Biết tính toán và sử dụng các tỷ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với nhà phân tíchtài chính, mà còn rất quan trọng với nhà đầu tư cũng như với chính bản thân doanh nghiệp và các chủ nợ
Trang 1Giảng viên hướng dẫn
Các thành viên TS Nguyễn Thu Thủy Phạm Đức Hùng
Phạm Thị Hoài
Vũ Thị Yến Hoa
Đỗ Thị Thanh Huyền
Đõ Thùy Linh Đào Khánh Linh
Lớp Anh1-kế toán-k46
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiếm khi nào mà kinh tế thế giới lại chịu qua nhiều thăng trầm chỉ
trong một giai đoạn ngắn như 2006-2008 Nếu như bức tranh kinh tế thế
giới năm 2006 và 2007 đã có những gam màu rất sáng, thì tới 2008, khủng
hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ
đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán
khuynh đảo.
Việt Nam, một nền kinh tế đang mở cửa và hội nhập ngày càng sâu
rộng với thế giới, tất nhiên không thể nào nằm ngoài diễn tiến ấy Năm
2006, Việt nam tăng trưởng 8,17% , đúng thứ 2 khu vực sau Trung Quốc.
Cuối 2006, rất nhiều dự báo lac quan về triển vọng kinh tế Việt nam, rằng
con hổ mới của châu Á này sẽ còn tiến xa hơn trong những năm sắp tới.
Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ "hàng trăm năm mới có
một lần" đã ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam Đầu năm lạm phát, cuối
năm suy thoái, xuất khẩu sụt giảm… không chỉ làm các cơ quan chính phủ
đau đầu, mà còn làm cho các doanh nghiệp vất vả chèo lái vượt khủng
hoảng.
Trong bối cảnh chung ấy, các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nói
chung, và sản xuất thực phẩm đồ uống nói riêng, cũng đã có được những
“trải nghiệm” quý giá Tuy trong khủng hoảng, thị trường hàng thực phẩm
và đồ uống Việt Nam đã không có sự sụt giảm nhiều so với thời kỳ tăng tốc
trước đó, vì rất nhiều loại hàng hóa đối với người dân hiện nay đã trở
thành thiết yếu, nhưng việc thắt chặt chi tiêu của dân chúng cũng đã ảnh
hưởng ít nhiều tới các doanh nghiệp hàng tiêu dùng Việt Nam.
Để xem xét đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của doanh
nghiệp ngành hàng thực phẩm và đồ uống Việt nam trong thời kì nhạy cảm
2006-2008, trong khuôn khổ bài tiểu luận này, chúng tôi xin đưa ra phân
tích báo cáo tài chính của 3 doanh nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống
tiêu biểu: Công ty cổ phần sữa Việt nam Vinamilk, Công ty cổ phần Vang
Trang 3các mặt khác nhau của các báo cáo tài chính của 3 doanh nghiệp nói trên
để xem xét khả năng chi trả cổ tức, khả năng chi trả nợ vay cũng như nhiều
chỉ tiêu quan trọng khác.
Việc phân tích so sánh tình hình tài chính của ba công ty trong vòng
ba năm không phải là một điều dễ dàng đối với các sinh viên đang ngồi
trên ghế nhà trường, nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế nhất định trong quá trình thu thập số liệu cũng như tổng hợp và
phân tích đề tài Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của giảng viên bộ môn để bản phân tích này được hoàn thiện hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên bộ môn Quản trị tài
chính, cô Nguyễn Thu Thủy đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình
hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, tháng 2/2010
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 4
A KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
I Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn 2006-2008 5
1 Kinh tế thế giới 5
2 Kinh tế Việt Nam 5
II Giới thiệu về ngành hàng thực phẩm và đồ uống và 3 công ty đại diện: Vinamilk, Vang Thăng long và Bibica 6
1 Khái niệm ngành hàng thực phẩm và đồ uống 6
2 Đặc điểm ngành hàng thực phẩm và đồ uống 6
3 Giới thiệu khái quát 3 công ty: Vinamilk, Vang Thăng Long, Bibica 7
III Cơ sở lý luận của phân tích báo cáo tài chính 8
1 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính 8
2 Mục đích của phân tích báo cáo tài chính 8
3 Các báo cáo tài chính 8
4 Phân tích tỷ số tài chính 9
B PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
I Bảng cân đối kế toán: 11
1 Công ty cổ phần Bibica: 11
2 Công ty cổ phần VangThăng Long 13
3 Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 15
II Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 18
1 Công ty Cổ phần Bibica 18
2 Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 19
3 Công ty Cổ phần Vang Thăng Long 20
III Báo cáo kết quả kinh doanh 25
1 Công ty Cổ phần Bibica 25
2 Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 27
3 Công ty Công ty Cổ phần Vang Thăng Long 28
IV Phân tích tỷ số tài chính 30
1 Tỷ số thanh khoản 30
2 Tỷ số quản lí hiệu quả hoạt động 32
3 Tỷ số quản lý nợ 36
4 Tỷ số khả năng sinh lời 38
PHỤ LỤC 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
KẾT LUẬN 44
Trang 5A KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn 2006-2008
1 Kinh tế thế giới
Kinh tế thế giới năm 2006-2007 vẽ lên một khung cảnh hết sức lạc quan, bất chấpnhững nếu tố bất ổn về an ninh, chính trị ở một số khu vực trên thế giới, giá xăng dầu liêntục lên xuống thất thường, thiên tai, dịch cúm gia cầm… Sự tăng trưởng kinh tế diễn ra ởhầu hết các châu lục, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, hai nền kinh tế TrungQuốc và ấn Độ có những bước phát triển đột phá Điều này cho thấy có sự thay đổi cán cânsức mạnh kinh tế
Đây cũng là những năm mà các hoạt động kinh tế song phương diễn ra sôi động, mặc
dù vòng đàm phán Doha vẫn đang bế tắc Những thủ tục kinh doanh được nới lỏng hơn rấtnhiều, tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩyđầu tư quốc tế và tạo nhiều công ăn việc làm
Nhưng 2008 làm cục diện thay đổi tất cả Người ta nhắc tới năm 2008 như một năm
bi tráng của nền kinh tế thế giới Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của cácnền kinh tế để chống chọi với "bão"
Bắt đầu từ khủng hoảng nhà đất Mỹ, rồi từ đó là hàng loạt các tín hiệu đen ttối khác:các cơn sốt dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu
Tình trạng còn tồi tệ hơn khi càng ngày, nền tài chính và kinh tế của nhiều quốc gia bị
