1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)

178 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, chất thải của con người, động vật không được quản lý cùng với thói quen sử dụng phân tươi trong sản xuất nông nghiệp, ý thức kém trong vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân của

Trang 1

=========

VŨ THỊ BÌNH PHƯƠNG

NGHI£N CøU THùC TR¹NG NHIÔM

Ký SINH TRïNG NGUåN N¦íC T¹I HAI X· HUYÖN KIÕN X¦¥NG

TØNH TH¸I B×NH Vμ HIÖU QU¶ BIÖN PH¸P CAN THIÖP

(2011- 2012)

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH – 2015

Trang 2

=========

VŨ THỊ BÌNH PHƯƠNG

NGHI£N CøU THùC TR¹NG NHIÔM

Ký SINH TRïNG NGUåN N¦íC T¹I HAI X· HUYÖN KIÕN X¦¥NG

TØNH TH¸I B×NH Vμ HIÖU QU¶ BIÖN PH¸P CAN THIÖP

THÁI BÌNH – 2015

Trang 3

Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng, Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y- Dược Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS

Lê Bách Quang và GS.TS Lương Xuân Hiến, những người thầy đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi cả về vật chất, tinh thần cũng như đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Y tế công cộng và Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y- Dược Thái Bình đã cùng tôi thực hiện đề tài, đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, Trạm y tế xã Bình Nguyên và xã Vũ Hòa huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã giúp tôi triển khai, thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi vô cùng biết ơn chồng, hai con cùng toàn thể gia đình đã hết lòng ủng

hộ, động viên, giúp đỡ, chia sẻ mọi khó khăn vất vả để tôi yên tâm học tập

Tác giả

Vũ Thị Bình Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của tôi và cộng sự, được các cộng sự cho phép sử dụng trong luận án Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Thị Bình Phương

Trang 5

ADB Asian Development Bank (Ngân hàng phát triển châu Á)

KAP Knowledge - Attitude - Practice (Kiến thức, thái độ, thực hành) SODISSolar Water disinfection (Diệt khuẩn nước bằng năng lượng mặt trời) UNICEF United Nations children's Fund (Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc)

UV Ultraviolet (Tia cực tím)

WHO World Health Organization (Tổ chức Y Tế Thế giới)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 3

1.1.1 Mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 3

1.1.2 Tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 6

1.1.3 Thực trạng bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 10

1.2 Ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 16

1.2.1 Yếu tố ảnh hưởng tới ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 16

1.2.2 Thực trạng ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 19

1.3 Các biện pháp giảm thiểu và tiêu diệt mầm bệnh ký sinh trùng 25

1.3.1 Biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe 25

1.3.2 Biện pháp điều trị cho người nhiễm ký sinh trùng 27

1.3.3 Biện pháp xử lý nước 28

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.1.1 Nghiên cứu mô tả 38

2.1.2 Nghiên cứu thực nghiệm 39

2.2 Địa điểm nghiên cứu 39

2.2.1 Nghiên cứu mô tả 39

2.2.2 Nghiên cứu thực nghiệm 41

2.3 Thời gian nghiên cứu 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 41

2.4.1 Khung lý thuyết cho nghiên cứu 41

2.4.2 Thiết kế nghiên cứu 42

2.4.3 Chọn mẫu và cỡ mẫu 47

2.4.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 50

2.4.5 Đánh giá kết quả 56

Trang 7

2.5.2 Chỉ số trong nghiên cứu thực nghiệm 58

2.6 Xử lý số liệu 58

2.7 Khống chế sai số 59

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 59

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Thực trạng nhiễm và yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt 60

3.1.1 Thực trạng nhiễm ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt 60

3.1.2 Yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng nhiễm ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu 65

3.2 Hiệu quả các biện pháp can thiệp 77

3.2.1 Hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe 77

3.2.2 Hiệu quả của các biện pháp thực nghiệm 89

Chương 4: BÀN LUẬN 94

4.1 Thực trạng nhiễm và yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 94

4.1.1 Thực trạng nhiễm ký sinh trùng nguồn nước 95

4.1.2 Yếu tố ảnh hưởng tới ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 101

4.2 Hiệu quả các biện pháp can thiệp 112

4.2.1 Hiệu quả biện pháp can thiệp bằng truyền thông 112

4.2.2 Hiệu quả của các biện pháp can thiệp thực nghiệm 122

KẾT LUẬN 130

KHUYẾN NGHỊ 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trong các nguồn nước tại địa

bàn nghiên cứu 60 Bảng 3.2 Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng

trong các nguồn nước tại địa bàn nghiên cứu 61 Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun, sán, đơn bào trong các nguồn nước 62 Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm từng loại mầm bệnh ký sinh trùng trong nước 63 

Bảng 3.5 Cường độ nhiễm Cryptosporidium spp trong mỗi nguồn nước 64 Bảng 3.6 Trình độ học vấn của đối tượng tham gia phỏng vấn 65 Bảng 3.7 Nghề nghiệp của đối tượng tham gia phỏng vấn 65 Bảng 3.8 Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh ký

sinh trùng từ nước 67 Bảng 3.9 Kiến thức của người dân về phương thức gây ô nhiễm nguồn nước 68 Bảng 3.10 Kiến thức của người dân về tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng 69 Bảng 3.11 Kiến thức của người dân về các biện pháp bảo quản, vệ sinh và

xử lý nước 70 Bảng 3.12 Kiến thức của người dân về biện pháp phòng lây nhiễm mầm

bệnh ký sinh trùng từ nước 71 Bảng 3.13 Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc xây dựng nguồn

nước sạch trong sinh hoạt 71 Bảng 3.14 Tỷ lệ người dân biểu hiện bệnh liên quan tới nhiễm ký sinh trùng 72 Bảng 3.15 Tỷ lệ nguồn nước người dân sử dụng chế biến thực phẩm

tái/sống 73 Bảng 3.16 Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu 74 Bảng 3.17 Tỷ lệ người dân có thói quen uống nước lã, ăn thực phẩm

tái/sống 75 Bảng 3.18 Tỷ lệ người dân thực hành chưa đúng trong vệ sinh môi trường75 

Trang 9

Bảng 3.21 Tỷ lệ nhiễm từng loại ký sinh trùng trong các nguồn nước 78 

Bảng 3.22 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trong mỗi nguồn nước 78 

Bảng 3.23 Kiến thức của người dân về mầm bệnh ký sinh trùng 79 

Bảng 3.24 Kiến thức của người dân về tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng 79 

Bảng 3.25 Kiến thức của người dân về phương thức gây ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 80 

Bảng 3.26 Kiến thức của người dân về bảo quản và vệ sinh nước 81 

Bảng 3.27 Tỷ lệ người dân có thói quen ăn uống không hợp vệ sinh 81 

Bảng 3.28 Tỷ lệ nguồn nước được người dân sử dụng trong sinh hoạt 82 

Bảng 3.29 Tỷ lệ nguồn nước người dân sử dụng chế biến thực phẩm tái/sống 82 

Bảng 3.30 Tỷ lệ loại hố xí người dân sử dụng trước và sau can thiệp 83 

Bảng 3.31 Tỷ lệ người dân có triệu chứng liên quan tới nhiễm ký sinh trùng 83  Bảng 3.32 Thực trạng vệ sinh nguồn nước giếng khoan 84 

Bảng 3.33 Thực trạng vệ sinh nguồn nước giếng khơi 85 

Bảng 3.34 Thực trạng vệ sinh nguồn nước mưa 86 

Bảng 3.35 Thực trạng vệ sinh nguồn nước ao, hồ 87 

Bảng 3.36 Thực trạng vệ sinh nguồn nước sông ngòi 88 

Bảng 3.37 Số mèo thải Cryptosporidium spp đã tác động bởi ozone 89 

Bảng 3.38 Tỷ lệ trứng giun móc hình thành ấu trùng sau tác động bởi ozone 89 

Bảng 3.39 Tỷ lệ trứng giun đũa hình thành ấu trùng sau tác độngbởi ozone 90 

Bảng 3.40 Số mèo thải Cryptosporidium spp đã được xử lý bởi nhiệt 91 

Bảng 3.41 Tỷ lệ trứng giun móc hình thành ấu trùng sau tác động bởi nhiệt 91 

Bảng 3.42 Tỷ lệ trứng giun đũa hình thành ấu trùng sau tác động bởi nhiệt 92 

Bảng 3.43 Số mèo thải Cryptosporidium spp đã được xử lý bởi Aquatabs 93 

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong mỗi nguồn nước 61 

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng

trong các nguồn nước tại 2 xã nghiên cứu 62 

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nhiễm chung mầm bệnh giun, sán, đơn bào trong các nguồn nướctại 2 xã nghiên cứu 63 

Biểu đồ 3.4 Giới của đối tượng tham gia phỏng vấn tại 2 xã nghiên cứu 66  Biểu đồ 3.5 Kiến thức của người dân tại 2 xã nghiên cứu về mầm bệnh ký sinh trùng gây ô nhiễm nước 67 

Biểu đồ 3.6 Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh

ký sinh trùng từ nước 68 

Biểu đồ 3.7 Kiến thức của người dân về một số biện pháp xử lý nước 70 

Biểu đồ 3.8 Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc phòng chống ô nhiễm nguồn nước bởi mầm bệnh ký sinh trùng 72 

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ nguồn nước được người dân sử dụng trong sinh hoạt 73 

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ nguồn nước người dân sử dụng chế biến thực phẩm ăn tái/sống tại 2 xã nghiên cứu 74 

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ người dân 2 xã nghiên cứu có thói quen uống nước lã, ăn thực phẩm tái/sống chung cả 2 xã nghiên cứu 75 

Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ người dân thực hành chưa đúng trong vệ sinh môi trường 76 

Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ chung các loại nhà tiêu được người dân sử dụng

tại 2 xã nghiên cứu 76 

Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ trứng giun đũa hình thành ấu trùng sau tác động bởi nhiệt 92 

Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ trứng giun hình thành ấu trùng sau khi chịu tác động của nước khử khuẩn Aquatabs 93 

Trang 11

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Kiến Xương 40 

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết cho nghiên cứu 41 

Sơ đồ 2.2 Thiết kế nghiên cứu tại cộng đồng 45 

Sơ đồ 2.3 Thiết kế nghiên cứu trên thực nghiệm 46 

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường kém ở nhiều nơi trên thế giới là nguyên nhân dẫn tới tử vong [128] Nước ô nhiễm vẫn được con người sử dụng hằng ngày trong ăn uống, sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, đe dọa tính mạng của con người, đặc biệt là

phụ nữ và trẻ em

Mỗi năm trên thế giới, tình trạng tiêu chảy tái phát hoặc nhiễm giun đường ruột làm cho khoảng 2,5 triệu người tử vong, làm cho 50% trẻ thiếu cân và suy dinh dưỡng Thiếu cân, suy dinh dưỡng chính là nguyên nhân của 35% trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi Đây là hậu quả của việc sử dụng nước không an toàn, thiếu điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh [66], [138]

