MỤC TIÊU:1.Nêu được khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ, nhận biết yếu tố nguy cơ, nguy cơ.2.Đánh giá được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe.3.Kiểm soát được nguy cơ, theo dõi sức khỏe.4.Theo dõi, lượng giá kết quả viêc thực hiện đánh giá và quản lý nguy cơNỘI DUNG:1.Khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ:Việc lượng giá các nguy cơ sức khỏe gây ra bởi yếu tố nguy cơ môi trường là rất quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.Yếu tố nguy cơ là một thuật ngữ định tính diễn đạt khả năng một yếu tố môi trường có thể gây hại đối với sức khoẻ của một số cá nhân nếu mức phơi nhiễm đủ lớn hoặc các điều kiện khác xảy ra. Một yếu tố nguy cơ được định nghĩa là: một yếu tố hay một sự phơi nhiễm mà có thể để lại tác hại đối với sức khoẻ (Last,1995).Nguy cơ được định nghĩa là: khả năng một sự kiện có thể xảy ra, ví dụ một người bị ốm hoặc bị tử vong trong một khoảng thời gian xác định hay trước một độ tuổi nào đó, khả năng của một hậu quả không mong muốn (Last, 1995). Đây là một xác suất định lượng của một ảnh hưởng sức khỏe tiêu cực sẽ xảy ra sau khi một người phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ nào đó.Một yếu tố nguy cơ sẽ dẫn tới nguy cơ khi và chỉ khi có sự phơi nhiễm, nếu không có cơ hội phơi nhiễm hoặc yếu tố nguy cơ được kiểm soát thì cũng không tạo ra nguy cơ.
Trang 1Đánh giá và quản lý nguy cơ
Khoa YTCC - ĐHYHP
MỤC TIÊU:
1 Nêu được khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ, nhận biết yếu tố nguy cơ,nguy cơ
2 Đánh giá được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe
3 Kiểm soát được nguy cơ, theo dõi sức khỏe
4 Theo dõi, lượng giá kết quả viêc thực hiện đánh giá và quản lý nguy cơ
NỘI DUNG:
1 Khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ:
Việc lượng giá các nguy cơ sức khỏe gây ra bởi yếu tố nguy cơ môi trường làrất quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe con người và môi trường
Yếu tố nguy cơ là một thuật ngữ định tính diễn đạt khả năng một yếu tố môitrường có thể gây hại đối với sức khoẻ của một số cá nhân nếu mức phơi nhiễm
đủ lớn hoặc các điều kiện khác xảy ra Một yếu tố nguy cơ được định nghĩa là:một yếu tố hay một sự phơi nhiễm mà có thể để lại tác hại đối với sức khoẻ(Last,1995)
Nguy cơ được định nghĩa là: khả năng một sự kiện có thể xảy ra, ví dụ mộtngười bị ốm hoặc bị tử vong trong một khoảng thời gian xác định hay trướcmột độ tuổi nào đó, khả năng của một hậu quả không mong muốn (Last, 1995).Đây là một xác suất định lượng của một ảnh hưởng sức khỏe tiêu cực sẽ xảy rasau khi một người phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ nào đó
Một yếu tố nguy cơ sẽ dẫn tới nguy cơ khi và chỉ khi có sự phơi nhiễm, nếukhông có cơ hội phơi nhiễm hoặc yếu tố nguy cơ được kiểm soát thì cũngkhông tạo ra nguy cơ
2 Đặc điểm của các yếu tố nguy cơ sức khỏe môi trường
Các yếu tố nguy cơ sức khoẻ môi trường có thể có nguồn gốc tự nhiên và nhântạo Chúng bao gồm các yếu tố nguy cơ sinh học (vi khuẩn, virus, động vật ký
Trang 2sinh…), các yếu tố nguy cơ hoá học (kim loại độc hại, các chất gây ô nhiễmkhông khí, các dung dịch thuốc bảo vệ thực vật), các yếu tố nguy cơ cơ học( xe ôtô, các trò chơi thể thao, nhà ở…), và các nguy cơ tâm lý xã hội (phânbiệt đối xử nơi làm việc, các biến động xã hội, thất nghiệp…) đều có khả nănggây ra những ảnh hưởng lớn lên sức khoẻ con người.
2.1 Yếu tố nguy cơ sinh học:
Các loại yếu tố nguy cơ sinh học:
Các yếu tố nguy cơ sinh học bao gồm tất cả các dạng của sự sống cũng như cácsản phẩm của chúng mà có thể gây ảnh hưởng xấu lê sức khỏe Những yếu tốnguy cơ này bao gồm các loài thực vật, côn trùng, động vật gặm nhấm và cácđộng vật khác, tảo, nấm, vi khuẩn, virus và rất nhiều các độc tố và chất gây dịứng
Những ảnh hưởng sức khỏe do phơi nhiễm vi sinh vật và các động vật ký sinh
là vấn đề sức khỏe môi trường quan trọng và sự xuất hiện bùng phát các dịchbệnh này cũng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trường
Những vi sinh vật đựơc quan tâm trong lĩnh vực sức khoẻ môi trường bao gồm
vi khuẩn, virus và động vật nguyên sinh Hầu hết các vi sinh vật và các động,thực vật ký sinh gây bệnh ở người đòi hỏi sinh trưởng trong cơ thể con người
Vi khuẩn và động vật nguyên sinh có thể sống và sinh sản ngoài tế bào sống,còn virus thì không thể sinh sản ngoài tế bào sống Nhiều bệnh do vi sinh vậtgây ra truyền trực tiếp từ người này sang người khác được xem như những yếu
tố nguy cơ sức khỏe môi trường từ người sang người Năm bệnh truyễn nhiễmchính gây tử vong trên thế giới là: viêm đường hô hấp cấp tính, tiêu chảy, lao,sốt rét, sởi Một số vi khuẩn và vi sinh vật ký sinh sản xuất ra các độc tố ảnhhưởng đến sức khỏe con người (hầu hết các trường hợp ngộ độc thực phẩm là
do các độc tố sản sinh từ các vi khuẩn có trong thức ăn) Sự khác nhau giữanhiễm trùng và phản ứng độc tố là rất quan trọng Các bệnh ngộ độc do các độc
tố của vi khuẩn không được gọi là bệnh truyền nhiễm Những bệnh này không
Trang 3lây lan từ người này sang người khác mà chỉ giới hạn ở những người ăn thức
ăn bị nhiễm bẩn Như vậy sẽ không có yếu tố nguy cơ kéo theo cho nhữngngười khác trong trường hợp bệnh gây ra bởi độc tố
Sự phát tán các yếu tố nguy cơ sinh học:
Các yếu tố nguy cơ sinh học có thể phát tán trong môi trường thông qua rấtnhiều phương thức: qua nước, đất, không khí Ngoài ra người ta còn nhận thấyrằng có một số động vật ký sinh chỉ có thể phát tán trong một điều kiện khí hậunhất định do các vật chủ trung gian truyền bệnh chỉ sống ở những khu vực khíhậu này (Ví dụ: sốt rét, sán máng, giun chỉ chỉ gây bệnh ở vùng nhiệt đới).Những thay đổi của môi trường và những can thiệp làm mất cân bằng sinh thái
có thể có ảnh hưởng rất lớn trong việc lây lan các bệnh truyền nhiễm
Các đường phơi nhiễm:
Các đường phơi nhiễm môi trường chính đối với các yếu tố nguy cơ sinh học làqua không khí, nước và thực phẩm Một số động vật ký sinh vào cơ thể thôngqua da, một số khác thông qua các vết cắn của động vật, vết đốt của côn trùng
Vi khuẩn và động vật ký sinh có thể lây lan từ đất bị nhiễm bẩn lên da, qua bụitrong không khí vào cơ thể con người Sự tiếp xúc giữa người với người là conđường lây nhiễm quan trọng làm lây lan các yếu tố nguy cơ sinh học
Vấn đề sức khỏe môi trường lớn nhất do các yếu tố nguy cơ sinh học là sựlây lan các vi khuẩn trong phân từ người bệnh sang người khác thông qua môitrường nước Các bệnh hay gặp chủ yếu là các bệnh về tiêu hóa Sự lây lan visinh vật trong không khí là nguyên nhân chủ yếu làm phát tán các bệnh vềđường hô hấp và thông thường so các hạt bụi nhỏ bắn ra khi ho hay hắt hơi
2.2 Yếu tố nguy cơ hóa học:
Các yếu tố nguy cơ hoá học:
Kể từ đầu thế kỷ 20 đã có khoảng 10 triệu chất hoá học khác nhau được tổnghợp trong phòng thí nghiệm Khoảng 1% trong số này được sản xuất để đưa rathị trường sử dụng trực tiếp, còn hầu hết các chất khác được sử dụng làm các
Trang 4chất trung gian để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ đới sống con người Ở mộtchừng mực nào đó thì tất cả các chất hoá học đều độc hại và các nguy cơ vềsức khoẻ phụ thuộc vào độc tính và thời gian phơi nhiễm Tuy nhiên đến naythì hầu hết các hoá chất chưa được kiểm tra một cấch đầy đủ để xác định độctính của chúng.