đe dọa nghiêm trọng
Tất cả bao trùm một bóng đen khổng lồ nên kinh tế toàn thế giới
2 Kinh tế Việt Nam.
Trong xu thế tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới, 2006-2007 cũng là một nămthành công của kinh tế Việt Nam Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tổchức thành công năm APEC 2006 mà đỉnh cao là tuần lễ cấp cao APEC 14 tại Hà Nội, ViệtNam đã tạo nên một dấu ấn quan trọng với cộng đồng quốc tế Trong tình hình các nướcláng giềng trong khu vực có nhiều yếu tố bất ổn về mặt chính trị thì với nền chính trị ổnđịnh, tốc độ kinh tế tăng trưởng cao và liên tục, cùng với đường lối chính sách ngày càng
Trang 62007, Thị trường chứng khoán có cả một năm thăng hoa với chỉ số Vn-Index thườngxuyên ở trên ngưỡng 1.000 điểm kể từ nửa cuối tháng 1-2007 cho đến giữa tháng 11-2007,xen giữa là giai đoạn giảm nhẹ trong tháng 8 và 9-2007 Đến cuối 2007, Vn-Index vẫn đạttrên 900 điểm
Tâm lý chung là lạc quan và phấn khởi Bởi vậy, mức nhập siêu tăng gấp gần 2,5 lần
so với năm 2006 và chỉ số lạm phát lần đầu trở lại với 2 con số sau hơn một thập kỷ kể từ
1995 đã không thực sự khiến nhiều nhà kinh tế và giới kinh doanh lo âu
2008, Việt Nam bắt đầu chịu bão: lạm phát tăng cao vào đầu năm, liền kề đó là suythoái vào cuối năm, lãi suất ngân hàng cũng vì thế mà trồi sụt thất thường, khó khăn trongthanh toán và tín dụng, tình hình sản xuất trì trệ, xuất khẩu giảm, người dân thắt chặt chitiêu, nhập siêu tăng mạnh, chứng khoán sụt giảm…
Trong bối cảnh đó, cùng với các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, doanh nghiệp hàngthực phẩm và đồ uống cũng đã phải vất vả chóng chọi với khủng hoảng
II. Giới thiệu về ngành hàng thực phẩm và đồ uống và 3 công ty đại diện: Vinamilk, Vang Thăng long và Bibica
1 Khái niệm ngành hàng thực phẩm và đồ uống
Ngành công nghiệp thực phẩm đồ uống là các hoạt động xử lý các sản phẩm củangành nông nghiệp, ngành chăn nuôi gia súc và thủy sản thành thực phẩm và đồ uống phục
vụ cho con người và động vật Nó còn bao gồm sản xuất ra các sản phẩm thực phẩm trunggian khác nhau mà không phải là thực phẩm trực tiếp
Trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng tôi xin phân tích tình hình tài chính của công
ty cổ phần sữa Việt nam vinamilk, công ty cổ phần Vang Thăng Long và công ty cổ phầnbibica
2 Đặc điểm ngành hàng thực phẩm và đồ uống
Cũng giống như những ngành lớn và lâu đời, lĩnh vực này tăng trưởng một cách chậmchạp: thị trường ngành thông thường tăng trưởng không nhanh hơn tốc độ GDP, thậm chícòn chậm hơn Tuy vậy, cổ phiếu của những công ty trong ngành thường có khuynh hướngđem lại lợi nhuận vững chắc và khá ổn định, trở thành khoản mục đầu tư dài hạn trong danhmục của nhà đầu tư
Trang 7Chính bởi tính không được linh hoạt cho lắm với thị trường, nên trong khủng hoảng,ngành hàng thực phẩm và đồ uống cũng không bị suy giảm nhiều Bởi một mặt, ngành hàngnày cung cấp rất nhiều những mặt hàng thiết yếu cho người dân Mặt khác, nhu cầu tiêudùng luôn luôn tăng, đặc biệt tại thành thị, người dân vẫn sẵn lòng chi tiền để mua đượcnhững hàng hóa có chất lượng tốt.
