1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)

271 2K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 271
Dung lượng 24,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrangLời cam đoanMục lụcDanh mục chữ viết tắtDanh mục tài liệu tham khảoDanh mục bảng biểuMỞ ĐẦU1Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN91.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu91.2.Cơ sở lý luận28Tiểu kết39Chương 2: KHÁI LƯỢC VỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI, LÀNG NGHỀ TRIỀU KHÚC, THIẾT ÚNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ CÁC LÀNG NGHÊ402.1.Khái lược làng nghề Hà Nội402.2.Làng nghề truyền thống Triều Khúc, Thiết Úng502.3.Nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hoá làng nghề Hà NộiTiểu kết6579Chương 3: KHẢO SÁT BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRIỀU KHÚC VÀ THIẾT ÚNG813.1.Biến đổi văn hoá sản xuất và cảnh quan môi trường813.2.Biến đổi lĩnh vực văn hoá tổ chức cộng đồng973.3.Biến đổi lĩnh vực văn hoá tinh thầnTiểu kết109124Chương 4: BÀN LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG1264.1.Bàn luận về biến đổi 1264.2.Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hoá làng nghề truyền thống1284.3.Khuyến nghịTiểu kết148154KẾT LUẬN155DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN158TÀI LIỆU THAM KHẢO 159PHỤ LỤC171

Trang 1

Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

Chương 2: KHÁI LƯỢC VỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI, LÀNG NGHỀ TRIỀU

KHÚC, THIẾT ÚNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ CÁC LÀNG NGHÊ

40

2.2 Làng nghề truyền thống Triều Khúc, Thiết Úng 50 2.3 Nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hoá làng nghề Hà Nội

Tiểu kết

65

79

Chương 3 : KHẢO SÁTBIẾN ĐỔI VĂN HOÁ

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRIỀU KHÚC VÀ THIẾT ÚNG

81 3.1 Biến đổi văn hoá sản xuất và cảnh quan môi trường 81 3.2 Biến đổi lĩnh vực văn hoá tổ chức cộng đồng 97 3.3 Biến đổi lĩnh vực văn hoá tinh thần

Tiểu kết

109

124

Chương 4: BÀN LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VÀ CÁC GIẢI PHÁ P BẢO TỒN,

PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

126

4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hoá làng nghề truyền thống 128 4.3 Khuyến nghị

Tiểu kết

148

154

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 158

Trang 2

Chữ viết tắt Giải nghĩa

BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương

CNH : Công nghiệp hoá

ĐTH : Đô thị hoá

HĐH : Hiện đại hoá

HĐND : Hội đồng nhân dân

NXB : Nhà xuất bản

NCS : Nghiên cứu sinh

NQTW : Nghị quyết Trung ương

G.S : Giáo sư

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hoá của Liên hiệp quốc

tr : trang

VHTT&DL : Văn hoá, Thể thao và Du lịch

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 3

Trang

Bảng 3.1 Lựa chọn kỹ thuật trong sản xuất của làng Thiết Úng 76

Bảng 3.3 Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề 84 Bảng 3.4 Địa điểm sản xuất của thợ thủ công 87 Bảng 3.5 Đánh giá về cảnh quan làng nghề 91 Bảng 3.6 Đánh giá các mối quan hệ gia đình, dòng họ 94 Bảng 3.7 Tần suất sang nhà hàng xóm chơi 95 Bảng 3.8 Hình thức giao dịch trong quan hệ bán hàng 98 Bảng 3.9 Đánh giá việc duy trì tín ngưỡng lễ hội 106 Bảng 3.10 Đánh giá vấn đề đạo đức trong quan hệ bạn hàng 115

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề Hà Nội phát triển, có nhiều khởi sắc bắt đầu từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế chuyển sang

cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng vì thế, biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội diễn ra như một điều t hoá yếu của quy luật phát triển Sự biến đổi văn hoá ở các làng nghề truyền thống Hà Nội không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức, diện mạo làng nghề, quy trình sản xuất, mẫu mã, hình thức, chất lượng sản phẩm, phong tục tập quán… của mỗi làng nghề mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội

và cả nước trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) hiện nay Xu hướng biến đổi trên thực sự là vấn đề cần phải được quan tâm, nghiên cứu kịp thời để đưa ra những căn cứ khoa học, những giải pháp phù hợp, giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết sách hợp lý, vừa gìn giữ, vừa phát huy được giá trị văn hoá truyền thống của các làng nghề

Nghiên cứu về vấn đề này còn góp phần thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam theo Nghị quyết số 33, Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong đó các làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn, nông nghiệp vì phát triển làng nghề truyền thống tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng, phong phú, góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống dân cư nông thôn, tăng tích lũy, giảm di dân tự

do, chuẩn bị cho đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp hiện đại và phát làng nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn và gìn giữu giá trị văn hóa dân tộc

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội cho đến nay chưa nhiều Mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề vùng châu thổ sông Hồng, qua

Trang 5

nghiên cứu một số làng ở Hà Tây (cũ), Thái Bình, Hà Nội, mà chưa có công

trình nghiên cứu sâu, riêng biệt về Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay Do đó, việc nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa làng

nghề truyền thống của Hà Nội nói chung và hai làng nghề dệt Triều Khúc (huyện Thanh Trì), đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (huyện Đông Anh) nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa các làng nghề truyền thống ở nước

ta hiện nay trước yêu cầu CNH, HĐH và sự phát triển của nền kinh tế thị trường (KTTT) trong xu thế toàn cầu hóa

Vì những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Sự

biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Hà Nội hiện nay” (Qua trường hợp làng Triều Khúc và Thiết Úng) là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý

luận và thực tiễn trong bối cảnh đổi mới của xã hội hiện nay

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Về tổng quan tình nghiên nghiên cứu xin được trình bày chi tiết, cụ thể trong Chương 1 của luận án Ở đây chúng tôi chỉ trình bày khái quát như sau: Trong tổng số hơn 750 tài liệu trong nước và nước ngoài nghiên cứu về Hà Nội, có hơn 100 tài liệu nghiên cứu về làng nghề, phố nghề, văn hóa làng nghề Hà Nội từ trước giai đoạn đổi mới (năm 1986) đến hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở trình bày một số khái niệm mới làm công cụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn

và phát huy giá trị văn hoá làng nghề truyền thống qua nghiên cứu trường hợp làng nghề dệt Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) và làng nghề gỗ

mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh) thành phố Hà Nội

Trang 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những khái niệm cơ bản và lý luận về biến đổi văn hóa;

- Khảo sát thực trạng về sự biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống Triều Khúc và Thiết Úng;

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống tại Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) và làng nghề Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh) thành phố Hà Nội

đã khoác lên mình một diện mạo mới Sự thay đổi diễn ra một cách rất sôi động của các làng nghề từ năm 2000 đã dẫn đến sự biến đổi về mọi mặt của văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận sau:

- Triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội

và ý thức xã hội; giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng;

- Quan niệm về văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong đó có văn hóa sản xuất của nhà văn hoá học Nga A.A.Radughin về nghiên cứu văn hóa;

- Lý thuyết về biến đổi văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hoá trên thế giới

Trang 7

Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật sớm muộn cũng biến đổi theo Triết học Mác-Lênin đã chỉ ra: sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của những hoạt động thực tiễn của con người, mà trước hết là do sự biến đổi của lực lượng sản xuất của xã hội quy định Dựa trên nền tảng của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, chúng tôi nhận thấy việc biến đổi phương thức sản xuất sẽ kéo theo sau hàng loạt các biến đổi khác Do vậy, văn hóa làng nghề truyền thống biến đổi cũng là hệ quả tất yếu của sự biến đổi về phương thức sản xuất, công cụ sản xuất sản phẩm Việc biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trong xã hội hiện nay không phải do ý thức chủ quan của con người Vì vậy, cần phát huy vai trò tác động tích cực của đời sống tinh thần xã hội trên cơ sở cải tạo triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống, xác lập và phát triển một phương thức sản xuất mới tại các làng nghề truyền thống Hà Nội

Tiếp theo, chúng tôi sử dụng lý thuyết văn hóa học của A.A.Radughin

về văn hóa của sản xuất vật chất để áp dụng cho việc nghiên cứu đề tài Chúng tôi sử dụng lý thuyết của A.A.Radughin vì trong đó có những phân tích khá rõ rằng: văn hóa sản xuất vật chất trước hết là những phương tiện đa dạng của sản xuất vật chất (là những công cụ lao động); Là mức độ hoàn thiện, hợp lý, văn minh của nó, nói cách khác là “văn hóa công nghệ” Không những thế, văn hóa sản xuất vật chất còn chứa đựng các giá trị vật chất của quá khứ như các di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, các đối tượng khảo cổ, các di tích thiên nhiên… [8, tr.110-111] Tham chiếu vào văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội, lý thuyết của A.A.Radughin đã khái quát được những vấn đề cần nghiên cứu, đó là những phương tiện, công cụ, máy móc được sử dụng trong quá trình chế tạo sản phẩm; Là hoạt động mua bán và trao đổi sản

Trang 8

phẩm; Là cảnh quan làng cổ; Là hệ thống đình, đền, chùa đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp thành phố của các làng nghề truyền thống Hà Nội Văn hoá sản xuất vật chất biểu hiện qua nghề, văn hoá nghề và cả văn hoá làng nghề Bên cạnh việc sử dụng lý thuyết văn hóa học về nghiên cứu văn hóa sản xuất vật chất, chúng tôi sử dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa để làm tiền

đề và công cụ triển khai đề tài Biến đổi văn hóa ngày nay được coi là vấn đề mang tính toàn cầu, việc biến đổi diễn ra ở nhiều chiều và nhiều cấp độ khác nhau, như biến đổi niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng, biến đổi cấu trúc xã hội, trong đó, hiện tượng toàn cầu hóa, hiện đại hóa là những nhân tố tác động và ảnh hưởng lớn đến quá trình biến đổi văn hóa ở tất cả các quốc gia, các cộng đồng xã hội, đặc biệt là trong xã hội nông nghiệp Việt Nam hiện nay Làng nghề truyền thống Hà Nội là một trong những cộng đồng xã hội tiếp nhận nhiều biến đổi, những biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội, len lỏi, thẩm thấu vào từng làng nghề

