trong nước:
Cây đậu nành có lịch sử rất lâu đời ở nước ta, xuất xứ từ Đông Bắc Trung Quốc, đậu nành được đưa vào Việt Nam qua các tỉnh miền núi phía Bắc, xuống đồng bằng và vào Nam Bộ từ xa xưa Trong sách “Vân Đài loại ngữ” của nhà bác học Lê Quý Đôn viết năm 1773 đã có mô tả cách trồng đậu nành Năm 1793, Lourirs đề cập đến việc canh tác đậu nành ở Việt Nam và Mã Lai Năm 1977, Harmand đã sưu tập được dạng
đậu nành hoang dại (Glycine lastica) ở Huế và khu vực Bassac.
a Ở miền Bắc:
Năm 1969, ở Lào Cai, qua so sánh các giống đậu nành địa phương và nhập nội như xanh Bắc Hà, xanh Mường Khương, vàng Mường Khương và Trung Quốc, Lê Đình Dung đã kết luận: trong vụ Hè Thu và vụ Xuân, 2 giống nên phát triển là vàng Bắc Hà và vàng Mường Khương
Năm 1966 –1969, Bàng Minh Châu (Hà Bắc) qua 14 đợt trồng trong suốt 18 tháng, đã so sánh và tìm ra được giống đậu nành Cúc Lục Ngạn, có lông màu vàng vỏ cứng nhập từ Trung Quốc có khả năng thích ứng rộng ở nước ta, chín sớm và cho năng suất cao
Năm 1969 – 1970, Nguyễn Danh Đông đã tiến hành thí nghiệm so sánh giống ở nhiều vụ, chọn 2 giống tốt là V70 và V94 nhập từ Trung Quốc, Năm 1975, Trần Đình Long và các cộng tác viên đã đánh giá tập đoàn giống gồm 100 giống đậu nành và
Trang 25chọn được 3 giống thích hợp cho vụ đông là vàng Trung Quốc, B75 và xanh Bắc Hà Đồng thời tác giả cũng tiến hành gây đột biến bằng phóng xạ và hoá chất trên 4 giống gồm Cúc Lục Ngạn, V70, Vân Kiểu và Xanh Lơ đã phân lập được 3 dòng đột biến có triển vọng là M103, A57, A9.
Năm 1981 – 1985, Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn (ĐHNN) đã thu thập được và đánh giá 300 giống địa phương và nhập nội, sau 3 vụ đã chọn được giống đậu nành Clark-63 chín sớm và chín trung bình có khả năng thích ứng rộng
Năm 1986 – 1989, Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Tấn Hinh và các cộng sự đã thử nghiệm trên 200 mẫu và 800 dòng đậu nành mới và chọn lọc khảo nghiệm 30 dòng có triển vọng đã xác định tính thích ứng của các giống D95, D13-b, D22, TH184, D16 và đưa được 2 giống D22 và D95 ra khu vực hoá
Trong thời gian trên Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Trung tâm Di Truyền đã khảo nghiệm các giống đậu nành mới DT84, DT85 và khu vực hoá giống DT83
b Ở miền Nam:
Trước năm 1975 cây đậu nành được trồng tập trung ở các tỉnh Long Khánh, An Giang, Châu Đốc, Kiến Phong và Bình Định, theo đó ở Long Khánh và An Giang chiếm 70% diện tích canh tác của miền Nam, và công tác giống chủ yếu tập trung nhập nội, sau đó tuyển dòng thuần
Năm 1960, nhập nội 17 giống đậu nành từ Mỹ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản và chọn được giống Palmetto, giống này được trồng khá phổ biến
Năm 1967, qua FAO nhập nội 23 giống đậu nành mới từ nhiều nguồn gốc khác nhau và được trồng thử nghiệm tại Thủ Đức
Năm 1968, đã nhập nội khoảng 200 giống đậu nành từ Mỹ, Đài Loan, Nam Triều Tiên, và Nhật Bản qua mạng lưới khảo nghiệm của các trạm thí nghiệm Eakmak
Trang 26(Ban Mê Thuộc), An Giang và Hưng Lộc Với khoảng 20 thí nghiệm tiến hành trong 11 năm (1960 – 1971) đã kết luận các giống có triển vọng như Santa Maria, Palmetto, E27, PI240 – 665, PI204346, PS67 – 31, PS67 – 27, …
Năm 1969, trạm thí nghiệm giống An Giang đã so sánh được các giống Palmetto, Hill, E27 cho năng suất cao
