Một xu hướngmới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanhchóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một xu thế tất yếu của các quốc gi
Trang 1Luận văn
Đề tài: Vận dụng cặp phạm trù khả năng và hiện thực để phân tích, làm rõ
sự phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn
hiện nay
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 lý do chọ đề tài
Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”[1,tr5], khai thácbiển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết cácquốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không cóbiển Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạnkiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển Mặt khác, sự bùng nổ dân sốngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷngười, dự báo đến 2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người Sự phát triểncủa dân số thế giới làm cho không gian kinh tế truyền thống đã trở nên chậtchội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩ đến các phương án biếnbiển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tế mới Một xu hướngmới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanhchóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một
xu thế tất yếu của các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu
về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trongtương lai
Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất,đời sống của dân tộc Việt Nam Đảng và Nhà nước ta nhận định: “Biển có ýnghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng
có vai trò lớn trong định hướng phát triển tương lai” Với điều kiện tự nhiênthuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, vùng biểnViệt Nam mang trong mình những tiềm năng nổi bật như: khai thác dầu khí,khoáng sản; nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản; du lịch; Vì vậy, vấn đềtiến ra biển để phát triển kinh tế đang là một xu thế tất yếu của các quốc gia
có biển, trong đó có Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi các
Trang 3nguồn tài nguyên trên đất liền có hạn, đã và đang được khai thác mạnh mẽ,
sự bùng nổ dân số ngày càng gia tăng
Đặc biệt nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nêu rõ: “Phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo
vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển…có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực phát triển kinh tế biển… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông - một biển lớn, quan trọngcủa khu vực và thế giới Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biểnnăm 1982 thì Việt Nam không chỉ có phần lục địa nhỏ hẹp mà còn có cảvùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền “Bờbiển trải dài theo chiều dài của đất nước với khoảng 100 cảng biển, 48 vịnhlớn nhỏ và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển, trên lãnh hải vùng biểnViệt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi trên mặt biểnkhoảng 1.636 km2”[2,tr159], được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc
và Tây Nam với những đảo nổi tiếng về cảnh đẹp và có vị trí chiến lược nhưBạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà,Hoàng Sa, Trường Sa Trải dài trên tuyến ven biển có 29 tỉnh, thành phố với
124 huyện, thị xã; 612 xã, phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) vớikhoảng 20 triệu người sống ở ven bờ và 17 vạn người sống ở các đảo Vìvậy, khai thác tiềm năng kinh tế trên biển và ven biển để phát triển kinh tếđất nước thật sự là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài và có tương lai to lớn,đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hộicủa nước ta
Thực tiễn các nước trên thế giới đã cho thấy kinh tế các vùng lãnh thổ,các địa bàn ven biển luôn đi đầu trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có
Trang 4biển chính vì vậy em chọn đề tài “ vận dụng cặp phạm trù khả năng và
hiện thực để phân tích, làm rõ sự phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan
“DẤU ẤN VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG” của tiến sỹ Trần CôngTrục do nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông thuộc Bộ Thông tin vàtruyền thông phát hành
“HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM” Nhà xuất bản
Trẻ phát hành với các tác giả Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Nhã, Lê MinhNghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt
“BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM: QUÁ KHỨ,HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI” của PGS.TS Vũ Văn Phái nhà xuất bản ĐạiHọc Quốc Gia Hà Nội
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu: làm rõ khả năng và hiện trạng phát triển kinh
tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay từ đó đề xuất phương hướng giảipháp phát triển kinh tế biển đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc giatrên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh
-Nhiệm vụ nghiên cứu: phân tích làm rõ khả năng, thế mạnh và hiện
trạng phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm của Đảng về việc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển nước ta
từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, và gải pháp thúc đẩy sự phát triển kinh
tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay và tương lai
Trang 54 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- đối tượng nghiên cứu:
Khả năng và hiện thực trong triết học Mác-lênin
Việc phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng Mac-lenin nói
chung và cặp phạm trù khả năng và hiện thực nói riêng, và quan điểm củaĐảng ta về việc phát triển kinh tế biển
- Phương pháp nghiên cứu: tiểu luận là dựa vào phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp khác như: phân tíchtổng hợp, thống kê, đánh giá,
6 kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận bao gồm 3 phần: mở đầu, nội dung, danh mục tài liệu thamkhảo, ngoài ra còn có trích dẫn và phục lục, trong phần nội dung tiểu luậnbao gồm 3 chương 9 tiết
Trang 6B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
1.1 KHÁI NIỆM KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
“Hiện thực là phạm trù chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế khảnăng là phạm trù chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽxuất hiện, sẽ tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng”[3,tr222]
Khả năng là để chỉ cái hiện chưa có chưa tới nhưng sẽ tới sẽ có khi cócác điều kiện thích hợp
Khả năng là “ cái hiện chưa có” nhưng bản thân khả năng với tư cách
là “ cái chưa có” đó lại tồn tại tức là các sự vật được nói tới trong khả năngchưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng được đề xuất hiện sự vật đó thì tồn tại
Ví dụ: trước mắt ta có đủ gỗ, cưa, bào, đục, đinh… đó là hiện thực
Từ đó nảy sinh khả năng xuất hiện một cái bàn Trong trường hợp này sự vậtnày là chưa có, chưa tồn tại trên thực tế nhưng khả năng xuất hiện cái bàn thìtồn tại trên thực sự
Hiện thực là phạm trù triết hóc dùng để chỉ cái tồn tại thực sự, cái đãtới đã có, hiện thực bao gồm :
Hiện thực khách quan ( hay là vật chất ) tất cả những gì đang tồn tạiđộc lập với ý thức của con người
Hiện thực chủ quan ( hiện tượng tinh thần) nó cũng tồn tại như tồn tạitrong óc của con người; ví dụ như ý thức, tu duy
Như vậy dấu hiệu căn bản để phân biệt khả năng với hiện thực ở chỗ:khả năng là cái chưa có, còn hiện thực là cái hiện đang có, đang tồn tại
Trang 71.2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau,không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình pháttriển của sự vật điều đó có nghĩa là trong sự vật hiện tượng đang tồn tạichứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trìnhbiến khả năng thành hiện thực Trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năngmới, khả năng mới này nếu có nhưng điều kiện lại biến thành hiện thực mới.Quá trình đó được tiếp tục, làm cho sự vật vận động, phát triển một cách vôtận trong thế giới vật chất
Quan hệ giữa khả năng và hiện thực có tính phức tạp Điều đó thểhiện ở chỗ cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thểtồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng
Ví dụ: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, saukhin phân tích tình hình trong nước, tình hình thế giới và khu vực đã nhậnđịnh rằng, đất nước ta hiện nay đang “ có cả cơ hội và thách thức lớn”,những cơ hội lớn tạo điều kiện để chúng ta có khả năng “ tiếp tục phát huynội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực- nguồn vốn, công nghệ mới,kinh nghiệm quản lý và mở rộng thị trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa Những thách thức lơn đó là 4 nguy cơ mà Đảng ta đã từngchỉ rõ như nguy cơ tụt hậu về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạntham nhũng và quan lieu, “ diễn biến hòa binh” do thế lực thù địch gây ra
Như vậy chúng ta thấy hiện nay đang cùng tồn tại rất nhiều khảnăng( cả thuận lợi, lẫn khó khăn) phát triển đất nước ta Điều đó đòi hỏi toànĐảng, toàn dân ta phải thừa nhận thức rõ để chủ động tranh thủ thời cơ vượt
Trang 8qua thách thức đưa đất nước vững bước đi lên theo định hướng xã hội chủnghĩa
Ngoài những khả năng vốn sẵn có, trong điều kiện mới thì sự vật sẽxuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũngthay đổi theo sự thay đổi của điều kiện
Ví dụ : nước ra vốn là nước kinh tế kém phát triển, mức sống củanhân dân còn thấp, nhưng lại phải trải qua cuộc cạnh trang quốc tế ngàycàng quyết liệt để hội nhập Nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên thìkhả năng càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới và sự bất lợi về mở rộng sản xuất kinh doanh, trao đổi mua báncàng lớn
Trong đời sống xã hội, hoạt động có ý thức của con người có vai tròhết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực Nó có thể đẩy nhanhhoặc kìm hãm quá trình biến khả năng thành hiện thực, có thể điều khiềnkhả năng phát triển theo chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những điềukiện tương ứng không thấy vai trò của nhân tố chủ quan của con người sẽrơi vào sai lầm hữu khuynh chịu bó tay, khuất phục trước hoàn cảnh Tuynhiên cũng không được tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan mà xemthường những điều kiejn khách quan Như vậy chúng ta rễ rơi vào sai lầmchủ quan, mạo hiểm duy ý chí
1.3 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có,nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực, không được dựa vàokhả năng để sinh ra chủ trương, phương hướng hành động của mình
V.I Lê-nin cho rằng: “ chủ nghĩa Mác căn cứ vào những sự thật chứkhông phải dựa vào những khả năng Người macxit chỉ có thể sử dụng, để
Trang 9làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõ rệt
và không thể chối cãi được”[4,tr226]
Khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó cũng biểu hiện khuynhhướng phát triển của sự vật trong tương lai Do đó, tuy không dựa vào khảnăng nhưng chúng ta cũng phải tính đến các khả năng để việc đề ra chủtrương, kế hoạch hành động sát hợp hơn
Trong xã hội, chúng ta phải chú ý đế việc phát huy nguồn lực conngười, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tính năng độngsáng tạo của mỗi con người để biến khả năng thành hiện thực thúc đẩy xãhội phát triển Tuy nhiên cũng cần tránh hai thái cực sai lầm, một là : tuyệtđối hóa vai trò nhân tố chủ quan; hai là: hạ thấp vai trò nhân tố chủ quantrong việc biến khả năng thành hiện thực
CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN NƯỚC TA HIỆN NAY2.1 KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TRONG NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Trong đánh bắt
2.1.1.1 khả năng
Diện tích mặt biển nước ta rộng tới hơn 1 triệu km2 chính vì vậynguồn lợi đánh bắt hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trongkhu vực “Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác cógiá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển
đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh
tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khả năng cho phépkhai thác 1,5- 1,8 triệu tấn/năm”[5,tr30] Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn
Trang 10quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gònổi ngoài khơi
Cùng với đó là nguồn nhân lực nước ta dồi dào, đặc biệt là vùng biểnnước ta, đa số là những người ở độ tuổi đang lao động, cộng với kinhnghiệm đi biển lâu đời Với tiềm năng như vậy đánh bắt thủy hải sản thực
sự có thể đem lại nguồn lợi vô cùng quan trọng cho đất nước
2.1.1.2 hiện trạng
Đánh bắt hải sản là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta,
là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược phát triểnngành thủy sản Việt Nam, đó là: khai thác tiềm năng nguồn lợi hải sản tạosản phẩm cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo công ănviệc làm, thu nhập, cải thiện đời sống ngư dân các tỉnh ven biển; đảm bảo
sự hiện diện, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển Từ năm 1993,sau khi thuỷ sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, nghề đánh bắt thuỷsản đã có những bước phát triển đáng kể Trong giai đoạn 1995-2005, sảnlượng thuỷ sản tăng bình quân 7,7%/năm, sản lượng khai thác tăng bìnhquân 5%/năm, tính riêng trong năm 2011 giá trị sản lượng đánh bắt thủyhải sản của nước ta đạt khoảng 2,4 triệu tấn so với năm năm 1990 chỉ đạt
728 nghìn tấn hiện nay nước ta đã hình thành 4 ngư trường lớn trọng điểm
đã được xác định đó là : “ngư trường Cà Mau – Kiên Giang, ngư trườngNinh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng –Quảng Ninh, ngư trường Hoàng Sa – Trường Sa”[6,tr100], sản lượng thủyhải sản đánh bắt được hàng năm ngoài đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nướccòn là nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến và xuấtkhẩu sang nước ngoài Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn laođộng đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Số lượng tàuthuyền cũng tăng đều đặn qua các năm, theo thống kê trong khoảng 15 năm(1990 - 2005), tàu cá Việt Nam tăng 4,7 lần về số lượng (95.000 chiếc năm
Trang 112005 so với 41.000 chiếc năm 1990) và 5,7 lần về công suất, bình quâncông suất đã vượt quá 60 CV/tàu (so với công suất bình quân 18 CV/tàunăm 1991 và 44 CV/tàu năm 2000) Tuy nhiên, nghề khai thác hải sản củaViệt Nam đang đứng trước không ít khó khăn và bất cập.
Sự dễ dãi tiếp cận khai thác nguồn lợi hải sản, những bất cập trongquản lý, kiểm soát khai thác và những hạn chế về tài chính, đội tàu cá ViệtNam được đầu tư phát triển theo phong trào, thiếu quy hoạch, tập trungtăng về công suất máy đẩy và tăng về số lượng dẫn đến, sau gần vài thập
kỷ tập trung khai thác, nguồn lợi hải sản đã có những biến động đáng kể vềmật độ sản lượng, chủng loài, kích thước… đặc biệt vùng biển ven bờ, tậptrung trên 80% tổng số phương tiện nghề cá, sản lượng khai thác hằng nămchiếm từ 70 -80% tổng sản lượng hải sản của cả nước Ba ngư trường trọngđiểm là Hải Phòng-Quảng Ninh, Ninh Thuận-Bình Thuận và Cà Mau-KiênGiang, những khu vực tập trung trên 50% tổng số phương tiện nghề cátham gia đánh bắt hàng năm, qua kết quả khảo sát, mật độ sản lượng đềugiảm Cùng với những thay đổi về sản lượng, chủng loài hải sản cũng biếnđộng đáng kể về mật độ, kích cỡ và ngày càng có nhiều loài trở thành quýhiếm, có nguy cơ tuyệt chủng Sự thay đổi trên là nguyên nhân giảm năngsuất, sản lượng khai thác của nhiều nhóm nghề (khai thác cá nổi nhỏ ven
bờ, cá đáy, câu cá rạn…), đồng thời tăng thời gian khai thác thực tế trênbiển, thời gian tìm kiếm ngư trường, chi phí, giá thành sản phẩm… Thống
kê gần đây cho thấy dấu hiệu dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt hải sản
đã xuất hiện, công suất huy động tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàuchỉ huy động khoảng 50% thời gian hoạt dộng (khai thác cá nổi, tômbiển…)
Nghề cá biển thuộc nhóm nghề vất vả, tai nạn luôn rình rập, đặc biệtđối với những quốc gia nằm trong khu vực thường chịu tác động của cáchiện tượng thời tiết bất thường như Việt Nam Môi trường hoạt động khai
Trang 12thác hải sản rất khắc nghiệt, song đội tàu cá lại chưa được đầu tư tươngthích Trong khoảng 95.000 phương tiện nghề cá hiện nay, loại dưới 50 CV
và thuyền thủ công có khoảng 64.500 chiếc, chiếm 68%, số tàu cá lắp máy
từ 90 CV trở lên có khoảng 13.600 chiếc, chiếm khoảng 14,3% Cơ cấu độitàu cá Việt Nam hiện nay, xét về sự tương thích với ngư trường, với nguồnlợi hải sản cho thấy không có sự bất cập lớn, song chất lượng kém của vỏ,máy, các thiết bị an toàn hàng hải đã hạn chế thời gian hoạt động hữu íchtrong năm Từ năm 1997, thực hiện Chương trình đánh bắt cá xa bờ, Nhànước đã đầu tư 1.300 tỷ đồng đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ, tuynhiên cho đến nay Chương trình này bị đánh giá là không hiệu quả
Ngoài ra, chất lượng đội tàu, lao động trên tàu còn nhiều bất cập nên
số vụ tai nạn tàu cá trên biển có xu hướng ngày càng tăng Thống kê chưađầy đủ, trong vòng 15 năm gần đây, mỗi năm trên các vùng biển xảy rakhoảng 500 vụ tai nạn tàu cá, gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản, chỉriêng ba tháng cuối năm 2006 và hai tháng đầu năm 2007 có gần 400 vụ,trong đó hơn 50% vụ tàu bị hỏng máy, vỏ bị phá nước Bên cạnh đó, tàu cá
bị các nước trong khu vực bắt, bị cướp biển trong những năm gần đây làvấn đề phức tạp, không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ láng giềng giữaViệt Nam và các quốc gia vùng biển giáp ranh, mà tác động trực tiếp đếntâm lý ngư dân tham gia đánh bắt hải sản Theo thống kê chưa đầy đủ, từ
1999 đến 2002 cả nước đã có 274 tàu thuyền bị các nước lân cận bắt.Những vất vả vốn có của nghề đánh bắt hải sản và những thay đổi, chuyểndịch cơ cấu kinh tế chung của đất nước đã tác động không nhỏ đến nghềđánh bắt hải sản, đòi hỏi nghề này sớm được cải thiện để phát triển bềnvững
2.1.2 Trong nuôi trông
2.1.2.1 khả năng
Trang 13Với diện tích mặt biển rộng tới hơn 1 triệu km2 và với 3260km bờbiển thì nước ta hoàn toàn có thể phát triển nuôi trồng thủy hải sản thêmnữa là vùng biển nước ta năm trong vùng khí hậu nhiệt đới cho nên biểnnước ta còn có hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinhthái rạn san hô, hệ sinh thái đảo, hệ sinh thái bờ đá… trong các dạng hệsinh thái này, tính đa dạng sinh học rất cao, tiềm năng nuôi trồng thủy hảisản nước lợ, nước mặn trong các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh là rấtlớn trong đó tiềm năng diện tích nuôi trồng thủy hải sản nước ta ước tínhđạt 2 triệu km2 và dọc ven biển có trên 37 vạn héc ta mặt nước các loại cókhả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn - lợ, nhất là nuôi các loại đặc sảnxuất khẩu như tôm, cua, rong câu… Riêng diện tích nuôi tôm nước lợ cótới 30 vạn ha Ngoài ra còn hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầm pháven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh VănPhong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.Với tiềm năng trên, trong tương lai có thể phát triển mạnh ngành nuôi,trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại với sảnlượng hàng chục vạn tấn/ năm.
2.1.2.2 hiện trạng
Bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng đem lại nhiềugiá trị cao về kinh tế, tính tổng giá trị nuôi trồng thủy hải sản nước ta năm
1990 chỉ đạt 162 nghìn tấn ,thì đến năm 2005 tổng sản lượng giá trị đạt
1478 nghìn tấn, và ước tính tổng sản lượng nuôi trồng thủy hải sản nước tanăm 2011 đạt tới 2,5 triệu tấn Cùng với đó giống loài thủy sản nuôi phongphú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cá cam, cá hồng,
cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao, nghêu,hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô
Trước tình trạng nguồn lợi hải sản đang suy kiệt, ngư dân đã chuyển
từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản ở biển với nhiều hình thức đa dạng
Trang 14Nhà nước đã ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuậnlợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trongnước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng hải sản trên biển và hảiđảo Nhà nước phân cấp cho ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương giao, cho thuê đất và mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình có nhu cầu sử dụng mặt nước biển, đất trên đảo để nuôi trồnghải sản, tạo điều kiện để nhà đầu tư tự quản lý đất mặt nước, yên tâm đầu
tư phát triển sản xuất Nhà nước đã đầu tư và hỗ trợ đầu tư cho quy hoạchnuôi hải sản trên biển, hải đảo; cho nhập khẩu giống gốc một số loài đặcsản sạch bệnh có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và kỹ thuật sản xuất giốngnhân tạo đòi hỏi công nghệ sản xuất cao và nuôi thương phẩm hải sản trênbiển và hải đảo; đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; ưu tiên bố tríkinh phí cho công tác khuyến ngư nuôi hải sản; hỗ trợ các dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng thiết yếu của các vùng nuôi hải sản biển Ngân hàng chínhsách, các tổ chức tín dụng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các tổchức, cá nhân, hộ gia đình có đủ điều kiện vay vốn nuôi trồng hải sản trênbiển và hải đảo Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiều biệnpháp hỗ trợ lãi suất vốn vay, ưu tiên bố trí nguồn vốn cho vay của Quỹquốc gia về việc làm cho các dự án nuôi trồng hải sản khả thi
Kết quả là, trong những năm qua, nuôi trồng hải sản đã phát triển khámạnh ở nhiều địa phương trên cả nước “Thí dụ, chỉ tính riêng hình thứcnuôi lồng bè, trong giai đoạn 2006-2010, tổng số lồng bè nuôi hải sản trênbiển đã tăng lên hơn 1,6 lần Năm 2006, tổng số lồng bè nuôi trên biển là23.989 chiếc, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là 19.912 chiếc, nuôi cá biển
là 4.077 chiếc Năm 2010 tổng số lồng bè nuôi tôm, cá trên biển đã tăngđến 38.965 lồng, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là 30.115 lồng, nuôi cá là8.850 lồng Sản lượng nuôi lồng bè nước mặn năm 2006 chỉ đạt 5.635 tấn,năm 2004 đạt hơn 16.000 tấn”[7,tr128] Thủy sản nuôi trên biển có chất
Trang 15lượng và giá trị hàng hóa cao, có thị trường tiêu thụ rộng mở, được kháchhàng thế giới ưa thích Vì vậy, hải sản nuôi trên biển có đóng góp quantrọng cho xuất khẩu của nước ta Bên cạnh nuôi trồng hải sản tiêu thụ trongnước và xuất khẩu, nước ta cũng đã sản xuất được giống một số loài như cágiò, cá song chấm nâu, cá sú chấm (cá Hồng Mỹ), cá vược, bào ngư, ốchương, cua và chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi thươngphẩm cho nhiều địa phương phát triển sản xuất
Việc phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo giúp các tổchức, giúp người dân có cơ hội đầu tư phát triển, góp phần điều chỉnhnghề khai thác ven bờ bằng phương tiện thủ công sang nuôi trồng thủy sảnbiển (nhất là người dân ở các xã nghèo vùng bãi ngang ven biển, hải đảo),bảo vệ và phát triển được nguồn lợi thủy sản Nuôi trồng thủy sản biển còngiúp người dân có điều kiện tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, thay đổi
cơ cấu kinh tế; góp phần bảo vệ an ninh vùng biển và hải đảo Ngành thủysản dự kiến đến năm 2010 nuôi cá biển ở nước ta ước đạt khoảng 200.000tấn, nuôi nhuyễn thể đạt 380.000 tấn, rong biển đạt 50.000 tấn khô, đuổikịp và vượt các nước tiên tiến trong khu vực và vùng lãnh thổ về trình độnuôi hải sản trên biển
Tuy nhiên, nuôi trồng hải sản nước ta hiện nay mới tập trung vào một
số doanh nghiệp, xí nghiệp liên doanh và các hộ có vốn lớn, sản xuất mangtính tự phát ở một số vùng ven biển; còn đại bộ phận người dân ven biểnchưa có sự hiểu biết và điều kiện tham gia nuôi trồng hải sản trên biển.Việc sử dụng diện tích mặt nước biển để nuôi hải sản chưa đáng kể, việcgiao, cho thuê mặt nước biển còn nhiều bất cập, sản lượng nuôi chưanhiều, giống loài thủy sản tham gia sản xuất còn ít, giá trị kim ngạch xuấtkhẩu so với tiềm năng hiện có còn thấp Chính sách khuyến khích đầu tư,phát triển công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì đáng kể
Trang 16để phục vụ yêu cầu sản xuất, đã làm hạn chế phát triển nuôi trồng thủy sảntrên biển và hải đảo
2.1.3 Trong sản xuất muối
2.1.3.1 khả năng
Với đường bờ biển dài 3260km trong đó có 29 tỉnh thành phố giápbiển, không những vậy vùng biển nước ta mà đặc biệt là biển miền trungthường có độ mặn cao, bên cạnh đó nguồn lực tham gia vào sản xuất muối
vô cùng lớn, với điều kiện này nước ta hoàn toàn có thể phát triển ngànhmuối và đem lại những giá trị to lớn về kinh tế
2.1.3.2 hiện trạng
Nghề làm muối là một nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam,gắn chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết.Trong những năm qua, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận, song nhờnhững bước tiến mới trong công tác quy hoạch, đầu tư sản xuất muối, đặcbiệt là muối công nghiệp, cho nên nghề muối Việt Nam đã phần nào giảmbớt những khó khăn Cả nước hiện nay có 20 tỉnh thành có nghề sản xuấtmuối biển với tổng diện tích hơn 12 nghìn ha và sản lượng bình quân đạt từ
800 nghìn tấn đến 1,2 triệu tấn muối/năm, tạo việc làm cho hơn 90 nghìnlao động Hiện nay, ngành muối Việt Nam đang tích cực triển khai các dự
án xây dựng đồng muối công nghiệp, đổi mới công nghệ sản xuất muối,nhất là công nghệ sản xuất muối sạch, nhằm thực hiện được mục tiêu đếnnăm 2010 đạt 1,5 triệu tấn muối và đến năm 2020 đạt 2 triệu tấn, trong đócác đồng muối công nghiệp đảm bảo 53 – 67% tổng sản lượng muối tiêuthụ Hoạt động đầu tư về vốn, công nghệ sản xuất trên đồng muối có nhiềuchuyển biến tích cực theo hướng xã hội hoá Ngoài nguồn vốn xây dựng cơbản của ngành nông nghiệp dành để đầu tư một số dự án về muối, ngànhmuối đang tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc
Trang 17mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các dự án sản xuất, chế biến,tiêu thụ muối công nghiệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đangđẩy mạnh cổ phần hoá toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước trong ngànhmuối; xây dựng chính sách đầu tư cho vùng muối để đảm bảo đáp ứng nhucầu tiêu dùng muối của nhân dân, ngành Công nghiệp và các ngành khác.Tuy nhiên, hiện nay ngành muối chưa hội tụ đủ các yếu tố để pháttriển ổn định và bền vững vì nhiều nguyên nhân: diện tích quy hoạch cácvùng sản xuất muối luôn bị thay đổi; một số địa phương vùng biển lạikhông mặn mà với nghề muối, đời sống của diêm dân nhiều vùng bấpbênh, vì diện tích đất dành cho sản xuất muối lớn, nhưng nguồn thu chongân sách lại không nhiều, nên lãnh đạo địa phương chưa quan tâm đầy đủđến việc chỉ đạo và tạo nguồn vốn đầu tư phát triển ngành này cũng như hỗtrợ cho diêm dân; nhiều sức ép cạnh tranh, nhất là về chất lượng và giá cả,sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Hiện tại, phầnlớn diện tích, sản lượng, lao động đang duy trì phương pháp sản xuất muốitruyền thống đã có từ hàng trăm năm nay với phương tiện lạc hậu, thao tácthủ công, quy mô nhỏ, phân tán, cho nên năng suất và chất lượng sản phẩmthấp Nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với ngành muốitrong thời gian qua hiệu lực thấp, bất cập và thiếu đồng bộ, như chính sáchmua muối theo giá sàn, chính sách cho dân vay vào thời điểm giáp vụ đểmua sắm vật tư, chuẩn bị sản xuất, củng cố quan hệ sản xuất qua chủtrương xây dựng các mô hình hợp tác xã muối kiểu mới, đầu tư chiều sâunâng cấp cơ sở hạ tầng sản xuất để tăng năng suất, sản lượng , tất cả đềuchưa tạo ra được sự chuyển biến rõ ràng và tích cực Sự vào cuộc của nhànước còn chậm nhiều nơi chính quyền địa phương lo đầu ra cho sản phẩmmuối phần nhiều còn mang tính hình thức Chẳng hạn, việc giao choUBND các địa phương công bố giá sàn mua muối cho diêm dân ngay từđầu vụ sản xuất là không khả thi vì UBND không đủ thông tin và căn cứ để