Từ những phân tích trên đây, nhìn chung, đây là ngành hàng phát triển khá ổn địnhtrong nền kinh tế
3 Giới thiệu khái quát 3 công ty: Vinamilk, Vang Thăng Long, Bibica
a Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk (Vietnam Dairy Products Joint
Stock Company)
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam là một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sảnphẩm từ sữa Công ty là doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, hiệnchiếm lĩnh 75% thị phần sữa tại Việt Nam
Các sản phẩm: Sữa đặc (Ông Thọ, Ngôi sao Phương Nam), sữa bột (Dielac),Ridielac dành cho trẻ em, bà mẹ và người lớn tuổi, sữa tươi, kem…
Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là VNM
Công ty Cổ phần Vang Thăng Long là Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về sản xuất kinh doanh vang quả nhiệt đới
-Sản phẩm chủ chốt và truyền thống của công ty là Vang Thăng Long - sản phẩm lênmen từ các loại trái cây nhiệt đới sẵn có ở Việt nam, như quả Dâu, quả Mơ, ….và các loạithảo mộc nhiệt đới khác, bổ dưỡng; có độ rượu nhẹ
Mã giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội là VTL
Công ty Cổ Phần Bibica được người tiêu dùng bình chọn là doanh nghiệp nằm trongdanh sách năm Công ty hàng đầu của ngành bánh kẹo Việt Nam
Các sản phẩm: bánh quy, bánh cookies, bánh layer cake, chocolate, kẹo…
Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là BBC
Trang 8III Cơ sở lý luận của phân tích báo cáo tài chính
1 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân tích vàgiải thích các báo cáo tài chính nhằm mục đích phục vụ cho việc ra quyết định Dù cho đó lànhà đầu tư cổ phần vốn có tiềm năng, một nhà cho vay tiềm tàng, hay một nhà phân tíchtham mưu của một công ty đang được phân tích, thì mục tiêu cuối cùng đều như nhau - đó làcung cấp cơ sở cho việc ra quyết định hợp lý Các quyết định xem nên mua hay bán cổ phần,nên cho vay hay từ chối hoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyểnsang một quy trình mới, tất cả sẽ phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài chính
có chất lượng
2 Mục đích của phân tích báo cáo tài chính
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính, đồng thời
là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh
Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để "hiểuđược các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ phân tích tàichính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo Như vậy,người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ
có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu
Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra quyếtđịnh, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tươnglai Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cốgắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phântích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng củanhững sự cố kinh tế trong tương lai
3 Các báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính ở một thời điểm
nhất định Nó là một bảng tóm tắt ngắn gọn về những gì mà doanh nghiệp có/sở hữu (tàisản) và những gì mà doanh nghiệp nợ (các khoản nợ) ở một thời điểm nhất định
Trang 9Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: hay còn gọi là báo cáo lãi lỗ, chỉ ra sự cân
bằng giữa thu nhập (doanh thu) và chi phí trong từng kỳ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: bao gồm số dư tiền mặt đầu kỳ, tình hình các dòng tiền
vào, chi ra, và tình hình số dư tiền mặt cuối kỳ của công ty
4 Phân tích tỷ số tài chính
Phân tích tỷ số là một công cụ thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính.Việc sử dụng các tỷ số cho phép người phân tích đưa ra một tập hợp các con số thống kê đểvạch rõ những đặc điểm chủ yếu về tài chính của một số tổ chức đang được xem xét Trongphần lớn các trường hợp, các tỷ số được sử dụng theo hai phương pháp chính
Thứ nhất, các tỷ số cho tổ chức đang xét sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn của ngành Cụ thể trong đề tài chúng em lựa chọn các chỉ số cá thể của mỗi công ty được so
sánh với chỉ số chung của ngành hàng thực phẩm và đồ uống
Công dụng lớn thứ hai của các tỷ số là để so sánh xu thế theo thời gian đối với mỗi công ty riêng lẻ Trong đề tài này, chúng em lựa chọn phân tích xu thế biến động của các
chỉ số tài chính trong giai đoạn kinh tế 2006-2008, qua đó đánh giá được khả năng hoạt độngvững vàng của các công ty về mặt tài chính trong thời kỳ sa cơ lỡ vận về kinh tế
Biết tính toán và sử dụng các tỷ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với nhà phân tíchtài chính, mà còn rất quan trọng với nhà đầu tư cũng như với chính bản thân doanh nghiệp
và các chủ nợ…Các tỷ số tài chính cho phép chúng ta so sánh các mặt khác nhau của cácbáo cáo tài chính trong một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn ngành đểxem xét khả năng chi trả cổ tức cũng như khả năng chi trả nợ vay…
Tỷ số tài chính giúp nhà phân tích có thể tìm ra được xu hướng phát triển của doanhnghiệp cũng như giúp nhà đầu tư, các chủ nợ kiểm tra được tình hình sức khỏe tài chính củadoanh nghiệp
Có 4 loại chỉ số tài chính quan trọng:
- Tỷ số thanh khoản: Về cơ bản, các tỷ số về khả năng thanh toán thử nghiệmmức độ thanh toán của một công ty Các tỷ lệ được thiết kế ra để đo lường khả năng củamột công ty trong việc đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ nần ngắn hạn khi đến hạn.:
- Tỷ số hiệu quả hoạt động: Các tỷ số hiệu quả hoạt động cho ta số đo về mối
Trang 10Nó đo lường tính hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực của công ty để kiếm được lợinhuận.