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 70% dân số sống bằng nghề nông Môi trường nước ngày càng ô nhiễm nặng nề do tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh chóng cùng với sự gia tăng dân số Trong công nghiệp, do không có thiết bị xử lý, các cơ sở sản xuất đã xả thẳng chất thải ra môi trường gây ô nhiễm nước Sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp làm các nguồn nước mặt bị ô nhiễm hóa chất độc hại Đặc biệt, chất thải của con người, động vật không được quản lý cùng với thói quen

sử dụng phân tươi trong sản xuất nông nghiệp, ý thức kém trong vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân của người dân làm tình trạng ô nhiễm nước trở nên nặng nề hơn bởi sự góp mặt của các mầm bệnh sinh học, trong đó có mầm bệnh ký sinh trùng Không những thế, các biện pháp xử lý, bảo quản và vệ sinh nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày vẫn chưa được người dân quan tâm đúng mức làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh lây truyền qua nước

Theo kết quả điều tra của Cục y tế dự phòng - Bộ Y tế năm 2012, tại Việt Nam có 69% dân số đô thị và 40% dân số nông thôn sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/2009 [15]

Trang 13

Trên phạm vi toàn quốc, bệnh tiêu chảy và nhiễm ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ốm đau, làm cho khoảng 250.000 người phải nhập viện mỗi năm Các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh chiếm 7,5% gánh nặng bệnh tật, chủ yếu là bệnh tiêu chảy, nhiễm ký sinh trùng và suy dinh dưỡng [66]

Tỷ lệ nhiễm giun vùng trung du và miền núi phía Bắc là 65,3%, đồng bằng sông Hồng 58,2%, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung 42,2%, Tây Nguyên 30,2%, Đông Nam bộ 29%, đồng bằng sông Cửu Long 12- 14% [60]

Thái Bình với 90% dân số sống ở các vùng nông thôn Người dân nông thôn Thái Bình phải sử dụng nhiều nguồn nước sẵn có tại địa phương cho ăn uống, sinh hoạt Khi sử dụng các nguồn nước không đảm bảo vệ sinh cũng như chưa có hệ thống xử lý nước công cộng hiệu quả, các hộ gia đình nông thôn áp dụng nhiều phương pháp khác nhau: đun sôi, keo tụ, năng lượng mặt trời, hóa chất … để loại bỏ hoặc vô hiệu hóa mầm bệnh trong nước Vậy hiệu quả của các phương pháp này đến đâu? Liệu khi sử dụng nước được xử lý bằng các phương pháp này trong sinh hoạt, người dân còn có nguy cơ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng không? Đặc biệt, khi họ có thói quen uống nước lã hoặc ăn thực phẩm tái sống

Xuất phát từ những thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu thực trạng nhiễm ký sinh trùng nguồn nước tại hai xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011- 2012)”

nhằm 2 mục tiêu

1 Mô tả thực trạng nhiễm và các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm mầm bệnh giun, sán, đơn bào nguồn nước tại xã Vũ Hòa và Bình Nguyên huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2011- 2012

2 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp giảm thiểu và diệt mầm bệnh ký sinh trùng trong nước: truyền thông, xử lý nước (nhiệt độ, ozone và aquatabs)

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước

1.1.1 Mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước

Có nhiều mầm bệnh ký sinh trùng có thể gây ô nhiễm môi trường nước

và lan truyền qua nước Có những mầm bệnh sẵn có ở ngoài môi trường nhưng đa số các mầm bệnh lại xuất phát từ chất thải của con người hoặc các loại động vật khác, phát tán ra ngoại cảnh gây ô nhiễm môi trường đất, nước

và không khí

1.1.1.1 Mầm bệnh giun

Các mầm bệnh giun có thể lây truyền qua nước bao gồm [3], [5]:

- Giun đũa: nhiều loại giun đũa có thể lây nhiễm, ký sinh và gây bệnh cho

người, bao gồm giun đũa người (Ascaris lumbricoides), giun đũa lợn (Ascaris suum), giun đũa chó (Toxocara canis), giun đũa mèo (Toxocara cati)

- Giun tóc (Trichuris trichiura)

- Giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/ Necator americanus)

- Giun lươn (Strongyloides stercoralis)

Các mầm bệnh giun được đào thải ra ngoại cảnh qua phân, chất thải của con người hoặc một số loại động vật khác như chó, mèo… Các mầm bệnh này cần có thời gian phát triển ở ngoại cảnh đến giai đoạn có khả năng lây nhiễm Khi con người ăn, uống hoặc tiếp xúc với nước nhiễm các loại mầm bệnh thích hợp ký sinh ở người, chúng sẽ xâm nhập và phát triển đến giai đoạn trưởng thành Nếu con người lây nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng từ động vật, vào trong cơ thể, chúng phát triển và tồn tại ở giai đoạn ấu trùng hoặc giun non và gây nên nhiều tác hại nghiêm trọng

Trang 15

Một số mầm bệnh khác không lây truyền trực tiếp qua nước Chúng cần nước để hoàn thành một hoặc nhiều giai đoạn trong chu kỳ trước khi lây nhiễm cho con người thông qua các thực phẩm có nguồn gốc thủy sản Ví dụ:

Gnasthostoma spinigerum

1.1.1.2 Mầm bệnh sán

Các loại sán nói chung đều có chu kỳ phức tạp gồm nhiều giai đoạn, trong đó có giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh Tuy nhiên, cũng có loại ký sinh trùng có chu kỳ đơn giản, chúng chỉ cần giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh

hoặc thậm chí không cần thời gian phát triển đã có khả năng lây nhiễm

Các loại sán lây truyền qua nước gồm: Sán dây lợn (Toenia solium), sán lá gan lớn (Fasciola gigantica, Fasciola hepatica), sán máng (Trichobillazia sp./ Schistosoma sp.), sán dây chó Echinococus granulosus Toenia soliumtrưởng thành ký sinh ở ruột non người Các đốt sán già

mang trứng theo phân ra ngoại cảnh Trứng sán ở ngoại cảnh có khả năng lây nhiễm ngay mà không cần thời gian phát triển Khi người nuốt phải trứng sán

do ăn thức ăn hoặc uống nước có chứa trứng, vào trong cơ thể, trứng sán nở thành ấu trùng ở ruột non và theo dòng máu đến ký sinh ở nhiều cơ quan phủ tạng trong cơ thể, đặc biệt là ở tổ chức não gây nhiều tác hại nghiêm trọng,

thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh [3], [5]

Sán lá gan lớn trưởng thành ký sinh chủ yếu ở đường mật trong gan của những động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu… và người Chúng đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh gặp môi trường nước, sau 1 giai đoạn phát triển, trứng nở thành ấu trùng lông Ấu trùng lông xâm nhập vào các loại ốc thích hợp để ký sinh và phát triển thành ấu trùng đuôi Ấu trùng đuôi rời ốc bơi tự

do trong nước tìm đến ký sinh ở các loại thực vật thủy sinh Người hoặc các loại động vật ăn thực vật thủy sinh còn sống hoặc uống nước lã chứa ấu trùng

Trang 16

sẽ bị nhiễm sán Vào trong cơ thể người, ấu trùng sán lá gan lớn phát triển, ký sinh ở nhiều cơ quan phủ tạng khác nhau như đường mật trong gan, nhu mô

gan, não… gây nhiều bệnh cảnh phức tạp [3], [5]

Sán máng (Trichobillazia sp./ Schistosoma sp.) ký sinh ở mạch máu

của người, các loại chim, vịt, chuột Trứng được đào thải ra ngoài theo phân hoặc nước tiểu Nếu con người tiếp xúc với nước có ấu trùng đuôi của các loại sán máng ký sinh ở người, chúng xâm nhập qua da đến ký sinh ở mạch máu vùng bàng quang, ruột Nhưng nếu con người tiếp xúc với nước chứa ấu trùng của các loại sán máng ký sinh ở chim, chuột, vịt, chúng di chuyển dưới da gây

nên hội chứng ấu trùng chu du dưới da [3], [5]

1.1.1.3 Mầm bệnh đơn bào

Có nhiều loại mầm bệnh đơn bào có thể lây truyền qua nước, bao gồm:

Cryptosporidium parvum, Balantidium coli, Giardia intestinalis, Cyclospora cayetanensis, một số loại amip, Toxoplasma gondii, Sarcosistis hominis, Sarcosistis suihominis và Isospora belli

Mầm bệnh đơn bào gây ô nhiễm và lây truyền qua nước có thể sẵn có ở

ngoài môi trường như Cryptosporidium parvum, Balantidium coli, Cyclospora sp., amip Neagleria fowleri, Acanthamoeba… hoặc được đào thải

từ con người và động vật thông qua chất thải, dịch tiết như Entamoeba histolytica, Giardia intestinalis, Toxoplasma gondii Con người nhiễm các

mầm bệnh này khi ăn, uống hoặc tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm Xâm nhập vào cơ thể, chúng có thể ký sinh và gây bệnh ở da, ở mắt như

Acanthamoeba sp., ở đường tiêu hóa như Cryptosporidium parvum, Balantidium coli, Cyclospora sp., Entamoeba histolytica, Giardia intestinalis hoặc ở nhiều cơ quan phủ tạng như Entamoeba histolytica, Toxoplasma gondii, Neagleria fowleri [3], [5]

Trang 17

1.1.1.4 Vi nấm

Vi nấm sống trong nước đều là những vi nấm có hình thái sợi và có cấu tạo đa bào Vi nấm sống hiếu khí và không quang hợp Trong môi trường nước, vi nấm lấy các chất dinh dưỡng từ các chất thải hữu cơ và như vậy, chúng có tác dụng phân hủy các chất hữu cơ trong nước Không có nấm, chu trình cacbon sẽ chậm lại và các chất thải hữu cơ sẽ tích tụ trong nước Con

người có thể lây nhiễm nấm khi tiếp xúc với nước mang bào tử

1.1.2 Tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước

Mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước có thể gây nên nhiều tác hại cho con người Tác hại do ký sinh trùng gây nên đối với cơ thể người thường mang tính chất thầm lặng nhưng đôi khi có diễn biến cấp tính, nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị tử vong [4]

