MỞ ĐẦU Nấm Tua (nấm Hầu thủ, nấm Đầu rồng,…) là một loại thực phẩm cao cấp và là dược liệu quý hiếm. Loại nấm này được sử dụng dạng bột khô trong túi lọc với nước sôi như pha trà, ngâm trong rượu thành Kim tửu, được dùng như một loại thực phẩm bổ dưỡng, tăng lực có giá trị cao trong phòng chống ung thư. Nấm Hầu thủ được dùng làm đồ uống có tính kích thích không phải kiểu doping: sport dink “houtou” tại đại hội thể thao ASIAD tổ chức năm 1990, nước ngọt này đã được sử dụng là nguồn tăng lực của toàn đoàn tuyển thủ Trung Quốc. Ở Nhật Bản các chế phẩm từ nấm Hầu thủ chủ yếu là các dịch tinh chế có hương vị và công dụng đặc biệt. Thông tin quảng cáo trên internet cho thấy nhiều món súp độc đáo và một số phương thức thựcdược phẩm rất hấp dẫn (vua Càn Long nhà Thanh rất ưa thích nấm này). Chất sợi trong nấm Hầu thủ có thành phần cơ bản là: glucan, chitin, polysaccarid, cenllulose, hemicellulose, polyurenide,… chiếm 1015% nấm khô. Thêm nữa, các thành tố làm tăng hương vị, khẩu vị của nấm Hầu thủ như dẫn xuất của adenosine, guanosine, adenine acid… Đặc biệt guanosine monophotphat có khả năng tăng cường sinh dục lực. Ở Việt Nam nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides mới được nuôi trồng thử nghiệm, các nghiên cứu về nấm Hầu thủ chưa nhiều, nấm Đầu rồng hầu như chưa có. Trên tinh thần mong muốn góp phần tìm hiểu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài nấm mới, chúng tôi tiến hành khảo sát nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides nuôi trồng ở TP Hồ Chí Minh.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nấm Tua (nấm Hầu thủ, nấm Đầu rồng,…) là một loại thực phẩm cao cấp và làdược liệu quý hiếm Loại nấm này được sử dụng dạng bột khô trong túi lọc với nước sôinhư pha trà, ngâm trong rượu thành Kim tửu, được dùng như một loại thực phẩm bổdưỡng, tăng lực có giá trị cao trong phòng chống ung thư Nấm Hầu thủ được dùng làm
đồ uống có tính kích thích không phải kiểu doping: sport dink “houtou”- tại đại hội thểthao ASIAD tổ chức năm 1990, nước ngọt này đã được sử dụng là nguồn tăng lực củatoàn đoàn tuyển thủ Trung Quốc Ở Nhật Bản các chế phẩm từ nấm Hầu thủ chủ yếu làcác dịch tinh chế có hương vị và công dụng đặc biệt Thông tin quảng cáo trên internetcho thấy nhiều món súp độc đáo và một số phương thức thực-dược phẩm rất hấp dẫn(vua Càn Long nhà Thanh rất ưa thích nấm này)
Chất sợi trong nấm Hầu thủ có thành phần cơ bản là: glucan, chitin, polysaccarid,cenllulose, hemicellulose, polyurenide,… chiếm 10-15% nấm khô Thêm nữa, các thành
tố làm tăng hương vị, khẩu vị của nấm Hầu thủ như dẫn xuất của adenosine, guanosine,adenine acid… Đặc biệt guanosine monophotphat có khả năng tăng cường sinh dục lực
mới được nuôi trồng thử nghiệm, các nghiên cứu về nấm Hầu thủ chưa nhiều, nấm Đầurồng hầu như chưa có Trên tinh thần mong muốn góp phần tìm hiểu thành phần hóa học
và hoạt tính sinh học của các loài nấm mới, chúng tôi tiến hành khảo sát nấm Hầu thủ
Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides nuôi trồng ở TP Hồ Chí
Minh
Trang 2I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu nấm Hầu thủ Yamabushitake và các loài gần gũi
Yamabushitake là một loại nấm được phân loại thuộc lớp nấm Đảm(Basidiomycetes), họ Hydnaceae, chi Hericium, tên loài Hericium erinaceum (Bull.: Fr)Pers - là một loài nấm phân bố rộng rãi trên các vùng Bắc Á: Trung Quốc, Nhật Bản,châu Âu, Bắc Mỹ Loại nấm này được mọc trên nhiều loại cây gỗ: nhóm sồi dẻ, các loạicây lá rộng đang sống hoặc đã bị mục nát cho đến tận vùng trong cùng (lõi gỗ) của cây,
do đó có thể làm chết cây Tại Nhật Bản loại nấm này giống như một loại đồ trang sứctrên áo của các nhóm thảo khấu lục lâm thời xưa, nên được gọi là Yamabushitake (theotiếng Nhật có nghĩa là nấm Sơn tặc) Tại Trung Quốc loại nấm này thể quả khi còn nonnhỏ trông giống như đầu loài khỉ tay dài nên được gọi là Houtou (nấm Đầu khỉ - Hấuđầu- Hầu thủ) [1]
Lần đầu tiên, nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc Chen (1960, 1988) báo cáo nuôi
trồng thành công nấm Hầu thủ H erinaceum Sau đó, Xu và Li (1984) phát hiện được được loài gần gũi nấm Đầu rồng H coralloides ở Changbaishan và nuôi trồng khá thành công Nấm Tiểu thích hầu H caputmedusae gần đây được các nhà khoa học Trung Quốc
và Nhật Bản nghiên cứu và sản xuất bằng công nghệ lên men trong môi trường dịch thể,tạo sinh khối hệ sợi, rồi chiết và tinh chế bằng nước nóng, thu được chế phẩm “dịch dượclam xung tế” Các bác sĩ ở thị trấn Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm bào chế được và bán rộngrãi trên thị trường chế phẩm này, xem như là loại thuốc chữa bệnh đường ruột, dạ dày [2]
Ngoài ra, ở Nhật Bản còn tìm thấy loài nấm San hô H ramosum có thể thu hái làm thực
phẩm, loài này đôi khi người ta lầm lẫn với các loài khác Các loài nấm thuộc chi
Hericium đã được trồng đại trà ở Trung Quốc, Nhật Bản, HongKong, Đài Loan song chất
lượng và năng suất vẫn còn khá hạn chế Các nước khác mới đang thăm dò thử nghiệm.Phương thức trồng chủ yếu trên gỗ khúc, thân cành cây khô, trong các loại chai thủy tinh,chất dẻo plastic hoặc bao PP Nguyên liệu trồng là các loại phụ phế phẩm nông, lâm vàcông nghiệp
Trang 3Nấm Hầu thủ Hericium erinaceum
Trang 41.2 Giá trị thực phẩm của nấm Hầu thủ
Thành phần dinh dưỡng của nấm Hầu thủ H erinaceum được thể hiện qua các
bảng phân tích của nhóm giáo sư Mizuno (1988) Các dẫn liệu chứng tỏ nấm Hầu thủ làmột thực phẩm bổ dưỡng, cân đối về thành phần dinh dưỡng, giàu khoáng và vitamin
Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng của quả thể nấm khô (% nấm khô) [2]
335 Cal
9.0127.674.56-40.1418.66
227 CalP
1010 mg%
17.52.92.14370117.28.0Vitamin B1
3.83 mg%
3.140.410.15-16.17451.4
Trang 5Rõ ràng vitamin B1 và B2 nổi trội ở cả hai loại sản phẩm nấm, song có lẽ nấmNhật Bản giàu các loại vitamin hơn, nhất là Provitamin D.