- Tỷ số quản lý nợ: Đo lường phạm vi theo đó việc trang trải tài chính cho các
khoản vay nợ được công ty thực hiện bằng cách vay nợ hay bán thêm cổ phần
- Tỷ số khả năng sinh lợi: được thiết kế để đo lường năng lực có lãi và mứcsinh lợi của công ty Đây là các tỷ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ đông và nhà đầu tư đểxem xét xem công ty đáng giá đến đâu và cho phép các chủ nợ dự đoán được khả năng trả
nợ của các khoản nợ hiện hành và đánh giá các khoản nợ tăng thêm nếu có
Trang 11B PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I Bảng cân đối kế toán:
1 Công ty cổ phần Bibica:
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng TÀI SẢN
ngắn hạn 33,166,654,300 13.65 30,318,114,546 8.00 88,974,345,553 14.49Hàng tồn kho 63,822,664,865 26.27 86,850,781,794 22.91 86,639,874,166 14.11
SẢN 242,976,604,245 100 379,172,456,161 100 614,224,002,496 100 NGUỒN VỐN
Nợ phải trả 59,617,754,851 24.54 172,176,511,837 45.41 119,794,655,954 19.50
Nợ ngắn hạn 56,438,880,320 23.23 141,006,182,097 37.19 109,178,724,108 17.78
Nợ dài hạn 3,178,874,531 1.31 31,170,329,740 8.22 10,615,931,846 1.73 Nguồn vốn chủ sở
Trang 12Với phuơng pháp phân tích cơ cấu, ta có thể phân tích theo chiều dọc dựa trên các sốliệu về tỷ trọng ở bàng trên:
- Về biến động tài sản: do sự biến động của các loại tài sản là khác nhau nên tỷ trọng
từng loại tài sản trong tổng tài sản đều có biến động Trước hết, ta thấy tỷ trọng tài sản ngắnhạn trong năm 2007 đã giảm 17 1% so với năm 2006 rồi tăng 19.57% trong năm 2008,nguợc lại là tỷ trọng tài sản dài hạn tăng lên trong năm 2007 và giảm đi vào năm 2008
Cụ thể, sự biến động này một phần lớn là do thay đổi về các khoản đầu tư tàichính ngắn hạn, giảm vào năm 2007 nhưng tăng lên rất mạnh vào năm 2008 (tỷ trọng tăng28.21%), do trong năm này, công ty đã có đầu tư lớn vào thị trường chứng khoán Đây cũng
là yếu tố chính khiến cho quy mô tài sản nguồn vốn của công ty đã có thay đổi rõ rệt từ năm
2007 sang năm 2008, tăng lên gần gấp đôi
Khoản mục tiền mặt tuy có tăng về tỷ trọng vào năm 2007, nhưng lại giảm vàonăm 2008, chứng tỏ khả năng thanh khoản của công ty vẫn còn thấp
Các khoản phải thu ngắn hạn giảm vào năm 2007 và tăng 6.49% tỷ trọng trongnăm 2008 cho thấy công ty vẫn còn tiềm ẩn những rủi ro tài chính trong quan hệ với kháchhàng
Tỷ trọng tài sản dài hạn thay đổi là do sự giảm sút về tỷ trọng tài sản cố định
và giảm mạnh mẽ của các khoản đầu tư tài chính dài hạn (7.19%)
- Về biến động nguồn vốn: tương đuơng với tài sản, quy mô nguồn vốn của công ty đã
tăng gần gấp đôi vào năm 2008:
Nợ phải trả trong năm 2007 đã tăng mạnh: 20.87% về tỷ trọng, nhưng cũnggiảm mạnh đến 25.91% tỷ trọng vảo năm 2008 Tuơng ứng với sự biến động như hình sinnày là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, trong đó, nợ ngắn hạn chiếm chủ yếu Tuy năm 2007 cótăng, nhưng sự giảm mạnh nợ phải trả vào năm 2008 đuợc giải thích bởi nỗ lực rất lớn củadoanh nghiệp trong việc đảm bảo các khoản phải thanh toán của mình
Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu biến động ngược lại so với nợ phải trả Doanhnghiệp có NVCSH giảm 20.87% tỷ trọng năm 2007 nhưng tăng lên 26.34% năm 2008 Điềunày chứng tỏ tuy có giảm vào năm 2007 nhưng doanh nghiệp đã nâng cao đuợc uy tín củamình với các nhà đầu tư trong việc giảm sự phụ thuộc tài chính
Trang 13Như vậy, cho đến cuối năm 2008 ta thấy doanh nghiệp không phải phụ thuộc vào bênngoài do tỷ trọng VCSH lớn Ngoài ra, nợ phải trả (120000 triệu đ) lớn hơn nợ phải thu(90000 triệu đ) thể hiện Bibica đang chiếm dụng vốn chứ không phải bị chiếm dụng.
2 Công ty cổ phần VangThăng Long
Số tiền (triệu đồng) Tỷ trọng % Số tiền (triệu đồng) Tỷ trọng %
Số tiền (triệu đồng)
Trang 14Về biến động tài sản: Toàn cảnh, công ty Thăng Long có sự giảm sút gần một nửa về
số tuyệt đối của tài sản ngắn hạn vào năm 2007 rồi tăng lên gần bằng mức cũ vào năm 2008,nhưng số tỷ trọng thì chỉ giảm 9.56% năm 2007 Điều này là do biến động của khoản mụctiền, các khoản phải thu ngắn hạn, và quyết định của doanh nghiệp đầu tư dài hạn Tươngứng thì tỷ trọng tài sản dài hạn tăng vào năm 2007 và giảm năm 2008
Mục tiền và các khoản tưong đuơng tiền giảm tỷ trọng 7.33% năm 2007 vàtăng 1.96% trong năm 2008, thể hiện tính thanh khoản của công ty giảm mạnh và dần phụchồi vào năm 2008
Theo xu hướng chung, các khoản phải thu ngắn hạn cũng giảm tỷ trọng12.53% năm 2007 và tăng 11.43% năm 2008 Còn tỷ trọng hàng tồn kho thay đổi một chút,nhưng vẫn lớn so với toàn bộ tài sản (37.35% vào năm 2008), không có đầu tư ngắn hạnchứng tỏ doanh nghiệp quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh chính và đây cũng lànhiệm vụ chính của đơn vị Hàng tồn kho, các khoản phải thu tăng thể hiện khả năng chiếmlĩnh thị trường của doanh nghiệp có sự tăng lên Tuy vậy, cần phải xem trong hàng tồn kho
có khoản kém, mất phẩm chất hoặc lỗi thời hay không, khả năng trả nợ của khách hàng nhưthế nào
- Về biến động nguồn vốn:
Nợ phải trả giảm 18.09 tỷ trọng vào năm 2007 và tăng lên 7.8% vào năm 2008,trong đó, chủ yếu là nợ ngắn hạn Tuy nhiên, sự biến động của nợ ngắn hạn và nợ dài hạn làđối lập nhau trong 3 năm này Nợ ngắn hạn thì giảm xuống vào năm 2007 và tăng lên trongnăm 2008 Do hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều, doanh nghiệp có số nợ phải trả rất lớn,lớn hơn so với nguồn vốn chủ sở hữu, chứng tỏ doanh nghiệp đang bị phụ thuộc vào bênngoài Vì vậy cần phải xem báo cáo kết quả kinh doanh để biết doanh nghiệp làm ăn hiệuquả hay không
Vốn chủ sở hữu tăng 18.09% về tỷ trọng vào năm 2007 và giảm 7.8% vào năm
2008, chứng tỏ nguồn lực thực tế của doanh nghiệp vẫn chưa đủ để đảm bảo cho mức độ phụthuộc về tài chính
Như vậy khó khăn tài chính của doanh nghiệp vẫn còn đấy Ngoài ra, nợ phải trả lớn hơn nợphải thu rất nhiều, chứng tỏ doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Trang 153 Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số tiền (triệu đồng)
Tỷ trọng
%
Số tiền (triệu đồng)
Tỷ trọng
%
Số tiền (triệu đồng)
Tỷ trọng
% TÀI SẢN
Tài sản ngắn hạn 1,996,391 55.31 3,172,434 58.48 3,187,605 53.42
Tiền và các khoản
tương đương tiền 156,895 4.35 117,819 2.17 338,654 5.68
Các khoản đầu tư tài
Trang 16- Về biến động tài sản: Xét chung, quy mô tài sản của Vinamilk đã tăng nhiều trong
năm 2007 và tăng một chút trong năm 2008 Tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn đều tăngtheo xu hướng đó
Khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền tuy có giảm vào năm 2007( về
tỷ trọng là 2.18%) nhưng đã tăng lên khá mạnh vào năm 2008 (tỷ trọng 3.51%) chứng tỏ sốtiền lưu động của doanh nghiệp tăng, tính thanh khoản được phục hồi và nâng cao
Năm 2007, Vinamilk đầu tư tài chính ngắn hạn nhiều, tỷ trọng tăng 3.56%,nhưng đến năm 2008, Vinamilk quyết định giảm đầu tư ngắn hạn mà cụ thể là đầu tư chứngkhoán, khiến cho khoản này chỉ còn chiếm 6.27%, giảm 5.79% Có lẽ lý do là lo sợ sự bấpbênh của thị trường chứng khoán năm 2008 Đây cũng là một phần lý do khiến khoản tiềncủa doanh nghiệp tăng lên
Hàng tồn kho tuy tỷ trọng năm 2008 có giảm 1.03% so với năm 2007 nhưng số
đó không nhiều, hơn nữa số tuyệt đối của khoản mục hàng tồn kho vẫn tăng đều qua cácnăm, chứng tỏ Vinamilk vẫn tập trung vào hoạt động sản xuất thực phẩm chính của mình
Các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng và phải thu dài hạn cũng giảmdần qua 3 năm Đây là một đặc điểm tốt, cho thấy công ty có quan hệ tốt với khách hàng và
có khả năng quản lý tài sản tốt Rủi ro về tài chính của công ty có giảm
- Về biến động nguồn vốn: Cũng như tài sản, quy mô nguồn vốn của Vinamilk cũng
tăng lên trong 3 năm này
Tỷ trọng nợ phải trả đã giảm dần qua các năm, năm 2007 giảm 4.45% và năm
2008 giảm 0.43%, trong đó nợ ngắn hạn chiếm chủ yếu và cũng giảm dần Vinamilk đã thểhiện được khả năng thanh toán của mình và gây uy tín với các nhà đầu tư