Để phát triển và sinh sản, ký sinh trùng lấy thức ăn từ cơ thể người dẫn đến hiện tượng thiếu hụt dinh dưỡng Lượng dinh dưỡng mất đi tùy thuộc vào loại ký sinh trùng, số lượng ký sinh trùng và khả năng phục hồi của cơ thể

Mỗi ngày, một con giun đũa trưởng thành lấy của cơ thể người 2,8 gam Gluxit và 0,7 mg Protit Ngoài ra, chúng còn chiếm đoạt Vitamin A, D, E, K… Do đó, nhiễm giun đũa nhiều và lâu ngày có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, suy nhược cơ thể Đặc biệt, trẻ em có thể bị còi xương và chậm phát triển trí tuệ Giun móc hút máu lãng phí làm người bệnh nhanh chóng rơi vào tình trạng thiếu máu và hậu quả, người bệnh bị suy tim, suy nhược cơ thể thậm chí tử vong [3], [5]

Tỷ lệ thiếu máu do thiếu Ferritin của nữ công nhân làm việc tại các nông trường chè tại Phú Thọ là 44,4% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nguy cơ thiếu máu do thiếu Ferritin ở người nhiễm giun móc/mỏ cao gấp 11,4 lần người không nhiễm giun móc và giun mỏ [29]

Trang 18

Hội chứng Loeffler là phản ứng đầu tiên của cơ thể người khi có sự xuất hiện của ấu trùng giun đũa tại phổi Bệnh nhân có ho khan, đau ngực, bạch cầu ái toan tăng tới 40% hoặc hơn và thường gặp ở cộng đồng nhiễm giun tái phát hoặc nhiễm giun theo mùa hơn là những vùng nhiễm quanh năm Giun móc/mỏ khi xâm nhập gây viêm da hay bệnh “đất ăn chân” [3], [5]

Giun sán còn tiết ra các sản phẩm chuyển hóa gây độc cho cơ thể vật chủ và tác động vào hầu hết các cơ quan như tim mạch, cơ quan tạo máu, thần kinh, tuyến nội và ngoại tiết Chúng đóng vai trò kháng nguyên gây dị ứng và tình trạng dị ứng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào số lượng giun ký sinh

Người bệnh nhiễm ấu trùng sán dây lợn có thể bị động kinh, tăng áp lực nội sọ, rối loạn tâm thần, đau mỏi cơ, lệch trục nhãn cầu hoặc mù và thậm chí

tử vong Khi nhiễm thể trưởng thành, người bệnh thường xuyên có biểu hiện đau bụng, rối loạn tiêu hóa, suy nhược cơ thể, hoa mắt, chóng mặt và thiếu máu [3], [5]

Bệnh nhân nhiễm Toxocara canis thường có triệu chứng ngứa, đau đầu,

nổi mề đay, rối loạn tiêu hóa, tăng bạch cầu ái toan Ngoài ra, bệnh nhân có thể đau khớp, hoa mắt, chóng mặt và mệt mỏi [18]

Sán lá gan lớn ký sinh ở gan và đường mật trong gan Sán có thể gây biến chứng tắc mật, vàng da và chảy máu đường mật Bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn không được điều trị có thể dẫn tới biến chứng xuất huyết, thiếu máu nặng, tắc đường mật, vỡ gan và tử vong [57] Có tới 34% bệnh nhân có khối u

ở gan do sán lá gan lớn đã được chẩn đoán nhầm với ung thư [4]

Kết quả nghiên cứu trên 360 bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn cho thấy 89,1% trường hợp có đau bụng khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh, 57% có dấu hiệu sốt Ngoài ra, các triệu chứng như khó tiêu, buồn nôn, nôn, mệt mỏi cũng là những dấu hiệu thường gặp [19]

Trang 19

Tại phòng khám Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và côn trùng Quy Nhơn, 80% bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn có đau hạ sườn phải, 70% đau vùng thượng vị, 76% mẩn ngứa, 96% sốt và 8% gan to [14]

Tìm hiểu về triệu chứng lâm sàng trên bệnh nhân được chẩn đoán bệnh sán lá gan lớn tại một số bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh ở Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả cho thấy: 62,79% bệnh nhân đau hạ sườn phải và thượng

vị, 48,89% bệnh nhân có sốt và 6,97% biểu hiện ngứa nổi mẩn ngoài da [11]

Người nhiễm S haematobium có đái buốt, đái rắt, đái máu, kiết lỵ và

có thể tử vong Người nhiễm S mansoni có dấu hiệu lâm sàng là ỉa chảy, hội chứng lỵ, toàn thân có sốt, nhiễm độc và thiếu máu nặng Sán máng S japonicum gây sốt, nổi mày đay, viêm phổi S mekongi gây xơ gan, lách to và

cổ chướng Nhiễm sán máng của động vật, người bệnh có thể có biểu hiện viêm da dữ dội [3], [5]

Các loại đơn bào lây truyền qua nước là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng phức tạp cho người bệnh do ngoài ký sinh ở đường tiêu hóa, chúng có thể di chuyển để ký sinh và gây bệnh ở nhiều cơ quan, phủ tạng

Entamoeba histolytica là nguyên nhân chính gây nên triệu chứng bệnh

và tình trạng tử vong trên người tại các nước đang phát triển Chúng là nguyên nhân làm cho trên thế giới, mỗi năm, có khoảng hơn 100.000 người tử

vong Ngoài gây ra gây hội chứng lỵ, E histolytica còn có thể di chuyển đến

gan, phổi, não và da gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm [127]

E histolytica là một trong những mầm bệnh sinh học gây tình trạng tiêu

chảy tại xã Yên Sở- Hà Nội Yếu tố nguy cơ là làm việc trong điều kiện vệ sinh môi trường và cá nhân kém, trong đó có yếu tố tiếp xúc với nước thải chiếm 35% số ca tiêu chảy và thói quen uống nước lã [55]

Kết quả nghiên cứu bệnh án các trường hợp apxe gan do Entamoeba histolytica cho thấy 100% bệnh nhân sốt trên 37,50C; 76,1% bệnh nhân đau

Trang 20

tức hạ sườn phải; 97,2% bệnh nhân gan to và 85,7% biểu hiện vàng da Trong

đó, trên 20% bệnh nhân có hai ổ áp xe trở lên; 10,3% áp xe ở cả 2 thùy gan và 23,9% có biến chứng áp xe phổi, màng phổi [28]

Cryptosporidium parvum, Cyclospora cayetanensis, Sarcosistis hominis, Sarcosistis suihominis và Isospora belli lây truyền giữa người với

người thông qua nguồn nước hoặc thực phẩm nhiễm phân Ỉa chảy nhẹ hoặc vừa, tự khỏi là triệu chứng phổ biến và phụ thuộc vào mức độ nhiễm các loại

đơn bào này [103] Người bệnh nhiễm Giardia lamblia có biểu hiện tiêu chảy kéo dài Đặc biệt là trẻ em, nhiễm Giardia lamblia lâu ngày có thể dẫn đến

còi xương, suy dinh dưỡng do giảm hấp thu các chất dinh dưỡng cũng như các loại Vitamine cần thiết cho cơ thể [4]

Cryptosporidium sp xâm nhập vào cơ thể người với số lượng 30 bào

nang tương ứng với khả năng gây bệnh là 20% nhưng khi xâm nhập với số

lượng bào nang là 1000 thì khả năng gây bệnh lên tới 100% [119]

B coli sống tự do ở ngoại cảnh và bất thường xâm nhập vào cơ thể

người khi con người uống nước ô nhiễm Chúng có thể gây hội chứng lỵ, hoại

tử ruột, thủng ruột, xuất huyết tiêu hóa và tử vong Tuy nhiên, hội chứng lỵ do

B coli có thể trở thành mãn tính, bệnh có thể kéo dài tới 20 năm và trong thời

gian đó thỉnh thoảng xuất hiện những đợt cấp tính [4]

Acanthamoeba là một loại amip sống tự do ở ngoại cảnh và có thể xâm

nhập vào giác mạc bị tổn thương gây nên tình trạng viêm loét giác mạc với bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng và diễn biến vô cùng phức tạp Bệnh nhân thường có biểu hiện đau nhức mắt dữ dội, cảm giác vướng cộm, chói mắt sợ ánh sáng và chảy nước mắt Đa số bệnh nhân có biểu hiện đỏ mắt hoặc mắt sưng to Khám lâm sàng thấy biểu mô bị chợt loét, kết mạc phù nề và xung

huyết, tiền phòng có thể có mủ Điều trị loét giác mạc do Acanthamoeba rất

khó khăn, đa số điều trị bằng phẫu thuật gọt giác mạc [47]

Trang 21

1.1.3 Thực trạng bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước

Nước là nền tảng, là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Không có nước, cuộc sống không thể tiếp diễn Không chỉ là nhu cầu, nước còn là môi trường sống của nhiều loại sinh vật Khi nước bị ô nhiễm, các sinh vật nói chung và sinh vật sống trong môi trường nước nói riêng có nguy cơ mắc bệnh hoặc thậm chí bị phá hủy Điều đó dẫn tới nguy cơ mất cân bằng sự sống trên trái

đất cũng như ảnh hưởng tới khả năng tự làm sạch của nước

Năm 2010, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố quyền về nước sạch,

vệ sinh an toàn và vệ sinh là quyền mà con người phải được thụ hưởng đầy đủ

giống như tất cả các quyền khác [131]

Để thỏa mãn nhu cầu sinh lý, mỗi người mỗi ngày cần 5 lít nước Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu vệ sinh và sinh hoạt, mỗi người cần tới 40- 50 lít nước một ngày [39] Do đó, sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh là yếu tố nguy cơ đe dọa sức khỏe của con người và nước sạch luôn là nhu cầu thiết

yếu, là mối quan tâm của mỗi con người, mỗi quốc gia trên thế giới

Theo WHO/ UNICEF, năm 2010, tại các vùng đô thị, số người được tiếp cận với nước uống được cải thiện tăng lên hơn 1 tỷ so với năm 1990 Trong khi đó, số người sử dụng nguồn nước không được cải thiện lại cũng gia tăng, từ 109 lên 130 triệu Tuy nhiên, điều này phải được xem xét dựa trên mối quan hệ với sự gia tăng lớn về dân số tại các đô thị trên vào thời điểm tương tự, từ 1,3 lên 3,5 tỷ người Tại các vùng nông thôn, số người sử dụng nguồn nước không được cải thiện lại giảm từ 1,1 tỷ người xuống còn 653 triệu người Và sau 2 thập kỷ, sự thay đổi lớn nhất là số người sử dụng hệ thống cung cấp nước qua đường ống dẫn tăng lên đến 45%, đạt 54% trên toàn thế giới [131]