Các acid béo không bão hòa trong nấm tuy chưa có thông số chính thức, songđược ghi chú là có hàm lượng cao đáng kể Đây là các thành tố có giá trị dinh dưỡng vàphòng bệnh tim mạch và ung thư Nấm Hầu thủ khá phong phú khoáng chất, đặc biệt có
cả Ge – một kim loại cực hiếm có hoạt tính chống ung thư, đang được nghiên cứu làm
giàu vào nấm Linh chi Ganoderma lucidum Thành phần khoáng có khác biệt giữa hai
loại nấm, song đều giàu K, P, Mg…Thành phần amono acid cũng có giá trị cân đối vềdinh dưỡng (Bảng 2 và Bảng 3)
Bảng 2 Thành phần của tro và hàm lượng Ge của Yamabushitake [2]
3*: % chất khô t: có dạng tì vết (có sự tồn tại của Mo)
Các acid amin cũng khá phong phú và cân đối Tuy nhiên khác biệt rất lớn giữanấm trồng ở Trung Quốc và Nhật Bản, nổi trội nhất nấm ở Trung Quốc là glutamic,serine, asparagines và leucine
Bảng 3 Thành phần và hàm lượng amino acid trong quả thể nấm [2]
Trang 6Nấm Trung Quốc Amino acid tự do
vị nấm ngon hơn, hợp với khẩu vị hơn so với nấm tươi
Năm 1994, Stadler et al., ởÛ Đại học Kaiserslautern, Cộng hòa Liên bang Đức
đã phát hiện các acid béo có hoạt tính chống lại tuyến trùng Caenorhabditis elegans
ở nấm Đầu rồng Hericium coralloides và nấm đuôi phượng Pleurotus pulmonarius,
bao gồm các nhóm hoạt chất đặc biệt, chủ yếu là acid linoeic, acid palmitic là các
chất đã được xác định có ở nấm Hầu thủ Hericium erinaceum Phổ GC-MS xác định
32 hoạt chất tạo hương thơm của nấm Hầu thủ cũng đã được các nhà khoa học Đức ở
Trang 7Đại học Munchen phân tích [3], phần nào xác nhận kiểu hương vị tôm hùm của nó.Có lẽ vì thế mà thời xưa, nấm Hầu thủ là cao lương mỹ vị dành cho vua chúa TrungHoa Các nhà khoa học ở Utrecht, Hà Lan lại ghi nhận tác động gây kích ứng da dịứng tiếp xúc với nấm Hầu thủ [4], có lẽ đây là tài liệu duy nhất về dị ứng nấm
Hericium Ngoài ra khả năng của các hệ enzyme ngoại bào từ hệ sợi nấm Hầu thủ
phân hủy sinh học (biodegradation) - khử độc các hợp chất halogen hữu cơ độc hạimôi trường cũng được phát hiện (Jong de& Field, 1997)
Vào năm 1998, nhóm 14 nhà khoa nhọc Nhật Bản do Saito đừng đầu, với 3 nhàkhoa học dược do Smogowicz lãnh đạo trong chi nhánh Pfizer (đã bào chế thuốcViagra nổi tiếng), ở Aichi, Nhật Bản đã phát hiện Erinacine E- yếu tố đối kháng thụ
thể opioid kappa (Kappa opioid receptor), ở nấm San hô (Long tu) Hericium ramosum.
Nghĩa là có thể cạnh tranh receptor với các hợp chất ma túy, ở nồng độ rất thấp (0,8µmol), nhờ đó góp phần giúp cai nghiện (Nguyễn Hữu Khai, 2001) Chỉ 2 năm sau,nhóm 11 nhà khoa học khác ở Đại học Shizuoka lại tìm ra những dẫn xuất của
Erinacine là Erincine H và Erinacine I từ hệ sởi nấm Hầu thủ Hericium erinaceum,
trong đó Erinacine H có hoạt động kích thích sinh tổng hợp yếu tố tăng trưởng thầnkinh (NGF - never growth factor, Lee et al., 2000) Như vậy khó có thể nghi ngờ vềtính đồng nhất cao độ trong thành phần hoạt chất và hoạt tính dược lý của các loài:
Hericium erinaceum, Herinacium ramosum, Hericium caputmedusae và có lẽ cả Hericium corallooides và Hericium abietis nữa Đây có thể coi là điển hình một nhóm
nấm vừa là thực phẩm cao cấp lại vừa là nguồn dược liệu quý mà nấm Hầu thủ
Hericium erinaceum là đại diện được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất.