Nguồn vốn chủ sở hữu cũng tăng dần lên Tuy tỷ trọng năm 2008 (79.8%) cógiảm chút ít so với năm 2007 (80.22%), nhưng con số tuyệt đối vẫn tăng lên NVCSH tăngdần và chiếm tỷ trọng lớn như vậy chứng tỏ doanh nghiệp có ít rủi ro về tài chính, không bịphụ thuộc vào bên ngoài
Như vậy, Vinamilk vẫn đứng vững cho dù nền kinh tế có nhiều biến động, gây khó khăn Số
nợ phải thu nhỏ hơn nợ phải trả chứng tỏ Vinamilk đang đi chiếm dụng vốn
Trang 17Kết luận: Từ bảng CDKT của 3 công ty cùng ngành Bibica, Thăng Long và Vinamilk,
ta thấy được tình hình tài chính của 3 công ty đó như thế nào Cần chú ý là so với 2 công tycòn lại, Vinamilk có quy mô lớn hơn rất nhiều, vì vậy mà áp dụng phương pháp phân tích cơcấu ở đây là hợp lý
- Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của 3 công ty này là thực phẩm đồ uống, nhưng
có vẻ như Bibica tập trung cũng khá nhiều cho đầu tư tài chính ngắn hạn như ta thấy trênbảng Đơn cử trong năm 2008, tỷ trọng khoản mục này của Bibica là 31.92%, trong khiThăng Long không đầu tư và Vinamilk là 6.27% Hàng tồn kho thể hiện hoạt động sản xuấtchính của công ty thì tỷ trọng chỉ chiếm 14.11% của Bibica, còn Thăng Long là 37.35% vàVinamilk là 29.75%
- Theo phân tích trên thì khả năng thanh khoản của Vinamilk là tốt nhất, trong khiBibica còn thấp Vang Thăng Long tuy trong năm 2008 có tăng nhưng vẫn thấp so với mặtbằng chung
- Vì cùng ngành nên tỷ trọng tài sản cố định của 3 công ty xấp xỉ như nhau Bibica là28.28%, Vang Thăng long là 27.86% và Vinamilk là 32.46% Quy mô của Vinamilk lớnhơn, phần tỷ trọng này cũng lớn hơn một chút
- Rủi ro tài chính thể hiện ở các khoản phải thu ngắn hạn thể hiện khả năng quản lý tàisản của doanh nghiệp Như trên đã nói, Vinamilk có được thuận lợi này nhờ các khoản phảithu đã giảm dần qua các năm, thể hiện khả năng quản lý tài sản tốt
- Tỷ trọng nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của Vang Thăng Long đối lập với 2công ty còn lại Nếu như Bibica và Vinamilk không bị phụ thuộc tài chính vào bên ngoàinhờ tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu lớn, nợ phải trả nhỏ thì nợ phải trả của công ty VangThăng Long chiếm đến 63.14% năm 2008, tăng hơn so với năm 2007 Thăng Long sẽ gặpnhiều khó khăn về tài chính, đầu tư, nếu như số nợ phải trả vẫn tiếp tục tăng lên trong cácnăm tiếp
Như vậy, ta có thể thấy rằng, Vinamilk là công ty hoạt động tốt nhất với khả năng quản
lý tài sản tốt và sử dụng vốn hiệu quả Cho dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,Vinamilk với chiến lược kinh doanh, quảng cáo tốt vẫn phát triển, nổi tiếng nhất với hình
Trang 18II Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Nguồn: BCTC hợp nhất đã kiểm toán của cty Bibica 2006, 2007, 2008
Bảng tỷ trọng các dòng tiền trong lưu chuyển của Bibica từ 2006-2008:
Dòng tiền từ HĐKD: Trong cả 3 năm nhận thấy dòng tiền từ HĐKD luôn mang tỷ
trọng tương đối nhỏ trong tổng lượng tiền lưu chuyển Năm 2006, dòng tiền từ HĐKD mangdấu dương nhưng chiếm tỷ trọng thấp nhất, chỉ có 1%trong tổng lượng tiền lưu chuyển.Nguyên nhân là do bên cạnh các khoản thuế TNDN, cổ tức lãi chia trả, tiền thực chi trongquỹ khen thưởng phúc lợi và các khoản dự phòng cần thiết, công ty đã trích 1 phần lớn tiềncho khấu hao TSCĐ, giảm các khoản phải trả, ngoài ra công ty còn tăng thêm khoản phải thucủa khách hàng và chịu 1 phần lỗ do thanh lý tài sản Nhận thấy năm tài chính 2007 củaBibica, dòng tiền lưu chuyển từ HĐKD mang dấu dương và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3năm Có được điều này là do doanh thu thuần của Bibica trong năm 2007 đã tăng trưởngvượt bậc (đây cũng là năm Bibica tung ra 11,4 triệu cổ phần trong đó 30% thuộc về công tybánh kẹo Lotte Hàn quốc) trong khi khoản thuế TNDN chưa ghi nhận đồng thời giảm lỗ khihoạt động đầu tư, chênh lệch tỷ giá và thanh lý tài sản, tăng chi phí lãi vay, tăng các khoảnphải trả và giảm các khoản phải thu Năm tài chính 2008, dòng tiền từ HĐKD của Bibicamang dấu âm do công ty trích lượng tiền lớn cho khấu hao tài sản và dự phòng rủi ro, đồngthời công ty còn phải chịu 1 khoản lỗ lớn từ hoạt động đầu tư, giảm các khoản phải thu, lãivay đã trả, giữa năm 2008 còn là thời điểm thanh toán cổ tức lãi chia trả cho các cổ đông
Trang 19Dòng tiền từ HĐĐT: mang dấu – và chiếm tỷ trọng trong tổng lượng tiền lưu chuyển
khá đồng đều trong cả 3 năm, nguyên nhân là trong vòng 3 năm công ty Bibica đều đặn đầu
tư mở rộng, liên kết với các cơ sở nhà máy, tiêu biểu như dự án: Nhà máy Bibica BìnhDương, Nhà máy Biên Hòa Hưng Yên, dự án KCN Mỹ Phước…những dự án này đều mangtầm dài hạn và đòi hỏi phải có thời gian thu hồi vốn, bên cạnh đó, Bibica còn đầu tư góp vốn,mua cổ phiếu của các đơn vị khác Vì vậy những dòng tiền này mang dấu âm nhưng cũng làmột dấu hiệu tốt của công ty báo hiệu khả năng thanh khoản tiền trong tương lai
Dòng tiền từ hoạt động TC : trong 3 năm đều mang dấu dương và chiếm tỷ trọng lớn, 2
năm 06 và 08 đều đạt tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng tiền lưu chuyển do trong 2 năm nàycông ty đều nhận được lượng tiền từ phát hành cổ phiếu và vốn góp của chủ sở hữu rất lớn,tăng đáng kể các khoản vay trong khi luồng tiền ra lại nhỏ Riêng năm 2007, luồng tiền vàochủ yếu là các khoản vay ngắn và dài hạn, vốn góp chủ sở hữu trong năm này ít hơn nhiều sovới 2 năm còn lại
2 Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk
Bảng xu hướng lưu chuyển tiền tệ của Vinamilk giai đoạn 06-08
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD 499.471.000.000 313.478.000.000 1.269.759.000.000Lưu chuyển tiền thuần từ HĐĐT -589.403.000.000 -1.015.978.000.000 -531.785.000.000Lưu chuyển tiền thuần HĐTC -253.420.000.000 663.413.000.000 -517.149.000.000
Bảng tỷ trọng lưu chuyển tiền tệ của Vinamilk giai đoạn 06-08
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐĐT -43,91% -50,98% -22,93%
Dòng tiền từ hoạt động KD: luôn mang dấu dương và có tỷ trọng khá lớn, đặc biệt là
trong năm 2008 dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh chiếm tới 54,76% trong tổng lưulượng tiền của Vinamilk Bắt đầu từ năm 2006 và trong năm 2007 Vinamilk bắt đầu bắt tayvào xây dựng và tái cấu trúc thương hiệu và mở chiến dịch marketing quảng cáo mạnh mẽ trịgiá nhiều trăm tỷ đồng, mạnh dạn cắt bỏ một số nhãn hiệu nhỏ, tập trung vào nhóm sản
Trang 20biệt trong một năm kinh tế khắc nghiệt như 2008, khi đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắctrên thị trường Vinamilk bắt đầu thu hẹp chiến dịch quảng cáo, vươn lên đạt doanh thu caonhất.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: mang dấu (-) trong cả 3 năm và chiếm tỷ trọng khá lớn.
Nguyên nhân là công ty chi khá nhiều tiền cho các khoản xây dựng TSCĐ và hoạt động đầu
tư CK trong khi tiền thu lãi do hoạt động đầu tư lại không nhiều
Dòng tiền từ hoạt động TC: Trong 3 năm chỉ duy nhất có năm 2007 là dòng tiền từ hoạt
động TC của Vinamilk mang dấu dương do chỉ có năm này Vinamilk nhận được số tiền thuđược từ phát hành cổ phiếu lên tới hơn một nghìn tỷ đồng
3 Công ty Cổ phần Vang Thăng Long
Bảng xu hướng lưu chuyển tiền tệ của công ty CP Vang Thăng Long giai đoạn 06-08
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD 25.117.171.384 42.284.706.853 -1.329.918.549Lưu chuyển tiền thuần từ HĐĐT 10.239.197.114 -2.903.921.172 -1.686.924.230Lưu chuyển tiền thuần HĐTC -25.880.856.850 -48.484.646.608 6.348.426.957
Bảng tỷ trọng lưu chuyển tiền tệ của CTCP Vang Thăng Long giai đoạn 06-08
Dòng tiền từ HĐKD: tỷ trọng lưu chuyển tiền từ hoạt động KD của 2 năm 06 và 07 lớn
và đều mang dấu dương trong khi năm 08 tỷ trọng này lại khá thấp và mang dấu (-) Nguyênnhân là do doanh thu thuần của công ty trong cả 3 năm đều cao nhưng lượng tiền phải trả chonhà cung cấp, phân phối và tiền lương cho người lao động năm 06,07 nhỏ hơn năm 08 nhiềulần Một điều nữa ảnh hưởng đến lợi nhuận của VTL là mức thuế suất đánh vào sản phẩm củacông ty này ngoài thuế GTGT tăng như các sp khác còn bị đánh thêm thuế tiêu thụ đặc biệtcủa các mặt hàng rượu
Dòng tiền từ hoạt động ĐT: duy nhất có năm 2006 lượng tiền này mang dấu dương do
dòng tiền vào được từ các khoản đầu tư tài chính, lãi cho vay gần gấp đôi lượng tiền chi cho
Trang 21Dòng tiền từ hoạt động TC: Tỷ trọng trong cả 3 năm đều cao nhất trong tổng lượng tiền
lưu chuyển Trong cả 3 năm dòng tiền vào của công ty thông qua hoạt động TC chỉ gồm tiềnvay ngắn và dài hạn, trong khi dòng tiền ra bao gồm tiền chi trả nợ gốc vay, cổ tức lợi nhuậnchia trả Trước tình hình chung của 3 năm, lượng tiền lưu chuyển của năm 06,07 đều mangdấu (-), riêng năm 08 do lượng tiền chi trả nợ gốc vay và cổ tức chia trả nhỏ hơn lượng tiềnvay nên mang dấu (+)
Vậy, từ các bảng xu hướng và tỷ trọng lưu chuyển tiền của 3 công ty trong 3 năm và những phân tích đánh giá sơ bộ, sau đây chúng tôi xin có những so sánh về hoạt động lưu chuyển tiền tệ của 3 công ty:
a Lưu chuyển tiền từ hoạt động KD
Lượng tiền lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh của cả 3 công ty trong năm 2006, 2007đều mang dấu dương đánh dấu mức hoạt động kinh doanh hiệu quả, tuy nhiên tỷ trọng lượngtiền của mỗi công ty lại khác nhau Năm 2006, tỷ trọng tiền lưu chuyển từ hoạt động KD chỉchiếm có 1% bởi tại thời điểm đó Bibica đang tập trung lượng tiền cho các dự án đầu tư mởrộng trên toàn quốc và các hoạt động tài chính, năm 2007 tỷ trọng dòng tiền HĐKD đã tănglên do đã giảm lỗ từ các hoạt động đầu tư, tăng lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận kinh doanhtrước những thay đổi của vốn lưu động Đối với Vinamilk và Vang TL, năm 2006 phần tỷtrọng này tương đối cao trong tổng lượng tiền lưu chuyển và điều này còn tiếp diễn với Vang
TL trong năm 2007 khi tỷ trọng hoạt động KD lên tới 45,14%, còn Vinamilk đã hạ xuống còn15,73% Do Công ty Vang Thăng Long chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động KD, lượng tiềnlưu chuyển ở hoạt động đầu tư và TC không nhiều, trong 3 năm cũng không có đợt phát hànhthêm cổ phần hoặc tăng vốn điều lệ của công ty, bởi vậy lượng tiền lưu chuyển từ hoạt động
KD chiếm tỷ trọng lớn Trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng năm 2008, theo tình hình chungcủa các doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh của Bibica và Vang TL sụt giảm đáng kể vàmang dấu (-) Tuy nhiên, tỷ trọng của hoạt động KD trong năm này chiếm phần nhỏ trongtổng lượng tiền lưu chuyển Riêng với Vinamilk, do là một tập đoàn đa ngành với các loạihình kinh doanh đa dạng, từ thực phẩm đồ uống dinh dưỡng tới các ngành công nghệ, bấtđộng sản, sản xuất, dịch vụ y tế…Vì vậy, trong giai đoạn khủng hoảng, Vinamilk vẫn tranh
Trang 22năm trước tạo đà doanh thu hiệu quả cho công ty này, nên tỷ trọng của dòng tiền từ hoạt động
KD của Vinamilk đạt dương và chiếm 54,76%
b Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư:
Tỷ trọng của dòng tiền từ hoạt động đầu tư cho biết hướng quan tâm của DN cho hoạtđộng này Đối với Bibica và Vinamilk, dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động ĐT mang dấu (-)chiếm phần tỷ trọng khá lớn và đồng đều qua các năm Nguyên nhân là do 2 công ty này đềutập trung vào hướng đầu tư mở rộng sản xuất, mua lại hoặc liên kết với các hãng sản xuấtkhác nên chủ yếu là dòng tiền ra mang dấu (-)
Bibica có rất nhiều dự án đầu tư dài hạn như dự án KCN Mỹ Phước, dự án dây chuyềnkẹo Deposit, dự án nhà máy Chocopie Bình Dương…, dự án đầu tư liên kết với công ty CPcông nghiệp thực phẩm Huế INFOCO, các dự án đầu tư vào cổ phiếu các công ty như: NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, CTCP Cơ điện lạnh SG…Do những dự án này đều mang tầmdài hạn và đòi hỏi rải vốn đều theo từng năm, nên lượng tiền lưu chuyển từ hoạt động đầu tưcủa Bibica trong cả 3 năm 06-08 đều đặn chiếm tỷ trọng khá lớn và mang dấu (-)
Tương tự như Bibica, Vinamilk cũng có tỷ trọng lưu chuyển tiền từ HĐ ĐT khá lớn docác dự án đầu tư vào các công ty liên doanh lớn như cty liên doanh SABMILLER Vietnam,cty liên doanh Campina, các dự án BĐS khác…Vinamilk là một tập đoàn lớn với các ngànhđầu tư đa dạng hơn Bibica nên dòng tiền đầu tư chiếm một phần đáng kể Riêng trong năm
2008, tỷ trọng đầu tư giảm xuống phân nửa từ 50,98% năm 07 xuống còn 22,93% do nềnkinh tế gặp khủng hoảng, nên Vinamilk thu hẹp dòng tiền đầu tư, tăng lượng tiền gửi có kỳhạn tại NH, giảm lượng tiền xây dựng TSCĐ, không chi thêm tiền cho đầu tư chứng khoán vàtập trung các dự án đầu tư vào các cty con của Tập đoàn như cty TNHH một thành viên Bòsữa Vn, cty CP Sữa Lam Sơn, Cty TNHH một thành viên Đầu tư BĐS quốc tế và các cty liêndoanh có dự án trước đó Một điều cũng cần lưu ý trong năm 2007 là tỷ trọng từ lưu chuyểntiền đầu tư cao một phần là do có hơn 60 tỷ đồng chứng khoán công ty đã chuyển nhượngcho một bên thứ ba nhưng thủ tục chưa hoàn tất nên công ty vẫn còn ghi nhận số chứngkhoán này
Khác với 2 công ty trên, Công ty CP Vang Thăng Long lại có tỷ trọng lưu chuyển tiền
từ hoạt động ĐT thấp nhất trong tổng lượng tiền lưu chuyển Riêng năm 2006, lượng tiền lưuchuyển từ hoạt động ĐT là dòng tiền vào mang dấu dương do số tiền công ty thu được từ cho