1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hòa giải trong tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

62 6,7K 85
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hòa Giải Trong Tố Tụng Dân Sự - Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 504,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa giải trong tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong dân gian đã có câu “vô phúc đáo tụng đình”; song lại có câu “dĩ hòa

vĩ quý” Vì vậy hòa giải đã trở thành một truyền thống tốt đẹp, rất đáng khuyếnkhích để giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp trong đời sống xã hội Trongpháp luật tố tụng dân sự, hòa giải đã trở thành hoạt động tố tụng có tính bắt buộcđối với hầu hết các vụ án dân sự Thông qua hòa giải, Tòa án giúp đỡ các đương

sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp quy định củapháp luật, rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dânsự

Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày21/1/1946 về tổ chức Tòa án Sau đó, hòa giải tiếp tục được kế thừa và phát triểntrong hàng loạt các văn bản pháp luật sau đó: Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 vềcải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm1960; Thông tư số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dânsự PLTTGQCVADS năm 1989 và BLTTDS 2004

Kế thừa có chọn lọc các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án dân sự (PLTTGQCVADS) không thể phủ nhận về tính hoàn thiện và sự pháttriển đúng đắn của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) Tuy nhiên, quathực tiễn thi hành BLTTDS trong những năm qua cho thấy một số quy định củaBLTTDS nói chung và của chế định hòa giải nói riêng đã bộc lộ những hạn chế,bất cập; có những quy định còn thể hiện sự không thống nhất với các văn bảnquy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không cònphù hợp) với thực tiễn áp dụng, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cáchhiểu khác nhau cần được sửa đổi

Với nhận thức như vậy, em đã chọn đề tài “Hòa giải trong tố tụng dân

sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp

đại học Qua quá trình nghiên cứu, em mong muốn tìm hiểu sâu sắc, rộng hơn

Trang 2

những quy định của pháp luật, trên cơ sở đó mạnh dạn đưa ra những kiến nghịnhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của BLTTDS về hòa giải góp phần nângcao hiệu quả hòa giải trong tố tụng dân sự.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu lýluận và thực tiễn về hòa giải trong tố tụng dân sự, đề xuất một số kiến nghịnhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hòa giải các vụ ándân sự

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận:

+ Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự

+ Quy định của pháp luật về hòa giải trong tố tụng dân sự và thực tiễn ápdụng chế định này trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự

+ Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định hòa giải trong tố tụng dânsự

- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:

Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của BLTTDS 2004 vềhòa giải và thực tiễn áp dụng chế định này

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

Ý nghĩa khoa học: Khóa luận góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận

và thực tiễn về hòa giải trong tố tụng dân sự

Ý nghĩa thực tiễn: Khóa luận đề xuất những kiến nghị về hoàn thiện quyđịnh của pháp luật về hòa giải trong tố tụng dân sự

5 Bố cục của khóa luận

Khóa luận ngoài lời mở đầu và kết luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hòa giải trong tố tụng dân sự

Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về hòa giải trong

tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về hòa giải và kiến nghị

Trang 3

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA HÒA GIẢITRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm hòa giải

Tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới hai góc độ: Dưới góc độ pháp lý làmột ngành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ hoạt động tố tụng là những hoạtđộng do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự thực hiện [12]

Dưới góc độ pháp lý, tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do

nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trìnhgiải quyết vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và laođộng tại Tòa án đảm bảo sự nhanh chóng, chính xác trong quá trình giải quyết

và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước, của công dân

Dưới góc độ hoạt động tố tụng thì tố tụng dân sự là một quy trình các thủtục do pháp luật quy định buộc mọi chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng phảithực hiện nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án dân sự, bảo vệ đúngđắn quyền, lợi ích của nhà nước và của công dân

Xuất phát từ hai cách tiếp cận đối với tố tụng dân sự nên hòa giải trong tốtụng dân sự cũng có thể nhìn dưới hai góc độ: (1) dưới góc độ hoạt động tố tụngthì hòa giải là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành và (2) dưới góc độ phápluật: Hòa giải là một chế định pháp lý

Để tìm hiểu khái niệm hòa giải trong tố tụng dân sự dưới hai góc độ này,trước tiên ta cần tìm hiểu khái niệm thuật ngữ “hòa giải”

Theo Từ điển tiếng việt thì hòa giải là “thuyết phục các bên đồng ý chấm

dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [17, tr.430] Khái niệm này đề

Trang 4

cập đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tốnhư bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải.

Trong Từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải (reconciliation) là “hành

vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”

[16, tr.410] Còn Từ điển luật học của Black cho rằng, hòa giải là “sự can thiệp;

sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục dàn xếp hoặc tranh chấp giữa họ”.[15, tr.152]

Định nghĩa của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa giải nhưng chưanêu được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa giải Điều này đãđược khắc phục trong Từ điển luật học của Black

Cả ba khái niệm nêu trên cho thấy hòa giải có ba yếu tố Thứ nhất là phải

có tranh chấp giữa hai bên Thứ hai là có sự thống nhất ý chí giữa các bên đểgiải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít Thứ ba là trongquá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến tưvấn đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp.Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải

mà là thương lượng giữa các bên Trong tố tụng dân sự bên thứ ba này chính làThẩm phán - đại diện cho Tòa án

Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải

Có quan điểm cho rằng “hòa giải là quá trình giải quyết những tranh chấp, bất

đồng giữa các bên Trong quá trình hòa giải cần đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức

xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó” [14] Theo quan điểm này,

hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp Tuy nhiên, không phảitất cả các trường hợp hòa giải đều thành công Khi đó, dù mâu thuẫn chưa đượcgiải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nộidung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương và cũng được nghe ý

Trang 5

kiến của đối phương về vụ tranh chấp Từ đó, hai bên có thể phần nào tìm đượctiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn.

Có quan điểm cho rằng:“hòa giải là một biện pháp giải quyết các tranh

chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của một bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội”.[13]

Khái niệm này được nhiều người thừa nhận hơn cả, bởi đã thể hiện đượcbản chất, đặc điểm của hòa giải và vai trò của bên trung gian thứ ba trong hòagiải: Hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp; chủ thể trung tâm của hòagiải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về việcgiải quyết tranh chấp; sự thỏa thuận về giải quyết tranh chấp do chính các bêntranh chấp quyết định

Như vậy, xem xét ở mức độ chung nhất thì“hòa giải là biện pháp giải

quyết tranh chấp, mà theo đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt các tranh chấp, bất hòa” [20,tr.42]

Hoạt động tố tụng dân sự là hoạt động của những người tiến hành tố tụng

và người tham gia tố tụng tiến hành trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.Theo Điều 1 BLTTDS thì quá trình tố tụng dân sự bao gồm việc khởi kiện, hòagiải, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành bản án,quyết định của Tòa án Như vậy, dưới góc độ hoạt động tố tụng, hòa giải cũng làmột dạng hoạt động do pháp luật quy định cho Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡcác bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình và hướng dẫn động viêncác đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc đang có

tranh chấp

Dưới góc độ pháp luật, hòa giải được coi là chế định pháp luật, bao gồmtổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình hòa giải các vụ án dân sự Theo chế định này, hòa giải là một nguyên tắc,

Trang 6

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương

sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy địnhcủa pháp luật và đạo đức xã hội [11] Các vấn đề liên quan tới hòa giải đượcpháp luật tố tụng dân sự quy định bao gồm: Nguyên tắc hòa giải, chủ thể hòagiải, phạm vi hòa giải và thủ tục tiến hành hòa giải

1.1.2 Đặc điểm của hòa giải trong tố tụng dân sự

1.1.2.1 Hòa giải là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Hoạt động giải quyết vụ án dân sự của Toà án phải tuân theo nhữngnguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định Tại chương II "Những nguyêntắc cơ bản" của BLTTDS có quy định về hoà giải trong tố tụng dân sự Theo đóhoà giải là trách nhiệm của Toà án nhằm giúp đỡ đương sự thoả thuận với nhau

Điều 180, Điều 220 và Điều 268 BLTTDS quy định hòa giải có tính bắtbuộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, trừ những vụ án khôngđược tiến hành hòa giải hoặc không hòa giải được và ở các giai đoạn tố tụng tiếptheo, nếu thấy có khả năng hòa giải thành thì tòa án cũng tiến hành hòa giải

Hòa giải được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách nhiệm củaTòa án, được Tòa án thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhằmđảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình Thực hiện hòagiải cũng là việc tận dụng tối đa cơ hội rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệuquả hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâusắc trong việc củng cố tình tương thân, tương ái, giữ gìn khối đoàn kết cộngđồng

1.1.2.2 Hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành

Trong hoạt động hòa giải, Tòa án xuất hiện không phải với tư cách mộtbên tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thươnglượng, thỏa thuận với nhau Với vai trò của mình, Tòa án giải thích cho cácđương sự hiểu được quyền, nghĩa vụ pháp luật có liên quan đến tranh chấp cầnhòa giải Kết quả hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất

Trang 7

pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành

vi tố tụng tiếp theo

Sự có mặt của Tòa án trong hòa giải khẳng định vị trí trung gian của Tòa

án trong việc hòa giải các vụ án dân sự Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệthòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải ngoài tố tụng dân sự và trường hợp cácđương sự tự hòa giải, cụ thể là:

- Trong tố tụng dân sự hòa giải do Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếptham gia với vai trò giải thích, động viên các đương sự tự thỏa thuận Còn hòagiải ngoài tố tụng là việc hòa giải không do Tòa án tiến hành mà do các chủ thể

khác như ủy ban nhân dân, tổ hòa giải cơ sở thực hiện; hòa giải do Tòa án tiến

hành cũng khác trường hợp đương sự tự thỏa thuận Trường hợp đương sự tựthỏa thuận là việc các bên chủ động tự thương lượng, thỏa thuận mà không có sựtham gia của Tòa án

- Buổi hòa giải được Thẩm phán lập biên bản về nội dung mà các đương

sự thỏa thuận Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung

vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.Còn trong trường hợp các bên tự hòa giải và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giảiquyết thì Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án

1.1.2.3 Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự

Mặc dù hòa giải là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản chấthòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự Đương sự trong các vụ án dân

sự chính là các bên của tranh chấp mà Tòa án cần giải quyết Họ là người hiểu

rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ Vì lý do này mà pháp luật quy định chínhđương sự là người có quyền tự định đoạt để giải quyết các mâu thuẫn đó

Việc thỏa thuận giữa các đương sự sẽ đạt được kết quả trung thực, hợptình hợp lý nếu quá trình thỏa thuận được diễn ra trên cơ sở tự nguyện, không bịmột ai với bất kỳ hình thức nào cưỡng ép, can thiệp vào thỏa thuận của cácđương sự Điều này đòi hỏi Tòa án không được dùng bất kỳ hình thức nào đểcưỡng ép, bắt buộc các đương sự phải hòa giải với nhau

Trang 8

Sự thỏa thuận của chính các đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải,đồng thời cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử Khi xét xử, Tòa án sẽ

ra phán quyết và đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của Tòa

án Trong hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên tranh chấpthỏa thuận với nhau mà không được can thiệp vào thỏa thuận đó

1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải không chỉ mang lại ý nghĩa cho Tòa án, bản thân đương sự màcòn có ý nghĩa đối với trật tự xã hội

- Ý nghĩa đối với Tòa án:

Trong trường hợp hòa giải thành, Tòa án sẽ giảm bớt được nhiều thờigian, công sức cho việc giải quyết vụ án Đặc biệt nếu hòa giải thành trong thờigian chuẩn bị xét xử thì Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa sơ thẩm và khôngphải tiến hành các thủ tục xét xử tiếp theo mà nếu hòa giải không thành có thể sẽphải thực hiện như xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Mặt khác, nếulàm tốt công tác hòa giải thì không chỉ số lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩmgiảm xuống mà số lượng án ở Tòa án cấp phúc thẩm cũng giảm một cách rõ rệt,

hệ quả là hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao Điều này sẽ không chỉ có ý nghĩa vềkinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơquan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói chung

Trong trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án cũng có điều kiện nắmvững nội dung tranh chấp, tâm tư, nguyện vọng của đương sự để xác định đườnglối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án

- Ý nghĩa đối với các đương sự:

Hòa giải các vụ án dân sự giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm vớinhau, góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranhchấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa tội phạm có nguồngốc từ tranh chấp dân sự phát sinh Trường hợp không hòa giải thành thì quátrình hòa giải cũng giúp cho các đương sự ngồi lại với nhau, hiểu rõ hơn nguyên

Trang 9

nhân tranh chấp, được bày tỏ ý chí của mình Từ đó, họ có thể phần nào tìmđược tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn

Hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự Thôngqua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽphần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp Từ

đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không tráivới quy định của pháp luật

- Ý nghĩa đối với trật tự xã hội:

Thông qua hòa giải nhiều tranh chấp đã được giải quyết mà không cầnphải mở phiên tòa xét xử Hoặc nếu hòa giải không thành thì cũng giúp các bênđương sự hiểu rõ hơn về mâu thuẫn, giúp kiềm chế mâu thuẫn Như vậy, hòagiải góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm cho mốiquan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyếtphục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội

Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật của cácđương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao Qua đó, gópphần tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân

1.2 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Trong thời kỳ này do chúng ta chưa thể xây dựng ngay được các văn bảnpháp luật mới nên Sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định: Cho đến khi xây dựngđược bộ luật mới thì những luật lệ cũ vẫn tạm thời được sử dụng nếu không tráivới nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa Như vậy,trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn áp dụng theo các quy định của chế độcũ

Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày

21/1/1946 về tổ chức Tòa án, trong đó quy định “Ban tư pháp xã có quyền hòa

Trang 10

giải tất cả các việc dân sự và thương mại Nếu hòa giải được Ban tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên và những đương sự ký".[6]

Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định rằng biên bản hòa giảithành chỉ có hiệu lực tư chứng thư Tại Điều 12 Sắc lệnh số 51/SL quy định

“những việc kiện dân sự và thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông Thẩm phán sơ cấp thử hòa giải”.[7]

Điều 9 Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật

tố tụng quy định “Tòa án nhân dân hòa giải tất cả các vụ kiện về dân sự và

thương mại kể cả việc xin ly dị trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình” Theo Điều 10 của Sắc lệnh này biên bản hòa giải

thành là một công chứng thư có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên cho đến lúcbiên bản hòa giải được chấp hành xong nếu Biện lý xét thấy biên bản ấy xâmphạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổihoặc bác bỏ điều hai bên đã thỏa thuận Hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từngày phòng Biện lý nhận được biên bản hòa giải thành

Như vậy, với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải trong giai đoạnnày chúng ta thấy nổi bật một số vấn đề sau:

- Về thẩm quyền hòa giải:

Cơ quan có thẩm quyền hòa giải là Ban tư pháp xã và Tòa án nhân dâncấp huyện Các vụ án phải hòa giải là tất cả các vụ án về dân sự, thương mại và

ly hôn, trừ những việc không được hòa giải

- Hiệu lực của hòa giải:

Biên bản hòa giải thành do Ban tư pháp xã lập có hiệu lực tư chứng thư

ên bản hòa giải thành do Tòa án lập có hiệu lực là một công chứng thư, có thểđem ra thi hành ngay

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được biên bản hòa giải thành, phòngBiện lý có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án sửa đổi hoặc bác bỏ những điều haibên đã thỏa thuận, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

Trang 11

Như vậy, đặc trưng của pháp luật về hòa giải trong giai đoạn này là Tòa ánkhông ra quyết định mà chỉ lập biên bản hòa giải thành, đồng thời chỉ có phòngBiện lý và người có liên quan có quyền kháng cáo còn nguyên đơn và bị đơnkhông có quyền này.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời đã quy định cụ thể về hòa giảitrong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽđiều tra và hòa giải Tòa án có thể trực tiếp thực hiện việc hòa giải hoặc giao lạicho tổ hòa giải tiến hành với sự theo dõi hướng dẫn của Tòa án

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Thông tư số 1080 ngày25/9/1961 đã quy định Tòa án nhân dân huyện ngoài nhiệm vụ hòa giải thì còn

có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn các tư pháp xã thực hiện hòa giải, dàn xếpcác đương sự và nhân dân

Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này thành tựu đạt được là hòa giải đãđược coi là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Nhưng

do đất nước trong tình trạng chiến tranh, chế định hòa giải chưa có điều kiệnhoàn thiện nên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập lớn nhất là Tòa án chỉlập biên bản hòa giải thành mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận củađương sự nên kết quả hòa giải không có hiệu lực buộc các bên phải thi hành, dẫnđến nhiều trường hợp Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử sau khi đã lập biênbản hòa giải thành do các bên không tự nguyện thi hành thỏa thuận hoặc các bên

tự ý thay đổi thỏa thuận

Để khắc phục những bất cập trên, ngày 30/11/1974, TANDTC đã raThông tư số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự [10] Thông

tư đã quy định thẩm quyền, trình tự, phương pháp hòa giải các vụ án dân sự

- Thẩm quyền hòa giải:

Tòa án nhân dân được hòa giải tất cả các vụ án dân sự và hôn nhân giađình, trừ những vụ án không được hòa giải sau đây:

+ Về hôn nhân và gia đình:

* Việc ly hôn khi bị đơn là người mất trí;

Trang 12

* Việc kiện về hôn nhân và gia đình xét thấy phải xử lý bằng biện pháptiêu hôn;

* Các việc tranh chấp về thân phận con người như về sinh đẻ, chết, kếthôn;

* Các việc thuận tình ly hôn

+ Về tranh chấp kinh tế, tài sản:

* Việc kiện dân sự mà nội dung là giao dịch bất hợp pháp;

* Việc kiện dân sự đòi hỏi bồi thường thiệt hại đối với hành vi cố ý xâmphạm tài sản xã hội chủ nghĩa;

* Việc kiện do Viện kiểm sát nhân dân khởi tố;

* Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm tính mạng,sức khỏe hoặc tài sản riêng của công dân (với lỗi cố ý)

- Về thủ tục hòa giải:

+ Khi hòa giải tất cả các đương sự phải có mặt Nếu có người được triệutập vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án cần hoãn phiên tòa và triệu tập lại Nếu đãtriệu tập lại mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tùy từng trường hợp mà quyết định tiếnhành hòa giải hay đưa vụ án ra xét xử

+ Nếu hòa giải thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Sau đó Tòa

án nhân dân ra một quyết định công nhận hòa giải thành để các thỏa thuận có giátrị chấp hành

+ Nếu hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành

và quyết định đưa vụ án ra xét xử

- Phương pháp hòa giải:

Trước khi hòa giải phải tiến hành điều tra để nắm vững nội dung vụ kiện.Khi hòa giải Tòa án phải giải thích cho các đương sự về pháp luật, chính sách,quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ có tranh chấp với thái độ khách quan,trung lập

Nếu không thấy có khả năng hòa giải thì cần đưa ra xét xử, tránh kéo dàithời gian hòa giải một cách không cần thiết

Trang 13

- Về hiệu lực của các quyết định công nhận việc hòa giải thành:

Các quyết định công nhận việc hòa giải thành đều có hiệu lực như bản án.Đương sự, Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị Người đệ tam (người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có quyền chống quyết định công nhận củaTòa án cấp sơ thẩm Nếu quyết định công nhận việc hòa giải thành đã có hiệulực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì vụ kiện sẽ được xét xử theo trình tựgiám đốc thẩm

Đối với quyết định chưa có hiệu lực pháp luật: Nếu chỉ một mình người

đệ tam chống quyết định thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định sơthẩm, Tòa án sẽ thụ lý đơn và giải quyết về khoản mà người đệ tam chống quyếtđịnh

Như vậy, Thông tư số 25-TATC của TANDTC hướng dẫn việc hòa giảitrong tố tụng dân sự đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế địnhhòa giải Thông tư đã quy định rõ ràng chi tiết về thẩm quyền hòa giải, phạm vihòa giải, thủ tục và phương pháp hòa giải, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết choTòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao

Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất Các văn bản pháp luật tronggiai đoạn này đã được nâng cao không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức,hiệu lực pháp lý Về lĩnh vực hòa giải các vụ án dân sự cũng đã được hướng dẫn

cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như:

- Thông tư số 81-TAND ngày 24/7/1981 của TANDTC hướng dẫn cácTòa án địa phương giải quyết các tranh chấp về thừa kế Thông tư quy định: Cầnkiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triển tình đoàn kết thương yêutrong nội bộ gia đình [8]

- Thông tư số 02-TTLT ngày 2/10/1985 hướng dẫn thực hiện thẩm quyền

xét xử của Tòa án nhân dân về một số việc trong lao động quy định: “trước khi

xét xử Tòa án phải hòa giải những tranh chấp giữa chủ tư nhân và những người làm công và trong khi xét xử nếu có khả năng hòa giải thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải” [9]

Trang 14

- Thông tư số 06-TTLN ngày 30/12/1986 của TANDTC, Viện kiểm sátnhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết lyhôn giữa công dân Việt Nam và một bên công dân nước ngoài chưa có hiệp địnhtương trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân và gia đình với Việt Nam Theo hướngdẫn của Thông tư này thì đối với những việc ly hôn, Tòa án không hòa giải.

+ Hủy việc kết hôn trái pháp luật

+ Đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản nhà nước

+ Những việc phát sinh từ giao dịch trái pháp luật

+ Những việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết Những việc khiếunại cơ quan hộ tịch về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửađổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch Những việc khiếu nại về danh sách

cử tri và những việc khác theo quy định của pháp luật

Trang 15

Qua phân tích thấy rằng về thủ tục hòa giải, hiệu lực của biên bản hòa giảithành dược quy định tại Điều 44 PLTTGQCVADS có một bước phát triển đáng

kể so với quy định của Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của TANDTC

và các văn bản trước đó hướng dẫn về hòa giải, đó là quy định một thời hạn chocác đương sự, Viện kiểm sát, tổ chức xã hội khởi kiện về lợi ích chung đề nghịxét lại việc hòa giải thành Hết thời hạn này thì Tòa án mới ra quyết định côngnhận hòa giải thành thay vì ra ngay quyết định hòa giải thành như các văn bảnpháp luật trước đó

Bên cạnh đó, TANDTC và các cơ quan có liên quan đã đã ban hành nhiềuvăn bản để hướng dẫn việc thực hiện các quy định về trong pháp lệnh:

- Nghị quyết 03/HĐBT ngày 19/10/1990 của TANDTC hướng dẫn ápdụng một số quy định của PLTTGQCVADS, trong đó hướng dẫn về thủ tục,phạm vi hòa giải

- Công văn số 130/NCPL ngày 18/4/1991 của TANDTC về giải thích hiệulực thi hành của Pháp lệnh; Công văn số 124/KHXX ngày 31/10/1997 củaTANDTC trả lời về thủ tục hòa giải; Công văn số 43/KHXX ngày 21/4/1988của TANDTC trả lời về tố tụng dân sự…

1.2.3 Giai đoạn từ 2005 đến nay

Với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải đã nêu, chúng ta thấy rằnghòa giải được quy định trong một số văn bản của nước ta Các quy định nàychưa có tính hệ thống, nằm rải rác ở nhiều văn bản, nhiều điều khoản khác nhaucủa các văn bản Do vậy, trước yêu cầu phát triển của đời sống kinh tế xã hội,việc hoàn thiện và hệ thống hòa các quy định của hòa giải nói riêng và của phápluật tố tụng dân sự nói chung là một đòi hỏi cần thiết

Ngày 15/6/2004, BLTTDS đã được thông qua Đây là sự kiện quan trọngtrong đời sống pháp luật Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật

tố tụng dân sự Trong BLTTDS, chế định hòa giải các vụ án dân sự đã được kếthừa và hoàn thiện, khắc phục những tồn tại và bất cập của các quy định về hòa

Trang 16

giải các vụ án dân sự, thống nhất về trình tự và thủ tục hòa giải các vụ án dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động.

BLTTDS 2004 đã ghi nhận hòa giải là một nguyên tắc của tố tụng dân sựtại chương II của Bộ luật Bộ luật có nhiều quy định về hòa giải như nguyên tắchòa giải, phạm vi hòa giải, chủ thể tham gia hòa giải và thủ tục hòa giải Nhữngquy định này tạo cơ sở pháp lý mới cho Tòa án trong việc hòa giải các vụ án dânsự

1.3 HÒA GIẢI THEO QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam còn có nhiềuđiểm bất cập Do đó, việc tham khảo, học hỏi nhằm tiếp thu những điểm hợp lýcủa pháp luật nước ngoài về hòa giải là rất cần thiết Trên cơ sở chọn lọc nhữnghạt nhân phù hợp với điều kiện riêng của Việt Nam, kết hợp với những quy định

có tính truyền thống, việc hoàn thiện hơn nữa chế định hòa giải trong tố tụngdân sự Việt Nam là một việc cần phải nhanh chóng thực hiện trong giai đoạnhiện nay

1.3.1 Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản

Nhật bản có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp bằng phươngpháp thỏa thuận Tranh tụng mới chỉ được biết đến khi được du nhập từ cácnước phương Tây vào những năm đầu thế kỷ XIX

- Chủ thể tiến hành hòa giải:

Hòa giải trong pháp luật của Nhật được thực hiện thông qua một Hộiđồng hòa giải Hội đồng này thường bao gồm một Thẩm phán và hai hòa giảiviên trở lên Các hòa giải viên này thường là những người có chuyên môn tronglĩnh vực mà các bên tranh chấp Điều này sẽ giúp cho hiệu quả hòa giải đượccao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong những lĩnh vực mang tính chất đặc thùnhư tranh chấp thương mại hoặc tranh chấp xây dựng thì Thẩm phán thườngkhông có kiến thức chuyên sâu Do vậy, việc tham gia của những người cóchuyên môn sẽ giúp Thẩm phán rất nhiều trong quá trình hòa giải

Trang 17

Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về hòa giải.Trong pháp luật Việt Nam, chủ thể chủ trì phiên hòa giải chỉ là một Thẩm phán

- Thủ tục hòa giải:

Ở Nhật, hòa giải được tiến hành bằng nhiều buổi gặp gỡ các bên Buổi đầutiên Hội đồng hòa giải sẽ thông báo cho các bên về thủ tục hòa giải Các buổitiếp theo Hội đồng hòa giải sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra bản chất của vấn đề

và các vấn đề liên quan

Ở Việt Nam, việc hòa giải được diễn ra dưới hình thức là phiên hòa giảivới sự có mặt của Thẩm phán và các bên liên quan

- Hiệu lực của biên bản hòa giải:

Điều 267 BLTTDS Nhật Bản quy định “Khi có sự thỏa hiệp hoặc ý kiến

chấp thuận hay từ bỏ chấp nhận yêu cầu được thể hiện trong biên bản thì biên bản này có hiệu lực như một bản án không thể bác bỏ được” [2] Như vậy, theo

quy định của pháp luật Nhật Bản thì biên bản hòa giải thành có hiệu lực ngaysau khi lập chứ không phải sau thời hạn 15 ngày như trong pháp luật Việt Nam

1.3.2 Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Trung Quốc

Theo Điều 9 Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

thì hòa giải là một nguyên tắc hoạt động của các cơ quan xét xử “Tòa án nhân

dân giải quyết cá vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc tự nguyện và hợp pháp”.

Chế định hòa giải được quy định cụ thể tại Chương 8 Luật Tố tụng dân sựTrung Quốc, gồm một số điểm đáng chú ý sau:

- Người tham gia hòa giải:

Theo Điều 86 và Điều 87 Luật tố tụng dân sự Trung Quốc thì người tham

gia hòa giải gồm: Thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn, nhân chứng, đơn vị và cánhân có liên quan

- Thủ tục hòa giải:

Trang 18

Về nguyên tắc, hòa giải đi đến thỏa thuận, Tòa án nhân dân phải làm bản

hòa giải ghi rõ kết quả hòa giải, trừ một số trường hợp sau:

+ Những vụ án ly hôn đã hòa giải đi đến hàn gắn quan hệ hôn nhân

+ Các vụ án về cấp dưỡng đã hòa giải đi đến duy trì mối quan hệ nuôidưỡng

+ Những vụ án khác không cần làm bản hòa giải.`

Bản hòa giải sau khi có chữ ký của hai bên đương sự là có ngay hiệu lựcpháp luật

Hòa giải không đi đến thỏa thuận thì Tòa án nhân dân kịp thời ra phánquyết

Như vậy, điểm khác biệt về hòa giải trong pháp luật Trung Hoa so vớipháp luật Việt Nam là bản hòa giải sau khi được lập sẽ có ngay hiệu lực Vàtrong một số trường hợp thì hòa giải thành Tòa án không cần lập bản hòa giải

mà chỉ cần ghi vào biên bản, sau khi có chữ ký hoặc đóng dấu của hai bênđương sự, Thẩm phán, thư ký là có hiệu lực pháp luật ngay

1.3.3 Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp

Trong Luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, các quy định về hòa giảigiữ một vị trí quan trọng Hòa giải đã được xác định là một nguyên tắc trong quá

trình giải quyết vụ án dân sự “Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải các bên

đương sự”.[3]

- Hình thức hòa giải: Theo Điều 127 BLTTDS Pháp có hai hình thức hòa

giải là các bên tự hòa giải với nhau hoặc hòa giải theo sáng kiến của Thẩm phán.Nếu các bên tự hòa giải, Thẩm phán phụ trách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ cóthể ghi nhận sự hòa giải của các bên

Trang 19

hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự Thẩm phán phụtrách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ phải ghi nhận sự thỏa thuận của các đương

sự Đối với Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng hòa giải có thể được tiến hànhtrước phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm

+ Thủ tục hòa giải tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm:

Điều 833 BLTTDS Pháp quy định: Tòa án sẽ thông báo và gửi giấy triệutập đến các đương sự, trong giấy triệu tập phải ghi rõ các đương sự phải đíchthân có mặt tại phiên hòa giải

Nếu hòa giải thành thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và biên bản

đó có hiệu lực thi hành ngay

Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán giao cho nguyên đơn một phiếuhòa giải không thành, trừ trường hợp các bên các đương sự thỏa thuận là việckiện được xét xử ngay

+ Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm:

Thẩm phán sẽ cố gắng hòa giải các đương sự trước khi mở phiên tòa sơthẩm Việc hòa giải có thể được tiến hành trong phòng làm việc của Thẩm phán.Nếu hòa giải không thành, việc kiện có thể được xử ngay hoặc để một phiên tòasau (Điều 840 BLTTDS Pháp)

Ở cấp phúc thẩm, việc hòa giải vẫn được tiến hành theo trình tự như ở cấp

sơ thẩm nhưng đặt dưới sự giám sát của một Thẩm phán của tòa được phân côngxét xử phúc thẩm

Thông qua việc tham khảo pháp luật quy định về hòa giải ở một số nước,chúng ta có thể thấy rằng, pháp luật các nước quy định về hòa giải có nhữngđiểm khác biệt nhất định so với pháp luật Việt Nam Điều này xuất phát từtruyền thống văn hóa, pháp lý, điều kiện kinh tế xã hội của từng nước Chúng ta

có thể học tập, áp dụng những hạt nhân hợp lý từ pháp luật các nước để hoànthiện hơn nữa chế định hòa giải nói riêng, pháp luật tố tụng dân sự nói chungcho phù hợp với thực tiễn phát triển và xây dựng đất nước

Trang 20

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 NGUYÊN TẮC TIẾN HÀNH HÒA GIẢI

2.1.1 Hòa giải là một hoạt động tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự

Điều 10 BLTTDS có quy định “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải

và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật” [1] Theo quy định của điều

luật thì hòa giải là một hoạt động Tòa án phải tiến hành trong quá trình giảiquyết các vụ án dân sự Ở bất kỳ thời điểm nào, giai đoạn tố tụng nào, Tòa áncũng có thể tiến hành hòa giải, điều đó thể hiện ở hai điểm sau:

- Thứ nhất, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiêntòa sơ thẩm, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giảiđược

Khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ

thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được” Như vậy, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc

những vụ án không tiến hành hòa giải được, sau khi thụ lý vụ án đến trước khi

mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải dù việc hòa giải

có khả năng thành hay không Tính bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi

mở phiên tòa sơ thẩm thể hiện ở chỗ: Nếu Tòa án không tiến hành hòa giải thì bịcoi như vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và là căn cứ kháng nghịphúc thẩm, giám đốc thẩm để hủy án và xét xử sơ thẩm lại

Việc bắt buộc tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm là hoàntoàn hợp lý, xuất phát từ mục đích của hòa giải là để các đương sự thỏa thuậnđược việc giải quyết tranh chấp một cách ổn thỏa, từ đó đem lại nhiều ý nghĩa

Trang 21

cho Tòa án và các đương sự Do vậy, mục đích của hòa giải sẽ thể hiện rõ nhất,đem lại nhiều ý nghĩa nhất khi các đương sự thỏa thuận được với nhau trước khi

mở phiên tòa sơ thẩm Vì khi đó Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa xét xử, cóthể không phải tiến hành thêm các giai đoạn tố tụng tiếp theo như phúc thẩm,giám đốc thẩm hay tái thẩm Với ý nghĩa như vậy nên pháp luật quy định Tòa ánphải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm

- Thứ hai, pháp luật khuyến khích hòa giải ở các giai đoạn tiếp theo

Tòa án khuyến khích hòa giải trong các giai đoạn tố tụng khác bằng việcluôn công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở bất kỳ thời điểm nào, nếunhững thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Ngoài

ra, việc khuyến khích hòa giải này còn thể hiện rất rõ trong phiên tòa sơ thẩm vàphúc thẩm, tòa án hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giảiquyết vụ án hay không Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giảiquyết vụ án thì Hội đồng xét xử sẽ ra bản án công nhận sự thỏa thuận của đương

sự Sở dĩ, Tòa án không bắt buộc phải tiến hành phiên hòa giải ở các giai đoạn tốtụng tiếp theo để tránh việc phải hòa giải vô ích nhiều lần vụ việc không còn khảnăng hòa giải giữa các đương sự

2.1.2 Hòa giải phải trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự

Khoản 2 Điều 180 BLTTDS quy định: Việc hòa giải phải “tôn trọng sự tự

nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình” Như vậy, pháp luật quy định việc hòa giải phải xuất phát từ sự tự nguyện

thực sự của đương sự Sự tự nguyện này được thể hiện ở hai nội dung: Tựnguyện tham gia hòa giải và tự nguyện thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án

- Tự nguyện tham gia hòa giải: Cơ sở pháp lý của hòa giải xuất phát từnguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự Do đó, hòa giải không chỉ là tráchnhiệm của Tòa án mà còn là quyền của đương sự Đương sự có quyền lựa chọn

có tham gia hòa giải hay không Nếu bị đơn vắng mặt được triệu tập hợp lệ đến

Trang 22

lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng thì có nghĩa là bị đơn từchối hòa giải Trong trường hợp này Tòa án không được ép buộc bị đơn phảitham gia hòa giải, Tòa án sẽ lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được

do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung(khoản 1 Điều 182 BLTTDS)

- Tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Trong quá trình hòa giải, cácbên tranh chấp được bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất phương án giảiquyết tranh chấp Nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận mà việc thỏa thuận này là

do hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí chủ quan củađương sự làm cho họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình thì cũng không được coi là tựnguyện thỏa thuận

Ngoài ra, để bảo đảm nguyên tắc này thì khi tiến hành hòa giải, Thẩmphán không được tiết lộ đường lối xét xử Thẩm phán chỉ có thể phân tích cácquy định của pháp luật liên quan đến tranh chấp để các bên liên hệ đến quyền vànghĩa vụ của mình Khác với việc xét xử thì đường lối giải quyết vụ án do Tòa

án quyết định căn cứ vào pháp luật và các chứng cứ, việc hòa giải phải do chínhcác đương sự quyết định Tòa án chỉ đảm bảo về mặt thủ tục cho phiên hòa giải,còn về nội dung của việc hòa giải thì Tòa án chỉ hướng dẫn các đương sự tự thỏathuận

2.1.3 Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự chứa đựng quyền và lợi ích củacác bên tranh chấp Pháp luật chỉ bảo hộ những quyền và lợi ích hợp pháp Do

đó, mọi thỏa thuận trái pháp luật đều không được pháp luật thừa nhận, không có

có giá trị pháp lý

Quy định này của pháp luật để nhằm bảo vệ trật tự công Sự tuân thủ phápluật là yêu cầu bắt buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên sự thỏa

Trang 23

thuận của các bên trong hòa giải cũng không phải là ngoại lệ, nhất là các thỏathuận này được hình thành có sự chứng kiến của Tòa án.

2.2 PHẠM VI CÁC VỤ VIỆC MÀ TÒA ÁN TIẾN HÀNH HÒA GIẢI

Hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự Tuynhiên, không phải tất cả các vụ án dân sự Tòa án đều tiến hành hòa giải Căn cứvào tính chất của vụ án dân sự được Tòa án giải quyết thì pháp luật đã quy định:Những vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải; những vụ án không được hòa giải

và những vụ án không tiến hành hòa giải được

2.2.1 Những vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải

Điều 180 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 181 và Điều 182 Bộ luật này” Theo quy định

của điều luật thì ngoài những vụ án không được hòa giải và những vụ án khôngtiến hành hòa giải được thì Tòa án phải tiến hành hòa giải tất cả các vụ án thuộcthẩm quyền giải quyết của mình

Pháp luật đã quy định rõ những vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải Tuynhiên, do pháp luật không quy định nên hòa giải đối với việc dân sự thuận tình

ly hôn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau:

+ Có quan điểm căn cứ vào Điều 10 BLTTDS quy định hòa giải bao gồm

cả việc dân sự và Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình: “Sau khi thụ lý đơn yêu

cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”, cho rằng cần tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với

trường hợp thuận tình ly hôn Ví dụ, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã thụ

lý, giải quyết việc dân sự: Ngày 04/4/2005 Chị Dương Thị Hiền và anh ĐặngVăn Hiếu đã viết đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn Tòa án nhândân thành phố Đà Lạt đã thụ lý và triệu tập chị Hiền và anh Hiếu đến Tòa án đểtiến hành hòa giải nhưng cả hai đã không thống nhất trở đoàn tụ Vì vậy, Tòa án

Trang 24

nhân dân thành phố Đà Lạt đã lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và raquyết định mở phiên họp để giải quyết.[20, tr.41]

+ Có quan điểm cho rằng: Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

quy định Tòa án phải tiến hành hòa giải song việc hòa giải này phải tuân theoquy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng ngoài Điều 10 thì BLTTDS khôngcòn có một điều luật nào khác quy định chi tiết thủ tục tiến hành hòa giải việcdân sự Mặt khác, việc dân sự là việc không có tranh chấp nên không cần phảitiến hành hòa giải để nhằm cho các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp Do đó,Tòa án không cần tiến hành hòa giải

Từ việc áp dụng pháp luật của một số Tòa án địa phương như trên, cơquan nhà nước có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việcthực hiện pháp luật được dễ dàng, thống nhất

2.2.2 Những vụ án dân sự không được hòa giải

Pháp luật quy định một số vụ án không được hòa giải tại Điều 181BLTTDS vì nếu hòa giải sẽ đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho các bên viphạm pháp luật hoặc việc hòa giải sẽ dễ bị lợi dụng để xâm phạm tài sản công.Những vụ án không được tiến hành hòa giải bao gồm:

- Thứ nhất, yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.Tài sản Nhà nước được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nướcquy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự năm 2005 và được điều chỉnh theo cácquy định tại Mục 1 Chương XIII của Bộ luật dân sự năm 2005 [4]

Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợptài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu,

do vi phạm nghĩa vụ dân sự…gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tàisản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường [4]

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước chỉ

có thể giải quyết bằng việc Tòa án mở phiên tòa xét xử Pháp luật không cho cácbên thỏa thuận giải quyết vì tính chất của loại tài sản này thuộc sở hữu Nhànước, không thể tiến hành hòa giải để quyết định về số lượng hay nội dung giá

Trang 25

trị bồi thường Quy định này nhằm phòng ngừa trường hợp lợi dụng việc hòagiải để thỏa thuận, thương lượng gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước

Phần II tiểu mục 2.1 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 đã

có những hướng dẫn cụ thể về phạm vi hòa giải đối với vụ án yêu cầu đòi bồithường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước như sau:

+ Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn

vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước do Nhànước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêucầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Tòa án không được hòa giải đểcác đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

+ Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanhnghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư củacác chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụnghoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đótrong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hạiđến tài sản đó, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau vềviệc giải quyết vụ án theo thủ tục chung

- Thứ hai, những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặctrái đạo đức xã hội

Những giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật)

và trái đạo đức xã hội là những giao dịch vô hiệu tuyệt đối được quy định tạiĐiều 128 Bộ luật dân sự 2005 Về bản chất thì giao dịch vô hiệu không làm phátsinh quyền và nghĩa vụ ngay từ thời điểm xác lập Do vậy, pháp luật quy địnhTòa án không tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của

họ trong giao dịch vô hiệu này Bởi nếu tiến hành hòa giải là đồng nghĩa vớiviệc khuyến khích các bên tiếp tục vi phạm pháp luật Tuy nhiên, nếu các bênthỏa thuận không phải để thực hiện tiếp giao dịch mà chỉ để giải quyết hậu quảcủa giao dịch thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải Do sự thỏa thuận của các đương

Trang 26

sự trong trường hợp này là thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng banđầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả tài sản Điều này được hướngdẫn cụ thể trong Phần II tiểu mục 2.1 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày

12/5/2006 :“Tòa án không được hòa giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch

trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hòa giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện giao dịch đó Trường hợp các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch

vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó”.

2.2.3 Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Những vụ án không tiến hành hòa giải được thực chất là những vụ ánpháp luật quy định phải tiến hành hòa giải Tuy nhiên do những lý do kháchquan dẫn tới việc pháp luật quy định không cần phải tiến hành hòa giải giữa cácđương sự Theo đó, có ba trường hợp được quy định tại Điều 182 BLTTDS quyđịnh Tòa án không cần tiến hành hòa giải, bao gồm:

- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tìnhvắng mặt

- Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì lý do chính đáng

Trong hai trường hợp trên, đương sự được phân biệt thành hai loại: Bịđơn và những đương sự khác Bị đơn là chủ thể bị động tham gia tố tụng vàthường có ý thức trốn tránh Đối với chủ thể này, chỉ cần có dấu hiệu cố tìnhvắng mặt không tham gia hòa giải, pháp luật cho phép Tòa án tiếp tục tiến hànhgiải quyết vụ án mà không cần hòa giải Những đương sự khác được pháp luậtcho phép không tiến hành hòa giải nếu có lí do chính đáng Như vậy, việc có lí

do chính đáng chỉ đặt ra đối với đương sự không là bị đơn Quy định này xuấtphát từ vị trí tố tụng của mỗi đương sự trong vụ án

- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lựchành vi dân sự

Trang 27

Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lựchành vi dân sự thì họ không thể thể hiện được ý chí của mình nên Tòa án cũngkhông tiến hành hòa giải.

Như vậy, những trường hợp không hòa giải được là những trường hợpliên quan đến việc vắng mặt của đương sự và liên quan đến năng lực hành vi củađương sự Trong những trường hợp này nếu Tòa án cố tình hòa giải thì việc hòagiải cũng không đạt kết quả và mục đích của hòa giải Quy định này củaBLTTDS giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận tiện

2.3 CÁC CHỦ THỂ TRONG HÒA GIẢI

2.3.1 Các chủ thể tiến hành hòa giải

Khoản 1 và 2 Điều 184 BLTTDS có quy định những người tiến hành hòagiải bao gồm Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký Tòa án ghi biên bản ghibên bản hòa giải Đây là điểm mới của BLTTDS, PLTTGQCVADS trước kiachưa có quy định cụ thể về những chủ thể tiến hành hòa giải Do đó, nhiều Tòa

án đã phân công thư ký tiến hành hòa giải Việc xác định cụ thể Thẩm phántham gia hoạt động hòa giải với vai trò là người chủ trì đã khắc phục được thực

tế này Mặt khác, quy định này của BLTTDS là phù hợp với bản chất của hoạtđộng hòa giải, bởi hòa giải đòi hỏi người tiến hành phải có kinh nghiệm giảiquyết các tranh chấp cũng như những am hiểu nhất định về lĩnh vực cần hòagiải, hơn ai hết Thẩm phán chính là người thỏa mãn các điều kiện đó

- Nhiệm vụ của Thẩm phán trong hòa giải:

Thẩm phán chính là người chủ trì phiên hòa giải Điều 185 BLTTDS đãquy định cụ thể những công việc mà Thẩm phán phải tiến hành tại phiên hòagiải: Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật cóliên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ củamình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏathuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ vụ án thì Tòa ánlập biên bản hòa giải thành và sau bảy ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải

Trang 28

thành nếu không có bên nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán sẽ ra quyết định côngnhận hòa giải thành.

- Nhiệm vụ của thư ký Tòa án tại phiên hòa giải:

Điều 184 BLTTDS đã quy định rõ nhiệm vụ của thư ký tại phiên hòa giải

là ghi biên bản hòa giải Việc ghi biên bản hòa giải của thư ký phải đầy đủ nộidung theo quy định tại Điều 186 BLTTDS

2.3.2 Chủ thể tham gia hòa giải

Ngoài chủ thể tiến hành hòa giải, phiên hòa giải còn bao gồm chủ thểtham gia hòa giải, được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 184 BLTTDS, baogồm:

- Các đương sự hoặc người đại điện hợp pháp của các đương sự

- Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng việt

So sánh với quy định tại Điều 44 của PLTTGQCVADS, chủ thể tham giahòa giải được quy định trong BLTTDS đầy đủ và hợp lý hơn Ngoài các bênđương sự như quy định tại Pháp lệnh, Bộ luật đã quy định cụ thể về việc thamgia của người đại diện hợp pháp trong hòa giải Quy định này của Bộ luật xácđịnh chính xác địa vị pháp lý của người đại diện, mang tính thống nhất với cácvới các quy định về người đại diện của những phần khác trong Bộ luật Bêncạnh đó, sự tham gia của người phiên dịch khi cần thiết là một quy định mới,hợp lý thể hiện sự khái quát hóa từ thực tế thành quy định trong luật

2.4 THỦ TỤC HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ

2.4.1 Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm

2.4.1.1 Triệu tập đương sự

Điều 183 BLTTDS quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc thông báo

về phiên hòa giải Theo đó thì trước khi tiến hành hòa giải, Tòa án phải thôngbáo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian,địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải Thủ tụcthông báo phải tuân theo quy định tại Chương X BLTTDS về cấp, tống đạtthông báo văn bản tố tụng

Trang 29

Quy định tại Điều 183 BLTTDS là điểm mới của Bộ luật so với các vănbản pháp luật trước đây Quy định rõ nội dung cần hòa giải trong thông báo vềphiên hòa giải sẽ giúp các đương sự chuẩn bị trước các nội dung, phương án hòagiải Do vậy, phiên hòa giải đạt hiệu quả hơn.

Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự nên các đương sự phải có mặt

để hòa giải với nhau Nếu có đương sự vắng mặt thì tùy từng trường hợp mà Tòa

án quyết định giải quyết theo các hướng sau:

- Trường hợp vắng mặt bị đơn

Nếu bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tìnhvắng mặt thì sẽ thuộc trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 182 BLTTDS Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử Như vậy, nếu bị đơn vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án

sẽ phải hoãn phiên hòa giải Nếu triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắngthì dù có lý do chính đáng hay không, Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xửtheo thủ tục chung Trong trường hợp tại phiên tòa bị đơn có yêu cầu Tòa ánhoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận, nhưng cần tạođiều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (Mục 3 Phần

khoản 1 Điều 192 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

- Trường hợp có đương sự vắng mặt trong vụ án có nhiều đương sự

Trang 30

Khoản 3 Điều 184 BLTTDS quy định:“Trong một vụ án có nhiều đương

sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất

cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải”.

Vấn đề này đã được giải thích cụ thể hơn tại Mục 4 Phần II Nghị quyết02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 Theo đó, Tòa án phải triệu tập tất cả nhữngngười có liên quan đến việc giải quyết vụ án tham dự phiên hòa giải Nếu việchòa giải vụ án có liên quan đến tất cả các đương sự trong vụ án mà có đương sựvắng mặt, thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải để mở lại phiên hòa giải khác

có mặt tất cả các đương sự

Nếu trong vụ án có nhiều quan hệ pháp luật mà quan hệ pháp luật này liênquan đến đương sự này, quan hệ pháp luật kia liên quan đến đương sự khác vàviệc giải quyết quan hệ pháp luật đó chỉ liên quan đến các đương sự có mặtkhông liên quan đến các đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hòa giảinhững vấn đề có liên quan đến các đương sự có mặt

Như vậy, nếu vụ án có nhiều đương sự thì về nguyên tắc, việc hòa giảiphải có đầy đủ các đương sự tham dự Nếu có đương sự vắng mặt thì Tòa ánphải hoãn phiên hòa giải, trừ những trường hợp ngoại lệ sau:

+ Nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật và không liên quan tới tất cả cácđương sự thì Tòa án có thể tiến hành hòa giải những quan hệ pháp luật chỉ liênquan tới những người có mặt, không liên quan tới những người vắng mặt

+ Nếu quan hệ pháp luật liên quan tới tất cả các đương sự thì Tòa án sẽtiến hành hòa giải khi thỏa mãn hai điều kiện:(1) các đương sự có mặt vẫn đồng

ý tiến hành hòa giải và (2) việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa

vụ của đương sự vắng mặt

Trang 31

2.4.1.2 Tổ chức phiên hòa giải

Trong tất cả các văn bản pháp luật quy định về hòa giải từ trước đến nayđều không quy định cụ thể Tòa án phải tiến hành những công việc gì trong buổihòa giải Tuy nhiên, thông qua thực tiễn thường thấy diễn biến phiên hòa giảinhư sau:

- Thẩm phán kiểm tra căn cước của những người tham gia hòa giải, giớithiệu Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải và thư ký

- Thẩm phán công bố nội dung vụ án, phổ biến cho các đương sự biết cácquy định của pháp luật có liên quan đến giải quyết vụ án, phân tích hậu quả pháp

lý của việc hòa giải thành

- Các bên đương sự thoả thuận về việc giải quyết vụ án

- Thư ký phiên tòa phải ghi biên bản hòa giải với những nội dung quyđịnh tại Điều 186 BLTTDS: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải; địađiểm tiến hành phiên hòa giải; thành phần tham gia phiên hòa giải; ý kiến củacác đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; những nội dung

đã được các đương sự thỏa thuận, không thỏa thuận Sau đó, các đương sự cómặt tại phiên hòa giải, Thẩm phán và thư ký ký vào biên bản hòa giải

- Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về tất cả nội dung vụ án và

án phí thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay chocác đương sự tham gia hòa giải

2.4.1.3 Xử lý kết quả hòa giải

- Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải không thành

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Tòa án ra một trongbốn quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tạm đình chỉ giảiquyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử (khoản 2 Điều

179 BLTTDS)

Trong trường hợp hòa giải không thành nhưng có các căn cứ đình chỉhoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 189 và Điều 192 BLTTDS thì

Ngày đăng: 04/04/2013, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bùi Đăng Huy, “Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện”, Luận án thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện
1. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự Nhật Bản Khác
3. Bộ luật tố tụng dân sự Pháp Khác
4. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 Khác
5. Nghị quyết 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/08/2006 Khác
6. Sắc lệnh số 13/SL, ngày 24/01/1946 Khác
7. Sắc lệnh số 51/SL, ngày 17/04/1946 Khác
8. Thông tư số 81/TATC ngày 24/07/1981 Khác
9. Thông tư số 02/NCPL ngày 12/07/1985 Khác
10. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dân sự, Hà Nội Khác
15. Henry Campbell Black, Blacks Law Dictionary, 1990 Khác
16. Rothenberg, R. Plain Language Dictionary of Law, Signet, 1996 Khác
17. Viện ngôn ngữ (1998), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Khác
18. Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm (2003-2009) của TANDTC1 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w