Từ năm 1972 – 1973, trong 600 mẫu trồng tại trạm thí nghiệm An Giang đã chọn được giống Indonesia đưa vào sản xuất
Năm 1975, trường Đại học Cần Thơ đã chọn được các giống đậu nành Tainung
53, Multivar, Nhật 36 trong tổng số 58 giống thí nghiệm để đưa vào sản xuất
Năm 1977, Nguyễn Danh Đông và Lê Xuân Hoa đánh giá 123 giống đậu nành tại Hưng Lộc – Đồng Nai chọn được 16 giống có triển vọng
Năm 1978, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu của Trường Đại học Cần Thơ thử nghiệm và khu vực hoá 2 giống đậu nành MTĐ6 và MTĐ10
Năm 1978, Huỳnh Thị Lệ Nguyên và các cộng sự thuộc trường Đại học Nông Nghiệp IV đã giới thiệu kết quả khảo sát tập đoàn giống đậu nành trên đất Bazalt – Đồng nai và đất xám Thủ Đức, nhận định các giống ĐH4, Palmetto, V67 – 8, Indo29 và PI240 – 665, hạt nhỏ Lâm Đồng có năng suất cao và có thể đưa vào sản xuất
Năm 1984, Nguyễn Đăng Khoa (Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam) thử nghiệm gieo trồng bộ giống đậu nành ngắn ngày liên tiếp từ năm 1979 – 1983 tại Trung tâm Hưng Lộc – Đồng Nai, chọn được giống Nhật 17a có thời gian sinh trưởng từ
65 – 70 ngày, có thể gieo muộn trong vụ Hè – Thu tại Đông Nam Bộ
Năm 1983 – 1987, Phạm Ngọc Huy và cộng sự thuộc Trung tâm Hưng Lộc trong chương trình hợp tác với Viện cây trồng Vavilốp – Liên Xô (VIR) đã đánh giá tuyển chọn từ 1250 mẫu giống đậu nành, kết luận 2 giống VX87 – C1(AGS90) và VX87 –
Trang 27C2(AGS19) có năng suất cao, thích hợp với vụ Thu – Đông đã được khu vực hoá năm 1987.
Năm 1985 – 1989, Nguyễn Đăng Khoa trong các thí nghiệm đánh giá AVRDC và IIAT đã sơ bộ kết luận các giống AGS 129, AGS 269, AGS 304, có năng suất trên 1,7 tấn/ha, các giống G87 – 1 (AGS 147) và OCB có năng suất 2,1 tấn /ha so với giống Nam Vang 1,2 tấn /ha
Năm 1990, Bạch Công Sơn đã khảo sát 8 giống đậu nành qua 3 vụ Hè Thu 89, Đông Xuân 90 và vụ Mùa 91, đã chọn được giống MTĐ 176 thích hợp cho vụ Mùa và vụ Đông Xuân
Năm 1987 – 1992, các nghiên cứu tại Trung tâm Hưng Lộc – Đồng Nai cho thấy các giống đậu nành G87-1, G87-5, MĐ197, HL2 thích hợp từng vụ, từng chân đất trong tỉnh Đồng Nai, có khả năng chống bệnh, năng suất từ 1,2 – 1,6 tấn/ha Trong thực tế trồng trong dân năng suất này có chiều hướng giảm
Đến năm 1995, ở nước ta diện tích trồng đậu nành chiếm gần 122.000 ha, với năng suất trung bình 1.030kg/ha và sản lượng trên 125.000 tấn /năm Trong đó diện tích đậu nành ở phía Nam chiếm 45.000 ha, miền Đông Nam Bộ hiện nay chiếm 15.300 ha, cho năng suất trung bình 840 kg/ha và sản lượng hàng năm trên 12.800 tấn/năm, phần lớn diện tích trồng đậu nành tập trung tại tỉnh Đồng Nai (13.800 ha).Vì vậy hiện nay việc tuyển chọn giống đậu nành tốt cho sản xuất là vấn đề cấp bách
Giữa các giống đậu nành có sự khác biệt rõ rệt về phạm vi thích ứng, có giống thích ứng rộng, có giống thích ứng hẹp, nhưng không có và cũng sẽ không bao giờ có một giống thích nghi với tất cả các vùng sinh thái và các mùa vụ trồng khác nhau, dù chỉ giới hạn trong phạm vi của miền Nam thôi (Trần Thượng Tuấn)
Ở miền nam có nhiều vùng trồng đậu nành với những điều kiện sinh thái, mùa vụ và tập quán canh tác khác nhau nên đòi hỏi cần phải có một bộ giống gồm nhiều giống
Trang 28có đặc điểm khác nhau để đáp ứng yêu cầu sản xuất ở các vùng vá các mùa vụ nói trên.