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu sự biến đổi về văn hóa làng nghề truyền thống đem lại hiệu quả cao, việc áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa là việc làm không thể bỏ qua Bên cạnh đó, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp điền

dã, tham dự của nhân học văn hóa

- Phương pháp liên/ đa ngành

Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là một sự thu thập, tổng hợp kết quả nghiên cứu của rất nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành như nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, sử học… Cho nên, các thao tác nghiên cứu của luận án được thực hiện thông qua sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên Sử dụng phương pháp liên/đa ngành vào đề tài luận án, giúp chúng tôi khai thác và xử lý hiệu quả các nguồn tư liệu khác nhau trong vấn đề nghiên cứu

Trang 9

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các tài liệu thứ cấp Phương pháp tổng hợp sẽ giúp nghiên cứu sinh đọc nhiều nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá, phân loại các loại tài liệu dùng trong quá trình nghiên cứu đề tài Sử dụng phương pháp phân tích,

để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống trên, từ đó đưa ra được chính xác những nhận định đúng đắn, sát thực với tình hình cụ thể để làm rõ biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống

- Phương pháp điều tra xã hội học

Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để tiếp cận những vấn đề đa dạng và phức tạp, đây là một trong những phương pháp chủ yếu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu trực tiếp tại thực địa, thông qua các loại phiếu điều tra, quan sát, phỏng vấn (phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu), ghi chép, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh để qua đó nghiên cứu các hiện tượng xã hội đặc biệt và nghiên cứu tính năng động trong sự hình thành và biến đổi của các hiện tượng văn hóa ở các làng nghề truyền thống

- Điều tra theo bảng hỏi và phỏng vấn sâu: Nghiên cứu đề tài này,

chúng tôi đã xây dựng và sử dụng từ 130-200 bảng hỏi Ạnket và 05 vấn đề chính để thực hiện các buổi phỏng vấn sâu những người thợ, các cán bộ, nhân viên UBND xã am hiểu về lĩnh vực trên nghề để có kết quả và thông tin mang tính khoa học, khách quan

- Phương pháp điền dã nhân học/dân tộc học: Nghiên cứu đề tài này,

chúng tôi đã xâm vào thực tiễn văn hoá của hai làng Triều Khúc và Thiết Úng, vừa kết hợp giữa quan sát không tham dự và quan sát tham dự để nhận biết những biến đổi văn hoá của hai làng

Trang 10

5.3 Phương pháp chuyên gia

Trên cơ sở nội dung của luận án, chúng tôi lựa chọn các chuyên gia, những người am hiểu về làng nghề, chuẩn bị những vấn đề có nội dung rõ ràng, cụ thể để trao đổi với chuyên gia Với cách làm này, chúng tôi đã thu thập và bổ sung được nhiều ý tưởng, thông tin mới

5.4 Các thao tác nghiên cứu

- Tham dự: Trên cơ sở những chuyến đi điền dã, nghiên cứu sinh sẽ

trực tiếp tham dự vào cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản xuất, lễ hội… của các làng nghề truyền thống, từ đó thu thập được những thông tin cơ bản, khách quan, sinh động về đề tài nghiên cứu

- Ghi chép, nhật ký: Trong quá trình điền dã, tham dự và quan sát, chúng

tôi ghi chép các ý kiến của người dân làng nghề, ghi chép những phát hiện về

sự biến đổi văn hoá làng nghề truyền thống trên các lĩnh vực của chúng

- Ghi hình, chụp ảnh, ghi âm: Kết hợp trong quá trình điền dã, tham dự

là hoạt động ghi hình, chụp ảnh, ghi âm Đây là việc làm hết sức cần thiết để ghi lại một cách khách quan nhất, trung thực nhất về cảnh quan, di tích, nhà ở, quy mô, quy trình sản xuất, quan hệ bạn hàng, phường thợ, quan hệ gia đình của người dân tại các làng nghề để làm tư liệu nghiên cứu cho đề tài luận án

- So sánh - đối chiếu: Sử dụng phương thức này, chúng tôi tìm ra sự

giống và khác nhau giữa các hiện tượng văn hóa, nhằm xác định chính xác những tác động, ảnh hưởng đến sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống

Trang 11

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Đề tài chỉ ra xu hướng biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống, giúp các nhà quản lý hoạch định tham khảo để từ đó nghiên cứu, xây dựng những chính sách văn hóa hợp lý cho sự phát triển văn hóa làng nghề Hà Nội

Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham chiếu cho các làng nghề dệt và làng nghề mộc của Hà Nội

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2 Khái lược về làng nghề, văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội và hai làng Triều Khúc, Thiết Úng

Chương 3 Khảo sát biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Triều Khúc và Thiết Úng

Chương 4 Bàn luận về biến đổi và giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa làng nghề truyền thống

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ xưa đến nay Hà Nội đã được mệnh danh là vùng “đất trăm nghề”, các sản phẩm thủ công qua bàn tay người thợ tài hoa đã làm nên một nét riêng biệt, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Điều đó mang lại sự hấp dẫn, cuốn hút cho các nhà nghiên cứu trong nước và dành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, các công trình, sách, bài viết của các tác giả về nghề, làng nghề rất phong phú, đa dạng Riêng các bài viết về văn hóa làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong thời gian từ khi đổi mới đến nay đã được các tác giả dành một vị trí nhất định để có những phân tích mang tính cụ thể hơn cùng với sự đổi thay và phát triển của xã hội

Sách, công trình nghiên cứu viết về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề, biến đổi văn hóa làng nghề Hà Nội có hơn 100 tài liệu Mặc dầu con số trên còn khiêm tốn nhưng cũng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu những vấn đề trên, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới hiện nay Nghiên cứu

về các tài liệu, công trình khoa học trên, chúng tôi đã kế thừa và tiếp thu những kiến thức quý giá mà các học giả đã dày công tìm hiểu Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu của các tác giả trong và ngoài nước, căn cứ những nội dung

đã được trình bày trong tư liệu, chúng tôi chia làm 3 nhóm tài liệu đã được các tác giả viết có liên quan đến đề tài luận án:

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả về nghề, làng nghề và văn hóa làng nghề Hà Nội

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời nhà Trần, vào năm 1230, kinh đô

Thăng Long được mở rộng thêm, khu vực người dân ở được chia thành 61 phường Một số làng ven đô đã hình thành các làng thủ công, trong đó có làng gốm Bát Tràng Đến năm 1274, có khá nhiều thương nhân nước ngoài Trung

Trang 13

Quốc đến buôn bán và được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán Chính sách trên của nhà Trần đã tạo cơ hội cho các nghề thủ công có điều kiện thuận lợi để trao đổi và bán hàng hóa [43]

Thời Lê sơ, cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết, dân cư ở 36 phường

làm ăn, buôn bán nhộn nhịp, đặc biệt là những phường thủ công Trong 36 phường đó, thợ thủ công và nhà buôn chia nhau ở các phường tùy theo tính chất nghề nghiệp cụ thể Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi đã viết về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sản vật, các nghề thủ công, trong đó có nghề dệt lụa ở Hà Đông, nghề dệt vải lụa phượng ở Thụy Chương, nghề làm giấy dó ở Yên Thái, nghề làm võng lọng, áo giáp, gấm triều ở phường Tàng Kiếm (Hàng Trống)

Tuyển tập tư liệu phương Tây là một cuốn sách đã được dịch giả

Nguyễn Thừa Hỷ tổng hợp và biên soạn với những tài liệu vô cùng quý giá, mang tính khoa học và khách quan Mặc dù những tư liệu được tổng hợp trong tuyển tập này là những chi tiết sống, vụn vặt, nhưng đây là nguồn tư liệu có thể tham khảo cho nhiều nhà nghiên cứu sau này [34] Với nghiên cứu sinh, khi nghiên cứu về làng nghề thủ công truyền thống cũng đã kế thừa và tham khảo được một số bài viết trong cuốn sách, đó là:

Bài thuyết trình Hà Nội thời người Bồ Đào Nha và Hà Lan của Henri

Bernard trình bày tại Hội địa dư ngày 17/12/1938, sau đó được chỉnh lý và in

trong chương XII cuốn sách Pour le comprehension de l’Indochine et de l’Occident (Để tìm hiểu Đông Dương và phương Tây) đã viết về khu phố buôn bán ở Hà Nội vào những ngày chợ phiên vô cùng náo nhiệt với Những thương nhân và thợ thủ công đủ mọi loại đến từ các vùng nông thôn phụ cận

đi tới các phố phường [34, tr.79]

Paul Bourde - phóng viên tờ “Le tempt” đã viết về chợ phố Hà Nội năm

1884 trong chương XII với tựa đề Les industries indigene (Các ngành kỹ nghệ bản xứ) trong cuốn sách De Paris au Tonkin (Từ Paris đến Bắc Kỳ) Với cái

nhìn khá toàn diện, Paul Bourde đã viết khá kỹ về các chợ phiên tại Hà Nội.,

về những người thợ thủ công ở các vùng lân cận đã mang các sản phẩm mỹ

Trang 14

nghệ thủ công vào các phố chuyên bán từng mặt hàng, như phố Hàng Đồng chuyên bán cuốc xẻng, đồ đồng; phố Hàng Tơ (Hàng Đào) chuyên bán đồ tơ lụa Tác giả đã đánh giá nghệ thuật chạm khắc của người dân Bắc Kỳ vào loại tài nghệ độc đáo qua các tác phẩm chạm khắc ở chùa Khổ Hình (Hà Nội) [34]

Là bạn của Paul Bourde, Paul Bonnetain - với tư cách là phóng viên báo “Le Figaro” có thời gian ở Hà Nội lâu hơn Paul Bourde, shi về Pháp, ông

đã tập hợp các bài ông đã viết về Hà Nội, về Bắc Kỳ và tổng hợp lại trong

cuốn Au Tonkin (Ở Bắc Kỳ) Trong chương XI, XII của tập 2, Paul Bonnetain

có viết về thành Hà Nội, về khu phố buôn bán, về nghệ thuật của người An Nam ở Hà Nội Tác giả đã mô tả sự kiên nhẫn, tỷ mỷ của những người thợ thủ công với sự kiên trì, miệt mài và khéo léo để làm ra nhiều sản phẩm đẹp đẽ

mà không cần đo vẽ Nhưng ông cũng cho rằng, các sản phẩm thủ công được lưu truyền từ đời cha đến đời con này phải có sự thay đổi, không nên cứ dập khuôn mãi theo mẫu mã đã có sẵn từ trước được Theo ông, có như vậy mới khuyến khích được tính sáng tạo của người thợ [34]

Paul Dumer - toàn quyền Đông Dương, một người nổi tiếng về sự thông minh, năng động Trong nhiệm kỳ làm việc (1897-1902), đối với Hà Nội, Paul Doumer đã huy động được rất nhiều nguồn vốn đầu tư, kiện toàn cơ

sở hạ tầng kỹ thuật để xây dựng Hà Nội thành một thành phố Âu hóa, đáng kể

là mạng lưới xe lửa và cây cầu Doumer (cầu Long Biên) Sau khi hết nhiệm

kỳ làm việc, Paul Dumer về Pháp, năm 1905 ông đã viết và được Nhà xuất

bản Vuibert & Nony ấn hành ở Paris cuốn L’Indochine Francaise - souvenirs

(Xứ đông Pháp - Những kỷ niệm) [34]

Trong cuốn sách có nhiều trích đoạn Paul Doumer viết về các phố nghề

Hà Nội, về mỹ nghệ thủ công Nhiều đoạn viết trong cuốn sách được ông miêu tả khá kỹ về những người thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ thêu, thợ chạm khắc… Bắc Kỳ khéo léo, cần cù, chăm chỉ, có nghệ thuật thẩm mỹ cao Paul Doumer cho rằng những sản phẩm thêu của người thợ Bắc Kỳ tốt và cẩn thận hơn những sản phẩm thêu của người Nhật Bản và Trung Quốc Đặc biệt, Paul Doumer còn có sự so sánh khá chi tiết về những sản phẩm đồ gỗ mỹ

Trang 15

nghệ của người An Nam, trong đó ông nhận định rằng những người thợ khảm

xà cừ An Nam, nhiều người thợ giỏi hầu hết là ở Hà Nội và Nam Định

Sách Introduction générale à l’étude de la technologie du peupele Annamite Essai sur la vie matériele, les arts et les industries du du peupele Annamite (Nhập môn nghiên cứu kỹ thuật của người An Nam Tiểu luận về

đời sống vật chất, mỹ nghệ kỹ nghệ của dân tộc An Nam) (1909) của Henri Oger Mặc

dù được điều từ Pháp sang Việt Nam để làm việc cho chính quyền Pháp, nhưng Henri Oger đã say mê và có những nghiên cứu khá sâu về nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam, về nghề thủ công truyền thống của nhân dân Hà Nội lúc bấy giờ Henri Oger đã cùng với một số thợ chạm khắc gỗ của Việt Nam đi khắp 36 phố phường Hà Nội, ra cả những vùng ngoại thành để phác họa hình ảnh đời sống của người dân Hà Thành Trong tác phẩm, Henri Oger đã phản ánh rất rõ nét và sinh động mọi mặt của đời sống văn hóa người dân Hà Nội hơn 100 năm trước [34]

Paulin Vial - Thống sứ, Phó Tổng trú sứ thời kỳ Paul Bert Khi Paul Bert chết, Paulin Vial làm Quyền Tổng trú sứ từ tháng 11/1886 đến tháng

01/1887 đã viết bài Hà Nội những năm 1886-1887, năm 1889 đã in trong cuốn hồi ký Nos premières annés au Tonkin (Những năm đầu tiên của chúng

ta ở Bắc Kỳ) Với cái nhìn của nhà cầm quyền phương Tây, Paulin Vial đã có những quan sát và kiến thức khá sâu sắc khi ông nghĩ đến một kế hoạch:

Sửa sang lại đường phố Hà Nội cho thẳng hàng, trong sạch, thoáng khí

và sáng sủa mà không phá hủy đi những di tích thú vị nhất của quá khứ, không dồn ra xa đám dân chúng làm nghề thủ công và buôn bán, đã làm nên

sự giàu có của thành phố” [34, tr.558]

Có thể thấy Paulin Vial rất am hiểu các ngành nghề, phố nghề ở Hà Nội Ông đã viết trong hồi ký của mình về sự khéo léo, kiên trì và một nghệ thuật không thể bắt chước được của những người thợ thủ công ở các làng nghề khảm, nghề thêu, nghề đúc đồng, nghề mộc, nghề rèn Ông đã thốt lên rằng:

Thật không thể tưởng tượng được rằng người ta lại có thể làm được nhiều đồ vật xinh đẹp đến như thế mà lại bằng những phương tiện hết sức thô sơ…” [34, tr.561]

Trang 16

Sách Les paysant du delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) của Piere Gourou (1936) Ngoài việc phân loại các làng ở châu thổ Bắc

Kỳ theo địa hình, tác giả đã nghiên cứu tổng quát về các ngành nghề truyền thống của người dân châu thổ Bắc Kỳ và một số nghề mới được du nhập từ phương Tây sang Sau này, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã sử dụng cuốn sách của Piere Gourou làm nguồn tài liệu tham khảo không thể thiếu được

cho nhiều bài viết, công trình khoa học [22]

Sách Những nghề thủ công truyền thống gia đình ở tỉnh Hà Đông của

Hoàng Trọng Phu không đi sâu vào từng nghề, mỗi nghề chỉ giới thiệu rất khái quát, ngắn gọn, nhưng đã hệ thống được các nghề thủ công của tỉnh Hà Đông Đặc biệt, riêng về nghề thủ công ở làng Triều Khúc, Hoàng Trọng Phu

đã giới thiệu 15 nghề chính của làng, trong đó có nói đến nghề dệt thao đã được dân làng không ngừng giữ gìn, sáng tạo và trao truyền cho các thế hệ con cháu Đây là cuốn sách được nhiều nhà nghiên cứu về thủ công Việt Nam sau này tìm đọc và coi như một nguồn tài liệu quý giá [73]

Sách Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam của Phan Gia

Bền dày gần 200 trang đã nêu lên hai loại hình chính trong thủ công nghiệp Việt Nam là phường hội, làng nghề và nghề phụ của người nông dân Phan Gia Bền đã đưa ra một số khái niệm về nghề thủ công và thợ thủ công Cùng với hai cuốn sách của Hoàng Trọng Phu và Piere Gourou, cuốn sách trên của Phan Gia Bền thực sự là nguồn tư liệu quý giá giúp cho việc nghiên cứu về nghề thủ công ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng [3]

Đầu những năm 1990, thời kỳ địa giới hành chính Hà Nội được mở rộng thêm, một số huyện Ba Vì, Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Thạch Thất, thị xã Sơn Tây, Mê Linh sát nhập vào Hà Nội

Ngay sau đó, năm 1991 Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội đã nghiên cứu

và xuất bản công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội Đây

là công trình được các nhà khoa học nghiên cứu khá kỹ không chỉ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, mà các tác giả còn dành hẳn một chương để viết

về các nghề thủ công và mỹ nghệ dân gian, một chương viết về kiến trúc và điêu khắc của Hà Nội [91]

Trang 17

Cùng với công trình Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Hà Nội

được Sở Văn hóa Thông tin xuất bản, năm 1994 Hội Văn nghệ dân gian Hà

Nội xuất bản cuốn Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội Cuốn sách là tập

hợp các nghiên cứu của các tác giả viết cho các đề tài khoa học cấp thành phố, trong đó các bài viết về phố nghề, làng nghề và các nghề thủ công mỹ nghệ được các nhà nghiên cứu phân tích và đánh giá khá cao về giá trị và đóng góp của chúng trong tiến trình lịch sử phát triển của Hà Nội

Sách Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại

Doãn đã viết về sự phát triển của các nghề thủ công ở Việt Nam Đặc biệt là

từ thời kỳ Lý Công Uẩn dời đô về thành Thăng Long, kinh thành dần được

mở rộng ra ngoài hoàng thành, nhiều phường hội thủ công được thành lập, nhiều thợ thủ công từ nơi khác về Thăng Long làm ăn, sinh sống [14]

Sách Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945 của Vũ Huy Phúc [65], luận án Phó tiến sĩ khoa học của Lưu Thị Tuyết Vân, Tiểu thủ công nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng (1954-1994) đã xuyên suốt cả một chặng

đường lịch sử của làng nghề thủ công từ năm 1858 khi Pháp nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng đến những năm cuối của thế kỷ XX [75]

Cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề và cuốn Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội của GS.Trần Quốc Vượng và

PGS.TS Đỗ Thị Hảo đã giới thiệu một cách khái quát, nhưng cũng tương đối đầy đủ về nghề thủ công Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Tác giả đã chỉ ra rằng, ban đầu nghề thủ công ở các làng quê chỉ là nghề phụ, người dân thường làm trong những lúc nông nhàn, để phục vụ cho nhu cầu của mỗi gia đình trong làng, còn nghề trồng trọt, chăn nuôi vẫn là chính Tuy nhiên, do xã hội phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng gia tăng, sản phẩm thủ công do những người thợ làm ra đã được mang đi trao đổi với người dân ở khắp các vùng miền gần xa trong cả nước, dần dần đã tạo các làng nghề thủ công chuyên nghiệp như: Làng đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội), làng Khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Nội)… [131]

Trang 18

Đặc biệt, cuốn sách nói đến những thăng trầm, thay đổi của các nghề thủ công trong các giai đoạn lịch sử của đất nước Không chỉ nói đến các chính sách ở thời kỳ phong kiến nghề thủ công có lúc thịnh, lúc suy; cuốn sách còn nêu lên thời gian đất nước bị thực dân Pháp đô hộ trong gần một thế

kỷ, là thời gian nghề thủ công của Việt Nam bị kìm hãm và hạn chế Mặc dù chính phủ Bảo hộ đã có những chính sách khuyến khích các làng nghề phát triển, nhưng do nước Pháp bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đã khiến nghề thủ công Việt Nam bị suy thoái, các nghề mây tre đan, nghề mộc, nghề dệt… rất khó có thị trường để tiêu thụ và đi đến chỗ khó khăn, ngừng trệ Tuy nhiên, người Việt Nam với sự thông minh, sáng tạo,

họ đã chuyển đổi từ mặt hàng này sang mặt hàng khác để thích ứng với sự biển đổi của các giai đoạn lịch sử

Qua cuốn sách Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Dương Bá Phượng đã nêu lên những nguyên nhân tạo

ra sự thay đổi của các làng nghề thủ công, về tiềm năng phát triển, cũng như một

số phương hướng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề Việt Nam [80]

Bên cạnh đó, các tác giả như Bùi Văn Vượng với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [126], cùng hàng chục công trình nghiên cứu về làng

nghề của nhà nghiên cứu Lâm Bá Nam từ những năm 1986 đến nay đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quy trình sản xuất các sản phẩm thủ công, vai trò của làng nghề truyền thống Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân bản địa và tác động của quá trình đổi mới đối với các làng nghề [60], [61],[62]

Sách Hà Nội như tôi hiểu của G.S Trần Quốc Vượng được xuất bản

năm 2000 là những nghiên cứu công phu của tác giả về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội, về nghề thủ công và các làng nghề, phố nghề Hà Nội [130]

Để chuẩn bị sự kiện cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong

“Tủ sách Thăng Long 1000 năm” có nhiều sách, công trình khoa học nghiên cứu về làng nghề và những biến đổi của văn hóa làng nghề, trong đó phải kể

Trang 19

đến các công trình: Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển do Vũ Quốc Tuấn chủ biên [84], hai công trình nằm trong Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09 là công trình Bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long do Nguyễn Chí Bền chủ biên [4] và công trình Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long Hà Nội do Võ Quang Trọng chủ biên [109]

Trong đó, công trình Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long Hà Nội có nói đến lễ hội phường nghề thủ công như một nét

đặc trưng của văn hóa Kẻ chợ Việc thờ thành hoàng làng, tổ nghề vẫn được dân làng nghề tổ chức chu đáo hàng năm, hoặc 3 năm một lần tùy theo hương ước, quy định của làng Công trình cũng đã nghiên cứu về làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội và cho rằng, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, một số làng nghề trong nội đô đã và đang mai một đi rất nhiều, như nghề dệt lĩnh Trích Sài, làng giấy Yên Hòa, thậm chí có nghề còn mất hẳn đi, nhưng

có một số làng nghề ở vùng ven đô vẫn duy trì, gìn giữ và phát triển được nghề như làng dệt Triều Khúc, làng đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Úng

Bài viết của Huy Anh đăng trên Báo điện tử VGP News Hà Nội - không để mai một nghề truyền thống đã khẳng định tầm quan trọng của làng

nghề thủ công truyền thống ở Hà Nội hiện nay Tác giả nhấn mạnh: bên cạnh việc đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; làng nghề còn là nơi bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống quý giá từ lâu đời mà bao thế hệ cha ông đã dày công tạo dựng Tác giả

đã nêu lên một số chính sách của nhà nước trong thời gian vừa qua đã giúp các làng nghề Hà Nội phát triển một cách bền vững hơn

Đặc biệt, với Tổng tập Nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam do

PGS.TS Trương Minh Hằng chủ biên bao gồm 6 tập đã tổng hợp rất nhiều bài viết, công trình, sách của các tác giả về nghề và các làng nghề truyền thống [26] Mỗi tập được các nhà nghiên cứu phân chia khá chi tiết

Về nghề mộc, tập 3 trong tổng tập đã nêu, mặc dù xuất hiện sớm, nhưng vào khoảng thế kỷ XIV, XV các làng nghề mộc ở châu thổ sông Hồng

Trang 20

mới dần được hình thành và nằm rải rác ở nhiều nơi Trên khắp mọi vùng miền của đất nước đều có các làng nghề mộc, như xứ Đoài có làng mộc Chàng Sơn, làng mộc Sơn Đồng, Dư Dụ (nay thuộc các huyện Thạch Thất, Hoài Đức, thành phố Hà Nội); xứ Bắc có làng mộc Phù Khê, Đồng Kỵ (nay thuộc Bắc Ninh), Thiết Úng (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội); xứ Nam

có làng mộc La Xuyên (Nam Định), làng mộc Cao Đà (Hà Nam), xứ Đông có làng mộc Cúc Bồ (Hải Dương), làng mộc Hà Cầu (Hải Phòng) … Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nhận định rằng, do lịch sử nghề mộc không được các nhà ghi chép lịch sử biên chép cẩn thận, nên cho đến nay các công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề mộc chưa nhiều và chưa thực sự đầy đủ

Về nghề dệt, tập 5 trong tổng tập cho thấy, nghề dệt được xuất hiện từ thời Hùng Vương, điều đó được chứng minh qua một số công cụ dệt được làm từ chất liệu gốm (di chỉ gò Cây Táo, Thanh Trì, Hà Nội) đã giúp các nhà nghiên cứu xác định chính xác đây là thời kỳ mà người Việt cổ đã biết dệt và dùng sản phẩm dệt để làm thành trang phục cho mình Các tác giả đã khẳng định, cùng với nghề đúc đồng, đan lát, chế tác vàng bạc…, nghề dệt là một trong những nghề thủ công quan trọng của nước ta

1.1.2 Nghiên cứu về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa làng, biến đổi văn hóa làng nghề thời kỳ đổi mới

Sách Tổng quan về các làng nghề Hà Nội của G.S Trần Quốc Vượng

đã viết về sự ra đời các làng nghề từ rất xa xưa, với nghề đầu tiên là nghề đá, sau là nghề gốm và lần lượt là các nghề mây tre đan, nghề mộc… Mặc dù là tổng quan, nhưng cuốn sách đã được GS.Trần Quốc Vượng đề cập đến những thay đổi về cảnh quan, quy trình chế tác sản phẩm, mẫu mã, thị trường cho sản phẩm Đây là một trong những công trình nghiên cứu sớm nhất về sự biến đổi của nghề thủ công ở Hà Nội từ khi đổi mới (năm 1986) [127]

Bài viết của Trương Duy Bích đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số

6, 2005, Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: sự đa dạng và sự chậm biến đổi

đã nêu lên con số thống kê chưa đầy đủ về số lượng làng nghề hiện có trên cả nước Bên cạnh sự phong phú về các ngành nghề, tác giả cũng nêu lên sự

Trang 21

chậm biến đổi của các nghề thủ công mỹ nghệ như chậm biến đổi về tư duy

và quy mô sản xuất, phương thức hành nghề và truyền dạy nghề, chậm biến đổi của phương tiện và kỹ thuật sản xuất, mẫu mã sản phẩm

Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra những biến đổi của nghề thủ công trong thời

kỳ thay đổi của nền kinh tế thị trường như: ô nhiễm môi trường do rác thải, bụi, tiếng ồn, nước thải ở một số làng nghề Vân Hà, Triều Khúc, Phú Đô, Bát Tràng ; hay nạn mua tranh bán tranh, sản phẩm làm ẩu, làm giả, làm nhái ngày càng xuất hiện nhiều ở một số làng nghề Đồng Sâm, Huê Cầu… Sự biến đổi đó từ bao đời nay được ghi trong các hương ước, văn bia của làng, của xã nay đã bị xóa nhòa, đảo lộn [5]

Sách “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) của

Nguyễn Thị Phương Châm đã nghiên cứu rất sâu và đưa ra những lập luận mang về các lý thuyết, khái niệm biến đổi văn hóa Đây là một đề tài công phu với nhiều lý thuyết về biến đổi văn hóa của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã được tác giả Nguyễn Thị Phương Châm dày công tìm hiểu [9]

Sách Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận đã chỉ ra rằng: để phục hồi và

duy trì sự phát triển của các làng nghề thì vấn đề quan trọng Nhà nước cần quan tâm là kinh phí Bên cạnh đó cần có chính sách hỗ trợ, phát triển thị trường, thiết kế sản phẩm, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cần ưu tiên phát triển các ngành nghề truyền thống tại địa phương [15]

Đề tài khoa học cấp bộ do Lê Hồng Lý chủ biên cùng các nhà nghiên

cứu Trương Minh Hằng, Trương Duy Bích, Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng - tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị đã chỉ rõ thời kỳ

phong kiến, thủ công nghiệp Việt Nam là nền sản xuất nhỏ, trải qua các cuộc chiến tranh, nhiều thời kỳ bị gián đoạn, nghề thủ công chưa có những thay đổi hay ảnh hưởng lớn nào về tư duy và phương thức hành nghề Việc thay đổi tư duy và hình thức sản xuất của thợ thủ công làng nghề theo các tác giả nghiên cứu được bắt đầu từ sự thay đổi của nền kinh tế Sự thay đổi đó đã đặt ra

Trang 22

nhiều vấn đề trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, môi trường sinh thái, nếp nghĩ, nếp sống, sản xuất sản phẩm của thợ thủ công làng nghề

Nguyễn Đình Phan với bài Phát triển môi trường kinh doanh cho các làng nghề in trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam đã nêu lên vai trò của môi trường kinh doanh đối với

sự phát triển của các làng nghề, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Theo tác giả, môi trường kinh doanh cho các làng nghề là môi trường kinh tế, chính trị, khoa học, môi trường văn hóa - xã hội, môi trường tự nhiên - sinh thái

Không chỉ dừng lại ở những phân tích trên, Nguyễn Đình Phan còn đưa

ra bốn giải pháp phát triển môi trường kinh doanh, đó là: hình thành và phát triển đồng bộ thị trường; hoàn thiện hệ thống luật, chính sách để tạo lập, phát triển môi trường thể chế cho phát triển làng nghề; hình thành, phát triển các tổ chức đại diện và tổ chức tư vấn, dịch vụ để hỗ trợ, giúp đỡ các cơ sở sản xuất

- kinh doanh ở các làng nghề và giải pháp thứ tư là bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển các làng nghề [71]

Đề cập đến những biến đổi văn hóa ở một số làng xã trên địa bàn Hà

Nội hiện nay, có sách Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (2007) của Ngô Văn Giá [21], Sự biến đổi của làng xã hiện nay ở đồng bằng sông Hồng (2000), bài viết của

Nguyễn Thanh Hương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 7,

Những biến đổi ở làng nghề Sơn Đồng, Hoài Đức [36] đều đã có những

nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống cũng như giá trị văn hóa của các làng nghề trải qua rất nhiều thế kỷ được các thế hệ vun đắp

Sách Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi (2009) của Bùi Xuân Đính đã tìm ra nguyên nhân của sự biến đổi và

những giá trị truyền thống của các làng nghề trong huyện vẫn còn được bảo lưu

và gìn giữ [18]

Kỷ yếu hội thảo Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây - Thực trạng và giải pháp được UBND tỉnh Hà Tây in, phục vụ cho hội thảo ngày 02/11/2006

Trang 23

tại Hà Đông là nguồn tài liệu mang tính thực tiễn cao Trong các bài viết của mình, các tác giả đã khái quát được lịch sử hình thành, quá trình phát triển của mỗi làng nghề thủ công trong tỉnh, vai trò, vị trí của làng nghề đối với đời sống

xã hội Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng nêu lên thực trạng sản xuất của các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sự đầu tư thích đáng cho khoa học công nghệ để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Rất nhiều

ý kiến đã nêu lên tình trạng báo động về sự ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, để đưa ra những giải pháp mang tính khả thi, các bài viết cũng chưa nêu được các giải pháp cụ thể, mới chỉ nêu các giải pháp chung chung như đầu tư kinh phí, xây dựng đề án, quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề [88]

Sách Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển

do Vũ Quốc Tuấn chủ biên đã tổng hợp và nêu lên một số khái niệm, cũng như phân loại các làng nghề thủ công theo một số tiêu chí được căn cứ từ những yếu tố cơ bản về làng nghề Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định 6 đặc trưng tiêu biểu của làng nghề truyền thống [111]

Sách Du lịch Thăng Long - Hà Nội do Trương Sỹ Vinh chủ biên đã đưa

ra một trong số những giải pháp để phát triển du lịch Hà Nội là phải quan tâm đến bảo tồn và phát triển làng nghề, đưa loại hình du lịch làng nghề đến gần hơn với du khách, để du khách được tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm Theo tác giả, giải pháp tiếp theo đối với phát triển du lịch văn hóa làng nghề

là cần phải chú ý cải thiện môi trường của các làng nghề [124]

Công trình Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 do Phùng Hữu Phú

chủ biên, là công trình nằm trong chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09 Nội dung cuốn sách đã đưa ra định hướng phát triển cho nghề thủ công như sau:

Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề cần hỗ trợ phát triển trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại Điều đó cho thấy việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại là việc làm cần thiết

Trang 24

cho sự phát triển các làng nghề, và như vậy, việc phát triển đó tất yếu

sẽ dẫn đến sự biến đổi về văn hóa ở các làng nghề thủ công Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng [64, tr.207]

Sách Kinh tế - xã hội đô thị Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII, XIX của Nguyễn Thừa Hỷ xuất bản năm 2010 đã tham khảo và khai thác rất

nhiều từ các ghi chép của các quan chức, giáo sĩ, phóng viên, thương gia nước ngoài thời kỳ làm việc và buôn bán tại Hà Nội Tác giả đã nhấn mạnh rằng, điểm mạnh của kinh tế hàng hóa Thăng Long - Hà Nội chính là chất lượng sản phẩm hàng thủ công do những người thợ có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao làm ra, hấp dẫn không chỉ người Việt Nam, mà còn cả khách nước ngoài Song tác giả cũng đề cập đến mặt hạn chế của các ngành nghề thủ công truyền thống khiến cho nhiều sản phẩm chưa vươn rộng được ra nhiều nước trên thế giới, đó là quy mô sản xuất vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ [34]

Tiếp đó là cuốn sách Thủ công nghiệp, công nghiệp từ Thăng Long đến

Hà Nội của Nguyễn Lang được xuất bản cùng năm 2010 [43] Nội dung cuốn

sách viết về quá trình phát triển của các nghề thủ công truyền thống Hà Nội, sau đó phát triển thành các xí nghiệp công nghiệp với sự ra đời các hiệp hội doanh nghiệp, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Nhưng mấu chốt của vấn đề đã được tác giả chỉ rõ: cần phải đưa sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các làng nghề lên trình độ cao hơn, cần phải thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu mã để vừa mang tính hiện đại nhưng vẫn phải giữ được yếu tố truyền thống

Luận án tiến sĩ của Vũ Diệu Trung (tháng 5/2013), “Sự biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay (qua khảo sát trường hợp một số làng: Sơn Đồng, Bát Tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình)” Trong luận án, Vũ Diệu Trung đã khái quát bối cảnh chung về chính

trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong các làng nghề từ năm 1986 đến nay Cùng với bối cảnh đó là sự biến đổi các thành tố trong văn hóa làng nghề ở Sơn Đồng, Bát Tràng và Đồng Sâm (bao gồm biến đổi về: không gian, cảnh quan

di tích, hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thức truyền nghề,

Trang 25

giữ nghề, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội) Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới Đây là một công trình mới nhất, có giá trị để chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu về văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện nay (qua khảo sát trường hợp làng Triều Khúc và Thiết Úng [110]

Kỷ yếu hội thảo Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề, phố nghề truyền thống Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng năm 2013

do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức vào tháng 10/2013 gồm nhiều bài viết của các nhà quản lý các ngành, các cấp, các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, các nghệ nhân trực tiếp cho ra đời các sản phẩm thủ công Các bài viết cũng chỉ ra nguyên nhân làm cho du lịch làng nghề chưa phát triển, chưa tương xứng so với tiềm năng vốn có của mỗi làng nghề, nhưng chưa nêu lên được những biến đổi của văn hoá làng nghề Hà Nội [89]

Hai đề án Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội giai đoạn từ

2010 đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 27/01/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Phát triển sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của làng nghề Hà Nội giai đoạn 2013-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 7430/QĐ-UBND ngày 09/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội) đã tổng hợp: hiện nay thành phố Hà Nội có 1.350 nghề và

làng nghề, chiếm gần 59% tổng số làng Đề án đã nhận định, trong điều kiện hiện nay, các làng nghề đã có xu hướng chuyển động tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng “công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp” ngay trên địa bàn nông thôn

Bên cạnh nghiên cứu của các học giả trong nước, còn có một số nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này: Luận án tiến sỹ của Iwai

Misaki tại Đại học Hitotsubashi:“Sự biến đổi của làng xã ở vùng châu thổ sông Hồng Việt Nam trước và sau đổi mới, lấy trung tâm là hợp tác xã nông nghiệp làng Trang Liệt, tỉnh Bắc Ninh” [59] Trước đó, vào năm 1994, Iwai Misaki

đã sống một thời gian tương đối dài tại làng Trang Liệt Ba năm sau đó, Iwai

Trang 26

Misaki đã quay trở lại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và làng Trang Liệt nhiều lần, khảo sát thực trạng sự thay đổi trong đời sống của người dân trong quá trình làm thêm nghề phụ khi việc phân chia ruộng đất đang được tiến hành tại các làng xã

Trong luận án, Iwai Misaki đi sâu vào phân tích đặc điểm của làng xã châu thổ sông Hồng Đặc biệt, tác giả đã đi sâu vào khảo sát thực tế để đưa ra những đánh giá khoa học, có căn cứ, có tính thuyết phục cao về sự biến đổi văn hóa của người dân đồng bằng sông Hồng qua nghiên cứu trường hợp Hợp tác xã nông nghiệp làng Trang Liệt

Sách Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ do Papin

Philippe và Oliver Tessier chủ biên viết về xã hội nông thôn truyền thống của người dân đồng bằng sông Hồng thông qua cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế, thiết chế xã hội tại mỗi làng xã Biểu hiện cụ thể của các làng xã được Papin Philippe và Oliver Tessier nghiên cứu là mối quan hệ chặt chẽ giữa các gia đình, dòng họ, phe giáp, phường hội, phường nghề, phong tục tập quán, đình chùa, miếu mạo [72]

1.1.3 Những công trình, bài viết về 2 làng nghề dệt Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) và đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh), Hà Nội

Công trình Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà Nội đã nghiên cứu về thực trạng trong việc bảo tồn và phát huy

làng cổ, làng nghề, phố cổ tiêu biểu Trong đó công trình cũng đề cập đến thực tế hiện nay, nhiều làng nghề thủ công trước đây không còn nữa, người thợ thủ công phải chuyển sang các nghề khác để mưu sinh Công trình đã chỉ

ra nguyên nhân chuyển đổi nghề trên, một phần là do cách nghĩ vẫn còn bảo thủ của người thợ, phần khác bởi nguyên nhân một thời của cơ chế bao cấp làm cho người thợ không nhạy bén khi thị trường mở cửa, xóa bỏ tình trạng quan liêu bao cấp Bên cạnh đó, công trình cũng nêu lên vấn đề ô nhiễm môi trường đáng báo động ở nhiều làng nghề thủ công Hà Nội hiện nay

Trang 27

Tác giả đã lấy dẫn chứng việc biến đổi của làng Triều Khúc và Thiết Úng cả về mặt tích cực lẫn hạn chế như: nhà cao tầng ngày càng nhiều, đường làng, ngõ xóm rộng rãi, khang trang, sạch sẽ Song môi trường ô nhiễm ở Triều Khúc cũng vào bậc nhất Đó là ô nhiễm tiếng ồn của những khung cửi,

ô nhiễm nguồn nước trong quá trình rửa lông gà, lông vịt, nhiều người dân mắc các bệnh về tai, bệnh ngoài da Còn ở Thiết Úng, tác giả cũng chỉ ra rằng, với đặc thù là nghề chạm khắc gỗ, do vậy với tính chất của ngành nghề, việc quy hoạch khu sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của làng nghề Việc sản xuất tại các hộ làm nghề ngay tại gia đình đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân trong vùng Đáng kể đến là tỷ lệ mắc bệnh hô hấp của trẻ mới sinh cho đến 4 tuổi chiếm đến 90-95% dân số trong làng, trong xã [4]

1.1.3.1 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Triều Khúc

Trên Báo tiểu thủ công nghiệp ngày 8/1/1976 có bài viết Nghề dệt quai thao ở Triều Khúc của Trần Quỳnh Theo tác giả, nghề dệt của người Triều

Khúc được phát triển từ thế kỷ XVII với rất nhiều sản phẩm dành cho phụ nữ như áo the, quạt yếm, bao thắt lưng, độn tóc đuôi gà… Đến thế kỷ XVIII, ông

Vũ Đức Uý được triều đình cử làm phó sứ sang Trung Quốc học nghề dệt thao về dạy cho dân làng Chính vì điều này mà Triều Khúc còn được gọi là làng Đơ Thao vì chuyên dệt quai thao cho những chiếc nón làm duyên được các chị em ưa dùng Xã hội thay đổi, văn hoá phương Tây du nhập vào nước

ta, nón quai thao không còn được sử dụng rộng rãi, người dân làng Triều Khúc chuyển sang làm chổi lông gà, lông vịt rồi nghề độn tóc giả Thế nhưng nghề dệt quai thao truyền thống xưa kia của cha ông vẫn luôn là niềm

tự hào của các thế hệ con cháu Triều Khúc ngày nay [85]

Bài viết “Làng Triều Khúc - Truyền thống và biến đổi” của Ngô Đức Thịnh in trong tập sách “Tình hình hiện nay (nhân loại học về quá trình biến động) của vùng Đông Nam Á” đã nêu lên những giá trị truyền thống bất biến

trong văn hóa của người Triều Khúc được bảo lưu, gìn giữ qua nhiều thế hệ, qua nhiều biến động của lịch sử Tác giả cũng có những nghiên cứu mới về biến đổi của làng Triều Khúc từ sau thời kỳ đổi mới năm 1986 và cho rằng đó

là xu hướng chung của sự phát triển [103]

Trang 28

Sách Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam của Lâm Bá

Nam in trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam đã có những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử nghề dệt của đồng bằng Bắc Bộ Trong đó, về làng Triều Khúc, tác giả đã nghiên cứu và nhận định rằng: Làng thủ công Triều Khúc nổi tiếng về sự đa nghề (cho đến những năm

1930 của thế kỷ này ở đây có tới trên 30 nghề thủ công khác nhau), trong đó nghề dệt đóng vai trò quan trọng, nổi tiếng nhất với sản phẩm quai thao” [26, tr.729]

Bài viết Năng động làng nghề Triều Khúc của tác giả Anh Thư đăng

trên báo Hà Nội mới, thứ năm ngày 28/7/2005 đã viết về sự năng động, sáng tạo trong suy nghĩ và cách làm của người dân Triều Khúc, từ đó có hướng phát triển mới cho làng nghề, tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng, khắt khe của thị trường [106]

Bài viết của Nhật Linh Dệt Triều Khúc - Thăng trầm những bước đi

đăng trên Tạp chí truyền hình Hà Nội số 89, ngày 16/6/2012 đã viết khái quát

về lịch sử ra đời của nghề dệt ở Triều Khúc, sản phẩm ban đầu là dệt the, dệt thao, đến ngày nay người thợ Triều Khúc đã làm ra hàng trăm mẫu mã sản phẩm thủ công, nhất là các sản phẩm đáp ứng và phục vụ cho lực lượng vũ trang [51]

Tác giả Phạm Nga với bài viết Ô nhiễm môi trường ở làng nghề Triều Khúc đăng trên báo điện tử Pháp luật và Xã hội ngày 11/01/2012 Phạm Nga

đã viết về Triều Khúc nổi tiếng là làng nghề thủ công: thêu, dệt the, dệt khăn mặt, tơ lụa, nhuộm áo… Ngoài ra, Triều Khúc xưa nay còn được biết đến bởi nghề thu gom phế liệu, thu mua lông gà, lông vịt làm thành nhiều thứ hữu ích,

để phục vụ con người.

Theo thống kê của Phạm Nga: làng Triều Khúc có khoảng 600 hộ dân làm nghề dệt thổ cẩm, chổi lông gà… trong đó trên 50% nghề thu gom phế liệu, tái chế nhựa, chủ yếu vẫn sản xuất tại nhà và chưa có bất kỳ hệ thống xử

lý rác thải nào Được sự quan tâm của nhà nước, Triều Khúc đã được đầu tư

dự án cụm công nghiệp Tân Triều để vừa phát triển làng nghề, vừa bảo vệ

Trang 29

môi trường, nhưng dự án còn nhiều bất cập, các tiêu chí trong việc tham gia vào cụm công nghiệp chưa rõ ràng, vì vậy vấn đề môi trường ở Triều Khúc vẫn chưa được giải quyết [63]

Bài viết của Nghĩa Lê Hợp tác xã dệt công nghiệp Triều Khúc (Hà Nội)

- gìn giữ tinh hoa truyền thống đăng trên báo điện tử Thời báo Kinh doanh

ngày 17/5/2012 đã viết về sự ra đời vào năm 1960 của Hợp tác xã công nghiệp dệt Triều Khúc Cho đến nay, sau hơn 50 năm hoạt động, Hợp tác xã Triều khúc vẫn duy trì và ngày càng phát triển Ngoài mặt hàng truyền thống

là vải, Hợp tác xã còn sản xuất các sản phẩm đặc thù: túi đựng tiền cho ngành ngân hàng, băng phù hiệu cấp hiệu, băng giải huân huy chương, dây chiến thắng, dây mũ kêpi phục vụ cho công an, quân đội [49]

1.1.3.2 Những bài viết về biến đổi văn hóa làng nghề Thiết Úng

Bài viết Làng chạm gỗ Thiết Ứng của Chu Quang Trứ và Đỗ Thiên Du

in trong Tổng tập nghề và làng nghề đã khái quát về lịch sử làng nghề, các

sản phẩm của làng nghề được thị trường ưa chuộng gồm sập gụ, tủ chè, giá gương, cây đèn và đồ chơi mỹ nghệ là 80 mẫu tượng khác nhau Bên cạnh đó, tác giả cũng như nêu lên sự đổi thay về ngành nghề của người dân Thiết Úng trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa của thời kỳ đầu những năm 1990 Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam ngày 21/2/2006 với bài viết

Nghệ nhân làng nghề Vân Hà và những điều trăn trở viết về tâm tư của nghệ

nhân chạm gỗ mỹ nghệ Thiết Úng trong việc Nhà nước chưa có chế độ đãi ngộ hoặc trợ cấp hàng tháng cho nghệ nhân cao tuổi, dù chỉ là “đãi ngộ” để

“ghi công” động viên các nghệ nhân khi đã “tuổi già sức yếu” để tài năng của

họ được phát huy hơn nữa và nhất là truyền nghề cho con cháu đi sau tiếp nối

Bài viết Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng trên trang web:

www.lang nghe.org.vn giới thiệu về quy trình, yêu cầu kỹ thuật của người thợ Thiết Úng để làm ra một sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ hoàn thiện Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu về các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đã có từ hàng trăm năm trước (đình chùa Thiết Úng, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Đồng) đều mang đậm dấu ấn và bàn tay khéo léo của những nghệ nhân tài hoa làng Thiết Úng

Trang 30

Bài viết “Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh” đăng trong sách Làng nghề Hà Nội, tiềm năng và triển vọng phát triển do UBND thành phố Hà Nội và Sở Công thương Hà Nội xuất bản tháng

12/2009 viết về sự biến đổi trong sinh hoạt văn hóa của người thợ thủ công Thiết Úng Ngoài ra, bài viết đã nêu lên sức lan tỏa và ảnh hưởng của làng nghề chạm khắc gỗ Thiết Úng sang các làng bên cạnh và nêu lên doanh thu từ nghề gỗ chỉ tính riêng năm 2008 chiếm đến 70% doanh thu toàn xã [115, tr.124]

Bài viết Hướng đi mới cho làng nghề Vân Hà của Hồng Quý đăng trên

báo điện tử Kinh tế nông thôn ngày 23/2/2009 đã viết về vai trò của làng chạm gỗ Thiết Úng qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, nay đã được nhân dân các làng khác trong vùng làm theo và mở rộng ra toàn xã [84]

Bài viết của Việt Nga Hướng phát triển mới của làng nghề Thiết Úng

đăng trên Baomoi.com ngày 22/7/2011 viết về sự năng động, sáng tạo của người thợ Thiết Úng trong điều kiện đổi mới của đất nước hiện nay Bằng việc nắm bắt nhu cầu sử dụng đồ gỗ mỹ nghệ của người tiêu dùng, thợ làng Thiết Úng đã áp dụng kỹ thuật công nghệ mới kết hợp với kỹ thuật chạm khắc truyền thống vào sản xuất đã làm cho sản phẩm được đẹp hơn, tinh xảo hơn [64] Gần đây nhất, vào tháng 12/2012, Ban chấp hành Đảng bộ xã Vân Hà

đã in và phát hành cuốn Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân

Hà (1930-2010) Cuốn sách có 4 phần, trong đó phần thứ nhất viết về Vân Hà - vùng đất, con người và truyền thống lịch sử - văn hiến Ở phần thứ nhất này,

làng nghề chạm khắc Thiết Úng đã được các nhà viết sử xã Vân Hà viết khá chi tiết về lịch sử ra đời, quá trình hình thành, phát triển, mở rộng của làng nghề Điểm lại những công trình nghiên cứu, sách, bài viết nêu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

- Đa số các công trình, sách, bài viết đều đánh giá được tầm quan trọng của làng nghề, văn hoá làng nghề trong đời sống xã hội và cho rằng, những biến đổi đó có ảnh hưởng nhất định đến đời sống kinh tế, văn hoá trong cộng đồng, rằng những biến đổi đó là điều tất yếu trong quá trình phát triển (tuy khái niệm văn hoá làng nghề và văn hoá làng nghề truyền thống vẫn chưua được nhắc đến)

Trang 31

- Những công trình nghiên cứu đã nói lên việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống, đó là: biến đổi về mẫu mã, loại hình, chất lượng sản phẩm; Biến đổi về cảnh quan môi trường, phong tục tập quán,

lễ hội; Biến đổi về hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác, phương thức đào tạo nghề, truyền nghề và giữ bí quyết nghề; trong đó biến đổi được nhận diện rất rõ là biến đổi về các mối quan hệ xã hội

- Mỗi công trình đều có những nghiên cứu riêng về mỗi nội dung biến đổi: một số công trình đi sâu vào vấn đề về việc cần thiết phải thực hiện việc

đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng vẫn giữ được yếu tố truyền thống; Một số công trình khác lại đi sâu vào việc nghiên cứu về tầm quan trọng của môi trường kinh doanh đối với sự phát triển và biến đổi của văn hoá làng nghề truyền thống

- Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào và hệ thống nào về biến đổi văn hoá làng nghề thống Hà Nội nói chung và làng Triều Khúc, Thiết Úng nói riêng (ngay cả khái niệm văn hoá làng nghề truyền thống cũng chưa được nhắc tới như đã nói ở trên), để từ đó có được một cái nhìn toàn cảnh hơn, sâu sắc hơn Bởi vì chính những biến đổi đó đã góp phần làm nên một diện mạo mới của các làng nghề truyền thống Hà Nội ngày nay, trong đó có làng Triều Khúc và Thiết Úng Trên cơ sở đó có những giải pháp, đề xuất phù hợp với tình hình thực tế, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội thời kỳ đổi mới Những vấn đề nêu trên sẽ được chúng tôi làm rõ ở các chương tiếp theo trong Luận án

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm văn hoá

Trong khoa học xã hội và nhân văn nói chung và văn hoá học nói riêng

đã có nhiều cách định nghĩa khái niệm văn hóa Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, rằng văn hóa là phương thức tồn tại (tức hoạt động sáng tạo để mưu sinh, nối dài cuộc

Trang 32

sống) chỉ có ở loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của các quần thể động vật trên trái đất Văn hóa là cái do các thế hệ người sáng tạo ra và trao truyền cho nhau bằng bắt chước, học tập mà có, chứ không phải là đặc tính bẩm sinh di truyền theo con đường sinh học

Khái niệm văn hóa có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “colere”, sau đó chuyển thành từ “culture” có nghĩa là cày cấy, vun trồng Ban đầu, từ “culture” mang ý nghĩa là vun trồng đất đai, cây cối trong nông nghiệp, sau đó chuyển sang là nghĩa vun trồng tinh thần tinh thần, trí tuệ, vì việc vun trồng trí tuệ là cái thiêng liêng, có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người Đến thời Trung

cổ, văn hóa được hiểu là tín ngưỡng Tín ngưỡng cũng là một điều thiêng liêng,

là biểu hiện sự phát triển cao nhất của tinh thần con người

Cho đến nay, có hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hoá, tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy định nghĩa về văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phù hợp với vấn đề nghiên cứu của luận án Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan niệm về văn hóa như sau:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đồi hỏi của sự sinh tồn” [tr.431]

Định nghĩa trên về văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mang tính thống kê, vừa mang tính khái quát cao Định nghĩa của Người đã chỉ ra được nguồn gốc bản chất và đặc trưng của văn hoá Trong đó những sáng tạo và phát minh thuộc lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất được Người coi là một yếu tố quan trọng của văn hoá Văn hoá sản xuất cũng là đối tượng của văn hoá học đúng như nhà nghiên cứu A.A.Radughin trong

cuốn Văn hóa học - Những bài giảng đã có những phân tích như sau:

Trang 33

Bản thân sản xuất vật chất cũng có thể xác định bằng những thuật ngữ của văn hóa học, tức là có thể nói tới văn hóa của sản xuất vật chất, nói tới mức độ hoàn thiện của nó, nói tới mức độ hợp lý

và văn minh của nó, nói tới tính thẩm mỹ và tính sinh thái của những hình thức và phương thức thực hiện sản xuất vật chất, nói tới tính đạo đức và tính công bằng của mối quan hệ phân phối hình thành nên trong sản xuất vật chất Chính là theo ý nghĩa đó

mà người ta nói tới văn hóa của công nghệ sản xuất, nói tới văn hóa của công tác quản lý và tổ chức sản xuất, nói tới văn hóa của những điều kiện sản xuất, nói tới văn hóa của việc trao đổi và phân phối v.v… [7, tr.111]

Quan điểm của A.A.Radughin đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề còn đang bàn luận Theo chúng tôi, quan điểm trên của A.A.Radughin đã bàn rất phù hợp với quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá: văn hoá không chỉ là những hoạt động tinh thần như quan niệm thời Trung cổ mà bao gồm cả lĩnh vực sản xuất vật chất,

tổ chức sản xuất, điều kiện sản xuất Do vậy, nghiên cứu sinh sẽ tiếp cận quan điểm trên và lấy đố làm cơ sở lý luận nghiên cứu vấn đề của luận án

Văn hoá làng nghề có thể được hiểu là văn hoá sản xuất của một cộng đồng (một làng) bị chi phối bởi đặc trưng nghề nghiệp của cư dân cộng đồng

đó, hay nói cách khác, khái niệm văn hoá làng nghề được tổ hợp với văn hoá nghề và văn hoá cộng đồng làng Vấn đề này NCS sẽ trình bày ở nội dung tiếp sau của luận án

1.2.1.2 Khái niệm nghề - Văn hóa nghề

Trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, có một số nhà nghiên cứu đã

quan tâm đi sâu và đưa ra khái niệm nghề Theo từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội” Nhà nghiên

cứu Nguyễn Hùng lại đưa ra khái niệm nghề như là những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau, được xếp thành một nhóm chuyên môn Tác giả Tạ Đức Khánh thì đưa ra khái niệm nghề mang tính cụ thể hơn:

Trang 34

Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng, nghề là một lĩnh vực lao động,

mà trong đó nhờ được đào tạo, con người tích lũy được kinh nghiệm, tri thức,

kỹ năng, trình độ để tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm tinh thần, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Nói đến “nghề” là nói đến hoạt động sáng tạo, đến tri thức, kỹ năng, đến phương thức tổ chức sản xuất của cá nhân và cộng đồng thuộc phạm trù văn hoá

Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh xin được đưa ra khái niệm văn hóa nghề như sau:

Văn hóa nghề là những kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, trình độ con người tích lũy được trong quá trình làm ra các sản phẩm vật chất hoặc tinh thần A.A.Radughin gọi đó là “văn hoá của công nghệ sản xuất”)

Việc phân loại nghề khá đa dạng và phức tạp, nhưng cơ bản nghề được phân loại theo hai lĩnh vực khái quát nhất, đó là phân theo lĩnh vực quản lý và phân theo lĩnh vực sản xuất Ở phạm vi đề tài của luận án, chúng tôi xin đi vào lĩnh vực sản xuất, trong đó, nhóm nghề mà chúng tôi đưa ra là nghề thủ công truyền thống Nghề mà ở đó nhiều khâu sản xuất, nhiều công đoạn được làm bằng tay, dùng sức người là chính

1.2.1.3 Khái niệm làng nghề - Văn hóa làng nghề

G.S Trần Quốc Vượng trong cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng Long -

Hà Nội và Phan Đại Doãn trong sách Làng Việt Nam một số vấn đề kinh tế xã hội đã gặp nhau ở một số điểm chung khi đưa ra quan niệm về làng nghề, đó

là: làng nghề là làng có nghề thủ công, nhưng vẫn làm nghề nông, vừa sản xuất, vừa buôn bán sản phẩm do gia đình hoặc phường hội sản xuất Nghĩa là cùng lúc người dân làng nghề vừa đóng vai trò người thợ, vừa đóng vai trò người buôn bán, trao đổi sản phẩm

Trang 35

Tác giả Lê Thị Minh Lý trong bài viết Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa số 4/2003, được

đăng trên trang web dsvh.gov.vn lại cho rằng: khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể, như: Làng nghề là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ; Ổn định về một nghề hay một số nghề

có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm;

Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau; Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ [50]

Một số tác giả khác cũng đưa ra một số khái niệm về làng nghề, tuy có khác nhau đôi chút về câu từ, nhưng nhìn chung, các khái niệm vẫn bao hàm các thành tố cấu thành làng nghề như: Làng nghề là nơi hội tụ những người thợ thủ công, bao gồm cả những người thợ cả với quy trình và bí quyết làm nghề và truyền nghề; là một cộng đồng có sự liên kết với nhau về địa lý, quan hệ cùng huyết thống, quan hệ sản xuất, kinh tế; là nơi sản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ mang đặc trưng văn hóa địa phương; là nơi có phong tục tập quán, nếp sống, lễ hội và tục thờ tổ nghề; là làng nghề không phải là làng thuần nông, chuyên sống bằng sản xuất nông nghiệp Các tác giả đưa ra quan niệm làng nghề theo cách mô tả dân tộc học như những dẫn chứng trên là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, sau khi tham khảo tài liệu từ các nhà nghiên cứu trước, với thực tế khảo sát tại một số địa

phương, chúng tôi xin đưa ra quan niệm về làng nghề như sau: “Làng nghề là làng làm một hoặc một số nghề thủ công như một sinh kế hay một phần sinh kế”

Từ khái niệm làng nghề được chúng tôi đưa ra trên đây, căn cứ vào những nghiên cứu của các nhà khoa học, qua thời gian tham khảo các nguồn tài liệu của các học giả đi trước, chúng tôi xin nêu quan niệm về văn hóa làng nghề như sau:

Trang 36

Văn hóa làng nghề là một dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung

bị chi phối bởi với việc sản xuất, sinh sống bằng một nghề hay một

số nghề thủ công nghiệp (không tính đến nghề nông) của cư dân cộng đồng làng Nói cách khác, văn hoá làng nghề gồm hai tính chất cơ bản là văn hoá nghề (văn hoá sản xuất vật chất) và văn hoá cộng đồng (văn hoá làng) tạo nên

Tính đặc thù của văn hóa làng nghề là đặc trưng của việc làm nghề, sinh sống bằng nghề ghi đậm dấu ấn trong văn hóa của làng nghề Các làng thuần nông thì không có sản phẩm riêng biệt để tạo nên tính văn hóa đặc thù

1.2.1.4 Khái niệm Làng nghề truyền thống - Văn hóa làng nghề truyền thống

Sách Làng nghề Việt Nam và môi trường do Đặng Kim Chi (chủ biên)

và Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh (viết) nhấn mạnh: Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề - cha truyền, con nối hoặc gia đình, dòng tộc” [10] Theo Trần Minh Yến, khái niệm làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng nghề đã được trích dẫn trên,

đó là:

Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất

và tiêu thị sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc” [26, tr.983-984]

Vũ Quốc Tuấn đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống với một số nội dung tương đối sát với khái niệm của Trương Minh Yến:

Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền, mà ở đó có các hộ nghề, tộc nghề chuyên sản xuất, chế tác, sinh sống bằng một nghề hoặc

Trang 37

nhiều nghề, có khi chỉ bằng một công đoạn của nghề Đấy là nơi có những thế hệ nghệ nhân, thợ thủ công tài năng của địa phương, đã

và đang tạo ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo, đậm nét bản sắc văn hóa, có giá trị kinh tế, tư tưởng và thẩm mỹ cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước” [111, tr.13] Mặc dù mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm riêng khác nhau, nhưng tinh thần chung trong các khái niệm về làng nghề truyền thống vẫn toát lên ở các nội dung sau, đó là: làng nghề truyền thống là làng có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, có các nghệ nhân và những người thợ giỏi chế tác ra các sản phẩm độc đáo, tinh xảo, mang đặc trưng văn hóa cộng đồng, có cùng tổ nghề, có bí quyết làm nghề, giữ nghề và truyền nghề, các thành viên trong làng phải tuân theo luật lệ làng nghề

Về văn hóa làng nghề truyền thống cũng có một số tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra khái niệm văn hóa làng nghề truyền thống, nghĩa là: văn hóa làng nghề truyền thống là văn hóa của những làng có nghề truyền thống

bị quy định bởi nghề đó và được truyền lại cho đến hôm nay

Sau khi tham khảo các công trình, sách, các khái niệm, định nghĩa về nghề, làng nghề, làng nghề truyền thống, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về văn hóa làng nghề truyền thống như sau:

Văn hóa làng nghề truyền thống là một kiểu văn hóa làng nghề được quy định bởi việc sản xuất, buôn bán và sinh sống bằng một hay một số nghề thủ công truyền thống của làng