Đến cuối năm 2011, có 89% dân số thế giới được sử dụng nguồn nước uống đã qua xử lý, 55% được hưởng sự thuận tiện và lợi ích sức khỏe của hệ

Trang 22

thống cung cấp nước uống qua các đường ống dẫn Vẫn còn 768 triệu người

sử dụng nước chưa qua xử lý bao gồm 178 triệu người sử dụng nguồn nước

bề mặt làm nước uống hàng ngày Trong khi có tới 83% dân số sống tại các vùng nông thôn không được sử dụng nguồn nước cải thiện thì tại các vùng đô thị, tỷ lệ này là 4% Mặc dù tỷ lệ người dân ở các vùng đô thị được cung cấp nước qua xử lý cao nhưng vấn đề vẫn được đặt ra là chất lượng của các dịch

vụ cung cấp này [132]

Thiếu nước sạch cùng với sự không đầy đủ điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh là nguyên nhân làm cho khoảng 1,5 triệu người tử vong do tiêu chảy, chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi [139] Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu nước sạch, không đầy đủ điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh là nguyên nhân làm hàng triệu người trên thế giới chịu ảnh hưởng của bệnh giun đường ruột, bệnh sán máng và mắt hột [131]

Khoảng 50% trẻ thiếu cân và suy dinh dưỡng liên quan đến tiêu chảy tái phát hoặc tình trạng nhiễm giun đường ruột, kết quả của việc sử dụng nước

không an toàn, thiếu điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh [66]

Tại châu Âu, thiếu nước an toàn và điều kiện vệ sinh môi trường kém là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt ở các nước phía tây Nước uống kém chất lượng là nguyên nhân gây tiêu chảy làm khoảng 13.000 trẻ em lứa tuổi từ 0- 14 tử vong mỗi năm, chiếm 5,3% tổng số ca tử vong ở nhóm

tuổi này [74]

Có ít nhất 325 vụ dịch lây truyền qua nước nguyên nhân do các loại

đơn bào đã được thông báo Trên 30% các vụ dịch xảy ra ở châu Âu Giardia duodenale và Cryptosporidium parvum được xác định là nguyên nhân của

132 (40,6%) và 165 (50,8%) vụ dịch; Entamoeba histolytica gặp ở 9 vụ chiếm 2,8%; Cyclospora cayetanensis với 6 vụ (1,8%) Trong khi đó, Toxoplasma gondii và Isospora belli là nguyên nhân của 3 vụ dịch chiếm 0,9%;

Trang 23

Blastocystis hominis với 2 vụ (0,6%) Balantidium coli, Acanthamoeba và Naegleria fowleri cũng là nguyên nhân của 1 vụ dịch chiếm tỷ lệ 0,3% Sự

xuất hiện các loại đơn bào này trong hệ sinh thái nước đòi hỏi con người phải

phát triển chiến lược phòng chống để có nước và thực phẩm an toàn [92]

Đa số các trường hợp tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở Ethiopia là do tiêu chảy và chủ yếu là các bệnh liên quan đến nước Trong số 655 mẫu phân

được kiểm tra, 12,2% mẫu nhiễm Cryptosporidium và 35,3% mẫu nhiễm Giardia Tỷ lệ nhiễm 2 loại đơn bào này vào mùa khô và mùa mưa khác biệt

có ý nghĩa Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ

nhiễm Cryptosporidium và Giardia ở trẻ uống nước từ nguồn nước được bảo

vệ (10,9% và 32,9%) và trẻ uống nước từ nguồn không được bảo vệ (13,9%

và 38,2%) [67]

Tại Mỹ, số ca nhiễm Giardia intestinalis năm 2009 là 19.403 và năm

2010 là 19.888 ca Các ca bệnh được thông báo chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ do sự tiếp xúc với nước ô nhiễm hoặc bệnh nhân Năm 2009, 7656 ca (2,5/100000)

và năm 2010 có 8951 ca (2,9/100000) xác định nhiễm Cryptosporidium Lứa

tuổi 1- 9 có tỷ lệ nhiễm cao nhất [140]

Theo số liệu năm 2012, tại 24 bang của Mỹ xảy ra 48 vụ dịch lây truyền qua nước Trong 21 vụ nguyên nhân do các mầm bệnh sinh học có 3

vụ nguyên nhân là ký sinh trùng, 1 vụ phối hợp giữa ký sinh trùng và vi

khuẩn [70]

Cyclospora cayetanensis là một loại đơn bào lây truyền qua nước và

được coi là loại ký sinh trùng gây bệnh mới nổi Từ 1990- 2000, đã xảy ra 11

vụ dịch do Cyclospora cayetanensis ở Bắc Mỹ ảnh hưởng đến ít nhất 3600

người [103]

Entamoeba histolytica xuất hiện trong nước thải hoặc nước nhiễm phân

và sự lây truyền thông qua thức ăn, nguồn nước có chứa bào nang [127]

Trang 24

Tỷ lệ nhiễm E.histolytica/ E dispar trên những bệnh nhân điều trị

ngoại trú tại các phòng khám ở Manaus của Brazil là 21,5% [69]

Vụ dịch lớn nhất thế giới nguyên nhân do Toxoplasma gondii đã xảy ra

tại một đô thị ở phía tây tỉnh British Columbia của Canada Nước uống nổi lên như là một nguồn nhiễm trong quá trình điều tra ổ dịch [85]

Tại Viện Mắt trung ương, trong số 44 bệnh nhân được chẩn đoán lâm

sàng là viêm loét giác mạc do Acanthamoeba có 44,44% bệnh nhân tìm thấy

mầm bệnh ngay lần xét nghiệm đầu tiên, 40% bệnh nhân tìm thấy trong lần xét nghiệm thứ 2 và 15,56% tìm thấy ở lần xét nghiệm thứ 3 [47]

Năm 2000, bệnh sán lá gan lớn có mặt ở trên 40 nước thuộc châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương với khoảng 300,000 người có biểu hiện dấu hiệu lâm sàng Đến nay, trên thế giới, khoảng 70 quốc gia thông báo có bệnh sán lá gan lớn với ước tính khoảng 2,4 triệu người mắc và 180 triệu người khác nằm trong vùng có yếu tố nguy cơ [57]

Tại Việt Nam, bệnh sán lá gan lớn trước thập kỷ 70 của thế kỷ 20 hầu như chỉ phổ biến ở động vật ăn cỏ Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bệnh có chiều hướng gia tăng trên người do thói quen uống nước lã và ăn rau thủy sinh còn sống Số người nhiễm sán lá gan đã gia tăng đáng kể trong 10 năm trở lại đây Mỗi năm, hàng nghìn người đến các cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh sán lá gan lớn [22]

Năm 2008, tại 39 tỉnh thành trên cả nước có 2196 bệnh nhân đến điều trị bệnh sán lá gan lớn tại các cơ sở điều trị chuyên ngành Trong số 1446 bệnh nhân điều trị sán lá gan lớn được theo dõi có tới 95,3% bệnh nhân trên

15 tuổi với số bệnh nhân nam là 541 chiếm 37,4% và số bệnh nhân nữ là 905 chiếm 62,6% [44]

Tình trạng nhiễm sán dây chó Echinococus granulosus do nuốt phải

trứng sán khi ăn thức ăn hoặc uống nước bị ô nhiễm Tại Romania, trong

Trang 25

khoảng thời gian từ 1978- 1988, có 8557 bệnh nhân nhiễm sán phải nhập viện với 210057 ngày chăm sóc y tế và 516 người tử vong Số liệu cũng chỉ ra rằng

ít nhất một người từ 45,5% các địa phương của Romania đã sinh thiết tìm

được nang sán Echinococus [111]

Tại trường tiểu học tỉnh Derna - Libya, 31% trẻ em nhiễm 1 hoặc 2 loại

ký sinh trùng Những loại ký sinh trùng này là G lamblia (12,7%), Blastocystis hominis (6,7%), Entamoeba histolytica (6,6%), Entamoeba coli (3,2%), Entamoeba hartmanni (1,0%), Enterobius vermicularis (0,6%), Ascaris lumbricoides (0,1%) và Hymenolepis nana (0,1%) [119]

Trong nghiên cứu của Lê Khánh Thuận và cộng sự năm 2001 tại 10 tỉnh ven biển miền Trung- Việt Nam, tỷ lệ người dân nhiễm giun sán chung từ 44,27- 78,76% Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 7,18- 50,43%, nhiễm giun tóc từ 1,24- 7,56%, giun móc 22,34- 54,09% và sán dây bò 0,2- 2,69% [48] Theo số liệu của viện Sốt rét- Ký sinh trùng và côn trùng Trung ương năm 2011, tỷ lệ nhiễm giun vùng trung du và miền núi phía Bắc khoảng 65,3%, đồng bằng sông Hồng là 58,2%, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung là 42,2%, Tây Nguyên 30,2%, Đông Nam bộ 29% và vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 12- 14% Riêng tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ nhiễm giun là 75%

và có vùng lên tới 100% [60]

Năm 2006, Odogwu SE tiến hành 2 cuộc điều tra về tình trạng nhiễm

Schistosoma mansoni trên các cặp mẹ con sống tại các làng cạnh hồ Victoria

ở Uganda Cuộc điều tra thứ nhất, khi được xét nghiệm phân và nước tiểu, chỉ

có 7% trẻ em dưới 3 tuổi và có tới 45% bà mẹ nhiễm sán Khi chẩn đoán bằng test, tỷ lệ nhiễm ở những trẻ em này lên tới 40% Kết quả cuộc điều tra thứ 2, xét nghiệm nước tiểu và phân cho 19 cặp mẹ con ở 2 trong số 12 làng cho thấy, trẻ em ở làng Bugoto có tỷ lệ nhiễm tới 86% và trẻ em làng Bwondha có

Trang 26

tỷ lệ nhiễm là 25% Cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ trẻ em nhiễm giun móc

là 16%, Hymenolepsis nana 11% và giun tóc là 5% Nguồn nước sinh hoạt

được cho là nguyên nhân của tình trạng nhiễm ký sinh trùng [114]

Tỷ lệ nhiễm Schistosoma mansoni ở trẻ em 5- 19 tuổi tại 84 trường tiểu

học ở Mbita và các đảo vùng hồ Victoria phía tây Kenya là 60,5%, tỷ lệ nhiễm giun móc là 8,4%, nhiễm giun đũa là 9,3% và giun tóc là 1,6% Trong

đó, tỷ lệ nhiễm Schistosoma mansoni ở trên các đảo (82%) cao gấp 2 lần ở đất

liền (41%) và cường độ nhiễm cũng cao hơn 54% [113]