1.3 Gía trị dược học của nấm Hầu thủ - hoạt chất dược tính
1.3.1 Hợp chất tăng thực bào Hella-cells
Trang 8Trong nấm, chất provitamin D tồn tại như một sản phẩm trao đổi chất, song một
dẫn chất trung gian của nó tách ly ra từ nấm Kawaratake (Trametes versicolor), được
thử nghiệm có hoạt tính diệt tế bào Hepatoma –cell (tế bào ung thư gan) Ngoài ra
cũng có những báo cáo cho thấy loại Provitamin D trong H erinaceum có hiệu quả
giết tế bào ung thư tử cung Hella-cells Mizuno (1994) đã trắc nghiệm bằng phươngpháp Hella-cells như sau: lấy dung dịch nguyên bằng nước chiết thể quả để kiểm tratác dụng tăng thực bào Hella 229 nhưng hoạt tính không thể hiện rõ, kết quả được dẫn
2.00 x 1052.00 x 1051.95 x 105
002.5Tuy nhiên, dung dịch chiết nấm trong aceton được phân đoạn bằng các phươngpháp sắc ký, từ đó tách ly thành công ba acid có hoạt tính mạnh là: YA-2; HericenoneA; Hericenone B (công thức cấu tạo ký hiệu: I,II,III) Thực nghiệm cho thấy hợp chất
mang tính acid (YA-2) có hoạt tính tăng thực bào Hella-cells rõ rệt Những dẫn chất
này được nhận thấy còn có hoạt tính ức chế tăng trưởng của vòi nhụy hoa trà với nồngđộ trên 125 ppm
Dùng nấm tươi 7,3 kg chiết trong ethanol 85%; xay đều, lọc kỹ, sau đó cô đặcdung dịch bằng phương pháp giảm áp lực, dung dịch đặc được tách theo theo thứ tự
Trang 9mỗi loại 2 lần trong các dung dịch chloroform; sau đó acetate-ethyl (A), dùng chất Alọc bởi chloroform là chất có đặc tính mạnh nhất đối với Hella-cell để làm chuẩn , sửdụng phương pháp sắc ký lọc gel (dung môi triển khai: hexan-chloroform-chlorofrom/aceton=8/2) pha chế với chất A.
Chất kết tinh lại có hoạt tính mạnh nhất trong dung môi chloroform thu được làErinapyrone A, Erinapyrone B Sau khi tách tiếp và cho tái kết tinh nhiều lần thì thuđược 3 hợp chất có hoạt tính là: YA-2, Hericenone A và Hericenone B (Bảng 5)
Bảng 5 Chiết từ nấm Hầu thủ Hericium erinaceum các chất tăng thực bào Hella-cells
Hai hoạt chất Erinapyrone A, B cũng được xác định các đặc tính hóa lý Sau đómột số tác giả còn phát hiện được nhiều dẫn xuất tương tự.
Trang 10Cần lưu ý là ngay từ 1990, nhóm nghiên cứu của Qian et al ơÛ Viện côngnghiệp dược Thượng Hải, Trung Quốc đã phát hiện được 2 pyrone mới; 6-methyl-2,5-dihydroxymethyl-gamma-pyranone và 2-hydroxymethyl-5-alphal-hydroxy-ethy-
gamma-pyranone Các hoạt chất khác là 4-chloro-3,5-dimethoxybenzoic-O-aribitoic
ester, 4-chloro-3,5-dimethoxybenzoic acid Hỗn hợp palmitic và stearic acid, behenicvà tetracosanic acid, 5 alpha-ergostan-3-one, 5 alpha-S-22-en-3-one và 5 alphastigmastan-3-one đã được tách xác định
1.3.2 Hợp chất xúc tiến sinh tổng hợp yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF)
Mizuno (1998) báo cáo cho thấy bốn loại hợp chất là Hericenone C, D, E, F(công thức cấu tạo ký hiệu: IV,V, VI, VII) được dẫn ra trên bảng 6 và Hericenone G,
H (công thức cấu tạo VIII, IX) là các chất có hoạt tính xúc tiến sinh tổng hợp yếu tố
tăng trưởng thần kinh (NGF) Điều này có liên quan đến khả năng điều trị bệnh lú lẫn
Alzheimer ở người già theo phương pháp trắc nghiệm mới (Bioassay)
Các hợp chất có hoạt tính này được xác định bằng phương pháp tách, kết tinhbởi kỹ thuật sắc ký lọc gel và kỹ thuật phân tích phổ: IR, NMR, MS