Với quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, văn hóa làng nghề truyền thống bao gồm các yếu tố sản xuất, buôn bán, sinh sống bao gồm cả văn hóa vật chất và tinh thần của người dân làng nghề, bằng chính nghề truyền thống của làng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các yếu tố trên là đặc trưng cơ bản làm nên văn hóa của mỗi làng nghề truyền thống Và như vậy,

có thể khái quát đặc trưng của văn hóa làng nghề truyền thống theo 2 nội dung chính: làng làm nghề thủ công truyền thống và văn hóa của làng đó được bảo tồn trong lịch sử

Trang 38

1.2.1.5 Cơ cấu văn hoá làng nghề

Cũng như văn hóa làng, văn hóa làng nghề gồm 3 thành tố sau tạo nên

cơ cấu văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội như sau:

Văn hóa vật chất (lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm vật

chất): bao gồm không gian tồn tại nghề, không gian giao lưu hàng hóa của làng nghề; chọn mua nguyên liệu, bán sản phẩm, công cụ sản xuất, cảnh quan,

hệ thống các di tích lịch sử thờ tổ nghề, nhà ở của người dân làng nghề, cơ sở sản xuất, sản phẩm làng nghề

Văn hóa tổ chức cộng đồng (lĩnh vực tổ chức xã hội): bao gồm các

thiết chế, thể chế tổ chức làng do làng nghề quy định, bao gồm các quy định giữa người làm nghề với nhau; là mối quan hệ giữa bạn hàng, thầy trò, giữa các thành viên trong gia đình, giữa các phường hội, thợ thủ công

Văn hóa tinh thần (lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm tinh

thần): bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, phương thức truyền nghề và giữ bí quyết nghề; là hương ước, luật tục; là những quy ước, quy định của nghề; là lễ cúng tổ nghề, lễ hội làng nghề, ca dao, truyền thuyết, giai thoại

về nghề và làng nghề

Xét từ các yếu tố cấu thành văn hóa làng nghề trên, chúng tôi cho rằng cơ cấu của văn hóa làng nghề truyền thống cũng gồm 3 thành tố tạo nên, đó là: văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng và văn hóa tinh thần mang đặc trưng nghề truyền thống của làng, có một chiều sâu nhất định trong lịch sử, thiếu đặc trưng nghề truyền thống chưa có bản sắc riêng biệt Trên cơ sở xác định cơ cấu

và đặc trưng văn hoá làng nghề trên, chúng tôi sẽ sử dụng vào việc phân tích kỹ những biến đổi văn hoá của hai làng nghề Triều Khúc và Thiết Úng

1.2.3 Lý thuyết về biến đổi văn hóa

Biến đổi văn hóa (cultural change) là chủ đề nghiên cứu rộng của nhiều ngành khoa học: văn hoá học, xã hội học, nhân học Theo từ điển nhân học, biến đổi văn hoá là quá trình vận động của tất cả các xã hội Có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về biến đổi văn hoá và đều có điểm chung giống nhau khi cho rằng không có nền văn hoá nào đứng yên một chỗ, cũng như không

Trang 39

có một nền văn hoá nào không có sự thay đổi gì so với thời kỳ khai nguyên của nó Có thể điểm qua các quan điểm về sự biến đổi văn hoá: Ngay từ thế

kỷ XIX, các nhà khoa học khởi xướng thuyết tiến hóa luận là E.Taylor và L Morgan đã cho rằng:

Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại [138, tr.53] Thuyết tiến hóa luận về sự phát triển và biến đổi văn hóa trên đã không nhận được sự công nhận của các nhà nghiên cứu khác trên thế giới Ngay sau

đó, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã đưa ra nhiều lý thuyết khác nhau về biến đổi văn hóa

Cuối thế kỷ XIX, thuyết truyền bá luận ra đời và phát triển phổ biến ở các

nước Âu - Mỹ Tác giả Ph.Ratxen, người Đức trong cuốn Địa lý học nhân loại, Nhập môn dân tộc học đã có những kết luận về sự truyền bá các nền văn hóa

trong không gian, về sự hình thành và nguồn gốc của chúng Ph.Ratxen nhìn nhận nguồn gốc cơ bản của những biến đổi trong các nền văn hóa là ở những tiếp xúc qua lại giữa chúng Các đại biểu của xu hướng truyền bá luận cho rằng: truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hóa là nội dung chủ yếu của quá trình lịch sử Như vậy, quan điểm nghiên cứu về biến đổi văn hóa của các nhà truyền bá luận đối lập với quan điểm của các nhà tiến hóa luận

Từ năm 1920 đến năm 1950, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng lớn ở nước Anh là thuyết chức năng, trong đó phải kể đến hai nhà nghiên cứu Radcliffe Brown và Malinowski Theo quan điểm của các nhà theo thuyết chức năng, nếu một nền văn hóa thay đổi thì sau đó nó sẽ phải chịu những tác động bên ngoài Đưa ra quan điểm này, các nhà chức năng luận không có ý định nghiên cứu sự thay đổi các mối quan hệ xã hội, mà ý định của họ chính là nghiên cứu mối quan hệ qua lại về chức năng của các hệ thống văn hóa, xã hội, chứ không phải nghiên cứu cách thức hệ thống này được thay đổi

Trang 40

Đến năm 1955, phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa khác trong nhân học Bắc Mỹ về sinh thái văn hóa đã được Julian Steward khởi xướng, năm

1960 phương pháp này đã có ảnh hưởng lớn ở cả khu vực và trên thế giới Julian Steward cho rằng, biến đổi có thể là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch

sử hay sự kiện tình cờ do tiếp xúc giữa các nền văn hóa với nhau Ông cũng đưa ra nhiều nghiên cứu để chứng minh rằng, biến đổi văn hóa có thể được giải thích chủ yếu xét về sự thích nghi tiến bộ của một nền văn hóa nào đó với môi trường của mình

Biến đổi văn hóa diễn ra theo nhiều chiều và nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, đã có sự tương đối thống nhất về định nghĩa trong các cuốn Từ điển Nhân học, Robert H.Winthdrop đã nêu rõ:

Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi [, tr.11]

Trong công trình Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

(2009), tác giả Nguyễn Thị Phương Châm đã chia cuốn sách thành 3 chương Trong đó, Nguyễn Thị Phương Châm dành hẳn chương 1 viết về: biến đổi văn hóa: Những tiền đề lý thuyết và thực tiễn Theo tác giả Nguyễn Thị Phương

Châm: “Dù còn rất nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về toàn cầu hóa và văn hóa, nhưng các nhà nghiên cứu có chung thống nhất cho rằng

sự biến đổi văn hóa là xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa, sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ và diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau [4, tr.17]

Trong Báo Nhân dân, ngày 15/9/1989 có bài viết Văn hóa là gì, Giaoahaclan Nêru cho rằng: “Không có một nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đối, cổ xưa, thuần khiết mà không chịu ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác”

Những nghiên cứu của các tác giả trên đều dễ dàng nhận thấy một điểm chung về biến đổi văn hóa Rằng biến đổi văn hóa là một hiện tượng

Ngày đăng: 15/04/2015, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa sử Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (tái bản theo nguyên bản năm 1938) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Nguyễn Duy Bắc (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa
Năm: 2008
3. Phan Gia Bền (1957), Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phan Gia Bền
Nhà XB: NXB Văn Sử Địa
Năm: 1957
4. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
5. Trương Duy Bích (2005), “Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: sự đa dạng và sự chậm biến đổi”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (6), tr.18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam: sự đa dạng và sự chậm biến đổi”", Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Trương Duy Bích
Năm: 2005
6. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
7. A.X. Caremin (2010), Văn hóa học, St Peterburg, Moscow, Krasnoda, Bản dịch của Hoàng Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: A.X. Caremin
Nhà XB: St Peterburg
Năm: 2010
8. A.A.Radughin (chủ biên) (2014), Văn hóa học Những bài giảng, Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Những bài giảng
Tác giả: A.A.Radughin (chủ biên)
Năm: 2014
9. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2009
10. Hoàng Văn Châu, Lã Thị Thu Hà và Phạm Thị Hồng Yến (2008), Làng nghề du lịch Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề du lịch Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Châu, Lã Thị Thu Hà và Phạm Thị Hồng Yến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
11. Đặng Kim Chi (chủ biên) (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
12. Cục Di sản văn hóa (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
14. Phan Đại Doãn (1992), Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1992
15. Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận (1997), Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống
Tác giả: Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Đảng ủy và UBND xã Tân Triều (2000), Tân Triều trên những chặng đường lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Triều trên những chặng đường lịch sử
Tác giả: Đảng ủy và UBND xã Tân Triều
Năm: 2000
17. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2001), Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Bùi Xuân Đính (chủ biên) (2009), Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi
Tác giả: Bùi Xuân Đính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009
19. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hóa và đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Lê Quý Đức (2003), Các giải pháp phát huy vai trò của văn hóa trong quá trình công nghiệp hóa vùng đồng bằng sông Hồng, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp phát huy vai trò của văn hóa trong quá trình công nghiệp hóa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Lê Quý Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
21. Ngô Văn Giá (Chủ biên), (2007), Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Ngô Văn Giá (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Lựa chọn kỹ thuật trong sản xuất của làng Thiết Úng - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.1. Lựa chọn kỹ thuật trong sản xuất của làng Thiết Úng (Trang 85)
Bảng 3.2. Đối tượng truyền nghề - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.2. Đối tượng truyền nghề (Trang 91)
Bảng 3.3. Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.3. Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề (Trang 92)
Bảng 3.5. Đánh giá về cảnh quan làng nghề - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.5. Đánh giá về cảnh quan làng nghề (Trang 98)
Bảng 3.6. Đánh giá các mối quan hệ gia đình, dòng họ - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.6. Đánh giá các mối quan hệ gia đình, dòng họ (Trang 104)
Bảng 3.8. Hình thức giao dịch trong quan hệ bán hàng - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.8. Hình thức giao dịch trong quan hệ bán hàng (Trang 108)
Bảng 3.9 Đánh giá việc duy trì tín ngưỡng lễ hội - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.9 Đánh giá việc duy trì tín ngưỡng lễ hội (Trang 116)
Bảng 3.10. Đánh giá vấn đề đạo đức trong quan hệ bạn hàng - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
Bảng 3.10. Đánh giá vấn đề đạo đức trong quan hệ bạn hàng (Trang 126)
BẢNG HỎI ANKET - Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở hà nội hiện nay” (qua trường hợp làng triều khúc và thiết úng)
BẢNG HỎI ANKET (Trang 178)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w