1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hoá của cư dân óc eo ở tây nam bộ (qua tư liệu khảo cổ học luận án tiến sỹ văn hóa học

191 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN 1.1. Văn hoá Óc Eo là một nền văn hoá khảo cổ, được giới khoa học biết đến từ những năm 80 của thế kỷ XIX. Tên gọi của nền văn hoá này do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào tháng 4 năm 1944 ở cánh đồng Óc Eo (Thoại Sơn An Giang). Cho đến nay hàng loạt di tích ở khắp các tỉnh TNB khác được khai quật. Các di tích khai quật đã làm lộ diện về sự tồn tại của một nền văn hoá khảo cổ, đều có chung đặc điểm, tính chất văn hoá với khu di tích Óc Eo (An Giang). Văn hoá Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau; nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất của một “vương quốc” lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương mà thư tịch cổ Trung Quốc gọi là “Phù Nam”. Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luôn được coi như một điểm giao hội của văn hoá Đông Tây, là “kho” hàng hoá lớn trên con đường thương mại quốc tế, giữa hai châu lục Âu Á. Cho đến nay hàng trăm di tích Óc Eo phân bố trên diện rộng và con số lớn hơn gấp nhiều lần các di tích phát hiện lẻ tẻ đã được phát hiện trước năm 1975. Thêm vào đó, số lượng lớn các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm và lưu giữ trong các bảo tàng trung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp.HCM, BTAG, BTKG, BTCT, BTĐT, BTLA... 1.2. Các nguồn tư liệu quan trọng trên, giúp cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau về nền văn hoá này. Đến nay, đã có khoảng hơn 400 bài viết, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điều tra liên quan tới nền văn hoá này. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nội dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tình trạng của các di tích, các loại hình di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề về nguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn hoá Óc Eo; các quan hệ giao lưu văn hoá và thương mại với bên ngoài... Một số khía cạnh về đời sống văn hoá xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử và so sánh với tài liệu khảo cổ học. Những thành quả này của các nhà khoa học về văn hoá Óc Eo rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu nói trên mới chủ yếu là dưới góc độ các nghiên cứu khảo cổ học. Việc tìm hiểu khối tư liệu khảo cổ học từ hướng tiếp cận văn hoá học còn rất hạn chế. Việc nghiên cứu phạm vi phân bố, nội dung và đặc điểm, niên đại và quá trình phát triển của các di tích, cội nguồn và truyền thống của văn hoá Óc Eo... trong mối liên hệ với cư dân chủ nhân của nền văn hoá này còn chưa đầy đủ. Những vấn đề lịch sử liên hệ văn hoá Óc Eo với các thể chế chính trị đương thời như nước Phù Nam, đến Chân Lạp... vẫn cần tiếp tục tìm tòi, lý giải, minh định. Trong đó, vấn đề mối quan hệ giữa con người với dấu tích văn hoá mà cư dân Óc Eo để lại; vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế đang là những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất cần được làm sáng tỏ. 1.3. Tác giả luận án là người sống ngay trong vùng đất sản sinh ra nền văn hoá nổi tiếng này và thường xuyên được tiếp xúc với các di tích khảo cổ Óc Eo. Đồng thời tác giả đã có một số kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về văn hoá và quản lý DSVH. Vì thế, tác giả mong muốn sẽ có những khám phá, cách tiếp cận mới về văn hoá Óc Eo ở TNB. Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: Đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở Tây Nam Bộ (Qua tư liệu khảo cổ học) để làm luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Văn hoá học của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1 Văn hoá Óc Eo là một nền văn hoá khảo cổ, được giới khoa học biết

đến từ những năm 80 của thế kỷ XIX Tên gọi của nền văn hoá này do nhà khảo

cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào tháng 4 năm

1944 ở cánh đồng Óc Eo (Thoại Sơn - An Giang) Cho đến nay hàng loạt di tích

ở khắp các tỉnh TNB khác được khai quật Các di tích khai quật đã làm lộ diện

về sự tồn tại của một nền văn hoá khảo cổ, đều có chung đặc điểm, tính chất vănhoá với khu di tích Óc Eo (An Giang)

Văn hoá Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài,trải qua nhiều thời kỳ khác nhau; nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất củamột “vương quốc” lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương màthư tịch cổ Trung Quốc gọi là “Phù Nam” Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luônđược coi như một điểm giao hội của văn hoá Đông - Tây, là “kho” hàng hoálớn trên con đường thương mại quốc tế, giữa hai châu lục Âu - Á Cho đến nayhàng trăm di tích Óc Eo phân bố trên diện rộng và con số lớn hơn gấp nhiều lầncác di tích phát hiện lẻ tẻ đã được phát hiện trước năm 1975 Thêm vào đó, sốlượng lớn các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm và lưu giữ trong các bảo tàngtrung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tạiTp.HCM, BTAG, BTKG, BTCT, BTĐT, BTLA

1.2 Các nguồn tư liệu quan trọng trên, giúp cho các nhà nghiên cứu tìm

hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau về nền văn hoá này Đến nay, đã có khoảng hơn

400 bài viết, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điềutra liên quan tới nền văn hoá này Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giảtrong và ngoài nước, nội dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tìnhtrạng của các di tích, các loại hình di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề vềnguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn hoá Óc Eo; các quan hệ giao lưuvăn hoá và thương mại với bên ngoài Một số khía cạnh về đời sống văn hoá

xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử và sosánh với tài liệu khảo cổ học

Trang 2

Những thành quả này của các nhà khoa học về văn hoá Óc Eo rất đángtrân trọng Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu nói trên mới chủ yếu là dướigóc độ các nghiên cứu khảo cổ học Việc tìm hiểu khối tư liệu khảo cổ học từhướng tiếp cận văn hoá học còn rất hạn chế Việc nghiên cứu phạm vi phân bố,nội dung và đặc điểm, niên đại và quá trình phát triển của các di tích, cội nguồn

và truyền thống của văn hoá Óc Eo trong mối liên hệ với cư dân - chủ nhâncủa nền văn hoá này còn chưa đầy đủ Những vấn đề lịch sử liên hệ văn hoá Óc

Eo với các thể chế chính trị đương thời như nước Phù Nam, đến Chân Lạp vẫn cần tiếp tục tìm tòi, lý giải, minh định Trong đó, vấn đề mối quan hệ giữacon người với dấu tích văn hoá mà cư dân Óc Eo để lại; vấn đề bảo tồn và pháthuy giá trị DSVH đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hộinhập quốc tế đang là những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất cầnđược làm sáng tỏ

1.3 Tác giả luận án là người sống ngay trong vùng đất sản sinh ra nền

văn hoá nổi tiếng này và thường xuyên được tiếp xúc với các di tích khảo cổ

Óc Eo Đồng thời tác giả đã có một số kinh nghiệm trong quá trình nghiêncứu các vấn đề về văn hoá và quản lý DSVH Vì thế, tác giả mong muốn sẽ cónhững khám phá, cách tiếp cận mới về văn hoá Óc Eo ở TNB

Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: Đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở Tây Nam Bộ (Qua tư liệu khảo cổ học) để làm luận án Tiến sĩ,

chuyên ngành Văn hoá học của mình

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu các mặt đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở miền TNBthông qua việc phân tích, diễn giải các nguồn tư liệu khảo cổ học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá các tư liệu và kết quả nghiên cứu văn hoá Óc Eo cả về mặtkhảo cổ lẫn các nghiên cứu của các học giả trong cũng như ngoài nước, nhằmcung cấp cho các nhà khoa học nguồn tư liệu cập nhật về văn hoá Óc Eo

Trang 3

- Trên cơ sở nguồn tư liệu đó, luận án hướng tới việc phân tích xác địnhcác di tích di vật là minh chứng của đời sống văn hoá xã hội Óc Eo Từ đó đưađến hiểu biết về những thành tựu cơ bản về kinh tế - văn hoá - xã hội của cư dân

Óc Eo trong khung cảnh chung của quá trình phát triển từ giai đoạn tiền sơ sửlên hình thức tổ chức nhà nước ở vùng miền TNB; tìm hiểu sự biến đổi của cưdân Óc Eo ở miền TNB trong quá trình giao lưu thương mại với các nền vănminh khác Từ đó tìm ra những nét đặc trưng của cư dân Óc Eo ở miền TNB

- Bằng phương pháp tiếp cận văn hoá học, công trình làm rõ những khíacạnh đời sống văn hoá xã hội của cư dân Óc Eo ở miền TNB góp phần nâng caonhận thức về đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở một giai đoạn lịch sử quantrọng của vùng đất này

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu khảo cổ học, bao gồm các

di tích trọng điểm, các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng, các bài báo cáo khảo

cổ học, các công trình nghiên cứu di tích, di vật dưới góc độ khảo cổ học…

- Bên cạnh đó, các tư liệu thành văn khác, thư tịch cổ và các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở miền TNB lànhững tài liệu bổ trợ, soi rọi thêm cho tư liệu khảo cổ học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Dấu vết của văn hoá Óc Eo được phát hiện trong phạm

vi rất rộng, bao trùm hầu hết các tỉnh Nam Bộ Trong luận án này, tác giả sẽ tậptrung nghiên cứu các khía cạnh đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở các tỉnhmiền TNB, bao gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, VĩnhLong, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, CàMau, Bạc Liêu, trong đó tập trung ở ba tỉnh có các di tích văn hoá Óc Eo tiêubiểu nhất là: An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang

- Về thời gian: Việc phân kỳ các giai đoạn của văn hoá Óc Eo còn chưađược giải quyết triệt để Tuy nhiên, với các tư liệu khảo cổ học, văn hoá học hiện

Trang 4

có, tác giả tập trung tìm hiểu về văn hoá Óc Eo chủ yếu vào giai đoạn từ khoảngthế kỷ II đến thế kỷ VII, là thời kỳ hình thành rõ nét và phát triển những đặctrưng cơ bản của nền văn hoá này.

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử trong nghiên cứu văn hoá quá khứ, nhằm nhìn nhận và đánhgiá khách quan, khoa học về DSVH

4.2 Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản đối với tư liệu

khảo cổ học và các nguồn tư liệu khác: Phương pháp thống kê; phân loại; phântích và tổng hợp; đối chiếu và so sánh

4.3 Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Văn

hoá học đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành như:Khảo cổ học, Bảo tàng học, Sử học, Xã hội học, Nhân học

5 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

5.1 Luận án tổng hợp, hệ thống hoá tư liệu khảo cổ học, kết quả nghiên

cứu văn hoá Óc Eo và các nguồn tư liệu khác, nhằm cung cấp một cách cập nhật

và có hệ thống nguồn tư liệu về văn hoá Óc Eo ở TNB; giúp cho việc nhận thứcnội dung văn hoá Óc Eo ở TNB được rõ ràng hơn, nhất là lĩnh vực đời sống vănhoá - xã hội

5.2 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu những dấu tích

khảo cổ học và các sưu tập di vật của cư dân Óc Eo được phát hiện ở miền TNB,luận án cung cấp những kiến giải về đời sống vật chất, tinh thần và làm rõ cácđặc điểm của nó nhằm có cái nhìn khách quan, toàn diện về bức tranh văn hoáthời sơ sử ở TNB, Việt Nam

5.3 Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các tư liệu ở các khu vực khác, luận

án xác định những đặc trưng văn hoá của cư dân Óc Eo ở TNB và sự biến đổi đờisống văn hoá của cư dân Óc Eo trong quá trình giao lưu với các cư dân láng giềng

5.4 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp và góp thêm tư liệu cho

việc tìm hiểu văn hoá Óc Eo ở TNB, lịch sử văn hoá miền TNB nói chung, phổ

Trang 5

biến kiến thức văn hoá - lịch sử Óc Eo cho nhân dân miền TNB, nhân dân cảnước và bạn bè quốc tế, góp phần cung cấp các kiến giải và luận cứ khoa họccho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ mở cửa, hộinhập quốc tế hiện nay.

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về miền Tây Nam Bộ và lịch sử nghiên cứu văn hoá Óc Eo

Chương 2: Đặc điểm đời sống văn hoá vật chất của cư dân Óc Eo ở miềnTây Nam Bộ

Chương 3: Đặc điểm đời sống văn hoá tinh thần

Chương 4: Giao lưu thương mại và sự tác động tới đời sống văn hoá xãhội của cư dân Óc Eo

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ

VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ ÓC EO

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Văn hoá Óc Eo là một nền văn hoá khảo cổ Tiếp cận văn hoá Óc Eo dướigóc độ văn hoá học, cần làm rõ một số khái niệm: Văn hoá, văn hoá khảo cổ, vănhoá Óc Eo, đời sống văn hoá Chúng tôi xin đề cập một cách khái lược về nhữngkhái niệm này để làm công cụ lý luận cho nội dung luận án

Văn hoá: Văn hoá là một thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét trên

nhiều khía cạnh khác nhau Không nên coi văn hoá như một hoạt động riêng biệt

mà phải coi đó là một hoạt động nhằm phát huy những năng lực mang bản chấtcon người, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Là hoạt động nhằm tạo ra nhữnggiá trị, những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ hai, cái nôi nuôi dưỡng sựhình thành nhân cách của con người Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau vềvăn hoá, nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự thống nhất và cũng chưa

có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng, mỗi định nghĩaphản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Để xác định khái niệm vănhoá không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độriêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu Trong đời sốnghàng ngày, từ văn hoá được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, vì thế nótrở nên đa nghĩa Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng mọi người đềuthừa nhận rằng văn hoá chỉ có con người mới có, là cái do con người học được,chứ không phải do bẩm sinh di truyền Văn hoá bao gồm ngôn ngữ, kiến thức,phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật… Tóm lại, văn hoá lànhững gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thểphân biệt được các dân tộc với nhau Thông qua mỗi một chu kỳ của sự pháttriển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại đượcgọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hoá

Trang 7

Quan niệm văn hoá của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico

Mayor nêu ra nhân dịp phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá”

(1988 - 1997): Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sốngđộng mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ratrong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó

đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống màdựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [3, tr.15].Với ý nghĩa đó văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người,

dù đó là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giaotiếp ứng xử xã hội Trong quá khứ hay hiện tại, văn hoá là những hệ thống có giátrị; là cái bản sắc của mỗi cộng đồng, dân tộc; là cái không thể lẫn vào đâu được.Văn hoá được truyền từ đời này qua đời khác

Hay một quan niệm về văn hoá của Hồ Chí Minh được nhiều nhà khoahọc nhắc đến trong những năm gần đây:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở vàcác phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức làvăn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng vớibiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhucầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [85, tr.431]

Vậy với khái niệm này, văn hoá là do con người sáng tạo ra, nhằm thíchứng với nhu cầu của cuộc sống Nó gắn liền với con người và môi trường; là sảnphẩm của con người và chỉ dành riêng cho con người, cộng đồng người, nó racùng con người, cùng song song tồn tại và phát triển với con người Văn hoá làtổng hoà tất cả các khía cạnh đời sống của con người Ngay cả những khía cạnhnhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hoá Con người vừa

là khách thể, vừa là chủ thể của sự phát triển, hay vừa là mục tiêu, vừa là phươngtiện, điều đó chứng tỏ, con người và môi trường văn hoá có mối quan hệ mậtthiết với nhau

Trang 8

Theo Phan Ngọc, khái niệm văn hoá dùng để chỉ trình độ phát triển về vậtchất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ lạc cụ thể; đôi khi theo nghĩa hẹp,văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người [88, tr.14-17].

Như vậy có thể thấy, văn hoá là một khái niệm mang nội hàm rộng lớnliên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người, là một lĩnh vực cực kỳ phứctạp, phong phú do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau Về mặt từ nguyên, nghĩa

của “văn” là “xăm thân”, và nghĩa gốc của “văn hoá” là “xăm mình” mà qua

đó người khác nhìn vào để nhận biết mình Theo Bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hoá vốn là một cách biểu thị chung của khái niệm văn trị và giáo hoá Theo ngôn ngữ phương Tây (Culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, Kultur trong tiếng

Đức,…) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latinh Colere là Colo, Colui,

cultus với nghĩa: giữ gìn, chăm sóc, trồng trọt và cầu cúng [50, tr.319].

Từ góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, các nhà khoa học

đã cố gắng làm sáng tỏ những yếu tố căn cốt nhất của văn hoá Còn theo quan

điểm của chúng tôi, với việc nghiên cứu một nền văn hoá khảo cổ, thì Văn hoá

là hệ thống các giá trị vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất, được tích luỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ở đây, chúng tôi xem xét văn hoá không phải ở những phong tục tậpquán, tôn giáo tín ngưỡng và những giá trị văn hoá hiện hữu, mà tiếp cận vănhoá thông qua những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) đã nằm sâu dưới lòngđất để làm rõ yếu tố tinh thần trong đó

Khảo cổ học là ngành khoa học nghiên cứu những nền văn hoá của loài

người qua quá trình phục chế, tìm hiểu tài liệu và phân tích những dữ liệu như:

di vật, di tích, hài cốt… [151]

Mục đích của khảo cổ học là đưa ra những lời giải đáp đầy đủ về nguồngốc, sự phát triển và tiến trình tiến hoá, bề dày lịch sử của loài người và của vănhoá loài người Đây là môn khoa học duy nhất đã thu thập và giải mã những

Trang 9

thông tin về thời tiền sử Nó giúp cho con người hiểu biết về đời sống văn hoá

- xã hội của cư dân cổ đại

Văn hoá khảo cổ: là nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác

định trên cơ sở tổng thể của một nhóm di tích khảo cổ có những đặc điểm giốngnhau, phân bố liền khoảnh, tồn tại trong một khung thời gian nhất định, có một

số về đặc trưng di tích, di vật ổn định phân biệt rõ với các văn hoá khác và chủnhân thường là một tộc người nhất định [102, tr.14-15]

Trong một nền văn hoá khảo cổ có thể tồn tại nhiều loại hình văn hoákhác nhau Mỗi loại hình văn hoá đều phản ánh những đặc tính của địa phươngmột cách rõ nét Để xác định được một nền văn hoá khảo cổ, cần phải nghiêncứu một tập hợp các di tích khảo cổ, xác định giữa chúng có chung những đặctrưng, tính chất, niên đại, chủ nhân, nguồn gốc, các giai đoạn phát triển… Khinghiên cứu nền văn hoá khảo cổ có thể phác thảo diện mạo văn hoá, làm rõ đờisống vật chất, tinh thần và các hình thái kinh - tế xã hội của cư dân cổ

Văn hoá Óc Eo: Óc Eo là tên gọi của một địa danh thuộc xã Vọng Khê,

huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Nhiều nhà khoa học đưa ra các giả thiết về ýnghĩa của từ Óc Eo, song đến nay vẫn chưa có một cách giải thích nào được chấpnhận Theo nhà dân tộc học Pierre Bitard cho rằng: từ “Óc Eo” đồng âm với chữ

"Ur Kev" (gần với âm “Ô kéo”) của người Khmer Nhưng George Coedes lạikhông đồng tình với quan điểm đó Ông cho rằng: từ "Ô Kéo" không phải là từ

cổ, từ "Kéo" là một từ thuộc nhóm ngôn ngữ Thái, không hề có ở Campuchiathời Angkor (thế kỷ VIII - XII), theo ông từ “Óc Eo” có nghĩa là “rạch ngọc”[22, tr.213-214] Ý nghĩa của từ “Óc Eo” sẽ được các nhà khoa học nghiên cứu,tranh luận tiếp Hiện nay chúng ta biết đến Óc Eo là tên gọi một vùng đất đã tồntại trong lịch sử cư dân trong vùng ĐBSCL Tại đây, vào năm 1944 LouisMalleret đã khai quật và phát hiện một nền văn hoá cổ nằm sâu dưới lòng đất.Nền văn minh này đã hình thành và phát triển trên vùng châu thổ sông Cửu Long

từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN Ông đặt tên cho nền văn hoá cổ này là “văn hoá

Óc Eo”

Trang 10

Khái niệm “văn hoá Óc Eo” được hiểu là một nền văn hoá khảo cổ có

những đặc điểm chung về di tích, di vật được khảo cổ học phát hiện ở trên khắpvùng Nam Bộ, trong đó di tích quan trọng nhất là di tích Óc Eo Nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học dựa vào các kết quả khai quật khảo cổ đã chứng minhvăn hoá Óc Eo là sản phẩm vật chất của Vương quốc Phù Nam

Theo các nhà nghiên cứu, Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm

“founan” của người Trung Hoa Còn phiên âm của tiếng Khmer cổ là “bnam”, ngày nay gọi là “phnom” có nghĩa là “núi” Vua Phù Nam có nghĩa như “vua núi” theo tiếng Phạn là “parvatabhûpala”, tiếng Khmer là “kurung bnam”[135,

tr.84] Vương quốc Phù Nam được coi là thể chế nhà nước đầu tiên ở khu vựcĐông Nam Á Nó hình thành từ thế kỷ I SCN, suy vong từ khoảng thế kỷ VI vàmất hẳn từ thế kỷ VII

Phù Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa một bộ lạc Môn cổsống bằng nghề săn bắn và thu hoạch lâm sản và một bộ lạc Nam Đảo làm nôngnghiệp, đánh cá và buôn bán trên biển Phù Nam là đế chế bao gồm nhiều tiểuvương quốc và lãnh địa Trong mỗi tiểu vương quốc thường có một vị tiểuvương làm thủ lĩnh lãnh đạo các thủ lĩnh khác (chư hầu) Lãnh vực của vươngquốc Phù Nam bao trùm một vùng rộng lớn, gồm phía Nam Việt Nam, Malaysia,một phần Campuchia và Thái Lan

Đời sống văn hoá: Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về đời sống

văn hoá

Theo nhà nghiên cứu Mai Luân thì “đời sống văn hoá bao trùm lên trên toàn bộ đời sống con người” “Bởi vì con người chỉ có thể trở thành con người khi con người trở thành con người văn hoá, còn vấn đề con người trở thành con người - văn hoá đến mức nào đó lại là vấn đề khác”[32, tr.120] Ở đây, tác giả

đã đồng nhất đời sống con người với đời sống văn hoá Trong khi đó, đời sốngcon người bao gồm cả những mặt tích cực và tiêu cực, cả thiện lẫn ác, cả ánhsáng lẫn bóng tối Đời sống con người có chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá,

Trang 11

nhưng bên cạnh đó, cũng tồn tại những yếu tố phản ánh văn hoá Tuy đời sốngvăn hoá và đời sống con người đều hình thành trên cơ sở của đời sống vật chất

và đời sống tinh thần, nhưng một khi đã nhấn mạnh yếu tố văn hoá, thì đời sốngvăn hoá phải có sự khác biệt về chất so với đời sống con người Từ đó có thểthấy, đời sống vật chất không thể đồng nhất với đời sống văn hoá vật chất, đờisống tinh thần không thể đồng nhất với đời sống văn hoá tinh thần Vì đời sốngvật chất không phải lúc nào cũng bao hàm giá trị văn hoá, đời sống tinh thầncũng vậy Sự tương tác giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần phong phú,nhưng vấn đề quyết định đời sống ấy có phải là đời sống văn hoá tinh thần, đờisống văn hoá vật chất hay không cần phải nghiên cứu, xem xét lại

Theo GS.TS Hoàng Vinh “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống

xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó” Trong đó “Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn hoá”[133, tr.149] Như vậy, ở đây tác giả nhìn nhận đời sống văn hoá gắn liền

với những nhu cầu cơ bản của con người, con người không thể tách rời hai nhu cầuthiết yếu, đó là nhu cầu về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, sự phân biệt này cũngchỉ có ý nghĩa tương đối vì thực chất, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thầnthường thống nhất với nhau trong hoạt động sống của con người Nói đến đờisống văn hoá vật chất hay đời sống văn hoá tinh thần chẳng qua là nhấn mạnhmột trong hai thành tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hoá Trên thực tế,mặc dù không thể tách bạch hai yếu tố vật chất và tinh thần, bởi chúng luônxuyên thấm và tác động lẫn nhau, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đều thừa

nhận rằng: “Thiếu điều kiện vật chất thì không có sự tồn tại của con người, nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không thể phát triển được” [110, tr.19-

20]

Trang 12

Tóm lại, đời sống văn hoá là toàn bộ hoạt động văn hoá của con người, đápứng nhu cầu văn hoá vật chất và tinh thần nhằm duy trì cuộc sống của con người.Đời sống văn hoá và đời sống xã hội có sự giao thoa với nhau, song điểm khác biệt

là đời sống văn hoá gạn lọc dần những yếu tố phản tiến bộ của đời sống xã hội,nhằm đảm bảo các giá trị văn hoá được biểu hiện ở mức độ cao nhất Điều này dẫnđến các sản phẩm văn hoá cũng khác với các sản phẩm vật chất thông thườngkhác ở chỗ nó mang giá trị và ý nghĩa tinh thần, độc đáo, không lặp lại, có khảnăng nâng cao nhận thức và tình cảm của con người, góp phần bồi dưỡng tâmhồn và trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh cho con người Sản phẩm văn hoá bao gồmhai loại: sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể

Sản phẩm văn hoá vật thể là loại sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình dướidạng vật thể như các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, tác phẩm văn học, ditích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, cổ vật, bảo vật, các di tích khảo cổ học…

Sản phẩm văn hoá phi vật thể là loại sản phẩm văn hoá không hiện hữumột cách cố định, tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xãhội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội Đó là các huyền thoại,truyền thuyết, lễ hội, tín ngưỡng dân gian, anh hùng dân tộc, nhân thần có côngdựng nước và giữ nước, loại hình nghệ thuật trình diễn như vũ điệu, âm nhạc, hò

vè, sân chơi cổ truyền, đờn ca tài tử…; các giá trị văn hoá tinh thần của dân tộcnhư chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân đạo, ý thức cộng đồng, tinh thầnkhoan dung, đề cao nghĩa tình, đạo lý, lạc quan, yêu đời Đó là các giá trị về đạođức, pháp lý và thẩm mỹ của dân tộc như lương tâm, phẩm giá, danh dự, tráchnhiệm…Với đề tài này thì đời sống văn hoá tinh thần (những phong tục tập quán,tôn giáo tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật…) được thể hiện thông qua các di vật,tức là thông qua đời sống vật chất

Như vậy, đời sống văn hoá mà chúng ta hiểu ở đây là một lát cắt trong đời

sống chung của xã hội Nó là tổng hoà của những yếu tố văn hoá vật thể và vănhoá phi vật thể do con người sáng tạo ra

1.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ

Trang 13

Vùng ĐBSCL ngày nay là địa phận của 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An,Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang,Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, với diện tích tự nhiênkhoảng 40.604 km2 Phía Đông Bắc giáp vùng Đông Nam Bộ, Tây Bắc giápCampuchia, Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam giáp Biển Đông Đượcxác định từ vĩ độ 8030’ Bắc - 10040’ Bắc và kinh độ 104026’ Đông - 106040’Đông Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo, có nềnnhiệt độ cao và ổn định Nhiệt độ trung bình phổ biến khoảng từ 25 - 280C Mộtnăm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12đến tháng 4.

Vùng TNB có hai con sông lớn chảy qua: sông Tiền (ở phía Bắc) và sôngHậu (ở phía Nam) là hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Trạng(Trung Quốc) Ngoài ra, còn có một số sông như: sông Vàm Cỏ Đông, sôngVàm Cỏ Tây; sông Sở Thượng, sông Sở Hạ; sông Giang Thành; sông Châu Đốc;sông Cái Lớn, sông Cái Bé và một hệ thống kênh đào chằng chịt thuận tiện choviệc đi lại và sản xuất nông nghiệp

Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Mê Kông, từ biên giới

Campuchia đến cửa sông dài khoảng 200km, chạy qua các tỉnh An Giang (TânChâu), Đồng Tháp (Hồng Ngự, Tx Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tp CaoLãnh, Cao Lãnh, Châu Thành và Tp.Sa Đéc), Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre đếnCai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn con sông đổ ra biển bằng 6 cửa: sông MỹTho (Cửa Đại, Cửa Tiểu); sông Cổ Chiên (cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu); sôngHàm Luông (cửa Hàm Luông); sông Ba Lai (cửa Ba Lai)

Sông Hậu chảy qua An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên) đến Cần Thơ

chia thành nhiều nhánh làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và CầnThơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăngrồi hội nhập lại, cuối cùng đổ ra biển Đông bằng cửa Ba Thắc(bị bồi lấp vàokhoảng những năm 70 của thế kỷ XIX), cửa Định An và cửa Tranh Đề

Trang 14

TNB là sản phẩm bồi lắng phù sa của sông Mê Kông và bồi dần quanhững kỷ nguyên thay đổi mực nước biển Qua từng giai đoạn kéo theo sự hìnhthành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông vàbiển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọctheo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấpnhư vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu

và bán đảo Cà Mau[152] Địa hình khá bằng phẳng với đa phần diện tích có cao

độ nằm khoảng 0,5-1,5m, thấp dần theo hướng Bắc - Nam và Tây - Đông

Dựa theo đặc tính về địa hình, TNB có thể được chia thành hai vùngchính Đó là vùng cửa sông, ven biển và vùng ngập lũ:

Vùng cửa sông, ven biển có địa hình khá bằng phẳng và thấp Khu vực có

địa hình cao hơn là do quá trình hình thành các giồng cát ở cửa sông (TiềnGiang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…), có độ cao từ 0,75 - 1,81m so với mựcnước biển; khu vực có địa hình thấp hơn bởi quá trình bồi lắng trầm tích phù sa(khu vực Bán đảo Cà Mau, ven vịnh Thái Lan), có độ cao từ 0,25 - 0,50m so vớimực nước biển

Vùng ngập lũ nằm phía Bắc và Tây Bắc TNB, chủ yếu thuộc các tỉnh Long

An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang Các khu vựcdọc sông Hậu và sông Tiền có địa hình tương đối cao hơn (1-3m) do quá trình bồiđắp phù sa Dựa vào phân vùng sinh thái đất nông nghiệp, vùng ngập lũ TNB cóthể chia thành 4 tiểu vùng chính: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, khuvực Tây sông Hậu, và khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu [5, tr.3-4]

Quá trình hình thành và biến đổi của vùng TNB cùng với những đặc điểm

về môi trường sinh thái là một trong những yếu tố rất cần thiết để hiểu hơn về sựphân bố và cuộc sống của các cộng đồng cư dân vùng này qua các thời kỳ lịch sử

Theo các nhà Địa - Sử học, quá trình hình thành vùng đất TNB diễn ra khá

lâu dài và phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quá trình biển tiến,biển thoái, vận động của vỏ trái đất qua hàng trăm triệu năm, các hoạt động bàomòn và tích tụ…đã tạo nên những vùng sụt lún như vùng Đồng Tháp Mười hay

Trang 15

vùng trồi lên cao như dãy Bảy Núi (An Giang), đảo Phú Quốc (Kiên Giang)…Trong đó,các đợt biển tiến, biển thoái có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hìnhthành vùng đất Nam Bộ.

Đợt biển tiến đầu tiên cách nay khoảng 11.000 đến 6.000 năm thì đạt đếnmức cực đại, cao hơn mực nước biển hiện tại 4 - 5m Thời điểm đó, toàn vùngTNB ngày nay tràn ngập nước mặn, trở thành vịnh biển nông rộng lớn Nhữngngọn đồi, quả núi trong vùng Bảy Núi (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) đều trởthành những hòn đảo nhấp nhô trong vịnh biển Giai đoạn biển tiến này đã phânhoá đồng bằng thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: biển nông, biển nôngven bờ, đầm lầy ven biển… Tại các vùng biển nông ven bờ động vật thân mềm,

da gai, san hô phát triển rất phong phú Đặc biệt, thời kỳ này hình thành và pháttriển phong phú thực vật nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự hình thành các vùngchứa than bùn rộng lớn ở thời kỳ tiếp theo [30, tr.16; 24, tr.18]…

Sau khi biển tiến đạt đến cực đại (+4 đến +5m), thì bắt đầu rút liên tụckhỏi đồng bằng (khoảng 1.600 năm) và dừng ở mực cao +2m (trong vòng 700năm) Quá trình mực nước biển rút và sự bồi lắng của phù sa mới từ hệ thốngsông Mê Kông, miền TNB bắt đầu xuất lộ, hình thành nên các thềm phù sa ở độcao +3, +2m lấn ra phía biển [24, tr.18] Quá trình này được thể hiện khá rõ trêncác giồng cát từ Cai Lậy trở xuống phía nam (có tuổi C14 khoảng 4.000 - 4.500năm) Các giồng cát này có hướng song song với đường bờ hiện tại Khi mựcnước biển rút đã để lại các vùng đầm lầy rộng lớn thuận lợi cho sự phát triển củathực vật tạo than [30, tr.16-17]

Sau đó, nước biển tiếp tục hạ thấp với tốc độ nhanh hơn (khoảng 250năm), đây được xem là đợt biển thoái đầu tiên Từ năm 1650 - 1400 TCN (3650

- 3400 năm cách nay), mực nước biển từ độ cao khoảng +2m đã hạ thấp dướimực nước biển hiện nay Khi mực nước biển hạ thấp đến độ cao 1,5 - 1m thì cửabiển Châu Đốc, sông Mê Kông tách chia hai nhánh, đồng thời chuyển dòng chảytheo Tây Bắc - Đông Nam Hai dòng chảy này về sau trở thành hai con sông chínhảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển chung diện mạo của toàn vùng

Trang 16

TNB… Tuy nhiên, phải tiếp tục trải qua quá trình trên dưới ngàn năm, sau đợtbiển tiến thứ hai, biển thoái thứ hai, vào khoảng TCN, bề mặt vùng TNB mới thực

sự hiện rõ nét [24, tr.19]

Đợt biển thoái thứ ba kéo dài khoảng 500 năm đầu Công nguyên (từ năm

50 TCN đến năm 500 SCN) có thể được xem là thời điểm mở đầu một thời kỳmới trong quá trình hình thành vùng TNB ngày nay Thời điểm đó, mực nướcbiển từ độ cao +0,4m (50 năm TCN) hạ thấp dần dưới mực nước biển hiện tại là-0,8m, vùng TNB theo đó lại được mở rộng thêm về phía Đông nhờ nước biểnrút dần Phù sa của các dòng chảy ngày càng bồi tụ mạnh về phía biển

Tiếp đến, từ khoảng giữa thế kỷ VI, lại bắt đầu đợt biển tiến mới kéo dàiđến 800 năm (từ khoảng năm 550 đến khoảng năm 1150 SCN), với mực nướcbiển dâng cao trung bình +0,8m Nước mặn đã tràn ngập các vùng đất thấp venbiển, có thể xâm nhập sâu vào những vùng trũng không có hệ thống giồng cátche chắn (vùng rừng U Minh, Tứ Giác Long Xuyên) Ngoài ra, nước mặn còntheo các sông rạch, lan toả vào các vùng trũng trong lòng châu thổ (vùng ĐồngTháp Mười) Sự xâm nhập của nước biển đã ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên,môi trường sinh thái tại những địa bàn thấp trũng của châu thổ Đến giữa thế kỷXII về sau, mực nước biển dần hạ thấp rồi dừng lại ở mức hiện tại Vùng TNBbước vào thời kỳ phát triển mới theo chiều hướng không ngừng mở rộng, phù hợpvới quy luật tự nhiên của nó [24, tr.20-21]

Thư tịch cổ, Khang Thái và Chu Ứng là quan triều đình nhà Ngô thời Tam

Quốc (230 - 280) được cử đi sứ đến nước Phù Nam Khi về nước hai vị quan nàyviết một vài quyển sách nói về chuyến đi của mình đến đất nước Phù Nam như:Phù Nam ký, Phù Nam thổ tục, Phù Nam thổ tục truyện, Phù Nam dị vật chí Tuynhiên, các sách này đều đã thất lạc, chỉ còn biết đến qua các trích dẫn trong một số

thư tịch cổ được ghi chép từ thế kỷ V - VI SCN về sau như Lương Thư, Nam Tề Thư, Tuỳ Thư, Đường Thư Những nội dung này đã cho chúng ta những hình

Trang 17

dung về địa hình, thiên nhiên và môi trường sinh thái vùng TNB thời bấy giờ(tương đương với thời kỳ biển thoái kéo dài khoảng 800 năm SCN).

Theo Nam Tề Thư: Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong

vịnh lớn phía Tây biển lớn, diện tích rộng hơn 3.000 dặm, nước ấy có một con

sông lớn chảy theo hướng tây ra biển [104, tr.268] Theo Lương thư: Nước phù

Nam cách Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, ở phía Tây Lâm Ấp, cách nước ấy3.000 dặm Kinh thành cách biển 500 dặm Trong nước có con sông lớn, rộng 10dặm, chảy theo hướng Tây Bắc sang phía Đông đổ ra biển Diện tích cả nướcrộng hơn 3.000 dặm Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng Khí hậu và phong tục

giống như Lâm Ấp [104, tr.273] Sách Tam Tạng kinh - Cao Tăng truyện còn có

đoạn bổ sung “Phù Nam là cửa biển có ngàn con sông” [24, tr.23]

Dựa vào những mô tả khái quát về nước Phù Nam qua các ghi chép củathư tịch cổ Trung Quốc, đa số các nhà khoa học đều có chung nhận định về vị trícủa nước Phù Nam nằm ở phía Nam Đông Dương, phía Nam quận Nhật Nam(một phần đất phía Nam Việt Nam xưa) và Lâm Ấp (Nam Trung Bộ Việt Namngày nay) Trong đó vịnh lớn phía Tây biển lớn là vịnh Thái Lan; con sông lớn,rộng 10 dặm chảy theo hướng Tây đổ ra biển (hoặc chảy theo hướng Tây Bắcsang phía Đông rồi đổ ra biển) tương ứng với phần hạ lưu sông Mê Kông, vớiđất đai thấp, trũng và bằng phẳng Có thể suy đoán đây là vùng TNB ngày nay

Từ đó có thể cho rằng, vào khoảng thế kỷ V - VI vùng TNB đã hình thành, vớiđồng bằng rộng lớn (có phần trũng thấp) Bên cạnh đó, theo thư tịch cổ, kinhthành cách biển 500 dặm (trên 200 km), chứng tỏ là vùng đất được con ngườikhai phá với quy mô khá rộng lớn

Đến thời kỳ tiếp theo, vùng đất này được xem là vùng đất của Thuỷ Chân

Lạp, theo Tuỳ thư mô tả nước này có bờ biển bao quanh và có nhiều hồ lớn Tân Đường thư khi viết về Thuỷ Chân Lạp thì viết là vùng đầm lầy rộng lớn Theo

mô tả như trên vào khoảng thế kỷ VII - IX vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn từbằng phẳng, mênh mông, nhiều sông ngòi đã bị biến thành nhiều hồ lớn, vùng

Trang 18

đầm lầy rộng [24, tr.23-24] Sự biến động này có thể liên quan trực tiếp đến đợtbiển tiến thứ tư dâng cao đến +1m diễn ra cùng thời.

Một số thư tịch cổ ghi lại cảnh quan vùng TNB từ thế kỷ XII trở về sau

đều có những mô tả khá giống nhau như: ký sự của Châu Đạt Quan trong“Chân Lạp phong thổ ký” có đoạn viết: Từ Chân Bồ (Bà Rịa hay Vũng Tàu) theo

hướng Khôn-Thân (Tây Nam - 1/6 Nam), đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửasông Sông này có hàng chục ngả, nhưng chỉ có thể vào được cửa thứ tư (CửaTiền Giang vào Mỹ Tho ngày nay), các ngả khác có nhiều bãi cát thuyền lớnkhông đi được Nhìn lên bờ thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lausậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào [100, tr.22] Có đoạn kháclại viết: Bắt đầu vào Chân Bồ hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp,những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm củanhững cây cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê Tiếng chimhót và thú vật kêu vang dội khắp nơi Vào nửa đường trong cửa sông, mới thấy lầnđầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉtoàn là cỏ cây đầy rẫy Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùngnày Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm [100, tr.73]…Đây là quang cảnh của vùng TNB mà Châu Đạt Quan ghi lại trong chuyến đi sứđến nước Chân Lạp vào khoảng năm 1296 - 1297 SCN

Vào cuối thế kỷ XVIII, trong cuốn sách “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn

có những mô tả: Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp,Cửa Đại, Cửa Tiểu… toàn là rừng rậm hàng mấy trăm dặm [24, tr.24] Qua mô

tả từ các thư tịch cổ cho thấy, từ thế kỷ thứ XII đến cuối thế kỷ XVIII vùng TNBphát triển theo chiều hướng ngày càng hoang dã, cảnh vật thiên nhiên như chưatừng có ai khai phá

Về khí hậu, theo các nhà nghiên cứu, những đặc điểm của các nhóm cổsinh đặc biệt là bào tử phấn hoa, cùng với đặc điểm của lớp vỏ phong hoá cổ cóthể xác định được khí hậu thời kỳ Pleistocen ở đồng bằng Nam Bộ có chế độ

Trang 19

nhiệt đới gió mùa rất rõ [30, tr.16-17] Thảm thực vật toàn vùng đã phản ánhđiều kiện khí hậu thời kỳ Óc Eo mang tính nhiệt đới có sự xen kẽ nóng khô vànóng ẩm Như vậy có thể thấy điều kiện thiên nhiên và khí hậu những thế kỷ đầuCông nguyên không khác so với ngày nay.

1.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC DẤU TÍCH VĂN HOÁ ÓC EO

1.3.1 Lịch sử nghiên cứu

Lịch sử phát hiện và nghiên cứu nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộkhông phải là một quá trình liên tục về thời gian Nó được biết đến từ rất sớmqua các thư tịch cổ Trung Quốc Người đầu tiên thu thập và dịch những tư liệunày chính là nhà nghiên cứu người Pháp P.Pelliot Ông đã thu thập từ 22 tư liệu

cổ Trung Quốc liên quan đến vương quốc Phù Nam Đây là nguồn tư liệu chữviết quý giá, các thông tin vô cùng phong phú, cho ta thấy được toàn cảnh đờisống xã hội của cư dân Phù Nam lúc bấy giờ Hầu hết các nhà nghiên cứu saunày đều sử dụng nguồn tư liệu này để nghiên cứu, xem nó như là một công cụhữu hiệu để tìm hiểu về vương quốc cổ đại này Tuy nhiên, những thông tin từcác thư tịch khá phức tạp, vì có phần ghi trực tiếp qua các sứ giả, qua quan hệbang giao, có phần ghi qua những truyền thuyết trong khu vực, những lời kểgián tiếp, hoặc người sau chép lại người trước [63, tr.178]…, không phải lànhững chứng cứ xác thực để xác minh nền văn minh cổ đại này

Đến nửa sau thế kỷ XVIII đầu thế XIX, nhiều nhà nghiên cứu người Pháp

và các học giả phương Tây đã phát hiện một số bia ký và thu thập hàng loạt divật khảo cổ học có niên đại khoảng thế kỷ I đến thế kỷ X SCN ở nhiều tỉnh NamBộ: năm 1879, A.Corre đã lượm được một số cổ vật và thấy hai tấm bia đá khắcchữ Phạn; đến năm 1912, O.Connel đã phát hiện một pho tượng thần Vishnukhổng lồ; trong các năm 1922, 1928, 1936 Suzanne, Karpeles, Jean Bouchot,F.Fraisse, H.Parmenlier đã lần lượt tìm thấy nhiều di tích, di vật mà phần lớn làtượng thần, linh vật thờ bằng đá, tấm đá có chạm trổ Những di vật này chủ yếunằm ở khu vực Ba Thê Điều này đã phần nào chứng minh cho giả định ở vùng

Trang 20

ĐBSCL đã từng có một vương quốc tồn tại mà thư tịch cổ Trung Quốc nhắc đến

là “vương quốc Phù Nam”.

Cũng trong khoảng thời gian này, ở vùng đồng bằng miền Tây như CạnhĐền, Tân Long, Prasat pream Loven (Gò Tháp), di tích những đường nước cổ từAngkor Borei đến Ba Thê cũng đã được phát hiện Chính từ những phát hiện này

đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, trong

đó, có nhà khảo cổ học người Pháp L Malleret - là người có những đóng gópquan trọng trong việc phát hiện và có những nghiên cứu tiên phong cho nền vănhoá này

Những năm sau đó (1938 - 1945), L.Malleret và các cộng sự đã tổ chứcnhiều cuộc thăm dò, khảo sát, khai quật và phát hiện nhiều di tích mới ở vùngđồng bằng châu thổ sông Cửu Long Đến năm 1959 - 1963, những nghiên cứutrước đó của ông, chủ yếu là cuộc khai quật ở Óc Eo, lần lượt được giới thiệu

trong 4 tập sách: “L’archéologie du Delta du Mékong” Tập I (1959) mô tả khá

chi tiết các loại hình di tích, di vật được phát hiện ở vùng Hậu Giang Tập II(1960) trình bày những nghiên cứu của mình về các hiện vật thu được, đặc biệt

là đồ gốm Tập III (1962) khảo cứu các loại hình đồ trang sức bằng kim loại quý,

đá quý… Tập IV (1963) ngoài phần trình bày những phát hiện mới ở vùng TiềnGiang, ông còn phân tích diện mạo của nền văn minh Óc Eo ở vùng ĐBSCL.Công trình này (4 tập) đã công bố những phát hiện, mở ra hướng nghiên cứu mớicho các nhà khoa học Nhiều dấu vết kiến trúc bằng gạch, bằng đá; nhiều cọc gỗ,nhà sàn; nhiều di vật bằng gốm, đất nung, đá, đồng, chì, thiếc, vàng, bạc, đá quý,thuỷ tinh…; nhiều tàn tích thực vật, xương cốt động vật nằm trong hai lớp cư trúkhác nhau, ở độ sâu từ 0,60 - 2,20m đã được L.Malleret phân tích, từ đó đưa ranhận định: Óc Eo là một thành phố có hoạt động mậu dịch, thương mại - là mộtthành phố cảng có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá và chính trị Tại địa điểm

di tích Óc Eo đã có một quá trình cư trú lâu dài và đây được coi là một cảng biểnquốc tế đặc biệt phát triển lúc bấy giờ Thông qua các hiện vật, nội dung của tập

Trang 21

sách đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đời sống của cư dân Óc Eo Tuynhiên, tập sách chỉ chủ yếu trình bày những phát hiện khảo cổ ở vùng châu thổsông Cửu Long trong vòng mấy chục năm trước đó Còn rất nhiều vấn đề mangtính chất khoa học về nền văn hoá này chưa được làm rõ như phạm vi phân bố,đặc điểm, nội dung, quá trình phát triển và suy vong của văn hoá Óc Eo Vấn đềcuội nguồn và mối liên hệ của văn hoá Óc Eo với vương quốc Phù Nam, ChânLạp và Chămpa… vẫn cần chúng ta tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu.

Từ sau các hoạt động nói trên của các nhà khảo cổ người Pháp, vì chiếntranh và các lý do khác nhau, nên trong vài thập niên sau đó, không có một cuộckhai quật, nghiên cứu nào về văn hoá Óc Eo ở vùng TNB Các công trình nghiêncứu trước đó chỉ mang tính chất mô tả, giới thiệu, giải thích sơ lược dưới nhiềugiác độ khác nhau về nền văn hoá Óc Eo, là hướng gợi mở cho các công trìnhnghiên cứu tiếp theo, chưa đi sâu vào phân tích từng khía cạnh và minh định mộtcách có hệ thống về nền văn hoá cổ Óc Eo ở miền TNB

Sau năm 1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàbình thống nhất, việc nghiên cứu các nền văn hoá cổ trong cả nước được nhiều

cơ quan khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà khoa học, các cuộc hộithảo đặc biệt quan tâm Không ít nghiên cứu sinh chọn những vấn đề có liênquan đến nền văn hoá Óc Eo làm đề tài nghiên cứu của luận án Có nhiều NXB,tạp chí khoa học đã đăng tải những công trình nghiên cứu của các tác giả viết vềvăn hoá Óc Eo như Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm, Võ Sĩ Khải, Lê Thị Liên,Nguyễn Thị Hậu, Bùi Phát Diệm, Đặng Văn Thắng…; một số cơ quan quản lýnhà nước, viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã triển khai nghiên cứu các đềtài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ như Viện Khảo cổ học, Viện KHXH tạiTp.HCM… Đến nay, có thể cho rằng, đã có hàng trăm công trình nghiên cứuliên quan đến từng mặt của văn hoá Óc Eo, trong đó, chủ yếu là của các nhàkhảo cổ học nghiên cứu về các di tích, di vật đang nằm sâu dưới lòng đất Bức

Trang 22

tranh về vương quốc Phù Nam và nền văn minh Óc Eo ngày càng hiện ra mộtcách rõ ràng hơn.

- Nghiên cứu về đời sống văn hoá vật chất của văn hoá Óc Eo

Về lương thực, thực phẩm, đã có nhiều công trình đề cập đến Đa số các

công trình đều cho rằng thời kỳ Óc Eo đã có nền nông nghiệp trồng lúa nướcphát triển, cho nên lương thực chính vẫn là lúa gạo, sau đó là các loại thuỷ hảisản, động vật Điều này đã được nhiều tác giả chứng minh qua việc phát hiệndấu tích lúa gạo và các loại xương động vật trong các di tích cư trú Trong một

bài viết, Võ Sĩ Khải cho rằng, Óc Eo“là một xã hội nông nghiệp trồng lúa nước, lương thực chính hiển nhiên là cơm Thức ăn gồm cả các loại thịt rừng, hải sản

và thú nuôi (tôm, cá, sò, ốc, trâu, bò, hươu, nai, lợn rừng, lợn nhà, chó và cả voi), các loại rau củ (dừa, trám, củ năng )” [55, tr.399] Trong một nghiên cứu

khác, tác giả cùng với Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn cũng đã khẳng định việc

“phát hiện dấu vết của nhiều cánh hoa, cọng hoa và lá cây tương đối còn nguyên dạng” và hàng chục tiêu bản xương răng động vật như:“lợn rừng, lợn nhà, hươu đầm lầy, voi, trâu, bò, cá sấu, cá, rùa, chuột ” [23, tr.429] Phần lớn

các di cốt động vật này là những đồ phế thải của bếp núc, một số có thể đượcdùng cho những nghi thức thờ cúng Điều này chứng tỏ cư dân nơi đây có cuộcsống ẩm thực khá phong phú, với đa dạng các loại động, thực vật, họ không chỉ biếtđánh bắt thuỷ, hải sản mà còn biết nuôi trồng tạo nguồn thức ăn phong phú

Qua những nghiên cứu trên cho thấy nguồn lương thực, thực phẩm của cưdân Óc Eo thời kỳ này rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, trong những côngtrình này, các tác giả chỉ đề cập đến các dấu tích lúa gạo, di cốt động vật, các loạirau củ dưới dạng báo cáo khảo cổ học hoặc là những phát hiện mới về mặtkhảo cổ học Đây sẽ là những cứ liệu xác thực nhất mà luận án kế thừa nhằm làm

rõ những đặc trưng trong văn hoá ẩm thực của cư dân Óc Eo ở miền TNB

Về trang phục, theo Võ Sĩ Khải, trang phục của cư dân Óc Eo có sự khác biệt, tuỳ theo tầng lớp trong xã hội mà có những cách mặc khác nhau “phụ nữ

Trang 23

mặc váy dài, phần trên để trần hoặc phủ kín; đàn ông đóng khố ngắn, phần trên

để trần, cả nam lẫn nữ đều đeo nhiều đồ trang sức, bùa đeo” [129, tr.399] Theo

các tác giả Lê Thị Liên [74], Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [23] cóthể nhận biết trang phục trong xã hội Óc Eo thông qua các tượng người, tượngthần và tượng Phật Tượng nam thần và nữ thần đều có trang phục tương đốigiống nhau: đầu đội mũ, phần trên cơ thể để trần, phía dưới quấn xăm pốt (nam)hay mặc váy (nữ) và đeo thắt lưng Với tượng Phật tác giả chia làm hai loại trangphục: Loại thứ nhất khoác áo cà sa hở một bên vai; Loại thứ hai khoác áo cà sakín hai vai, dài đến mắt cá chân

Như vậy, các tác giả đều nhận biết trang phục chủ yếu qua những di vậttìm thấy ở các di tích cư trú, di tích kiến trúc văn hoá Óc Eo như các pho tượngngười, tượng thần, tượng Phật và các hình vẽ trên một số di vật khác để đưa ranhững nhận định về trang phục của cư dân Óc Eo Tuy nhiên, những nhận địnhnày chỉ được các tác giả nhắc đến một cách khái quát trong quá trình phân tíchcác di vật Tác giả luận án dựa vào các báo cáo khảo cổ, những nhận định củacác tác giả đi trước về trang phục của các vị thần, phật để phân tích các loại trangphục của cư dân Óc Eo, thông qua đó làm rõ thái độ ứng xử của con người vớimôi trường tự nhiên vùng TNB những thế kỷ đầu Công nguyên

Về cư trú, các tác giả Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [23] đã

lần lượt liệt kê các di chỉ cư trú, kiến trúc tôn giáo, mộ táng trong văn hoá Óc

Eo Theo các tác giả, cư dân Óc Eo chủ yếu sống trên nhà sàn, có một số dấu vếtcủa kiến trúc gạch ngói, nhưng đó có thể là kiến trúc của các đền thờ Tác giả Lê

Thị Liên cũng cho rằng “kiến trúc nhà sàn là một trong những hình thức cư trú của cư dân Óc Eo” còn cấu trúc kiên cố chủ yếu ở “trên gò hoặc vùng cao, dấu vết kiến trúc chỉ được nhận thấy qua các mảnh gạch vỡ trong tầng văn hoá hoặc trên bề mặt” [69, tr.437-442] Còn theo Võ Sĩ Khải cư dân Óc Eo sống

chủ yếu trên nhà sàn hoặc thuyền bè, chỉ có những ngôi đền, chùa mới đượcxây dựng kiên cố [129, tr.400] Cũng trên quan điểm cư dân Óc Eo cư trú trên

Trang 24

nhà sàn, Huỳnh Công Bá cho rằng “cư trú trên nhà sàn là một truyền thống lâu đời” và họ còn biết “đắp đất thành các gò rộng hàng hécta làm nền móng cho kiến trúc đền thờ hay khu mộ táng” [1, tr.288].

Những công trình này đã đề cập đến một số hình thức cư trú của cư dân

Óc Eo như: cư trú trên nhà sàn, thuyền bè và nền gạch Tuy nhiên, nó chỉ dừnglại ở việc nêu lên một cách sơ lược về các hình thức cư trú, chứ chưa đi sâu phântích, lý giải tại sao cư dân Óc Eo lại chọn những hình thức cư trú này Trên cơ sởcác công trình đi trước, tác giả luận án sẽ kế thừa, làm rõ hơn về mô hình cư trú,các hình thức cư trú và thái độ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên

mà họ đang sinh sống thông qua việc lựa chọn các hình thức cư trú phù hợp vớimôi trường sống

Về giao thông, Các tác giả Võ Sĩ Khải [55], Đào Linh Côn [13] đều cho

rằng, cư dân Óc Eo đi lại bằng cả đường thuỷ (đường biển, đường sông và cáckênh đào) lẫn đường bộ (sử dụng các loài voi, ngựa và có thể cả trâu bò) Các tácgiả khẳng định rằng, giao thông đường sông và đường biển trong thời đại Óc Eokhá phát triển và đóng vai trò thiết yếu trong việc giao lưu văn hoá, kinh tế giữacác vùng trong khu vực với nhau Đặc biệt, theo Bùi Phát Diệm, chức năng của

hệ thống kênh đào không chỉ là tiêu, thoát nước cho đồng bằng ngập nước mà

còn phục vụ rất hữu hiệu cho việc đi lại Người ta còn “thiết kế nhiều con tàu có thể di chuyển trên chính những dòng kênh đó” [132, tr.363].

Trong một công trình khác [128], Dương Văn Truyện, Võ Sĩ Khải, LưuNghĩa cho rằng, những di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Óc Eo phần lớn đượcphân bố ở các điểm tụ, đầu mối của những tuyến giao thông và được nối liền vớinhau bằng những đường nước cổ tạo thành một hệ thống đường thuỷ rộng lớntrên phần châu thổ phía nam sông Hậu

Về phương tiện giao thông thời kỳ này chủ yếu là thuyền bè sử dụng chấtliệu gỗ dễ bị huỷ hoại bởi thời gian cho nên hiện nay, chưa được phát hiện dưới

Trang 25

góc độ khảo cổ học Những phát hiện của L.Malleret và các công trình nghiêncứu này sẽ là gợi ý quan trọng, là chứng cứ xác thực để chúng tôi mạnh dạn đưa

ra những lý giải của mình trong vấn đề đi lại của cư dân Óc Eo

Về các ngành sản xuất, thông qua những di vật phát hiện được có thể

thấy, các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp đặc biệt phát triển

Các tác giả đều cho rằng, nông nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng trong sựphát triển kinh tế - xã hội của cư dân Óc Eo, đặc biệt là nền nông nghiệp lúa

nước Theo Võ Sĩ Khải “cảng thị Óc Eo đã hình thành từ một xã hội nông nghiệp lúa nước, thuộc dạng trồng lúa đầm lầy với một hệ thống kênh đào hỗ trợ cho cây lúa”, cư dân Óc Eo đã biết cấy các loại lúa (Oryza sativa) và khai thác

các loại lúa trời (Oryza prosativa và Oryza nivara proparte) Tác giả còn khẳng

định “nền kinh tế nông nghiệp của cư dân Óc Eo đã thoát khỏi tình trạng tự phát, đã có tính cộng đồng, có tổ chức quy mô rộng lớn trên toàn miền TNB vào những thế kỷ đầu Công nguyên” [129, tr.394-395].

Theo tác giả Huỳnh Công Bá [1] và Đinh Trung Kiên [57]: Óc Eo chính làquê hương của các loài lúa nổi, người Óc Eo có thể trồng nhiều loại lúa khácnhau, còn có thể làm nương rẫy, khai thác thuỷ, hải sản Còn tác giả NguyễnXuân Hiền thì cho rằng, nghề trồng lúa ở ĐBSCL đã phát triển từ rất sớm,

khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN “Nghề trồng lúa có nhiều phần chắc chắn là một nội dung chính của hoạt động nông nghiệp, chi phối toàn bộ hoạt động này trong một môi trường phổ biến là sình lầy, ẩm thấp” [34, tr.239].

Cùng chung quan điểm này, tác giả Đào Linh Côn [13] cho rằng, xã hội

Óc Eo đã có nghề trồng lúa phát triển ở cả vùng cao lẫn vùng thấp Trong đó, tácgiả đã phân tích bốn khía cạnh của nghề nông: nghề trồng lúa của cư dân Óc Eo

đã phát triển đến một trình độ nhất định, họ biết sản xuất nhiều giống lúa khácnhau (lúa cạn, lúa nước và lúa nổi); có hệ thống kênh đào chằng chịt trên khắpvùng, vừa đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt, giao thông và đáp ứng nhu cầu tướitiêu cho nghề nông; nghề làm vườn trồng các loại cây ăn củ, cây ăn quả, trồng

Trang 26

hoa đã khá phát triển (gồm các giống cây dừa, cau, mãng cầu xiêm, các loại hoasen, hoa Actisô, hoa cúc ); nghề nông phát triển, lương thực dồi dào là cơ sởcho hoạt động chăn nuôi gia súc gia cầm phát triển theo…

Để so sánh sự khác nhau trong sản xuất nông nghiệp của một số nướcthuộc vùng Nam Bộ cổ đại, Lê Thị Liên và Tống Trung Tín cho rằng, Phù Nam

và Chân Lạp đều là những nước có nền nông nghiệp phát triển Trong đó,

“Người Phù Nam trồng lúa nước đại trà, phải đương đầu với việc thoát thuỷ cho

cả một vùng đất châu thổ rộng lớn hơn là việc dẫn thuỷ nhập điền”; còn “Người Chân Lạp, trái lại, quen khai thác đất núi đồi, lợi dụng nước thiên nhiên chảy theo sườn dốc Họ phải dự trữ nước mùa mưa để tưới ruộng vào mùa khô” [4,

tr.19]

Trong khuôn khổ các bài báo cáo khoa học, bài tạp chí, những kiến thức

mà các tác giả đưa ra là những thông tin khoa học, với cách lý giải xác đáng Cáctác giả không chỉ dựa vào những dấu tích lúa gạo mà còn dựa vào các tư liệu thưtịch cổ để lý giải, phân tích Vì vậy, đây là những tư liệu quan trọng bên cạnh tưliệu khảo cổ học, để giúp chúng tôi mạnh dạn thực hiện luận án của mình

Về thủ công nghiệp, tác giả Võ Văn Khải [54] khẳng định, các nghệ nhân

ở đây có tay nghề rất cao, có thể nói đã đạt đến trình độ tinh xảo Bằng chứng lànhững vật dụng trong sinh hoạt thường ngày và trong sản xuất hay những đồtrang sức được các nghệ nhân trang trí bằng nhiều đề tài hoa văn từ đơn giản đếntinh vi Theo tác giả, người thợ thủ công ở đây đã để lại những dấu ấn riêng của

cá nhân và của nhóm thợ Còn theo tác giả Đào Linh Côn [13], có thể phân loạiđược nhiều ngành nghề: mộc, đá, tạc tượng, xây dựng, đóng thuyền, gốm, dệt,đúc thuỷ tinh, luyện kim Thời kỳ này đã có những người thợ với tay nghề khéoléo và sự phân công lao động rõ ràng trong từng nghành nghề Tuy nhiên, nhữngcông trình này cũng chỉ đề cập một cách khái quát, chưa đi sâu phân tích sự thể

Trang 27

hiện của từng ngành nghề thông qua các di vật Những gợi ý của những côngtrình có ý nghĩa quan trọng để luận án kế thừa và có hướng đi đúng đắn.

Theo tác giả Vương Thu Hồng “ngay từ đầu Công nguyên, vùng Đồng Tháp Mười đã có một cụm di tích xưởng chế tác hạt chuỗi và đồ kim hoàn có mối quan hệ gần với di chỉ Óc Eo (An Giang), Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ (Cần Giờ, Tp HCM) và có mối quan hệ xa với các di chỉ sản xuất hạt chuỗi nổi tiếng của Thái Lan [130, tr.823]

Khi phân tích các loại hình gốm ở di chỉ cư trú Gò Tháp, Nguyễn QuốcMạnh [81] khẳng định, đồ gốm trong di tích Gò Tháp rất đa dạng, phong phú vềchủng loại cũng như công dụng của nó, được thể hiện qua các hiện vật: bình, nồi,

vò, chậu có quai cầm, bát bồng, bát, tô nhỏ, nắp đậy, ly cốc, chum nhỏ, chaigốm, cà ràng, khuôn làm gốm Đồ gốm ở đây được sản xuất rất tinh xảo; hoa văn

đa dạng về loại hình, “được tạo bởi nhiều kỹ thuật tạo văn khắc khác nhau, gồm: văn đập, in, vạch, đắp nổi, cắt lộng và vẽ - tô màu” [tr.78] đã thể hiện được tay nghề điêu luyện của người thợ làm gốm Tác giả khẳng định rằng, “đồ gốm được sản xuất tại chỗ”, tuy nhiên, nó lại được “tiếp nhận mạnh mẽ các yếu

tố văn hoá từ bên ngoài, đặc biệt là từ văn hoá Ấn Độ”[tr.122]

Các công trình nêu trên đã đề cập đến các ngành nghề thủ công một cáchkhá cụ thể, thông qua việc phân tích các di vật được phát hiện Đây là tài liệuliên quan, xuyên suốt đề tài Bởi các di vật được phát hiện và những phân tíchtrong các công trình trên không chỉ sử dụng cho các ngành nghề thủ công mà còn

là minh chứng cho những phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, giao lưu vănhoá mà luận án sẽ thực hiện Các tác giả mô tả, phân tích các di vật để người đọcthấy được sự phát triển phong phú, đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công khácnhau và làm tăng tính tin cậy của tư liệu Nhưng điều mà chúng tôi còn thấy trăntrở ở đây chính là cách giải mã văn hoá của các di vật tìm thấy trong văn hoá Óc

Eo Nhìn chung, các di vật còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa hơn thế

Trang 28

Cùng với nông nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển rực rỡ trong xã hội Óc

Eo Tại đây đã xuất hiện những trung tâm thương mại mang tầm cỡ quốc tế, điều nàyđược các tác giả Hà Văn Tấn [128], Võ Sĩ Khải [130] chứng minh qua một số di vậtngoại nhập phát hiện trong các di tích Óc Eo Các tác giả Cao Xuân Phổ [97, tr.238],Bùi Phát Diệm [130] cũng cho rằng, Óc Eo đã từng phồn thịnh trong 4 thế kỷđầu Công nguyên, họ đã biết tổ chức thu mua các loại hàng hoá từ sản phẩm thôđến qua chế biến; trao đổi hàng hoá thông qua các thương nhân bên ngoài Theo

các tác giả “Sự thịnh vượng của Óc Eo chủ yếu là dựa trên buôn bán”và sự suy thoái của Óc Eo chủ yếu cũng chỉ vì dựa trên buôn bán” Tuy nhiên, sự suy

thoái của vương quốc Phù Nam không chỉ vì sự suy thoái nền thương nghiệp màcòn nhiều lý do khác Song các bài viết này là những tư liệu quý giá, gợi ý chonghiên cứu của chúng tôi trong việc tìm hiểu về nguyên nhân suy vong củavương quốc Phù Nam và tầm quan trọng của việc giao thương đối với Phù Nam

và các quốc gia cổ đại

- Nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của văn hoá Óc Eo

Khi nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân, các tác giả đều

thống nhất, thời kỳ này, cả Phật giáo và Hindu giáo đều đã phát triển một cáchmạnh mẽ Điều này được tác giả Lê Thị Liên [74; 130] phân tích một cách khá

cụ thể trong một số công trình đã công bố Theo tác giả, khi lan truyền đến vùngĐBSCL thì Phật giáo và Hindu giáo đã biến đổi không còn giống như nơi phátsinh nữa Đồng nhất quan điểm này, tác giả Trương Sỹ Hùng [46] cho rằng, ởPhù Nam, các tôn giáo được du nhập từ rất sớm, chủ yếu là Ấn Độ giáo và sau

đó là Phật giáo Ấn Độ giáo có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cư dânPhù Nam Theo tác giả, khi được du nhập vào vùng đất này, các tôn giáo đềuđược thế tục hoá, bản địa hoá cho phù hợp với đời sống văn hoá và con ngườinơi đây

Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh [36] cho rằng, Phậtgiáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam rất sớm, sau đó mới tiếp thu

Trang 29

một số ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc Cảng thị Óc Eo được xem là trungtâm thương mại quốc tế, các thuyền buôn muốn đến Trung Quốc đều phải qua

cảng Óc Eo Theo ông, “Cửa biển Óc Eo là nơi thuyền buôn từ Ấn Độ đến đậu Nhiều nhà sư Ấn Độ mang theo kinh Phật cung cấp nguồn tư liệu cho người Phù Nam…” [tr.169-170] Trong công trình này, tác giả còn cho rằng, Phù Nam và Trung Quốc có mối quan hệ rất mật thiết thể hiện qua việc các “kinh Phật được đưa từ Phù Nam sang triều đình nhà Lương để dịch” [tr.163] Tuy nhiên, công

trình chỉ giới thiệu một cách sơ lược mối quan hệ của Phật giáo giữa hai nước, cònmối quan hệ đó diễn ra như thế nào và sự thể hiện mối quan hệ đó qua các di vậtthì chưa được đề cập đến Đây là khoảng trống cho luận án tiếp tục nghiên cứu

Trong bài viết đăng trên tạp chí Khảo cổ học, tác giả Đặng Văn Thắng và

Võ Thị Huỳnh Như [111], Dương Thị Ngọc Minh [84] khẳng định, Gò Tháp làmột trung tâm tôn giáo của cư dân Óc Eo ở miền TNB Các tác giả đã thống kêmột số lượng lớn các di vật tìm thấy để chứng minh cho điều này

Chúng tôi được chỉ dẫn và kế thừa nhiều qua những lý giải, phân tích sâusắc từ các công trình này Bên cạnh hệ thống các tượng thờ trong các bảo tàng,các bài viết này góp thêm những thông tin, minh chứng cho những nhận định màchúng tôi sẽ phân tích trong luận án

Khi nghiên cứu về nghệ thuật, Lê Thị Liên [74] đã phân tích những nét

đặc sắc của tượng tròn và phù điêu, trang trí trên vật liệu kiến trúc và các hiệnvật nhỏ Tác giả đã chia sự phát triển nghệ thuật ở khu vực này ra làm bốn thờikỳ: thời kỳ thứ nhất, từ khởi đầu đến thế kỷ IV SCN; thời kỳ thứ hai, từ thế kỷ Vđến đầu thế kỷ VII SCN; thời kỳ thứ ba, từ cuối thế kỷ VII đến thế kỷ VIII SCN;thời kỳ thứ tư, vào thế kỷ IX đến thế kỷ X

Theo tác giả Lê Xuân Diệm“các tượng thần được tạc với trình độ nghệ thuật cao, điêu luyện, với tầm vóc lớn thể hiện đầy đủ trình độ cao của nghệ thuật tạc tượng và phản ánh tập trung nhất sự phát triển của Ấn Độ giáo trong cộng đồng người sáng tạo nên nền văn hoá Óc Eo” [128, tr.57-58] Cũng quan

Trang 30

điểm này, Võ Văn Khải [54] đã phân tích những biểu hiện nghệ thuật trong vănhoá Óc Eo Trước hết là nghệ thuật trang trí, công trình đi sâu vào phân tích tínhnghệ thuật và trình độ thẫm mỹ của các đề tài hoa văn được trang trí trên các vậtdụng gốm, đồ trang sức của cư dân Óc Eo Ngoài ra, công trình còn đề cập đếntính thẩm mỹ trong các phong cách nghệ thuật tạc tượng của văn hoá Óc Eo

Tác giả Trương Sỹ Hùng [46] cho rằng nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phậtgiáo trước thế kỷ X ở Đông Nam Á nói chung, miền Nam Việt Nam (Phù Nam)nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể Đó là sự xuất hiện hàng loạtnhững pho tượng mang phong cách nghệ thuật Amaravati và Gupta… Sự hiệndiện này chứng tỏ, nền văn minh Ấn Độ đã có mặt ở đây từ rất sớm, đặc biệtnghệ thuật Ấn Độ đã “gieo mầm” để làm nền tảng cho giai đoạn sau nghệ thuậtbản địa sẽ “nhân giống” Theo tác giả, tất cả những tác phẩm nghệ thuật nơi đây

đều “được diễn tả bằng những hình khối cơ thể no đầy, tạo dáng khoẻ với nét mặt mơ mộng… tác phẩm chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Gupta và hậu Gupta

rõ nét Bước đầu những đặc tính của nền nghệ thuật bản địa đã được thể hiện trên từng chi tiết” [tr.370]

Những công trình này làm điểm tựa vững chắc cho luận án khi nghiên cứu

về nghệ thuật của cư dân Óc Eo, đặc biệt là công trình “Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở ĐBSCL trước thế kỷ X” của tác giả Lê Thị Liên Bởi lẽ, nghệ thuật

Óc Eo chủ yếu được thể hiện qua các đề tài tôn giáo là chủ yếu

Về táng tục, có rất nhiều tác giả đề cập đến cách thức mai táng của cư dân

Óc Eo, đặc biệt là trong các báo cáo khảo cổ học về loại hình mộ táng, hay các

tư liệu thư tịch cổ Trung Hoa cũng từng nhắc đến vấn đề này Trong các côngtrình, các tác giả miêu tả một cách cụ thể về hình dáng huyệt, xây cất bằng gạch,

đá hoặc ghép bằng thanh gỗ và chôn theo loại hình nào? trong các hố huyệt mộchôn theo những vật tuỳ táng gì?

Tác giả Đào Linh Côn [128] đã phân tích từ quá trình phát hiện, cấu tạocủa các loại hình mộ nơi đây cho đến các vật tuỳ táng chôn theo ở di tích Nền

Chùa Tác giả cho rằng, “Trong các huyệt mộ, ở đáy hộc hoặc đáy huyệt thường

Trang 31

có ít than tro Đó là dấu tích thể hiện những mộ ở khu di tích Nền Chùa được chôn theo tục hoả táng” [tr.187].

Nguyễn Thị Lệ Hằng [126] cũng giới thiệu sơ lược quan niệm về cái chết

và tục hoả táng của người Ấn Độ và Phù Nam để đưa ra sự so sánh về điểm khácbiệt: đối với người Phù Nam sau khi chết được thiêu và cho tro cốt vào tope haystupa rồi xây huyệt mộ chôn cất kiên cố để trường tồn với thời gian; người Ấn

Độ thì xem nước là một chất thiêng liêng, có thể tẩy uế thân xác và linh hồn, chonên sau khi hoả táng, tro cốt được đem rải xuống sông nhằm tẩy uế

Còn theo tác giả Lương Ninh, Võ Sĩ Khải thì cho rằng người Phù Nam có

“phong tục để tang thì cắt tóc, cạo râu; tang lễ thì có 4 cách: thuỷ táng, hoả táng, thổ táng, điểu táng” [90, tr.21] Cư dân cổ nơi đây quan niệm “cái chết là một chuyến đi, đi đến một thế giới khác” [55, tr.62], nên khi chết họ chôn theo

các vật dụng thường ngày, những biểu tượng thần linh và vật điêu khắc thể hiện

cảnh vật, hoạt động chăn nuôi, sản xuất

Nguyễn Văn Long [77] đã phân tích cấu trúc các ngôi mộ ở đây và thống

kê các vật tuỳ táng Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết “người chết đã được cúng,

tế, hoả thiêu rồi đem chôn” Bên cạnh đó, Nguyễn Lân Cường [42], Huỳnh

Phước Huệ [126] lại cho rằng, cư dân cổ Nam Bộ thường có hai hình thức maitáng là hung táng trong chum và huyệt mộ đất

Tác giả Nguyễn Trung Chiến và Lê Hải Đăng [9] lại bắt đầu từ việc thống

kê các địa điểm di tích mộ táng trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Namtheo trục dọc từ biển Đông đến vịnh Thái Lan đãchỉ ra sự phân bố các di tích,dung lượng, số lượng, tình trạng phát hiện, nghiên cứu và bảo tồn các di tích

Qua các cuộc khai quật mộ táng, các tác giả có những giả thuyết về cáchthức chôn cất của cư dân Óc Eo Tuy nhiên, các bài viết chỉ dừng lại ở việc miêu

tả các ngôi mộ, số lượng các vật tuỳ táng dưới góc độ khảo cổ, chưa làm rõ đượcnhững phong tục tập quán trong việc chôn cất người chết của cư dân nơi đây, vàviệc chôn cất như vậy đã nói lên điều gì Đó chính là những khoảng trống màluận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 32

Chữ viết của cư dân Óc Eo chủ yếu được nhận biết qua các bản văn khắc,

trên những miếng vàng, miếng niêm hàng Phạm Đức Dương [29] cho rằng,nền văn hoá Ấn Độ được chuyển tải qua con đường truyền giáo và buôn bán hoàbình Vì vậy, con đường tiếp xúc ngôn ngữ và văn tự chủ yếu qua đạo Bàlamôn,đạo Phật Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, vương quốc Phù Nam tiếp nhậnnhiều yếu tố văn hoá Ấn Độ Các tôn giáo đóng vai trò quốc giáo Con đườngvay mượn ngôn ngữ được chuyển tải qua chữ viết trước hết là các kinh sách Cácvua quan bản địa đều thiết lập chế độ vương quyền kết hợp với thần quyền, do

đó, nhà vua cùng với tăng lữ rất giỏi ngôn ngữ và văn tự Ấn Độ Chính quyềntriều đình và tăng lữ đã du nhập hệ thống chữ viết miền Đông Nam Ấn Độ thuộckiểu chữ Brahmi, “chữ Brahmi thể hiện ngôn ngữ Sanskrit, là chữ của thần linh”[tr.230] Cũng với quan điểm này Võ Sĩ Khải [55] cho rằng, “chữ viết ở vùng châu thổ sông Mekong vào khoảng đầu Công nguyên là một sản phẩm của

sự giao lưu văn hoá do các thương nhân, các tu sĩ Phật giáo và Ấn giáo đem đến Văn tự ở di tích Óc Eo là loại chữ Phạn cổ” [tr.49]

Tác giả Đào Linh Côn, Bùi Xuân Long [130] cho rằng, trong số 8 bản vănkhắc chữ Phạn cổ trên đá phát hiện ở Gò Tháp, có 7 bản nói đến vấn đề liên quan đếntôn giáo tín ngưỡng, chỉ có một bản là liệt kê các loại tô, thuế mà các làng xã phảiđóng góp cho một ngôi đền, được định niên đại vào thế kỷ VI – VII [tr.878-879].Còn các tác giả Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng [18] đề cập đếnbản minh văn xuất hiện ở Gò Xoài Các tác giả đưa ra nhiều cách lý giải khácnhau, nhưng đều thống nhất đây là một bài kệ Pháp thân trong kinh Phật Theo các

tác giả, bản minh văn này “được viết bằng ngôn ngữ Pali lai (hybrid Phali) có dấu vết Sanskrit và một thứ văn tự Deccan (Nam Ấn) [tr.195-196].

Nhìn chung, những công trình trên chủ yếu là các bài viết mang tính chấtgiới thiệu khái quát về chữ viết trên các bia ký ở miền TNB Đây là những địnhhướng quan trọng giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn khi tiếp xúc với các bản minhvăn cổ Đặc biệt, trong một công trình nghiên cứu chuyên biệt về chữ viết cổ tácgiả Thái Văn Chải [8] đã thống kê, phân tích, nhận định và giới thiệu một số bia

Trang 33

ký ở Đông Dương Đây là nguồn tư liệu quý giá, tác giả đã kế thừa và tiếp thu cóphê phán, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về chữ viết của cư dân Óc Eo ởmiền TNB.

- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nước trong khu vực với vương quốc Phù Nam

Từ những kết quả khai quật, cho thấy chủ nhân nền văn hoá Óc Eo - PhùNam có quan hệ kinh tế và văn hoá với các nước trong khu vực Phạm ĐứcDương đã phân tích khá đa chiều để giải thích những vấn đề về ngôn ngữ, vănhoá ở Đông Nam Á; minh chứng về sự giao lưu văn hoá giữa các tộc người vàxem Đông Nam Á là ngã tư đường của sự giao lưu; phân tích sự tiếp xúc vănhoá giữa Việt Nam, Đông Nam Á với Trung Hoa và Ấn Độ thời cổ đại Tác giảcho rằng, nhờ tính cởi mở, không kỳ thị các tôn giáo mà cư dân Óc Eo đã tiếpnhận các tôn giáo, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật, văn hoá đến từ bên ngoài vàđồng thời, bản địa hoá những yếu tố văn hoá ngoại lai tạo nên một nét văn hoárất riêng của cư dân nơi đây

Tác giả Ngô Văn Doanh [27] cũng đã đề cập đến vai trò của Ấn Độ đốivới sự ra đời các quốc gia Hindu giáo cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á, phân tíchvai trò của Brahman trong việc truyền bá và phổ biến văn hoá, tôn giáo Tuynhiên, chỉ có ở Phù Nam những người Bàlamôn (Brahman) Ấn Độ mới trở thành

các vị vua quan trọng của vương quốc Tác giả còn cho rằng, “để củng cố và phát triển nhà nước của mình, các vị vua của vương quốc Phù Nam đã tiếp nhận những thành tựu của Ấn Độ về tổ chức vương quyền Vì vậy mà, dù không phải là thuộc địa của Ấn Độ, vương quốc Phù Nam vẫn tiếp nhận những thành tựu về mọi mặt chính trị, xã hội và văn hoá của Ấn Độ để xây dựng đất nước của mình”

[tr.26] phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của địa phương

Các tác giả Lương Ninh [96], Bùi Phát Diệm [130] cho rằng, cư dân Óc

Eo có mối quan hệ rộng rãi với các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc,Vịnh Bengal, La Mã và các nước Địa Trung Hải Từ các hiện vật lạ, có nguồn

Trang 34

gốc xuất xứ từ bên ngoài được phát hiện trong các di chỉ thuộc văn hoá Óc Eo,các tác giả cho rằng, những hiện vật này chủ yếu được đưa đến đây qua giao lưumua bán, có một số di vật được chế tạo tại chỗ với kỹ thuật được du nhập từ cácnước bên ngoài.

Nói về khả năng tiếp nhận nền văn hoá từ bên ngoài, Hà Văn Tấn [128],Đặng Ngọc Kính [132] cũng cho rằng, sự hình thành của nước Phù Nam dựa vàohai yếu tố nội sinh và ngoại sinh Yếu tố nội sinh là bắt nguồn từ nền văn hoátiền sử và bắt đầu có mối quan hệ với Trung Hoa, Đông Sơn vào thời kỳ sắt sớm;

yếu tố ngoại sinh “chính là sự vay mượn từ Ấn Độ những yếu tố kiến trúc thượng tầng như kết cấu nhà nước, chữ viết và tôn giáo” [tr.368]

Hai tác giả Lê Đình Phụng [126] và Nguyễn Thị Lệ Hằng [126] cho rằng,hai vùng văn hoá Champa và Óc Eo được hình thành và phát triển trên cơ sở vănhoá tín ngưỡng bản địa, đồng thời tiếp thu nền văn hoá Ấn Độ nên hai nền vănhoá có mối quan hệ mật thiết với nhau

Khi nói đến mối quan hệ giữa Óc Eo và Ấn Độ, tác giả G.Coedès [135]

cho rằng, “Đây không chỉ là một ảnh hưởng đơn thuần, mà là của một công cuộc thực dân hoá thực thụ” [tr.51] Tác giả phân tích khái niệm về Ấn Độ hoá,

và đưa ra những nguyên nhân của việc bành trướng, phương thức và nhữngtuyến đường bành trướng của người Ấn Độ, mức độ thâm nhập của nền vănminh Ấn Độ vào các xã hội bản địa, trong đó có Phù Nam

Cũng nói về mối quan hệ này, tác giả Geetesh Sharma [137] cho rằng,

“Phù Nam là một quốc gia có tổ chức đầu tiên ở vùng Đông Nam Á và là một cầu nối quan trọng nhất trong thương mại hàng hải giữa các nước phương Đông với phương Tây” [tr.57]

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu có liên quan ở nhiều góc độkhác nhau, có thời gian tồn tại song song, có nền văn hoá tương đồng với nềnvăn hoá Óc Eo ; phân tích vị trí địa lý, địa hình, đặc điểm và môi trường vùngđất Nam Bộ thời cổ đại, cũng như những nghiên cứu, thống kê dưới góc độ tài

Trang 35

liệu khảo cổ học thông qua các di vật tìm thấy, nghiên cứu từng di tích riêng lẽcủa các tác giả trong nước, ngoài nước.

Từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất,nền văn hoá cổ Óc Eo ngày càng được quan tâm, các công trình nghiên cứu vănhoá Óc Eo càng ngày nhiều Tất cả các công trình nghiên cứu đã được công bốtrên đều rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng trong việc bổ sung những kiến thứccho luận án cả về phương diện nhận định lẫn cung cấp tư liệu Liên quan đến vấn

đề đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo, nhiều vấn đề được gợi mở, chủ yếu làphân tích các di tích di vật dưới góc độ khảo cổ học, hoặc chỉ nghiên cứu vănhoá Óc Eo dưới cái nhìn riêng lẻ, từng mảng, chưa đi sâu nghiên cứu đời sốngvăn hoá Óc Eo trong cái nhìn tổng thể dưới góc độ văn hoá học Vì vậy, khinghiên cứu văn hoá Óc Eo thì đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở miền TNB

là khoảng trống mà chúng tôi cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án của mình

Tóm lại, Trên cơ sở tổng quan những nội dung và kết quả chính của các

công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo,cho thấy: những công trình nghiên cứu chuyên biệt, mang tính học thuật về đờisống văn hoá của cư dân Óc Eo không nhiều Phần lớn các công trình tập trungtiếp cận dưới góc độ nghiên cứu khảo cổ học, hoặc theo hướng nghiên cứu lịch

sử, rất ít nghiên cứu theo hướng văn hoá học Tiếp cận văn hoá Óc Eo dưới gócnhìn văn hoá học là mảng đề tài mới lạ Các tài liệu hiện có chủ yếu chỉ nằmtrong phạm vi một bài báo, các báo cáo khảo cổ, chỉ mang tính khai mở, nhỏ lẻ,chưa mang tính hệ thống trong nghiên cứu Có lẽ, vì văn hoá Óc Eo mới đượccác học giả phương Tây phát hiện và nghiên cứu từ năm 1944, chỉ sau 1975 cáchọc giả Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu Hơn nữa, văn hoá Óc Eo là nền vănhoá khảo cổ bị chôn vùi dưới lòng đất, chủ nhân của nó hiện nay không tồn tại

Vì thế rất khó xác định được một cách đầy đủ, chính xác đời sống văn hoá của

cư dân Óc Eo diễn ra như thế nào Tuy nhiên, những thành quả nghiên cứu củacác công trình đi trước sẽ là những viên gạch đặt nền móng cho các công trình

Trang 36

nghiên cứu tiếp theo, có tác dụng định hướng, gợi mở các hướng nghiên cứumới, là nguồn tư liệu bổ ích và quý giá để các công trình nghiên cứu tiếp theo cóthể kế thừa.

1.3.2 Các dấu tích văn hoá Óc Eo

1.3.2.1 Các loại hình di tích và đặc trưng phân bố

Văn hoá Óc Eo tồn tại trong một không gian văn hoá rộng lớn, với mộtthời gian dài phản ánh nhiều thời kỳ Qua quá trình nghiên cứu có thể thấy sựphân bố các di tích văn hoá Óc Eo rộng khắp cả vùng miền Tây và miền ĐôngNam Bộ, trong đó tập trung nhiều nhất ở miền TNB Chúng ta có thể phân chianhững di tích này thành các tiểu vùng cùng với những đặc điểm riêng của nó:

Với một đế chế hùng mạnh, mang nhiều yếu tố của văn hoá biển như PhùNam, việc hình thành các khu cảng thị là điều tất yếu Các khu cảng thị của PhùNam không chỉ có những cảng biển quốc tế, mà còn hình thành những cảng thịdọc các con sông, ven biển Những cảng thị ven sông, ven biển có vai trò rấtquan trọng trong việc giao lưu, buôn bán với các vùng trong khu vực, hay còngọi giao lưu, buôn bán nội địa Những cảng thị ven sông đồng thời cũng lànhững khu xưởng chế tác thủ công quan trọng của Phù Nam như: di tích NhơnThành (Cần Thơ), Gò Hàng (Long An)… Theo giới nghiên cứu khảo cổ di tíchNhơn Thành (Cần Thơ) có nhiều hoạt động sống, không gian sống của cộngđồng cư dân bản địa với các hoạt động sống mang sắc thái của một “đô thị sông

Trang 37

nước” thời cổ, phản ánh đặc trưng của một vùng cư trú chủ yếu trên sông rạch,

có quan hệ giao thương chặt chẽ với các di tích khác ở vùng Tứ giác LongXuyên và Đồng Tháp Mười Di tích này thể hiện tầm vóc của một trung tâm dân

cư, thương mại phát triển của văn hoá Óc Eo

Di tích Óc Eo được nhìn nhận là cảng thị quốc tế quan trọng nhất của

vương quốc Phù Nam; nó luôn giữ vai trò là trung tâm kinh tế, văn hoá;là trạmdừng chân trên tuyến đường biển nối liền Nam Á và Bắc Á với hai trung tâm vănminh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa.Tại đây, các nhà khảo cổ họcphát hiện nhiều dấu hiệu của một cảng thị có sự giao lưu rộng rãi với bên ngoài.Trước hết, về vị trí địa lý, khu di tích Óc Eo từng nằm ngay cạnh bờ biển Cáchiện vật được phát hiện trong các di tích đã cho thấy một cảng thị có quan hệrộng rãi với bên ngoài được thể hiện rất rõ nét: đó là hai chiếc huy chương vàngđúc nổi hình Hoàng đế La Mã; chiếc gương đồng thời Hán; một chiếc đèn kiểu

Ba Tư; các đồng tiền được cắt tư, cắt tám, những miếng niêm hàng và nhiều hiệnvật ngoại nhập khác… Đây là những vật được đưa đến từ nhiều nơi trên thế giới,chứ không phải sản xuất tại chỗ Qua đó cho thấy, tính chất cảng thị của di tích

Óc Eo được thể hiện rất rõ

Cạnh Đền (Trăm Phố) thuộc xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh

Kiên Giang, được coi là một thành phố cảng thị ven biển quan trọng của vươngquốc Phù Nam Nó nằm ở vị trí ven biển phía Nam, cách khu di tích Óc Eo - BaThê khoảng 90 km Trong đợt khai quật năm 1981 và năm 1986, đã ghi nhận ởvùng đất thấp dưới chân các “gò nổi” có dấu vết cư trú nhà sàn, cọc gỗ cắm dướiđáy các mương nước, nhiều mảnh gốm, trái cây, hạt lúa, di cốt người, xươngđộng vật; loại hình di tích xưởng thủ công làm đồ sắt, đồ trang sức bằng vàng,bạc, đá quý, thuỷ tinh; những kiến trúc đền đài, mộ táng… Đặc biệt, trong phạm

vi Cạnh Đền, các nhà khảo cổ học đã thu thập được rất nhiều di vật liên quan đếnhoạt động giao lưu nhiều mặt với Ấn Độ và Phương Tây Đó là những con dấubằng đá quý, bằng kim loại, trên mặt có khắc chạm hình người, hình động vật,

Trang 38

chữ cổ [14]… Qua đó có thể thấy, Cạnh Đền là một cửa ngõ quan trọng củavương quốc Phù Nam, để giao thương với thế giới bên ngoài.

Như vậy, có thể thấy trên vùng đất thấp ở miền TNB vào những thế kỷđầu Công nguyên, đã hình thành các khu cảng thị quan trọng, có mối quan hệgiao lưu buôn bán rộng rãi với các nước trong khu vực và quốc tế Sự hình thànhcác thành phố cảng thị chắc hẳn được đặt trên một nền kinh tế phát triển; cáchoạt động thủ công phong phú, có trình độ kỹ thuật cao; các hoạt động buôn bándiễn ra sôi nổi, sầm uất

- Một số khu trung tâm tôn giáo, chính trị quan trọng

Vương quốc Phù Nam chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc bởi văn hoá Ấn

Độ, nó được xem là một trong những “quốc gia Ấn Độ hoá ở Viễn Đông” đầutiên Sự ảnh hưởng này được thể hiện trong tất cả các mặt đời sống của cư dânnơi đây: chính trị, kỹ thuật, văn hoá, tôn giáo, phong tục Trong đó, tôn giáođóng vai trò quan trọng nhất, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động khác Chính vìthế, trong vương quốc lúc bấy giờ đã hình thành nên những trung tâm tôn giáo,chính trị quan trọng như di tích Gò Tháp, Đá Nổi, Gò Xoài

Di tích Gò Tháp (Prasat Pram Loven) là tên gọi chung cho một khu vực gồm

nhiều gò nhỏ nằm trên một giồng đất rộng thuộc ấp 1, xã Tân Kiều, huyện ThápMười, tỉnh Đồng Tháp Đây là một tập hợp gồm nhiều công trình kiến trúc mangtính chất tôn giáo như: kiến trúc Gò Tháp Mười - được xem là đền thờ thần Visnu;

di tích 10GT.H11 và di tích Bà Chúa Xứ - được xem đền thờ thần Mặt Trời Surya;các di tích 93GT.M1, 93GT.M2, 93GT.M3, 93GT.M4, 93GT.M5 và 10GT.H10 -đền thần Visnu và thần Siva; Gò Minh Sư - đền thần Siva [111, tr.71-90] Trongcác di tích này, xuất hiện dày đặc các di vật, tượng thờ hoặc các hoá thân của các

vị thần, phật Đặc biệt, tại đây, các nhà khảo cổ học còn tìm được 8 bản vănkhắc Trong đó, có bản văn khắc (ký hiệu K5) nhắc đã tới việc hoàng tửGunavarman thuộc dòng tộc Kaundinya cho dựng một tượng đôi bàn chân củathần Vishnu, người được mệnh danh là Sri Cakratirtha Văn bia còn cho biết, đây

Trang 39

chính là vùng đầm lầy được chinh phục bởi vua Phù Nam và phong cho con trai

là Gunavarman cai quản Như vậy, có thể xem, di tích Gò Tháp là một trung tâmtôn giáo, chính trị quan trọng của vương quốc Phù Nam

Di tích Nền Chùa (Tà Keo) thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên

Giang Nơi đây từng được xem là trung tâm thương mại lớn nhất vùng ĐôngNam Á lúc bấy giờ Qua các đợt khảo sát, L.Malleret đã cho rằng, di tích nàyđược coi là “tiền cảng” của “thành phố cảng Óc Eo” [14], là một trung tâm vănminh và là vùng cảng thị cực Tây Nam của vương quốc Phù Nam Sự cườngthịnh của nền văn minh này được thể hiện qua các dấu tích để lại

Tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều dấu tích cư trú,trong đó có 11 cọc gỗ cắm đứng hoặc đỗ nghiêng, tập trung trong một vùng hẹp,cọc dài nhất đo được 2,86m, có đường kính khoảng 0,2m - 0,3m, tầng văn hoá làlớp đất sình màu đen có chứa nhiều mảnh gốm vỡ lớn thuộc loại dụng cụ sinhhoạt như nồi, bình, bình có vòi, ly có chân đế cao, nắp đậy, cà ràng, cùng một sốxương cốt động vật, trái cây Ngoài ra, còn phát hiện ra nhiều cọc gỗ tập trungthành nhóm cả dưới lòng lung, trên cánh đồng thấp và ven chân gò trên một diệntích khoảng 15ha [10, tr.369] Các nhà nghiên cứu đều cho rằng đó là dấu tíchcủa các ngôi nhà sàn

Đặc biệt, nơi đây còn phát hiện nền móng của một ngôi đền khá lớn đượcxây bằng đá, dạng hình chữ nhật dài 25,6m, rộng 16,3m [15, tr.335] Toàn bộphía trên đã bị sụp đổ, đá được phủ lên toàn bộ mặt gò Nền móng được nện chặtbằng đất sét rất vững chắc, có tác dụng chống nước muối ngấm vào Bên ngoài

có một chiếc linga bị vỡ còn phân nửa bằng sa thạch, cao 1,00m cùng với nhiềuhiện vật khác như linga, yoni bằng đá, con dấu khắc hình thuyền, hình ốc, bùađeo đúc hình người, mảnh gốm có hình nghệ nhân chơi đàn, nhiều hạt chuỗi, đáquý… Tại đây, 19 ngôi mộ hoả táng cũng được phát hiện Trong các ngôi mộ cóchôn theo nhiều lá vàng mỏng có in hình người, hình thần, hình bò Nandin, rùa,rắn, những đồng tiền, nhẫn, đá quý…

Trang 40

Như vậy, di tích Nền Chùa ngoài những dấu tích của cư trú, cảng thị thìcòn có nhiều dấu tích của một trung tâm tôn giáo Di tích có vai trò rất quantrọng, phản ánh nhiều mặt về hoạt động kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng của cư dânnơi đây.

Di tích Gò Xoài nằm trong quần thể di tích Bình Tả thuộc xã Đức Hoà Hạ,

huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Đây là một quần thể di tích từ thời tiền sử tới sơ

sử được phân bố theo các trục lộ cổ và sông Vàm Cỏ Ðông Cụm di tích này cóniên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN bao gồm các di tích như: Gò Xoài, GòĐồn, Gò Năm Tước

Di tích Gò Xoài được xây bằng gạch, có dạng gần vuông với mỗi cạnh dàikhoảng 20 mét, nền móng của di tích có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp, gồmnhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng… Kiến trúc

Gò Xoài có hố thờ hình vuông, cạnh 2,2 m; sâu trên 2,5 m, ở gần đáy hố thờ đãphát hiện được tro và một bộ sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ,mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi; những chiếc nhẫn và mềđay nạm đá quý; một bản văn minh Pali lai gồm 5 dòng: dòng thứ nhất ghi mộtđoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minhvăn trên đều thuộc về Phật giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận địnhthuộc loại mẫu tự Nam Ấn (Deccan), thế kỷ VIII-IX SCN [150] Căn cứ trên cácsưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bảnminh văn đã phát hiện tại di tích Gò Xoài, có thể nhận định rằng, đây là mộttrong những di tích quan trọng của văn hoá Óc Eo

- Các khu cư trú chủ yếu

Cư dân Óc Eo ở TNB thường cư trú trong những vùng thuộc châu thổthấp trũng miền Tây sông Hậu, vùng rừng U Minh, vùng Đồng Tháp Mười.Những loại hình di tích này có đặc điểm chung là phân bố trên các gò đất sét phacát, diện tích rộng trung bình từ 1.000 - 6.000m2, có tầng văn hoá mỏng, đã bịxáo trộn do mưa lũ hoặc do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là do việc canh tác

Ngày đăng: 15/04/2015, 15:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Hình phụ nữ Gò Xoài [Nguồn: 74, tr141] - Đời sống văn hoá của cư dân óc eo ở tây nam bộ (qua tư liệu khảo cổ học  luận án tiến sỹ văn hóa học
Hình 3 Hình phụ nữ Gò Xoài [Nguồn: 74, tr141] (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w