B ng 6 Các ch t gây sinh t ng h p y u t t ng tr ng th n kinh (NGF) ất gây sinh tổng hợp yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) ổng hợp yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) ợp yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) ếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) ố tăng trưởng thần kinh (NGF) ăng trưởng thần kinh (NGF) ưởng thần kinh (NGF) ần kinh (NGF)
Trang 111.3.3 Thành phần điều tiết chức năng miễn dịch (BRM)
Gần đây các nhà nghiên cứu đề xuất khái niệm các chất cảm ứng điều hòa học(Biological Response Modifiers) Trong đó, nhóm chất tương tự tìm thấy ở nấm Hầu thủthể hiện khả năng điều hòa miễn dịch cơ thể Dùng thể quả non (YF) củaYamabushitake, hệ sợi nấm (YM), dung dịch lọc môi trường nuôi (hệ sợi) nấm (YE) đểđiều chế, phân đoạn các cao phân tử (chiết bằng nước nóng, tách bằng kết tủa trong caoancol) rồi khảo sát hiệu quả của các loại chế phẩm đối với dòng tế bào miễn dịch (80).Tác dụng làm tân sinh các tế bào lách cho thấy cả ba chế phẩm YF, YM, YE đều có hoạttính
COOHOH
8 10
12 18
(9R, 10S, 12Z)-9,10-dihydroxy-8-oxo-12-octadecenoic acid (I)
3' 4'
5' 6' 7'
1 3 4 5
Trang 13Cấu trúc phân tử các hoạt chất tách từ nấm Hầu thủ Hericium erinaceum
O
O
CHOO
Trang 14Cấu trúc phân tử các hoạt chất tách từ nấm Hầu thủ Hericium erinaceum
1.3.4 Polysaccarid kháng ung thư
Các loại nấm thuộc nhiều taxon: Polyporus, Lyphollum (Shimeiji), Pleurotus (Hiratake), Lentinus, Grifola, Flammulina, Lentinula (Shiitake), Ganoderma (Mannentake), Schizophyllum, Trametes,…các loại thể quả nấm tươi, thể khuẩn ty nấm
(hệ sợi) đã được khảo nghiệm Các nghiên cứu bằng các phương pháp Sarcoma 180/mice
ip hoặc po, đã chứng minh rằng các dẫn xuất trao đổi của acid nucleic, polysaccharide,Heteroglucan C-D, Glucan có hoạt tính kháng ung thư một cách rõ rệt Chức năng tăngcường miễn dịch kháng ung thư của Polysaccharides của nấm Hầu thủ đã được chứng
N
NN
N
OHOCH2
O
AMP 5'
N
NN
O
N
NN
N
OHOCH2
Trang 15minh (Mizuno et al., 1992) Thực vậy Xu et al (1994) chứng minh: dùng chế phẩm tinhchế Apollo- dịch Polysaccharides làm tăng miễn dịch.
1.4 Các nghiên cứu trong nước về nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides.
Ở Việt Nam, đã có ghi nhận từ lâu các nấm Hầu thủ H ericium và H laciniatum
(Leers) Banker., phân bố rộng rãi trên cây gỗ nhóm sồi dẻ, không thấy lưu ý là độc hay
ăn được (Lê Văn Liễu, 1997) Loài nấm gai không cuống Hericium cirrhatum (Fr.) Nikol
mọc hoang dại ở nhiều nơi (Trịnh Tam Kiệt, 1981): Tây Bắc, Tam Đảo, Ba vì, Cao Bằng,Sapa, Lào Cai, và Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đaklak, Cát Tiên,…) Tuy nhiên, ở ViệtNam, nấm Hầu thủ vẫn còn là nhóm nấm đang bị lãng quên Hiện nay, nấm Hầu thủ vànấm Đầu rồng đang được nuôi trồng thử nghiệm ở Đà Lạt, công ty Đông dược Bảo Long
Ở TP Hồ chí Minh có công ty cổ phần Dược liệu TW 2 Chưa có tài liệu nào nghiên cứu
thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm Đầu rồng Hericium coralloides Do đó,
để góp phần bảo tồn và phát triển tài nguyên nấm quý hiếm ở Việt Nam, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm Hầu thủ H.
erinaceum (Bull.:Fr) Pers và nấm Đầu rồng H coralloides (Scop.:Fr) S.F.Gray được nuôi
trồng thử nghiệm tại TP Hồ Chí Minh
II TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Nấm Tua (nấm Hầu thủ và nấm Đầu rồng,…) là một loài thực- dược phẩm quý vàhiếm chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng (amino axit, đường, lipit, nguyên tố khoáng,vitamin) Các chất có hoạt tính sinh học như (các hợp chất Hericenone) có tác dụng tốtđối với hệ thống thần kinh trong chống bệnh Elzheimer Nấm Hầu thủ dùng để ăn, nângcao sức khoẻ, ngăn ngừa và phòng chống các khối u Nấm Hầu thủ có tác dụng ức chế sựphát triển của khối u, chống vi khuẩn gây viêm loét dạ dày, ung thư dạ dày do
(Helicobacter pylori) giảm thấp nhất tác hại của xạ trị và hoá trị liệu trong điều trị ung
thư Tăng hệ thống miễn dịch và chống mệt mỏi (anti-fatigues), tăng cường sinh sinh lựcđói với nam giới Qui trình nuôi trồng Nấm Tua đang được chuyển giao tại Việt Nam
Trang 16Cần cú những nghiờn cứu sõu hơn về những hoạt chất chiết từ thể quả và hệ sợi nấm vàứng dụng cỏc hoạt chất này trong y học và trong dinh dưỡng Trờn cơ sơ đú sàng lọc, tìmkiếm các hoạt chất có tác dụng chữa bệnh là bớc đi đầu tiên nhng là bắt buộc đối với quátrình phát triển thuốc mới từ nguồn tài nguyên quý này Chỉ thông qua các bớc sơ tuyểnmới có thể chọn ra những đối tợng có triển vọng để nghiên cứu tiếp theo (các nghiên cứu
in vivo trên động vật thực nghiệm, định hớng chiết tách hoạt chất, nghiên cứu cấu trúc,
các nghiên cứu về cơ chế tác dụng ) để cuối cùng chọn ra đợc dợc liệu và hoạt chất chonhững nghiên cứu tiếp sâu hơn, toàn diện hơn Nếu hoạt chất tồn tại ở hàm l ợng cao, cácnhà sinh học sẽ định hớng nuôi trồng tạo vùng nguyên liệu để thu nhận trực tiếp Trờnghợp chất có hoạt tính cao song hàm lợng thấp, các nhà hoá học sẽ nghiên cứu tổng hợp lạitheo mẫu hình cấu trúc đã đợc xác định
Đề tài đợc thực hiện sẽ gúp phần tỡm hiểu giỏ trị cỏc loại nấm mới về dinh dưỡngcũng như về y học Với mục tiờu tỡm hiểu toàn diện thành phần húa học và hoạt tớnh sinhhọc, qua đú gúp phần nõng cao giỏ trị dược liệu cũng như khuyến cỏo phương thức sử
dụng Chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu
rồng Hericium coralloides về mặt húa học: ly trớch, cụ lập, xỏc định cấu trỳc cũng như
thử nghiệm hoạt tớnh sinh học hoạt chất thu được
III NỘI DUNG NGHIấN CỨU
3.1 Mục tiờu của đề tài
Nghiờn cứu thành phần húa học của cỏc loại nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides
Thử nghiệm hoạt tớnh sinh học hoạt chất thu được và dịch chiết của cỏc loại nấm
Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium coralloides
Những kết quả nghiờn cứu về thành phần húa học và hoạt tớnh sinh học của hoạt
chất cụ lập từ của cỏc loại nấm Hầu thủ Hericium erinaceum và nấm Đầu rồng Hericium
coralloides cho đến nay chưa cú cụng trỡnh nào trong nước cụng bố Kết quả nghiờn cứu
về thành phần húa học và hoạt tớnh sinh học của hai loại nấm mới đang được nuụi trồngthử nghiệm là điểm mới của luận ỏn