* Giống ĐH4, còn gọi là ĐT 76, được Viện cây công nghiệp và Cây ăn quả trước đây tuyển chọn ĐH 4 có hoa màu tím, lông tơ nâu, hạt to ( trọng lượng 100 hạt 18-20 g)
Bộ giống được sử dụng trong đề tài gồm 9 giống: Nam Vang, G22, G83, TN12, G111, DT84, HL92, HL203, M103 Trong đó Nam Vang được chọn làm giống đối
chứng
* Nam Vang: là giống địa phương được dùng làm đối chứng trong thí nghiệm.Đặc điểm: vỏ quả màu vàng rơm, kích thước hạt trung bình, hạt có màu vàng sáng, rốn màu nâu hồng, chiều cao cây 60 – 65 cm thời gian sinh trưởng trung bình ngày, khả năng kháng sâu và kháng bệnh kém
* G83: giống của AVRDC Thân cây cao từ 50 - 55 cm, lá có màu xanh đậm, hạt có màu vàng xanh, kích thước hạt trung bình, dạng hạt tròn, rốn hạt màu đen đậm Năng suất trung bình, khả năng chống chịu sâu bệnh hại kém, vào những ngày trời ẩm ướt hoặc có nhiều sương mù, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
* M103: giống của Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam và Đại Học Nông Nghiệp 1 được công nhận năm 1995 Lá có màu xanh đậm, chiều cao 55 - 60
cm, hạt có màu vàng, vỏ màu vàng hung, kích thước hạt rất to, rốn hạt có màu nâu, vỏ quả màu vàng hung, năng suất cao, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
* TN12: giống của Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam Thân cây cao từ 50 – 55 cm lá màu xanh đậm, hạt có màu vàng xanh, kích thước hạt trung bình, rốn hạt màu đen đậm, năng suất trung bình, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
* G111: giống của AVRDC Thân cây thấp 48 - 50 cm, lá màu xanh đậm, hạt có màu vàng xanh, kích thước hạt trung bình, rốn hạt có màu đen đậm, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
Trang 29* DT84: giống của Viện Di Truyền Nông Nghiệp được xử lý đột biến từ dòng 33 – 3 tổ hợp lai (DT x ĐH4) được công nhận năm 1995, chiều cao cây 55 – 60 cm thời gian sinh trưởng trung bình ngày, lá màu xanh nhạt, kích thước hạt to, có màu vàng Giống có năng suất khá.
* HL92: giống của viện KHKTNNMN, được công nhận năm 2002 hạt có màu vàng nhạt, kích thước hạt trung bình, chiều cao thân 60 - 62 cm, lá có màu xanh nhạt, vỏ quả mỏng, có màu vàng rơm, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
* HL203: giống có tên gốc GC 84058 – 18 – 4 là giống triển vọng do viện KHKTNNMN (Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam) giới thiệu Giống có hình dạng gọn, khả năng phân cành trung bình, có nhiều đốt mang trái, dựa vào hình dạng, khả năng phân cành, giống HL203 có thể trồng ở mật độ cao, hoặc xen với các cây công nghiệp khác, chiều cao cây 50 – 58 cm giống có hạt màu vàng, kích thước hạt to, vỏ quả có màu vàng hung, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
* G22: giống của Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển Rau Đậu Châu Á (AVRDC) Thân cây cao 45 – 50 cm lá có màu xanh đậm, hạt có màu vàng xanh, kích thước hạt trung bình, rốn hạt có màu đen, thời gian sinh trưởng trung bình ngày
CHƯƠNG 3: NHUCẦU SINH THÁI CÂY ĐẬU NÀNH3.1 NHIỆT ĐỘ:
Trang 30Cây đậu nành cần tổng tích ôn tối thiểu phải đạt 2.400 o C, không có giới hạn trên
Do đó đậu nành có thể trồng trong vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, phạm vi phân bố từ 47 vĩ độ Bắc đến 47 vĩ độ Nam
Tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng mà đậu nành có nhu cầu nhiệt độ có khác nhau
Giai đoạn nẩy mầm: thích hợp: 24 - 30 o C
Giai đoạn cây con: 24 -30 oC
Giai đoạn ra hoa kết trái: 24 - 34 oC
3.2 LƯỢNG MƯA & ẨM ĐỘ:
So với các cây trồng khác, cây đậu nành là cây cần nhu cầu lượng nước tương đối
ít Nhưng lượng mưa tối thiểu phải đạt 400 mm, tốt nhất là 700 mm
Theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho rằng: Đối với cây đậu nành để sản xuất 1 gam chất khô thì phải cần đến 408 - 444 gam nước
Trong các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu nành thì có hai thời kỳ cần nước nhất là: