Đặt vấn đề Tỷ lệ lệch lạc răng hàm ở Việt nam rất cao chiếm 83,25% dân số, trong đó có 71,3% khớp cắn loại I và 21,7% khớp cắn loại III [17]. Trên thế giới tỷ lệ lệch lạc khớp cắn loại III gặp nhiều ở châu á: 40-50% bệnh nhân chỉnh nha ở Hàn Quốc có khớp cắn lệch lạc loại III [49]. 20% dân số Nhật Bản có khớp cắn loại III [31]. Lệch lạc răng hàm gây ảnh hưởng đến chức năng, thẩm mỹ và sức khỏe của hàm răng. Lệch lạc vùng răng cửa chiếm tỷ lệ cao và được quan tâm nhiều do đặc biệt ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Các răng cửa có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ vì chúng luôn được nhìn thấy khi ăn nói và cử chỉ biểu lộ sắc thái tình cảm của con người ngay cả khi miệng ở tư thế nghỉ [1]. Khớp cắn ngược vùng răng cửa có tỷ lệ cao tới 22% trong tổng số lệch lạc vùng răng cửa [3]. Tại khoa nắn hàm viện RHM Hà Nội từ 1/10/2002 - 22/9/2003 trong tổng số 270 bệnh nhân đến khám có 69 bệnh nhân khớp cắn ngược vùng răng cửa [4]. Khớp cắn ngược vùng răng cửa là tình trạng khớp cắn có một hay vài răng cửa hàm trên nằm ở trong so với răng cửa hàm dưới khi hai hàm ở tư thế cắn khít trung tâm [12]. Như vậy khớp cắn ngược vùng răng cửa là một lệch lạc răng cũng thường gặp trong chỉnh hình răng mặt. Bệnh nhân bị khớp cắn ngược răng cửa ảnh hưởng thẩm mỹ rất nhiều. Bệnh nhân sẽ có khuôn mặt bị lõm, môi đảo ngược khi nhìn nghiêng (dân gian gọi là “móm”). Ngoài ra khớp cắn ngược còn gây ảnh hưởng về cắn khít, nha chu. Nói chung khớp cắn ngược vùng răng cửa một hay nhiều răng phải phát hiện và điều trị sớm. Nếu chậm sẽ dẫn đến những biến chứng nặng như thiếu hụt chiều dài cung răng, sang chấn khớp cắn, đặc biệt là mất chức năng hướng dẫn nhóm răng cửa. Nhiều trường hợp điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ phải điều trị phức tạp hơn sau này. Trước đây việc điều trị lệch lạc này chủ yếu là nhờ khí cụ tháo lắp. Những năm gần đây chỉnh hình bằng khí cụ gắn chặt với nhiều ưu điểm đã được phát triển và áp dụng rộng rãi. Chính vì vậy mà điều trị khớp cắn ngược đã đạt được kết quả rất tốt, ngay cả cắn ngược do xương ở mức độ nhẹ. Nhiều phương pháp can thiệp sẽ mang đến nhiều sự lựa chọn phù hợp cho từng bệnh nhân nhằm đạt được một kết quả tốt nhất cho bệnh nhân. ở Việt nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này do vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, Xquang và đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội" Nhằm các mục tiêu sau: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân khớp cắn ngược vùng răng cửa. 2. Đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội.
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
Trường Đại học Y Hà NộI
o0o
Nguyễn Xuân Hương
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội
luận văn thạc sĩ y học
HÀ NỘI – 2010
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
Trường Đại học Y Hà NộI
o0o
Nguyễn Xuân Hương
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội
Trang 3Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
TS Bsck II nguyễn Mạnh Hà, Viện phó Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt,
Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận
văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
TS Trương Mạnh Dũng, Viện trưởng Viện Đào tạo Răng hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội
Ts Nguyễn Thị Thu Phương, Chủ nhiệm Bộ môn Nắn Chỉnh Răng, Viện
Đào tạo Răng hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội
TS Tống Minh Sơn, Viện phó Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội
TS Trần Ngọc Thành; TS Trịnh Thị Thái Hà
Là những người thầy, nhà khoa học đã giảng dạy, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể các Bác sĩ, y tá
Khoa Răng Miệng, Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba Hà Nội đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Phòng sau đại học Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt và Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Hà Nội
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người thân trong gia đình tôi, bạn bè tôi, những người luôn bên tôi cổ vũ động viên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu để có được kết quả như ngày hôm nay
Nguyễn Xuân Hương
Trang 4Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ ch−a tõng ®−îc c«ng bè trong bÊt kú mét c«ng tr×nh nµo kh¸c
T¸c gi¶
NguyÔn Xu©n H−¬ng
Trang 5MụC LụC
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Tổng quan 3
1.1 Sự phát triển của xương mặt 3
1.1.1 Sự tăng trưởng của xương hàm trên 3
1.1.2 Sự tăng trưởng của xương hàm dưới 5
1.1.3 Thời gian tăng trưởng của xương hàm 7
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến lệch lạc răng hàm 8
1.2.1 Những nguyên nhân đặc thù của sai khớp cắn 8
1.2.2 ảnh hưởng của di truyền 9
1.2.3 ảnh hưởng của các yếu tố chức năng lên sự phát triển của răng mặt 9
1.3 Khớp cắn và phân loại lệch lạc khớp cắn 9
1.3.1 Khớp cắn 9
1.3.1.1 Khớp cắn trung tâm 9
1.3.1.2 Đường khớp cắn 10
1.3.1.3 Khớp cắn bình thường của Andrews 11
1.3.2 Phân loại lệch lạc khớp cắn 12
1.4 Khớp cắn ngược vùng răng cửa 15
1.4.1 Nguyên nhân: 15
1.4.1.1 Nguyên nhân nguyên phát (di truyền hoặc do xương): 15
1.4.1.2 Nguyên nhân thứ phát: 16
1.4.2 Hình thái lâm sàng 17
1.4.2.1 Cắn ngược răng đơn thuần (không có sự trượt hàm dưới 17 1.4.2.2 Cắn ngược chức năng (có sự trượt hàm dưới) - sai khớp hạng III giả 18
1.4.2.3 Cắn ngược trong sai khớp hạng III thực sự 19
Trang 61.4.3 Hậu quả khớp cắn ngược: 19
1.5 Sự dịch chuyển răng 20
1.5.1 Các giai đoạn chuyển động của răng (Giản đồ Reitan) 20
1.5.2 Các loại di chuyển răng 21
1.6 Các Phương pháp điều trị lệch lạc răng 23
1.6.1 Khí cụ chỉnh hình tháo lắp 23
1.6.2 Khí cụ chỉnh hình cố định 24
1.6.3 Phương pháp phẫu thuật chỉnh hình: 27
1.7 Một số kết quả nghiên cứu có liên quan 28
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 29
2.2.2 Cỡ mẫu: 29
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.5 Thu thập thông tin: 30
2.2.5.1 Đặc điểm chung: 30
2.2.5.2 Khám lâm sàng: 30
2.2.5.3 Lấy dấu, đổ mẫu và phân tích mẫu 31
2.2.5.4 Chụp phim tia X 31
2.2.5.5 Đo phim 31
2.2.5.7 Chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị 35
2.2.6 Tiến hành điều trị 35
2.2.6.1 Điều trị tiền chỉnh răng 35
2.2.6.2 Điều trị chỉnh hình răng 35
2.2.7 Đánh giá kết quả điều trị 40
2.2.8 Đạo đức nghề nghiệp 44
Trang 72.2.9 Xử lý số liệu: 44
Chương 3: kết quả 46
3.1 Đặc điểm lâm sàng, x- quang 46
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính: 46
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi: 47
3.1.3 Lý do đến khám: 47
3.1.4 Các yếu tố hỏi bệnh khai thác được ở các trường hợp cắn ngược: 48
3.1.5 Phân bố các dạng cắn ngược khác nhau trong nhóm nghiên cứu 49
3.1.6 Phân bố sai khớp cắn của Angle 49
3.1.7 Phân bố tương quan xương hai hàm theo chiều trước sau: 50
3.1.8 Mối liên quan giữa lệch lạc xương và răng theo Angle 51
3.1.9 Phân bố số răng cắn ngược liên quan đến sai khớp Angle 51
3.1.10 Tỷ lệ số răng cắn ngược của các bệnh nhân nghiên cứu: 52
3.1.11.Tỷ lệ các trường hợp răng cắn ngược kết hợp bị xoay trục 52
3.1.12 Bệnh nhân cắn ngược có kết hợp cắn chéo vùng răng hàm:53 3.1.13 Mức độ thiếu khoảng trên cung hàm của các bệnh nhân 53
3.1.14 Hậu quả khớp cắn ngược: 55
3.1.15 Các giá trị đo trên phim sọ nghiêng 56
3.2 Đánh giá Kết quả điều trị: 58
3.2.1 Các khí cụ được áp dụng điều trị 58
3.2.2 Phân loại điều trị: 59
3.2.3 Đánh giá kết quả điều trị: 60
Chương 4: bàn luận 63
4.1 Đặc điểm của bệnh nhân: 63
4.1.1 Đặc điểm giới 63
4.1.2 Đặc điểm tuổi 63
Trang 84.2 Đặc điểm lâm sàng: 64
4.2.1 Lý do bệnh nhân đến khám: 64
4.2.2 Nguyên nhân gây khớp cắn ngược 64
4.2.3 Phân bố các dạng cắn ngược khác nhau trong nghiên cứu: 65
4.2.4 Phân bố lệch lạc về răng và xương trong nghiên cứu: 65
4.2.5 Các yếu tố có liên quan đến các răng cửa cắn ngược: 67
4.2.6 Mức độ thiếu khoảng trên cung hàm của bệnh nhân cắn ngược: 69
4.3 Đặc điểm X-quang 70
4.4 Điều trị khớp cắn ngược: 70
4.4.1.Điều trị nhổ răng hay không nhổ răng 70
4.4.2 Khí cụ điều trị khớp cắn ngược: 72
4.4.3 Thời điểm điều trị: 76
4.4.4 Kết quả điều trị: 77
Kết luận 80
Kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo Phụ Lục
Trang 9DANh mục bảng
Bảng 2.1: Các trị số đo bình thường trên phim sọ nghiêng 34
Bảng 2.2: Vị trí đặt mắc cài cho các răng hàm trên và hàm dưới 38
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 47
Bảng 3.2: Lý do đến khám 47
Bảng 3.3: Phân bố các dạng cắn ngược 49
Bảng 3.4: Phân bố sai khớp cắn Angle theo nhóm tuổi 49
Bảng 3.5: Phân bố tương quan xương hai hàm theo nhóm tuổi 50
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa lệch lạc xương và răng theo Angle 51
Bảng 3.7 Phân bố số răng cắn ngược liên quan đến sai khớp Angle 51
Bảng 3.8 :Tỷ lệ xoay trục của răng cắn ngược 52
Bảng 3.9: Tỷ lệ bệnh nhân có kết hợp cắn chéo vùng răng hàm 53
Bảng 3.10: Mức độ thiếu khoảng trên cung hàm trên 53
Biểu đồ 3.6: Phân bố mức độ thiếu khoảng hàm trên theo lệch lạc xương 54
Bảng 3.11: Mức độ thiếu khoảng trên cung hàm dưới 54
Bảng 3.12: Hậu quả của khớp cắn ngược 55
Bảng 3.13: Các chỉ số đo trên phim sọ nghiêng xương loại I 56
Bảng 3.14: Các chỉ số đo trên phim sọ nghiêng xương loại III 57
Bảng 3.15: Các khí cụ điều trị 58
Bảng 3.16: Phân loại điều trị 59
Bảng 3.17: Phân loại kết quả điều trị sau 3 tháng 60
Bảng 3.18: Phân loại kết quả điều trị sau 6 tháng 60
Bảng 3.19: Phân loại kết quả điều trị sau 12 tháng 61
Bảng 3.20: Phân loại kết quả các trường hợp đã kết thúc điều trị 61
Bảng 3.21: Mối liên hệ giữa thời gian điều trị và dạng lệch lạc xương 62
Bảng 3.22: Mối liên hệ giữa thời gian điều trị và lứa tuổi 62
Trang 10DANH mục biểu đồ
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới 46
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân hồi cứu, tiến cứu theo giới 46
Biểu đồ 3.3: Các yếu tố hỏi bệnh khai thác được ở các trường hợp 48
cắn ngược 48
Biểu 3.5: Tỷ lệ số răng cắn ngược 52
Biểu đồ 3.7: Phân bố mức độ thiếu khoảng hàm dưới theo lệch lạc xương 55
Biểu đồ 3.8: Phân bố loại điều trị 59
Trang 11Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 121
Đặt vấn đề
Tỷ lệ lệch lạc răng hàm ở Việt nam rất cao chiếm 83,25% dân số, trong
đó có 71,3% khớp cắn loại I và 21,7% khớp cắn loại III [17] Trên thế giới tỷ
lệ lệch lạc khớp cắn loại III gặp nhiều ở châu á: 40-50% bệnh nhân chỉnh nha ở Hàn Quốc có khớp cắn lệch lạc loại III [49] 20% dân số Nhật Bản có khớp cắn loại III [31] Lệch lạc răng hàm gây ảnh hưởng đến chức năng, thẩm
mỹ và sức khỏe của hàm răng
Lệch lạc vùng răng cửa chiếm tỷ lệ cao và được quan tâm nhiều do đặc biệt ảnh hưởng đến thẩm mỹ Các răng cửa có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ vì chúng luôn được nhìn thấy khi ăn nói và cử chỉ biểu lộ sắc thái tình cảm của con người ngay cả khi miệng ở tư thế nghỉ [1] Khớp cắn ngược vùng răng cửa
có tỷ lệ cao tới 22% trong tổng số lệch lạc vùng răng cửa [3] Tại khoa nắn hàm viện RHM Hà Nội từ 1/10/2002 - 22/9/2003 trong tổng số 270 bệnh nhân
đến khám có 69 bệnh nhân khớp cắn ngược vùng răng cửa [4] Khớp cắn ngược vùng răng cửa là tình trạng khớp cắn có một hay vài răng cửa hàm trên nằm ở trong so với răng cửa hàm dưới khi hai hàm ở tư thế cắn khít trung tâm [12]
Như vậy khớp cắn ngược vùng răng cửa là một lệch lạc răng cũng thường gặp trong chỉnh hình răng mặt Bệnh nhân bị khớp cắn ngược răng cửa
ảnh hưởng thẩm mỹ rất nhiều Bệnh nhân sẽ có khuôn mặt bị lõm, môi đảo ngược khi nhìn nghiêng (dân gian gọi là “móm”) Ngoài ra khớp cắn ngược còn gây ảnh hưởng về cắn khít, nha chu Nói chung khớp cắn ngược vùng răng cửa một hay nhiều răng phải phát hiện và điều trị sớm Nếu chậm sẽ dẫn
đến những biến chứng nặng như thiếu hụt chiều dài cung răng, sang chấn khớp cắn, đặc biệt là mất chức năng hướng dẫn nhóm răng cửa Nhiều trường hợp điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ phải điều trị phức tạp hơn sau này
Trang 132
Trước đây việc điều trị lệch lạc này chủ yếu là nhờ khí cụ tháo lắp Những năm gần đây chỉnh hình bằng khí cụ gắn chặt với nhiều ưu điểm đã
được phát triển và áp dụng rộng rãi Chính vì vậy mà điều trị khớp cắn ngược
đã đạt được kết quả rất tốt, ngay cả cắn ngược do xương ở mức độ nhẹ Nhiều phương pháp can thiệp sẽ mang đến nhiều sự lựa chọn phù hợp cho từng bệnh nhân nhằm đạt được một kết quả tốt nhất cho bệnh nhân
ở Việt nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này do
vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,
X-quang và đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại
bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội"
Nhằm các mục tiêu sau:
1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân khớp cắn ngược vùng răng cửa
2 Đánh giá kết quả điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa tại bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Hà Nội
Trang 141.1.1 Sự tăng trưởng của xương hàm trên
Xương hàm trên phát triển từ xương màng Xương hàm trên hình thành
do hai xương bên phải và bên trái, mỗi bên có:
+ Xương tiền hàm: hai xương phải và trái nối với nhau bằng đường khớp giữa + Xương hàm trên: nối với xương tiền hàm bằng đường khớp cửa - nanh
Xương hàm trên phát triển theo ba hướng trong không gian là nhờ:
+ Sự bồi đắp xương ở đường khớp nối xương hàm trên với xương sọ và nền sọ
+ Sự bồi đắp xương ở mặt ngoài và tiêu xương ở mặt trong
Hai mấu khẩu cái xương hàm trên
Hai mấu ngang xương khẩu cái
+ Đường khớp chân bướm và xương khẩu cái
Trang 154
+ Đường khớp xương sàng, xương lệ và xương mũi
- Bồi xương ở mặt ngoài thân xương hàm và tạo xương ổ răng do răng mọc
- Tiêu xương mặt trong và ở giữa xương hàm tạo nên xoang làm cho xương hàm tăng kích thước mà khối lượng không quá nặng
Khi mới sinh, kích thước mặt theo chiều ngang là lớn nhất Sau đó sự tăng trưởng theo chiều này là ít nhất và kết thúc sớm hơn chiều đứng và trước sau
- Do một số đường khớp nối xương hàm với xương mặt:
+ Đường khớp hàm - trán: giữa xương trán và mấu lên của xương hàm trên + Đường khớp hàm - má: giữa xương gò má và mấu tháp của xương hàm trên + Đường khớp khẩu cái - chân bướm: giữa xương khẩu cái và vòm miệng cứng
+ Đường khớp Zygoma - má: giữa mấu Zygoma của xương thái dương
và xương má
Bốn đường khớp này song song với nhau và hơi chéo nên chúng còn góp phần vào sự phát triển ra trước của xương hàm trên
- Sự tăng trưởng của vách mũi: xương sàng, xương khẩu cái, xương lá mía
- Sự tăng trưởng của xương ổ răng về phía mặt nhai kết hợp mọc răng làm tăng chiều cao mặt
Trang 161.1.2 Sự tăng trưởng của xương hàm dưới
Xương hàm dưới tăng trưởng từ xương màng và xương sụn Sau khi khối xương dần hình thành, tế bào sụn xuất hiện thành những vùng riêng biệt như lồi cầu, mỏm vẹt, góc hàm Nhưng chỉ có sụn lồi cầu tồn tại và hoạt động tới 18 đến 25 tuổi Chỉ có ở vùng này mới xảy ra quá trình tăng sản, tăng dưỡng, và hình thành xương từ sụn còn tất cả các vùng khác của xương hàm dưới đều được hình thành và tăng trưởng bởi sự bồi đắp và hoặc tiêu xương trực tiếp ở bề mặt
Xương hàm dưới phát triển theo ba chiều trong không gian và ảnh hưởng đến tầng dưới của mặt
Trang 17Sự phát triển theo chiều trước sau là nhờ:
- Sự đắp xương ở bờ sau và sự tiêu xương ở bờ trước của cành cao xương hàm dưới
Trang 187
- Sự tạo xương ở đầu lồi cầu: do góc tạo bởi nhánh đứng và cành ngang xương hàm dưới đầu lồi cầu nghiêng ra ngoài và ra sau nên sự tạo xương ở đầu lồi cầu làm tăng kích thước của cành cao xương hàm dưới theo chiều trước sau nhiều hơn chiều cao
- Ngoài ra còn do tác động gián tiếp của hai xương khớp ở đáy sọ:
+ Đường khớp bướm chẩm
+ Đường khớp giữa hai xương chẩm
1.1.3 Thời gian tăng trưởng của xương hàm
Sự tăng trưởng của mặt và sọ trải qua nhiều giai đoạn và ở nhiều vùng khác nhau Thông thường tăng trưởng theo từng phần bắt đầu từ hàm trên, sau
đó đến hàm dưới, rồi nền sọ… Tất cả các phần này chỉ thay đổi về kích thước
mà không thay đổi hình thể Quá trình tăng trưởng của các phần xảy ra không cân bằng nhau, ví dụ khi trẻ còn nhỏ tuổi thì hàm dưới rất nhỏ so với hàm trên nhưng sau đó hàm dưới lại tăng trưởng mạnh ở lứa tuổi trưởng thành
Sự tăng trưởng của sọ mặt theo nguyên tắc tương ứng tức là các phần có mối quan hệ với nhau thì sẽ phát triển tương ứng nhau (ví dụ hàm trên và hàm dưới)
Sự tăng trưởng của hai xương hàm trong không gian diễn ra theo ba chiều trong không gian theo một thứ tự nhất định: chiều ngang, chiều trước - sau và cuối cùng là chiều cao
- Hàm dưới: Tăng trưởng mạnh ở vùng giữa hai răng hàm lớn hai bên và
đặc biệt là lồi cầu sẽ tăng nhẹ đến khi xương hàm dưới ngừng tăng trưởng theo chiều trước - sau
Trang 198
* Chiều trước sau:
Xương hàm trên tăng trưởng xuống dưới và ra trước chậm dần đến tuổi dậy thì (hai đến ba năm sau khi xuất hiện kinh nguyệt ở bé gái), sau đó có khuynh hướng tăng trưởng nhẹ theo hướng ra phía trước
* Chiều cao:
Sự tăng trưởng mặt theo chiều cao chấm dứt muộn hơn chiều trước - sau
do chủ yếu là sự tăng trưởng muộn về chiều cao của xương hàm dưới
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến lệch lạc răng hàm
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lệch lạc răng hàm [15, 47]
1.2.1 Những nguyên nhân đặc thù của sai khớp cắn
1.2.1.1 Rối loạn sự phát triển của phôi thai
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra những khiếm khuyết của phôi thai, từ những rối loạn về gen đến những ảnh hưởng của môi trường Lúc có thai nhất là vào tháng thứ tư của bào thai người mẹ bị một bệnh do vi rút hoặc bệnh mãn tính, hoặc chấn thương tinh thần…có thể ảnh hưởng bộ phận răng hàm mặt của thai nhi
1.2.1.2 Rối loạn trong sự tăng trưởng của xương
* Sự đè ép xảy ra trong bào thai:
Một áp lực nào đó đè lên khuôn mặt đang phát triển của bào thai sẽ làm
“méo mó” những vùng đang tăng trưởng nhanh
* Chấn thương hàm dưới khi sinh:
Có thể là nguyên nhân gây kém phát triển hàm dưới
* Gãy xương hàm dưới khi trẻ còn nhỏ
Gãy cổ lồi cầu hàm dưới ở trẻ nhỏ thường gây biến chứng phát triển không cân xứng của hàm dưới
1.2.1.3 Bệnh to cực và phì đại nửa hàm dưới
Bệnh to cực do u phần trước tuyến yên gây tiết nhiều nội tiết tố tăng trưởng Trong bệnh này xương hàm dưới phát triển quá mức đưa đến hạng III xương
Trang 201.2.2 ảnh hưởng của di truyền
Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những đặc tính di truyền Thừa hưởng sự không hài hòa giữa kích thước răng và kính thước xương hàm Thừa hưởng sự không cân xứng giữa kích thước và hình dạng xương hàm trên và xương hàm dưới
1.2.3 ảnh hưởng của các yếu tố chức năng lên sự phát triển của răng mặt
Các thói quen xấu như mút tay, thói quen đẩy lưỡi, kiểu thở không đúng cũng gây ra những lệch lạc răng hàm
Khi hai cung răng ở khớp cắn trung tâm, có những quan hệ giữa các răng theo ba chiều [11]:
Trang 21- Rìa cắn răng cửa trên tiếp xúc ở phía trước răng cửa dưới 1 - 2mm (độ cắn chìa)
Đường cắn theo Angle [48]
- Hàm dưới: Đường cắn là một đường cong đều đặn liên tục đi qua đỉnh múi ngoài răng hàm, đỉnh răng nanh và rìa cắn răng cửa hàm dưới
- Hàm trên: là đường cong đều đặn liên tục đi qua hố trung tâm của răng hàm và qua gót răng nanh răng cửa hàm trên
Khi hai hàm cắn khít vào nhau thì đường khớp cắn của hàm trên, hàm dưới chồng khít lên nhau( hình 1.2)
Trang 2211
Hình 1.2: Đường khớp cắn đúng [48]
1.3.1.3 Khớp cắn bình thường của Andrews
Nghiên cứu của Lawrence F Andrews [14, 19] trên 120 mẫu hàm khớp cắn bình thường có các tiêu chuẩn sau:
• Chưa qua điều trị chỉnh hình
• Các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ
• Có thể không cần đến điều trị chỉnh hình sau này
Kết quả được so sánh với 1150 trường hợp đã điều trị chỉnh hình đạt kết quả tối ưu về khớp cắn cho thấy tất cả các mẫu hàm này điều có chung sáu
đặc tính khớp cắn
- Đặc tính thứ nhất: Tương quan ở vùng răng hàm lớn
• Rìa xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc với rìa gần múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ hai hàm dưới
• Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc
Trang 2312
với rìa gần múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới
• Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới
- Đặc tính thứ hai: Độ nghiêng gần-xa của thân răng
Độ nghiêng gần-xa của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông góc với mặt phẳng nhai và trục thân răng Góc có giá trị dương khi trục thân răng nằm ở phía xa so với đường vuông góc Và ngược lại là giá trị âm Bình thường các răng có góc độ dương, độ nghiêng thay đổi từng răng
- Đặc tính thứ ba: Độ nghiêng ngoài trong của thân răng
Độ nghiêng ngoài trong của thân răng là góc tạo bởi đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoài thân răng với đường thẳng vuông góc với mặt phẳng nhai Góc có giá trị dương khi đường tiếp tuyến nằm ở phía trong so với đường vuông góc và ngược lại là giá trị âm
- Đặc tính thứ sáu: Đường cong Spee phẳng hay cong ít
Khớp cắn bình thường có đường cong Spee không sâu quá 1,5 mm
1.3.2 Phân loại lệch lạc khớp cắn
Khớp cắn là nền tảng của chỉnh hình răng mặt Sai khớp là sự lệch lạc của tương quan giữa các răng hàm hoặc giữa hai hàm Trong chỉnh hình răng mặt, phân loại các lệch lạc khớp cắn là một phần rất quan trọng của chẩn
đoán Dựa trên đó ta mới có thể phân tích để áp dụng các phương pháp điều trị thích hợp
Trang 2413
1.3.2.1 Phân loại theo Angle
Năm 1890 Edward H Angle [9, 20, 21, 48] công bố phân loại khớp cắn, ông lấy răng hàm lớn số một hàm trên làm chìa khoá khớp cắn và tương quan khớp cắn hai hàm bình thường sẽ là: Đỉnh núm gần ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh giữa ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
và các răng còn lại sắp xếp đều trên một đường cắn khớp đều đặn và liên tục
Dựa vào tương quan răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và dưới khi hai hàm ở tư thế cắn trung tâm Angle phân ra 3 loại sai khớp chính:
* Sai khớp cắn Angle I:
Quan hệ trước - sau của răng hàm lớn thứ nhất trung tính Núm gần ngoài răng hàm lớn thứ nhất trên tương ứng rãnh giữa ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới Lệch lạc xảy ra ở phía trước những răng này: răng mọc không
đúng vị trí, xoay trục khớp cắn ngược vùng răng cửa
* Sai khớp cắn Angle II:
Quan hệ trước - sau của những răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn lệch xa Răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới ở lùi ra phía sau, hoặc răng hàm lớn trên ở lệch về phía trước Trong loại II có hai tiểu loại:
- Tiểu loại I: Răng cửa trên ngả ra trước
- Tiểu loại II: răng cửa trên ngả ra sau
* Sai khớp cắn Angle III:
Quan hệ trước - sau của những răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn lệch gần Nghĩa là răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới ở lệch về phía trước Có thể lệch gần một bên hoặc cả hai bên vùng răng hàm
Trang 25B: Khớp cắn sai loại I D: Khớp cắn sai loại III
Hình 1.3: Phân loại khớp cắn theo Angle [48]
1.3.2.2 Sự bổ sung của Devby - Anderson trong phân loại Angle
Theo Anderson có năm trường hợp sai khớp loại I như sau [18]:
- Loại 1: Có sự chen chúc và xoay các răng cửa, không đủ chỗ cho răng nanh, và răng cối nhỏ vĩnh viễn nằm đúng vị trí (do kích thước xương hàm nhỏ hơn so với kích thước răng) Nguyên nhân khởi đầu là di truyền
- Loại 2: Răng cửa hàm trên nhô ra trước và có khe hở Nguyên nhân khởi khởi đầu là mút ngón tay
- Loại 3: Cắn ngược một hay nhiều răng cửa
- Loại 4: Cắn chéo 1 hay 2 bên vùng răng hàm
- Loại 5: Có chen chúc vùng răng cối nhỏ
Trang 2615
1.3.2.3 Phân loại theo Ballard
Sự liên quan của nền xương theo hướng trước sau không nhất thiết phù
hợp với liên quan của khớp cắn Chính vì vậy Ballard [50] đã đề ra cách phân
loại liên quan của xương để hoàn thiện sự phân loại của Angle Tác giả tính tới sự liên quan của xương hàm trên với xương hàm dưới và độ nghiêng của răng cửa Phân loại này chia làm ba loại:
- Tương quan về xương loại I: Sự hài hoà giữa xương hàm trên và xương hàm dưới, răng cửa ở vị trí bình thường
- Tương quan về xương loại II: Xương hàm dưới lùi ra sau, góc ANB lớn, răng cửa trên và răng cửa dưới nghiêng về phía tiền đình
- Tương quan về xương loại III: Xương hàm dưới nhô ra trước, góc ANB nhỏ, răng cửa trên nghiêng nhẹ về phía tiền đình, răng cửa dưới nghiêng
về phía lưỡi
1.4 Khớp cắn ngược vùng răng cửa
Khớp cắn ngược vùng răng cửa là tình trạng khớp cắn có một hay vài răng cửa hàm trên nằm ở trong so với răng cửa hàm dưới khi hai hàm ở tư thế cắn khít trung tâm [12]
Khớp cắn ngược vùng răng cửa có thể gặp ở sai khớp loại I và sai khớp loại III theo Angle [9]; Loại 3 theo phân loại sai khớp bổ sung của Devby - Anderson Theo Ballard thì ta có thể gặp khớp cắn ngược vùng răng cửa trong tương quan về xương loại I hoặc loại III
- Hoặc phối hợp cả hai
- Góc nền sọ (Na - S - Ba) giảm
Trang 2716
- Góc Na - S - Ar giảm, góc S - Ar - Go giảm
- Lưỡi nằm thấp, đưa ra trước chiếm thể tích lớn trong xoang miệng làm hình dạng và kích thước hàm dưới lớn và nhô để thích hợp Thường xương móng ở vị trí thấp hơn vị trí bình thường (khoảng giữa C3 và C4)
1.4.1.2 Nguyên nhân thứ phát:
* Nguyên nhân tại chỗ:
- Răng thừa ở vị trí tiền đình có thể là nguyên nhân làm xoay làm lệch hướng của răng về phía lưỡi
- Sang chấn răng sữa làm đẩy mầm răng vĩnh viễn mọc lệch về phía lưỡi
- Thiếu răng cửa trên làm giảm chiều dài cung răng của hàm trên
- Chậm mọc răng cửa trên vĩnh viễn, như vậy không có điểm chặn răng cửa khiến hàm dưới dễ trượt ra trước và răng cửa dưới cắn chéo: hạng III giả hoặc hạng III chức năng
- Không có tiếp xúc phía sau, đặc biệt do mất răng cối sữa hàm dưới sớm khiến hàm dưới trượt ra trước để có tiếp xúc khớp cắn tối đa khi nhai Những bù trừ thần kinh - cơ như vậy dần dần làm hàm dưới nhô ra trước vĩnh viễn và răng sẽ mọc vào vị trí với tương quan hai hàm không đúng
- Thiếu cung răng phía trước do thói quen xấu mút môi trên
- Cản trở cắn khớp làm trượt hàm dưới ra trước gây hạng III giả hoặc hạng III chức năng
- Răng trong hàm trên mọc không hoàn toàn (có thể do đẩy lưỡi hoặc hoạt động chức năng) hoặc do thiếu tăng trưởng theo chiều đứng làm tăng khoảng hở liên khớp khi làm dưới đóng lại Hàm dưới phải xoay và trượt ra trước gây sai khớp cắn hạng III
* Nguyên nhân nội tiết:
- Cường chức năng tuyến yên có thể gây chứng khổng lồ trong sự phát triển ảnh hưởng đến sự phát triển quá mức của xương hàm dưới
- U tuyến ưa eosin của tuyến yên gây chứng to cực ở người trưởng thành
Trang 28*Nguyên nhân do cơ và chức năng: Các nguyên nhân do cơ và chức năng có thể:
- Do quá chức năng cơ đưa hàm ra trước (cơ chân bướm ngoài)
- Do mất thăng bằng giữa cơ nâng và cơ hạ hàm
- Do mất thăng bằng giữa cơ môi và cơ lưỡi
- Do thắng lưỡi bám thấp làm lưỡi hạ thấp và đưa ra trước
- Do hoạt động của lưỡi quá mức hoặc không có trương lực
- Do điểm tựa của lưỡi ở sau cổ răng cửa dưới
- Phì đại amydal, bệnh lý đường hô hấp trên làm đẩy lưỡi ra trước, phẳng và hạ thấp để khỏi cản trở đường hô hấp
Trang 2918
- Mặt nghiêng bình thường ở tương quan tâm và cắn trung tâm
- Tương quan xương hai hàm chiều trước sau loại I
- Khi hàm dưới đóng hàm thì tương quan tâm trùng với cắn trung tâm [22, 33]
1.4.2.2 Cắn ngược chức năng (có sự trượt hàm dưới) - sai khớp hạng III giả
- Nhìn mặt lõm môi đảo ngược
- Các răng cửa trên nghiêng trong
- Các răng cửa hàm dưới nghiêng ngoài
- Cắn ngược nhẹ răng cửa
- ở vị trí tương quan tâm các răng cửa cắn đầu chạm đầu (hình 1.5), răng hàm có khoảng hở nhưng tương quan răng hàm lớn thứ nhất trên và dưới loại I Xương hàm: chiều trước sau hài hòa, loại I hoặc loại III nhẹ [35]
- Khi đóng hàm một cản trở khớp cắn sớm phía sau gây ra sự trượt trước của hàm dưới
- Khi hàm dưới trượt ra trước ở vị trí cắn trung tâm để thực hiện gài múi tối đa thì răng cửa cắn ngược, tương quan răng hàm lớn thứ nhất trên và dưới
là loại III
- Đặc tính: có thể phát triển theo thời gian thành hạng III thực sự với bất hài hoà xương hàm [11, 12, 22, 33]
Hình 1.5: Sai khớp loại III giả A: Hai hàm ở tư thế tương quan tâm, răng cửa cắn đối đầu nhau, các răng sau cắn hở B: Hàm dưới trượt ra trước khi
cắn khớp tạo thành khớp cắn hạng III giả
Trang 3019
1.4.2.3 C¾n ng−îc trong sai khíp h¹ng III thùc sù
- MÆt lâm, c»m ®−a ra tr−íc
- X−¬ng hµm (h×nh 1.6):
+ X−¬ng hµm trªn lïi X−¬ng hµm d−íi b×nh th−êng
+ X−¬ng hµm d−íi ®−a tr−íc X−¬ng hµm trªn b×nh th−êng
+ HoÆc kÕt hîp c¶ hai
H×nh 1.6: C¾n ng−îc trong sai khíp h¹ng III thùc sù- A: X−¬ng
hµm trªn lïi, x−¬ng hµm d−íi b×nh th−êng B: X−¬ng hµm d−íi ®−a tr−íc, x−¬ng hµm trªn b×nh th−êng C: KÕt hîp c¶ hai
- R¨ng cöa trªn nghiªng ngoµi
- R¨ng cöa d−íi nghiªng trong
Trang 3120
1.4.3.2 Hậu quả nha chu
Chấn thương cắn khít do khớp cắn ngược có thể đưa đến sự lung lay và tụt lợi mặt ngoài răng cửa dưới [22] (hình 1.7)
1.5.1 Các giai đoạn chuyển động của răng (Giản đồ Reitan)
1.5.1.1 Giai đoạn đầu sau khi đặt lực
Tại một số vùng chịu sức ép trong màng nha chu, áp lực sẽ ngăn cản sự lưu thông máu và sự phân chia tế bào, làm cho các tế bào và cấu trúc mạch máu bị thoái hoá Các tế bào biến mất và tạo nên một vùng hoại tử vô trùng gọi là thoái hoá kính, thường có đường kính 1 - 2mm Trong vùng thoái hoá kính, không có hủy cốt bào và do đó không có sự tiêu xương Răng ngừng di chuyển cho đến khi vùng này được loại bỏ đi do sự tiêu xương ở ngay bên dưới nó hay tiêu xương kế cận Vì thời gian tiêu xương dài hay ngắn tỷ lệ với chiều rộng của vùng thoái hoá kính, do đó phải đặt lực ban đầu sao cho tránh
Trang 3221
thành lập những vùng ban đầu quá rộng Một vùng thoái hoá kính xảy ra do lực nhẹ có thể kéo dài từ 2 đến 4 tuần ở người trẻ Nếu xương có đậm độ cao, thời gian hoá kính sẽ kéo dài hơn [5, 28, 38] (hình 1.8)
1.5.1.2 Giai đoạn sau sự thoái hoá kính
Màng nha chu trở nên rộng đáng kể Nếu lực được duy trì ở mức độ vừa phải, xương sẽ được lấy đi thêm dưới hình thức trực tiếp hay gọi là tiêu xương
bề mặt Nhiều huỷ cốt bào xuất hiện Răng di chuyển nhanh Xương mới được bồi đắp ở vùng răng vừa di chuyển cho đến khi chiều rộng của màng nha chu trở lại bình thường Đồng thời hệ thống sợi trong màng nha chu được sửa đổi
Trang 33Nghiêng thân răng: theo hướng trong ngoài hoặc gần xa
+ Khi nghiêng theo hướng trong ngoài: sử dụng lực đẩy nhẹ hơn vì vách xương mỏng
+ Khi nghiêng theo hướng gần xa: cần lực đẩy lớn hơn
1.5.2.2 Di chuyển tịnh tiến
Nếu cùng đặt một lực và một ngẫu lực với tỷ lệ thích hợp ở thân răng, răng có thể di chuyển tịnh tiến (cả thân và cuống răng cùng di chuyển về một hướng với cùng tốc độ) Để có thể tạo một áp lực bằng nhau ở mô nha chu và
để có cùng một đáp ứng sinh học thì lực di răng tịnh tiến phải lớn gấp đôi lực làm nghiêng răng
Có hai loại tịnh tiến:
- Tịnh tiến ngang: răng di chuyển về phía gần xa và trong ngoài
- Tịnh tiến đứng: trồi răng, lún răng
+ Trồi răng: di chuyển trồi răng lý tưởng không tạo sức ép trong mô nha chu, chỉ có tạo sức căng Lực làm trồi răng phải nhẹ tương đương lực làm nghiêng răng
+ Lún răng: sử dụng lực hướng về phía lợi dọc theo trục lớn của răng
Sử dụng lực rất nhẹ để làm lún răng vì toàn bộ lực chỉ tập trung ở một vùng nhỏ quanh chóp răng
Trang 3423
1.5.2.3 Di chuyển chân răng
Di chuyển diễn ra khi tâm xoay của răng ở gần về phía bờ cắn Chân răng di chuyển nhiều theo chiều ngoài trong, trong khi thân răng được giữ lại Lực di chuyển chân răng phải lớn hơn lực làm nghiêng răng nhưng không bằng lực di răng tịnh tiến Nếu không kiểm soát cẩn thận di chuyển này sẽ dẫn
- Thành phần tạo lực: Lò xo, ốc nong để đẩy dịch chuyển răng
- Móc: thành phần quan trọng giữ chắc khí cụ trong miệng Có nhiều loại móc lưu giữ: móc Adam, móc vòng, móc có đầu hình cầu móc ở mặt trong kẽ răng [6, 39]
1.6.1.2 Các loại thiết kế hàm tháo lắp điều trị khớp cắn ngược:
* Các loại hàm: - Hàm tháo lắp có ốc nong (hình 1.9)
Trang 351.6.2.1 Cấu tạo
* Mắc cài: Là vật gắn dính lên bề mặt răng
Cấu tạo chính gồm: nền mắc cài, rãnh mắc cài, cánh mắc cài, đường trục dọc, móc (hook) để móc các phụ kiện Trên cánh mắc cài có điểm đánh dấu (Hình 1.12)
Các chỉ số về góc chìa (torque), góc nghiêng (angulation), và góc xoay (rotation) đã được chỉnh sẵn trên mắc cài
Rãnh mắc cài có tiết diện chữ nhật sẽ khớp với tiết diện chữ nhật của dây cung và dây cung sẽ chỉnh góc chìa và chân răng theo chiều môi - lưỡi đối
Trang 3625
với răng cửa và má - lưỡi với răng nanh và răng hàm
Tương quan của nền rãnh mắc cài với nền của mắc cài tiếp xúc bề mặt răng sẽ quy định độ xoay theo trục của răng
Có nhiều loại mắc cài khác nhau: mắc cài bốn cánh, mắc cài sáu cánh Mắc cài bằng thép, titan, vàng hay mắc cài bằng sứ Mắc cài gắn mặt ngoài của răng hay mắc cài gắn mặt lưỡi của răng Mắc cài tự buộc dây cung môi
Hình 1.12: Cấu tạo mắc cài
Trang 3726
- Hình dạng dây cung: Dây cung phải được lựa chọn phù hợp với hình dạng cung hàm của bệnh nhân để đảm bảo tính ổn định của kết quả điều trị Trên thị trường có nhiều dạng dây cung uốn sẵn mà ta có thể lựa chọn như
• Hợp kim nikel – titanium (Niti)
• Hợp kim titan - molybden (TMA)
Mỗi loại vật liệu có đặc tính cơ học riêng về độ cứng, độ đàn hồi, độ dẻo được sử dụng cho mục đích khác nhau tuỳ giai đoạn điều trị
- Kích thước dây cung: mỗi loại dây cung có nhiều kích thước khác nhau.Tùy từng giai đoạn điều trị mà ta chọn lựa kích thước dây cung cho phù hợp
Trang 3827
Thành phần: + Có ống chính để dây cung đi qua
+ Có móc nằm về phía lợi và phía xa
+ Có thể có ống phụ để mang headgear
1.6.2.2 Các giai đoạn điều trị:
• Giai đoạn làm đều và làm phẳng cung răng: Giai đoạn này dùng dây Niti Nếu cung răng có chen chúc nhiều có thể bắt đầu bằng dây Niti
012 hay 014 Sau khi cung đều hơn sẽ thay dây kích thước lớn hơn Niti
016 và chuyển qua dây Niti 16 x 22 rồi 17 x 25
• Giai đoạn đóng khoảng: Giai đoạn này dùng dây SS Sau khi cung răng
đã đều lắp các dây cung có thiết diện lớn SS 16 x 22 rồi SS 17 x 25 hay
SS 19x 25 để đóng các khoảng trống trên cung răng Dây cung thiết diện lớn sẽ đảm bảo độ cứng để răng dịch chuyển theo cơ chế trượt: dịch chuyển tịch tiến cả chân răng và thân răng
• Giai đoạn hoàn thiện: Giai đoạn này dùng dây TMA hay dây SS cỡ lớn Dây cung cỡ lớn tương thích với hệ mắc cài nằm sát trong khe mắc cài
sẽ chỉnh các góc nghiêng của răng theo đúng các thông số mà hệ mắc cài đó quy định Sau đó chỉnh chi tiết để đạt được tối đa sáu nguyên tắc khớp cắn đúng của Andrew Mắc cài có rãnh 022 sẽ chạy được dây có kích thước tối đa là 21 x 25
• Giai đoạn điều trị duy trì: Sau khi hoàn thiện tùy theo bệnh nhân mà có thể làm khí cụ duy trì tháo lắp hay gắn chặt để ổn định kết quả điều trị
1.6.3 Phương pháp phẫu thuật chỉnh hình:
Đối với những bệnh nhân có những lệch lạc khớp cắn quá trầm trọng mà
điều trị theo hướng biến đổi sự tăng trưởng của bệnh nhân hoặc điều trị ngụy trang đều không thể giải quyết được, thì phẫu thuật sắp xếp lại xương hàm
hoặc các khối răng - xương ổ răng là cách lựa chọn duy nhất
Chỉ định của phẫu thuật chỉnh hình [7]:
- Sự bất hài hòa trầm trọng giữa hai xương hàm
Trang 3928
- Xương hàm không cân xứng
- Rối loạn tăng trưởng theo chiều đứng xương hàm
- Sự bất hài hòa theo chiều ngang xương hàm
1.7 Một số kết quả nghiên cứu có liên quan
- Nghiên cứu của Quách Thúy Lan trong 30 bệnh nhân khớp cắn ngược răng cửa do răng được điều trị tại viện Răng Hàm Mặt Quốc gia năm 2003 tỷ
lệ Angle I là 73.3%, Angle III là 26.7%; Cắn ngược 2 răng gặp nhiều nhất 53.3%; 100% bệnh nhân được điều trị bằng hàm tháo lắp với kết quả tốt là 90% [4]
- Nghiên cứu của Ngô Hương Lan trên 50 bệnh nhân có lệch lạc răng cửa tại viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia năm 2006: Cắn ngược vùng răng cửa chiếm 22%; Angle I chiếm 36.36%, Angle III chiếm 63.64%; Cắn ngược 4 răng gặp nhiều nhất với tỷ lệ 45.45% [3]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thu Mai năm 2006 trong 30 bệnh nhân lệch lạc răng Angle I được điều trị tại khoa răng Hàm Mặt bệnh viện Việt Nam Cu
Ba bằng hàm tháo lắp có 3% khớp cắn ngược răng cửa [8]
- Nghiên cứu của Lin JJ trên 7090 trẻ em tuổi 9-15 ở Trung Quốc: Tỷ lệ khớp cắn ngược răng cửa là 13.83%; Sai khớp loại III giả chiếm 2.3% [32]
Trang 4029
Chương 2:
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân đến khoa Răng miệng bệnh viện Việt Nam Cu Ba có yêu cầu khám và điều trị khớp cắn ngược vùng răng cửa
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Đã thay răng cửa hàm trên
- Khớp cắn ngược vùng răng cửa
- Chụp phim X-quang: Góc ANB ≥ -20 [23]
- Bệnh nhận tự nguyện cam kết hợp tác nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân có rối loạn tâm thần
- Bệnh nhân không hợp tác
- Bệnh nhân mắc hội chứng teo nửa mặt
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu có can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau:
Trong đó: n : là cỡ mẫu nghiên cứu
Z(1-α/2) : hệ số tin cậy ở mức xác xuất 95%(= 1.96)
p : tỷ lệ bệnh nhân có kết quả tốt qua nghiên cứu trước