Tại phía bắc Saskatchewan của Canada, một số loại ký sinh trùng trên

chó được xác định gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng là: Toxocara canis, Diphylobothrium spp,, Echinococus/ Taenie, Cryptosporidium spp., Giardia spp.và Toxoplasma gondii Trên 201 người tình nguyện, tỷ lệ nhiễm Toxoplasma gondii là 14%, Echinococus granulosus là 48%, Toxocara canis

là 13%, Trichinella spp là 16% Sự lan truyền những mầm bệnh ký sinh trùng

này được xác định là thông qua đất, thực phẩm và nước ô nhiễm [120]

Toxoplasma gondii lây truyền qua thực phẩm chứa bào nang hoặc qua

nước chứa nang trứng do ô nhiễm phân mèo Trên thế giới, khoảng 6 tỷ người

nhiễm Toxoplasma gondii [79]

Tỷ lệ nấm da trên bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Đại học Y Huế từ 8/2011- 8/2012 là 51,8% Trong đó, 84,3% những người mắc bệnh có liên quan đến tình trạng thiếu nước trong sinh hoạt [1]

Tại Yên Sở - Hà Nội, trên 90% bệnh nhân mắc bệnh ngoài da được chẩn đoán là viêm da, nấm da và vị trí gặp chủ yếu ở những nơi thường xuyên tiếp xúc với nước Tương tự, 56% số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh da liễu tại xã Mỹ Tân và Mỹ Trung, Nam Định được chẩn đoán là viêm da và nấm da Trên 50% các trường hợp này gặp ở chân, tay là những vị trí thường xuyên tiếp xúc với nước [55]

Tại xã Hoàng Tây và Nhật Tân huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, tỷ lệ người mắc một trong các bệnh giun sán, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu chảy,

Trang 27

ngộ độc thực phẩm là 19% Nguy cơ mắc các bệnh này ở những hộ sử dụng nguồn nước và nhà tiêu không hợp vệ sinh gấp 5,0 và 1,7 lần những hộ sử dụng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh [46]

Trên cả nước, ngộ độc thực phẩm do mầm bệnh sinh học bao gồm mầm bệnh vi sinh và ký sinh trùng chiếm khoảng 50% số vụ ngộ độc thực phẩm, 25% do hóa chất, 15% do thức ăn có sẵn chất độc và 10% do thức ăn bị biến chất Biểu hiện của ngộ độc thức ăn do vi sinh và ký sinh trùng thường nhẹ hơn ngộ độc do hóa chất nhưng tỷ lệ mắc trong cộng đồng lại rất cao [41]

1.2 Ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước

1.2.1 Yếu tố ảnh hưởng tới ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước

• Yếu tố khí hậu

Đa số các loại ký sinh trùng đều cần ngoại cảnh để hoàn thành một hoặc nhiều giai đoạn trong chu kỳ phát triển nên yếu tố khí hậu vô cùng quan trọng và tác động trực tiếp đến sự tồn tại cũng như phát triển của chúng

Các mầm bệnh giun, sán ở ngoại cảnh để phát triển đòi hỏi đầy đủ 3 yếu tố thích hợp: nhiệt độ, độ ẩm và oxy Nhiệt độ và độ ẩm thích hợp nhưng thiếu oxy, trứng giun đũa bị tiêu diệt sau 1 tháng [3], [5]

Ở điều kiện nhiệt độ 24- 250C, độ ẩm trên 80% và sự có mặt của oxy, trứng giun đũa phát triển thành trứng có ấu trùng có khả năng lây nhiễm sau 12- 15 ngày và có thể tồn tại 1- 2 năm Cũng với điều kiện độ ẩm trên 80% và

có oxy, nhưng nhiệt độ 25- 350C, trứng giun móc 1ngày phát triển thành ấu trùng giai đoạn I Nhiệt độ càng thấp sự phát triển của trứng càng dài nhưng ở nhiệt độ cao, trứng phát triển nhanh nhưng tỷ lệ trứng hỏng cao [16]

Yu Y M và cộng sự (2012) thử nghiệm sự phát triển của trứng giun

đũa A.suum ủ ở 200C, 500C và 700C trong ống nghiệm Tác giả ghi nhận trứng không thay đổi hình thái ở 200C trong ngày 10 Ngược lại, những quả trứng phát triển nhanh chóng và có phôi nhưng ấu trùng bắt đầu chết vào ngày thứ 2

Trang 28

ở 500C và 1 ngày ở nhiệt độ 70 0C sau khi được hình thành Như vậy, nhiệt gia tăng có liên quan với sự phát triển nhanh chóng nhưng cũng giảm khả năng tồn tại của ấu trùng bên trong trứng [142]

• Yếu tố con người

Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy nước bị ô nhiễm mầm bệnh sinh học thông qua ô nhiễm phân và chất thải của con người hay động vật Ô nhiễm nước không chỉ do chất thải mang theo mầm bệnh được đưa trực tiếp vào môi trường nước mà còn là hậu quả của sự ô nhiễm môi trường đất và không khí Do đó, các thói quen và phong tục lạc hậu như thả rông súc vật, phóng uế bừa bãi, sử dụng hố xí không hợp vệ sinh là nguyên nhân chính làm phát tán mầm bệnh ở ngoại cảnh và gây ô nhiễm nước

Theo WHO, đến năm 2011, 15% tương đương với 1,04 tỷ người trên thế giới hàng ngày phóng uế ra ngoại cảnh do không có đầy đủ các điều kiện

vệ sinh Điều đó là vô cùng nguy hiểm đối với sức khỏe của cộng đồng [132] Tại Việt Nam, môi trường nước đang ngày càng trở nên ô nhiễm mầm bệnh nặng nề do ý thức, thói quen, phong tục và tập quán lạc hậu của người dân Nguyên nhân hàng đầu phải kể đến tình trạng sử dụng phân tươi trong canh tác và chăn nuôi Sử dụng phân, đặc biệt là phân người có thể mang lại lợi ích lớn trong nông nghiệp như cung cấp dưỡng chất cho cây trồng, vật nuôi và tiết kiệm chi phí cho người nông dân [89], [90] Tuy nhiên, sử dụng phân tươi lại là mối nguy cơ lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng do sự phát tán nhiều mầm bệnh sinh học nguy hiểm gây phá hủy sinh thái môi trường nước dẫn tới ô nhiễm nước

Tại cơ sở sản xuất rau an toàn Vạn Xuân và xã Vũ Phúc tỉnh Thái Bình,

tỷ lệ người dân tưới rau bằng phân bắc là 83,74%; nước phân là 2,95% [52] Trong nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ năm 2009, trên 10 tỉnh thành trong cả nước, tỷ lệ người dân sử dụng phân chưa ủ trong canh tác lúa là

Trang 29

10,0%; trong trồng rau trên cạn là 20,0%; trồng rau thủy sinh là 16,7% và nuôi cá là 26,7% [41]

Năm 2011, có tới 64,4% trong tổng số 730 hộ gia đình ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam sử dụng phân trâu bò chưa ủ trong trồng trọt và nuôi cá 40,8% mẫu phân trâu bò được xét nghiệm nhiễm sán lá gan lớn với tỷ lệ nhiễm ở trâu là 43,2% và ở bò là 38,3% Như vậy, sử dụng phân trâu bò chưa

ủ trong canh tác và nuôi cá là nguyên nhân làm phát tán mầm bệnh sán lá gan lớn gây ô nhiễm môi trường nước và cũng là nguy cơ lây nhiễm cho người, động vật [32]

Góp phần làm gia tăng tình trạng ô nhiễm không thể không quan tâm đến tình trạng sử dụng các loại hố xí không hợp vệ sinh, thói quen phóng uế bừa bãi ra ngoại cảnh và thả rông súc vật trong chăn nuôi

Năm 2005, toàn quốc có khoảng 6,4 triệu hộ gia đình tương đương với

tỷ lệ 50% sử dụng hố xí hợp vệ sinh, tăng 3,7 triệu hộ so với thời điểm ban đầu của chương trình nước sạch- vệ sinh môi trường quốc gia giai đoạn 1999-

2005 [107]

Khi nghiên cứu tại một đơn vị bộ đội cho thấy tại đây vẫn sử dụng hố

xí thùng có cửa lấy phân để hở và dùng phân tươi nuôi cá cũng như bón cho rau màu [40]

Xã Nhật Tân huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2009, số nhà tiêu hợp

vệ sinh chiếm 40% và năm 2010 là 44% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, khi sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh sẽ làm giảm số ca mắc tiêu chảy cũng như chi phí cho việc điều trị [35]

Tại 10 xã huyện An Dương- Hải Phòng, số hộ gia đình sử dụng hố xí 2 ngăn chiếm 19,74%, hố xí 1 ngăn chiếm 19,93% và hố xí thấm là 8,36% [51] Năm 2012, tại tỉnh Lào Cai, 179 trong tổng số 886 công trình vệ sinh ở

883 điểm điều tra tại các trường học đạt tiêu chuẩn [53]

Trang 30

Tại các xã An Lư, Thủy Đường và Thủy Sơn huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng có tới 6,4% hộ gia đình không có hố xí, 63,8% hộ sử dụng hố xí 1 ngăn, 3% sử dụng hố xí 2 ngăn và chỉ có 25% hộ sử dụng hố xí tự hoại [23]

Trong nghiên cứu của Nguyễn Khắc Lực năm 2011, tại huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam có 60,1% hộ gia đình sử dụng hố xí không hợp vệ sinh [32]

Theo số liệu của Bộ Y tế năm 2011, trên toàn quốc, tỷ lệ người dân có thói quen phóng uế ra ngoại cảnh chiếm 3% [132]

Như vậy, nước không chỉ bị ô nhiễm trực tiếp do tập quán sử dụng phân tươi trong nuôi cá mà ô nhiễm nước còn là hậu quả của ô nhiễm môi trường đất do thói quen sử dụng phân tươi trong canh tác, sử dụng hố xí không hợp vệ sinh, thả rông súc vật và phóng uế bừa bãi ra ngoại cảnh

1.2.2 Thực trạng ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước

1.2.2.1 Thực trạng ô nhiễm nước trên thế giới

Nước uống tại Nga và Bulgaria bị ô nhiễm bởi Giardia và Cryptosporidium, mối nguy hiểm lớn đối với sức khỏe cộng đồng Khi xét

nghiệm 166 mẫu nước bao gồm nước bề mặt, nước lấy từ vòi, nước đóng chai, nước giếng, nước suối và nước thải tại Rostov (Nga), Sofia, Varna

(Bulgaria) thấy tỷ lệ nhiễm Giardia là 9,6% vànhiễm Cryptosporidium là

18,1% Cả 2 loại đơn bào này đều được phát hiện trong các mẫu nước máy,

nước sông, nước giếng và nước thải Riêng Giardia còn được tìm thấy trong

nước đóng chai [93]

Cryptosporidium và Giardia là 2 loại đơn bào gây ô nhiễm với mật độ

cao trong nước bề mặt tại tỉnh Alava, phía Bắc Tây Ban Nha Trong 284 mẫu

nước uống và nước phục vụ cho giải trí, bào nang Cryptosporidium và Giardia xuất hiện ở 63,5% và 92,3% mẫu nước sông; 33,3% và 55,5% mẫu

nước trong các bể chứa; 15,4% và 26,9% mẫu nước chưa xử lý chứa trong các vật dụng dùng xử lý nước nhỏ, 22,6% và 45,2% mẫu nước chưa xử lý chứa

Trang 31

trong các vật dụng truyền thống; 30,8% và 19,2% mẫu nước đã được xử lý từ các thiết bị xử lý nước nhỏ; 26,8% và 26,8% mẫu đã xử lý bằng Clo [71]

Để xác định tỷ lệ nhiễm đơn bào tại hồ Texoma, một nơi nằm ở ranh giới giữa Texas và Oklahoma và là nơi cung cấp nước cho các trại chăn nuôi trâu bò, cho các hoạt động giả trí và cũng là một nguồn nước uống tiềm năng, các tác giả đã lấy 193 mẫu nước để xét nghiệm Kết quả xét nghiệm các mẫu

nước này cho thấy sự có mặt của Cryptosporidiumsp và Giardia sp Trong

đó, sự có mặt của Cryptosporidium trong nước hồ được xác định là từ các

trang trại nuôi trâu bò thông qua các đường máng dẫn nước [94]

Năm 2010, kết quả nghiên cứu của Smith H V cho thấy, 50,8% các mẫu

nước liên quan đến vụ dịch lây truyền qua nước bị nhiễm Cryptosporidium Trong

đó, các mẫu nước uống đã qua lọc hoặc chưa qua lọc nhiễm Cryptosporidium với

tỷ lệ 37,7% và nước dùng cho các hoạt động giải trí nhiễm Cryptosporidium

chiếm tỷ lệ 50,3% Từ kết quả nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng không chỉ uống nước mà bơi trong nước ô nhiễm hoặc trong các bể bơi, con người cũng có

thể bị lây nhiễm Cryptosporidium spp [122]

Tại miền Bắc Bồ Đào Nha, 25,7% các mẫu nước uống nhiễm đơn bào Trong đó, nhiễm Giardia duodenale chiếm tỷ lệ 10,2% và Cryptosporidium là 7,2% Cường độ nhiễm Cryptosporidium trung bình là 0,1- 108,3 bào nang và Giardia là 0,1- 12,7 bào nang/10 lít nước [65]

Tại Orenburg, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bảy mươi hai loài đơn bào trong các mẫu nước sông Ural và 15 loài trong các mẫu nước hồ [121]

Năm 2007, để đánh giá sự hiện diện của Cryptosporidium spp và Giardia duodenalis trong nước tại mười sáu nhà máy xử lý nước uống nằm

trong một lưu vực thủy văn ở Galicia vùng Tây Bắc Tây Ban Nha, 128 mẫu nước máy được phân tích để phát hiện ký sinh trùng Mật độ trung bình của

ký sinh trùng trong nước đầu vào là 0,0- 10,5 bào nang Cryptosporidium

Trang 32

spp.và 1,0- 12,8 bào nang G duodenalis trong mỗi lít nước Sau khi xử lý,

mật độ trung bình của 2 loại ký sinh trùng này dao động 0,0- 3,0 và 0,5- 4,0 bào nang trong mỗi lít và cao nhất vào mùa xuân và mùa hè [72]

Tại Pusan - Hàn Quốc (2005), tỷ lệ nhiễm Acanthamoeba trong nước

dự trữ là 46,8% và nước lấy tại vòi là 7,7% trên tổng số 207 mẫu nước máy tại các hộ gia đình [91]

Acanthamoeba là một loại đơn bào sống tự do được tìm thấy trong

nhiều nguồn nước khác nhau Trong 94 mẫu nước uống được lấy từ các bình chứa nước tại các bệnh viện ở 13 thành phố của Iran năm 2010 có tới 45 mẫu

chiếm 48% xác định nhiễm Acanthamoeba Qua nghiên cứu, các tác giả cũng

tìm thấy sự ảnh hưởng của nhiệt độ, pH và hàm lượng Chlorine dư tới tỷ lệ

nhiễm Acanthamoeba trong nước Tất cả các mẫu nước nhiễm mầm bệnh đều

có hàm lượng chlorine dư từ 0- 2 ppm, nhiệt độ 20- 300C và pH 6- 7,4 [68]

Sự xuất hiện Blastocystis trong nước cho thấy khả năng lan truyền bệnh

qua nước uống khi xét nghiệm nước sông Sungai Congkak và Sungai Batu trong khu vực giải trí của Malaysia Đơn bào này được phát hiện trong các mẫu nước lấy từ hai con sông với tỷ lệ tương ứng là 33,3% và 22,1% Chúng được phát hiện cao nhất ở khu vực hạ lưu với 73,8% và 33,8%; tiếp theo là ở giữa nguồn với 17,5% và 25,0% Thượng nguồn có tỷ lệ thấp nhất với 8,8%

và 7,5% [86]

Khi xét nghiệm các mẫu nước uống không xử lý chlorine từ tám nhà máy ở Hà Lan, các tác giả phát hiện sự có mặt của vi nấm và một số tác nhân gây bệnh cơ hội Kết quả xét nghiệm các mẫu nước thành phẩm tại nhà máy cho thấy, số lượng những sinh vật này là thấp nhất nhưng dù vậy, chúng vẫn

có thể nhân lên trong hệ thống ống dẫn nước và đe dọa tới sức khỏe người tiêu dùng [133]

Trang 33

Khi thiếu nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt, nhiều nước trên thế giới tận dụng nguồn nước thải phục vụ chăn nuôi và trồng trọt Ứng dụng của nước thải đã mang lại nhiều ích lợi do thành phần dinh dưỡng của nó được sử dụng như nguồn phân bón trong nông nghiệp Tuy nhiên, lợi ích trong nông nghiệp bị hạn chế khi mà nước thải lại mang nhiều mầm bệnh như vi khuẩn,

vi rút, đơn bào và giun sán gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới động vật nuôi thả

và con người Sử dụng chất thải và nước thải trong nông nghiệp được chứng minh làm gia tăng tình trạng nhiễm giun đường ruột cho nông dân, gia đình của họ và người tiêu dùng khi ăn các sản phẩm tươi sống Trẻ em 5- 15 tuổi là đối tượng có cường độ nhiễm giun đũa và giun tóc cao nhất [97]

Năm 2009, nghiên cứu của Gupta N và cộng sự đã chỉ ra 83,3% mẫu nước thải chưa qua xử lý, 68,2% mẫu nước thải đã qua xử lý, 44,2% các mẫu rau và 68,6% mẫu đất được tưới bằng nước thải ở Titagarh, Ấn Độ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng Trong đó, các mẫu rau được tưới nước thải nhiễm giun đũa chiếm tỷ lệ 36%, nhiễm giun tóc chiếm 1,7% và nhiễm giun móc chiếm 6,4% [81]

Nghiên cứu của Lanata CF năm 2003 cho thấy, sử dụng nước tưới nhiễm mầm bệnh làm cho hoa quả và thực phẩm bị ô nhiễm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người [99]

Kết quả xét nghiệm các mẫu nước bề mặt dùng để tưới, rửa và khử trùng trong ngành công nghiệp sản phẩm tươi sống để đánh giá sự hiện diện bào nang

Cryptosporidium và Giardia cho thấy 48% mẫu nhiễm Cryptosporidium và 50% nhiễm Giardia Mật độ tập trung bào nang Cryptosporidium và Giardia lần lượt

là 17-200 và 17-1633 trên 100 lít Có 16% các mẫu nước rửa nhiễm

Cryptosporidium và 83% nhiễm Giardia với mật độ tương ứng 1-133 và

100-533 bào nang/100 lít Sự hiện diện của ký sinh trùng trong nước bề mặt cho

Trang 34

thấy nguy cơ ô nhiễm của sản phẩm tươi sống và đặt ra một nguy cơ lây nhiễm cho người tiêu dùng [73]

1.2.2.2 Thực trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam

Tại một xã đang đô thị hóa ở Việt Nam, 100% mẫu nước mương máng,

ao hồ nhiễm trứng giun bao gồm trứng giun đũa, giun tóc và giun móc [20]

Trong 160 mẫu nước mưa, nước máy, nước giếng khoan và giếng đào tại 4 xã ngoại thành Hà Nội được xét nghiệm có 15% các mẫu nước nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng Trong đó, nước giếng đào có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 40%, nước giếng khoan đã qua lọc có tỷ lệ nhiễm là 27% và nước mưa là

22% Tỷ lệ nhiễm Cryptosporidium sp là 9,38%; nhiễm bào nang amip là 1,25%; ấu trùng giun ngoại cảnh 3,75% và Cyclospora sp là 1,88% [36]

Điều tra tại 300 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở cả nông thôn

và thành thị trên 10 tỉnh thành trong cả nước, kết quả nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ và cộng sự cho thấy 100% các mẫu nước đá, sữa đậu nành nhiễm vi nấm và 100% các mẫu sữa đậu nành cũng như tỷ lệ cao các mẫu nước đá không đạt các chỉ tiêu về vi sinh vật [41]

Tỷ lệ nhiễm G lamblia ở nước sông Nhuệ là 25% với 8 bào nang

/100ml; nước thải hộ gia đình là 50,0% với 178 bào nang/100ml; nước ao hồ

là 18,8% với 8 bào nang/ 100ml Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm C parvum ở nước

sông Nhuệ là 41,7% với 106 bào nang/100ml; nước thải hộ gia đình là 66,7% với 238 bào nang/100ml và nước ao hồ là 25,0% với lượng bào nang là

21/100ml nước Kết quả cho thấy, tỷ lệ cũng như cường độ nhiễm C parvum đều cao hơn G lamblia trong tất cả các nguồn nước [27]

Nước ô nhiễm khi được sử dụng trong tưới tiêu, nuôi trồng hay chế biến thực phẩm sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm bởi sự nhiễm mầm bệnh trên các loại thực phẩm này

Trang 35

Trong nghiên cứu của Phùng Đắc Cam (2004), rau canh tác bằng nước thải nhiễm trứng giun đũa với tỷ lệ 3,33% Trong khi đó, rau canh tác bằng nước sông không tìm thấy trứng giun đũa Tỷ lệ nhiễm mầm bệnh đơn bào

Cryptosporidium, Cyclospora cayetanensis trên rau tưới bằng nước sông là

11,66% và 12,5% thấp hơn vùng tưới bằng nước thải với tỷ lệ nhiễm là 36,7%

và 45% Theo tác giả nhận xét, khi tưới bằng nước thải chưa qua xử lý sẽ làm cho các loại rau màu có nguy cơ nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, đặc biệt là 2 loại đơn bào gây tiêu chảy chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam là

Cryptosporidium và Cyclospora [8]

Trên rau muống tưới nước thải và không tưới nước thải, tỷ lệ nhiễm

Giardia spp là 38,5% và 16,9%; nhiễm Cryptosporidium sp là 29,2% và 13,6% Sự tập trung bào nang Giardia spp và Cryptosporidium sp trên rau

muống tưới nước thải là 1,6 và 1,2 bào nang/gam rau Trong khi đó, mật độ

bào nang Giardia spp và Cryptosporidium sp trên rau muống không tưới

nước thải là 0,6 và 0,3 bào nang/gam rau [54]

Tại Hà Nội, 11,8% các mẫu rau và nước lấy tại các chợ và 8,4% các

mẫu lấy tại ruộng nhiễm Cyclospora spp Nguyên nhân xuất hiện loại đơn

bào này trên rau là do nước thải được đổ vào cống rãnh và xâm nhập vào các nguồn nước bề mặt được sử dụng làm nước tưới tiêu Nghiên cứu cũng cho

thấy Cyclospora spp xuất hiện không chỉ trong nước tưới tiêu mà còn xuất

hiện cả trong nước uống [130]

Tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trên rau tưới bằng nước thải ở khu vực thành phố và nông thôn tỉnh Nam Định lần lượt là 8,2% và 10% Trong

đó, tỷ lệ rau nhiễm trứng giun đũa là 2,7% và 2,1%; nhiễm trứng giun móc là 2,4% và 1,8%; nhiễm ấu trùng giun 2,1% và 5,2%; bào nang amip 4,2% và

6,7%; Cryptosporidium 29,7% và 35,2%; Cyclospora 16,1% và 18,5%; Giardia 13,6% và 13,9%; một số đơn bào khác là 14,8% và 19,7% [17]

Trang 36

Năm 2009, Hoàng Cao Sạ với nghiên cứu trên 10 tỉnh thành trong cả nước khi xét nghiệm 300 mẫu rau, củ, quả sống ăn ngay tại 150 cơ sở chế biến kinh doanh thực phẩm cho thấy tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng đường ruột rất cao [41] Cụ thể là:

- Tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc khu vực nông thôn là 62,5%; 93,8%; 100,0% và khu vực thành thị là 75,0%; 90,6%; 93,8%

- Tỷ lệ nhiễm giun lươn là 93,8% ở khu vực nông thôn và 100,0% ở thành thị

- Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ khu vực nông thôn là 93,8% và khu vực thành thị là 100,0%

- Tỷ lệ nhiễm trùng roi thìa, amip ở khu vực nông thôn (87,5%) thấp hơn thành thị (93,8%)

- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun móc ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều chiếm 93,8%

Kết quả xét nghiệm cho 3851 lươn hoang dã trong nghiên cứu của Trần Phủ Mạnh Siêu năm 2009 tại tỉnh Long An và Hóc Môn cho thấy, tỷ lệ nhiễm

Gnasthostoma spinigerum dao động từ 0,8%- 19,6% Tỷ lệ nhiễm cao nhất

vào mùa mưa và giảm dần vào mùa khô [42]

Xét nghiệm 350 cá thể các loại cá bao gồm cá chép, cá trắm, cá mè, cá

rô phi, cá trôi, lươn, ếch cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng Haplorchis taichui và Haplorchis pumilio là 3,2% Ngoài ra, lươn còn nhiễm Gnasthostoma spinigerum với tỷ lệ 2% và ếch nhiễm ấu trùng sán nhái Spirometra mansoni

với tỷ lệ 32% [17]

1.3 Các biện pháp giảm thiểu và tiêu diệt mầm bệnh ký sinh trùng

1.3.1 Biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

Truyền thông giáo dục sức khỏe với mục đích nâng cao nhận thức, thực hành của người dân trong vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân để phòng chống ô nhiễm nước và các bệnh lây truyền qua nước

Trang 37

Việt Nam là nước có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều cùng với môi trường

ô nhiễm là điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh nói chung và mầm bệnh ký sinh trùng nói riêng tồn tại và phát triển ở ngoại cảnh Đa số các loại mầm bệnh ký sinh trùng đều bắt nguồn từ người bệnh, động vật nuôi, thú hoang hay từ môi trường Vì thế, truyền thông nâng cao nhận thức của người dân nhằm thay đổi các hành vi nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như sử dụng phân tươi trong canh tác và nuôi trồng thủy hải sản, thả rông súc vật, phóng uế và

xả rác bừa bãi… góp phần làm giảm sự lan truyền mầm bệnh

Không những thế, cách bảo quản và sử dụng nước của người dân có thể làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm nước do có thể làm mầm bệnh từ môi trường đất và không khí xâm nhập Vì thế, truyền thông còn có ý nghĩa giúp người dân hiểu rõ, thực hành đúng về bảo quản và vệ sinh nguồn nước, phòng các bệnh lây truyền qua nước

Như vậy, truyền thông cần tập trung vào các đối tượng có nguy cơ cao trong lây nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng, đặc biệt phải quan tâm tới từng nhóm đối tượng: học vấn, mức sống, tuổi, giới tính, nghề nghiệp và phải đạt được sự hợp tác của đối tượng truyền thông mới có thể có được kết quả mong muốn

Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy biện pháp truyền thông- giáo dục sức khỏe đã chứng minh là mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao kiến thức cũng như thực hành của người dân trong việc làm giảm ô nhiễm nguồn nước và phòng tránh bệnh tật

Tại huyện Đại Lộc- Quảng Nam, sau truyền thông giáo dục sức khỏe,

tỷ lệ người dân sử dụng hố xí không hợp vệ sinh giảm 62,2% và tỷ lệ sử dụng phân trâu bò tươi bón cho cây trồng cũng giảm rõ rệt [31]

Xã Bình Chánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam, tỷ lệ người dân uống nước lã là 6,1% Sau 1 năm tiến hành can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 1,1 [58]

Trang 38

Tại huyện Phù Cát tỉnh Bình Định, sau khi can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe, tỷ lệ người dân hiểu biết về vệ sinh môi trường tăng 64%, thói quen phóng uế bừa bãi giảm 12- 16% và số hộ có hố xí tăng 9% [12]

Sau 1 năm thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe, kiến thức và thực hành của người dân xã Việt Hùng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình về vệ sinh môi trường đã tăng lên rõ rệt với tỷ lệ người dân biết về hố xí tự hoại tăng 25,5%, biết về hố xí 2 ngăn tăng 98,2%, sử dụng hố xí hợp vệ sinh tăng lên 15%; tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc giảm từ 70 xuống còn 31,7%; nhiễm giun đũa giảm từ 74,2% xuống còn 34,7% và giun móc từ 4,2% xuống 0% [34]

Trong nghiên cứu của Ngô Thị Nhu năm 2008, tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về thời gian thau rửa và vệ sinh nguồn nước tăng lên tới 90% với chỉ số hiệu quả là 80% sau 1 năm được can thiệp bằng truyền thông- giáo dục sức khỏe [37]

1.3.2 Biện pháp điều trị cho người nhiễm ký sinh trùng

Truyền thông giáo dục sức khỏe có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức của người dân về vệ sinh môi trường phòng chống ô nhiễm môi trường nước Phát hiện và điều trị người mang mầm bệnh ký sinh trùng trong nhiều nghiên cứu cũng cho thấy đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc làm giảm tỷ

lệ cũng như cường độ nhiễm trên người bệnh, từ đó làm giảm ô nhiễm môi trường do giảm sự đào thải mầm bệnh từ người ra ngoại cảnh

Trong một nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương năm 2013, tỷ lệ sạch trứng trên những bệnh nhân nhiễm giun móc sau phát hiện và điều trị đạt 97,65% [13]

Năm 2011, tại Bắc Giang, sau khi điều trị liều duy nhất mebendazol 500mg/ 12 tháng cho 471 học sinh tiểu học nhiễm giun, tỷ lệ nhiễm giun giảm

rõ rệt sau 2,3 tuần tẩy giun [21]

Trang 39

Năm 2007, trên 39 tỉnh thành có 2196 bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn được điều trị Với thống kê trên 1446 bệnh nhân sau điều trị liều duy nhất triclabendazole 10mg/kg, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 98% [25]

Đặc biệt, khi điều trị được kết hợp với truyền thông càng làm tăng hiệu quả cũng như duy trì kết quả lâu dài trong phòng chống ô nhiễm môi trường

và bệnh tật

Năm 2007, trong dự án phòng chống giun truyền qua đất, hiệu quả của truyền thông và điều trị được đánh giá cao khi tỷ lệ nhiễm giun của học sinh tiểu học giảm rõ rệt [25]

Sau 2 năm kết hợp giữa điều trị cho người bệnh và truyền thông tại huyện Đại Lộc- Quảng Nam, tỷ lệ tìm thấy trứng giảm từ 0,5 xuống còn 0,2%

và tỷ lệ có kết quả ELIZA dương tính còn 1,8% so với ban đầu là 5,0% [31]

1.3.3 Biện pháp xử lý nước

1.3.3.1 Phương pháp lắng nước

Lắng nước là giai đoạn đầu của quá trình làm trong nước Mục đích của làm lắng nước là tách các chất rắn không hòa tan trong nước hay còn gọi là huyền phù ra khỏi nước Có hai phương pháp làm lắng nước:

- Làm lắng tự nhiên

Lắng tự nhiên là để các hạt cặn trong nước lắng dần theo tỷ trọng của chúng Vì thế, những hạt cặn có tỷ trọng lớn sẽ lắng nhanh hơn Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng hiệu quả không cao và mất nhiều thời gian

Trang 40

+ Hệ keo ngược dấu

Hóa chất thường được sử dụng là phèn nhôm Các phèn nhôm dễ bị thủy phân tạo kết tủa nhôm Hydroxit nhầy và làm trong nước Phèn nhôm thường được sử dụng dưới dạng phèn kép như phèn nhôm amoni (NH4.Al-

2(SO4)2.12 H2O) Khi hòa tan phèn nhôm trong nước sẽ xảy ra các phản ứng:

NH4.Al2(SO4)2.12 H2O = NH4+ + Al3+ + 2SO42- + 12H2O

Al3+ + 2H2O = Al(OH)2+ + H3O+ Al(OH)2+ + 2H2O = Al(OH)2+ + H3O+ Al(OH)2+ + 2H2O = Al(OH)3↓+ H3O+ Kết tủa tạo thành dưới dạng keo nhày sinh ra ở mọi nơi trong dung dịch kéo theo các chất bụi lơ lửng trong nước chìm xuống đáy

Như vậy, qua một loạt các phản ứng thủy phân, phèn nhôm có thể làm trong nước

+ Polialuminium chloride (PAC) [77]

PAC là sản phẩm thông dụng trong họ polyme PAC được sản xuất từ quá trình thủy phân ALCl3, vôi sô đa, natri bicacbonat và có thể thêm Sulfat

Tính keo tụ của PAC hơn hẳn so với phèn nhôm và ít làm giảm pH của

nước trước và sau keo tụ

Công thức chung là [AlClx(OH)3-x]n với x = 1-2 Ala(OH)b(SO4)c Cl3a-b-2c Các sản phẩm tạo ra có phân tử lượng từ 7000- 35000 và độ dài từ 35-

Ngày đăng: 15/04/2015, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Minh Châu, Nguyễn Thị Hóa và cộng sự (2012), "Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh nấm ở da của các bệnh nhân đến xét nghiệm tại khoa ký sinh trùng bệnh viện Đại học Y Huế", Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 4, tr. 59- 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh nấm ở da của các bệnh nhân đến xét nghiệm tại khoa ký sinh trùng bệnh viện Đại học Y Huế
Tác giả: Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Minh Châu, Nguyễn Thị Hóa và cộng sự
Năm: 2012
2. Bộ môn dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội (1999), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Bộ môn dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1999
3. Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Thái Bình (2007), Ký sinh trùng Y học nhiệt đới, Nhà xuất bản y học Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng Y học nhiệt đới
Tác giả: Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2007
4. Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội (2012), Ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2012
5. Bộ môn Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng - Học viện Quân Y (1998), Kỹ thuật ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng - Học viện Quân Y
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1998
8. Phùng Đắc Cam (2004), "Nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở rau trồng trong vùng nước thải tái sử dụng tại Hà Nội", Tạp chí Y học Việt Nam, 7/2004, tr. 22-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở rau trồng trong vùng nước thải tái sử dụng tại Hà Nội
Tác giả: Phùng Đắc Cam
Năm: 2004
11. Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Khá và Nguyễn Hữu Giáo (2010), "Đánh giá chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh sán lá gan lớn ở một số bệnh viện tỉnh và huyện của 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi", Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 4/2010, tr. 61- 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh sán lá gan lớn ở một số bệnh viện tỉnh và huyện của 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Khá và Nguyễn Hữu Giáo
Năm: 2010
12. Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Khá, Bùi Văn Tuấn và cộng sự (2011), "Xây dựng mô hình phòng chống bệnh sán lá gan lớn ở 2 xã của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Việt Nam", Công trình khoa học, tr. 118- 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình phòng chống bệnh sán lá gan lớn ở 2 xã của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Khá, Bùi Văn Tuấn và cộng sự
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2013), "Tình hình nhiễm giun móc, mỏ và hiệu quả điều trị của Albendazole và Mebendazole tại bốn điểm của bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăklăk", Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 4, tr. 3- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun móc, mỏ và hiệu quả điều trị của Albendazole và Mebendazole tại bốn điểm của bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăklăk
Tác giả: Nguyễn Văn Chương và cộng sự
Năm: 2013
14. Nguyễn Văn Chương, Triệu Nguyên Trung và cộng sự (2011), "Hiệu quả điều trị sán lá gan lớn bằng Triclabendazole tại phòng khám Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- Côn trùng Quy Nhơn", Tạp chí phòng chống Bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 4/2011, tr. 79- 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả điều trị sán lá gan lớn bằng Triclabendazole tại phòng khám Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- Côn trùng Quy Nhơn
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Triệu Nguyên Trung và cộng sự
Năm: 2011
15. Cục quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế (2012), Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam năm 2011
Tác giả: Cục quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế
Năm: 2012
17. Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương Liên, Trương Thị Kim Phượng và cộng sự (2009), "Đánh giá ô nhiễm mầm bệnh giun sán của một số loại thủy sản được nuôi trong ao bằng nước thải sinh hoạt", Tạp chí Y - dược học quân sự, 34, tr. 29- 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ô nhiễm mầm bệnh giun sán của một số loại thủy sản được nuôi trong ao bằng nước thải sinh hoạt
Tác giả: Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương Liên, Trương Thị Kim Phượng và cộng sự
Năm: 2009
18. Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy, Nguyễn Văn Tùng và cộng sự (2012), "Thực trạng nhiễm và đánh giá một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người tại một số điểm ở khu vực miền Trung Việt Nam", Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 4, tr.44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm và đánh giá một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở người tại một số điểm ở khu vực miền Trung Việt Nam
Tác giả: Trần Trọng Dương, Nguyễn Khắc Thủy, Nguyễn Văn Tùng và cộng sự
Năm: 2012
19. Trần Vinh Hiển, Trần Kim Dung và Nguyễn Văn Chương (2009), "Một số đặc điểm bệnh học của sán lá gan lớn và sán lá gan nhỏ tại Việt Nam", Tạp chí Y dược học quân sự, tr. 51- 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh học của sán lá gan lớn và sán lá gan nhỏ tại Việt Nam
Tác giả: Trần Vinh Hiển, Trần Kim Dung và Nguyễn Văn Chương
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Việt Hòa, Yasunori Fujimaki, Shinichi Noda và cộng sự (2005), "Phương thức lan truyền bệnh giun truyền qua đất tại một xã đang đô thị hóa ở Việt Nam", Công trình nghiên cứu khoa học 2000- 2005, tr. 134- 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức lan truyền bệnh giun truyền qua đất tại một xã đang đô thị hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hòa, Yasunori Fujimaki, Shinichi Noda và cộng sự
Năm: 2005
21. Nguyễn Thị Việt Hòa, Uga Shoji, Junichi Gyoten và cộng sự (2011), "Nghiên cứu nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học xã Mai Trung, Hiệp Hòa, Bắc Giang 2005- 2009", Công trình khoa học. Hội nghị ký sinh trùng toàn quốc lần 38. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học xã Mai Trung, Hiệp Hòa, Bắc Giang 2005- 2009
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hòa, Uga Shoji, Junichi Gyoten và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
22. Hồ Văn Hoàng (2009), "Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán lá gan lớn ở người: cập nhật tổng hợp y văn trên thế giới và Việt Nam", Tạp chí Y dược học quân sự, 9/2009, tr. 82- 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán lá gan lớn ở người: cập nhật tổng hợp y văn trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Hồ Văn Hoàng
Năm: 2009
23. Trần Thị Bích Hồi, Phạm Văn Hán và Đinh Thị Thanh Mai (2004), "Thực trạng các nguồn nước sử dụng trong ăn uống sinh hoạt và các công trình xử lý phân tại 3 xã huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng", Y học thực hành, 492 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các nguồn nước sử dụng trong ăn uống sinh hoạt và các công trình xử lý phân tại 3 xã huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng
Tác giả: Trần Thị Bích Hồi, Phạm Văn Hán và Đinh Thị Thanh Mai
Năm: 2004
24. Đỗ Lê Huấn, Nguyễn Công Tảo và Hà Tấn Dũng (2010), "Nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến bệnh sán lá gan lớn và biện pháp can thiệp về truyền thông ở một số quận huyện Hà Nội", Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, 5, tr. 79-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến bệnh sán lá gan lớn và biện pháp can thiệp về truyền thông ở một số quận huyện Hà Nội
Tác giả: Đỗ Lê Huấn, Nguyễn Công Tảo và Hà Tấn Dũng
Năm: 2010
25. Nguyễn Mạnh Hùng và Đỗ Trung Dũng (2011), "Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006- 2010 phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011- 2015", Ký sinh trùng và côn trùng y học. Tập II, tr. 7- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006- 2010 phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011- 2015
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng và Đỗ Trung Dũng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Kiến Xương - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Kiến Xương (Trang 51)
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết cho nghiên cứu - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết cho nghiên cứu (Trang 52)
Sơ đồ 2.2. Thiết kế nghiên cứu tại cộng đồng  2.4.2.2. Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Sơ đồ 2.2. Thiết kế nghiên cứu tại cộng đồng 2.4.2.2. Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm (Trang 56)
Sơ đồ 2.3. Thiết kế nghiên cứu trên thực nghiệm - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Sơ đồ 2.3. Thiết kế nghiên cứu trên thực nghiệm (Trang 57)
Bảng 3.2. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng trong  các nguồn nước tại địa bàn nghiên cứu - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.2. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng trong các nguồn nước tại địa bàn nghiên cứu (Trang 72)
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm giun, sán, đơn bào trong các nguồn nước - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm giun, sán, đơn bào trong các nguồn nước (Trang 73)
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm từng loại mầm bệnh ký sinh trùng trong nước - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm từng loại mầm bệnh ký sinh trùng trong nước (Trang 74)
Bảng 3.8. Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh                     ký sinh trùng từ nước - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.8. Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng từ nước (Trang 78)
Bảng 3.9. Kiến thức c ủa người dân về phương thức gây ô nhiễm nguồn nước - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.9. Kiến thức c ủa người dân về phương thức gây ô nhiễm nguồn nước (Trang 79)
Bảng 3.10. Kiến thức của người dân về tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.10. Kiến thức của người dân về tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng (Trang 80)
Bảng 3.11. Kiến thức của người dân về các biện pháp bảo quản, vệ sinh  và xử lý nước - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.11. Kiến thức của người dân về các biện pháp bảo quản, vệ sinh và xử lý nước (Trang 81)
Bảng 3.13. Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc xây dựng        nguồn nước sạch trong sinh hoạt - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.13. Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc xây dựng nguồn nước sạch trong sinh hoạt (Trang 82)
Bảng 3.14. Tỷ lệ người dân biểu hiện bệnh liên quan tới nhiễm ký sinh t rùng - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.14. Tỷ lệ người dân biểu hiện bệnh liên quan tới nhiễm ký sinh t rùng (Trang 83)
Bảng 3.16. Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.16. Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu (Trang 85)
Bảng 3.17. Tỷ lệ người dân có thói quen uống nước lã, ăn thực phẩm tái/sống - Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012)
Bảng 3.17. Tỷ lệ người dân có thói quen uống nước lã, ăn thực phẩm tái/sống (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w