Hoá chất được phân loại theo 2 nhóm: các chất vô cơ và các chất hữu cơ
- Các chất vô cơ:
Halogen là các nguyên tố khi phản ứng với kim loại tạo thành các muối Cáchalogen ở dạng nguyên tố hay hợp chất đều có tính độc nhất định Triệu chứngchính của việc hít thở phải các halogen (trừ các hợp chất halogen hữu cơ) làgây kích thích đường hô hấp và mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào nồng độ Các hợp chất ăn mòn bao gồm các chất kiềm hay axit Những hợp chất này gâykích thích ăn mòn ở các mô như da, mắt, hô hấp, tiêu hoá…
Các kim loại như mangan, đồng, chì, thuỷ ngân, asen…là các kim loại độc hại
và tồn tại bền vững trong môi trường Sự tồn tại trong môi trường và mức độđộc hại của câc kim loại này phụ thuộc nhiều vào trạng thái vật lý và hoá họccủa chúng
- Các hợp chất hữu cơ:
Các hydrocacbon: Tính độc của các hydrocacbon phụ thuộc vào số lượngnguyên tử cácbon trong chuỗi, cấu trúc no hay không no, dạng vòng hay mạchthẳng…
Các hydrocacbon chứa halogen: là một trong những nhóm hoá chất hay được
sử dụng trong công nghiệp Các triệu chứng cũng như các tổn thương mà nhómchất này gây nên đối với cơ thể là rất đa dạng
Rượu là các hydrocacbon có độc tính đối với một số cơ quan và rõ nhất là hệthần kinh trung ương Ví dụ hội chứng rượu ở bào thai là một rối loạn ở trẻ emtrước khi sinh ra do người mẹ uống rượu khi đang mang thai Các ảnh hưởngmãn tính do uống rượu methanol gây ra bao gồm mờ mắt và cuối cùng dẫn tới
mù Đây là trường hợp rất phổ biến khi uống rượu mua ở những cửa hàng
Trang 5không có giấy phép và rượu bị nhiễm bẩn Những rượu có khối lượng phân tửlớn hơn có thể gây viêm da.
Glycol và các dẫn xuất được sử dụng nhiều trong làm chất chống đông và trong
y học thì làm chất gây mê và gây ảnh hưởng lên da
Các dung môi hữu cơ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và dẫn tới nguy
cơ phơi nhiễm cao cho công dân Trong số những dung môi này có nhiều loạirất độc, tồn dư lâu trong môi trường và đã được chứng minh hoặc bị nghi ngờ
là các chất gây ung thư
Các đường phơi nhiễm
Phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ hoá học có thể xảy ra theo nhiều con đườngkhác nhau như: hít thở, ăn uống, thấm nhiễm từ da, mắt, tiêm truyền, qua nhauthai từ mẹ sang con và thâm nhiễm trực tiếp vào cơ quan đích trong cơ thể từsữa mẹ sang con Ở trong môi trường xung quanh thì con đương phơi nhiễmchủ yếu nhất của các yếu tố nguy cơ hoá học là đường tiêu hoá Trong môitrường lao động thì do bản chất của sự phơi nhiễm, thời gian làm việc và đặctính của các hoá chất mà hô hấp là con đường phơi nhiễm quan trọng nhất, tiếpđến là qua da và sau cùng là đường tiêu hoá
2.3 Yếu tố nguy cơ vật lý:
Các yếu tố nguy cơ vật lý là các dạng năng lượng có hại tiềm tàng trong môitrường mà có thể gây ra các tổn thương tức thời hoặc từ từ khi nó được truyềntới cá thể bị phơi nhiễm một lượng đủ mạnh Các yếu tố nguy cơ vật lý có thểđược tạo thành từ dạng năng lượng tự nhiên hoặc nhân tạo Có rất nhiều dạngnăng lượng khác nhau có thể tạo ra yếu tố nguy cơ vật lý như: sóng âm, phóng
xạ, quang năng, nhiệt năng và điện năng Tiếng ồn, phóng xạ, nhiệt là các ví dụđiển hình về yếu tố nguy cơ vật lý Chúng có thể gây ra những ảnh hưởng sứckhoẻ trong điều kiện phơi nhiễm tự nhiên Tuy nhiên trong công tác quản lýsức khoẻ môi trường thì các tình huống phơi nhiễm nhân tạo là quan trọngnhất
Trang 6Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ sinh học, hoá học và vật lý theo các con đường phơi
nhiễm (nguồn: Schaefer, 1991)
Yếu tố nguy cơsinh học
Yếu tố nguy cơhóa học Yếu tố nguy cơ vật lý
Khí hậu, các phơi nhiễm
do không được bảo vệĐường
phơi nhiễm Hít thở, tiếp xúc Hít thở, tiếp xúc
Hít thở, sự thấm nhiễm trực tiếp qua cơ thể
Nước thải, chôn lấp rác và các chất ngấm qua đất vào trong nước
Chất phóng xạ, nhiệt ở các nhà máy nhiệt điện
Véc tơ
Côn trùng, động vật gặm nhấm, ốc, phân, chất thải động vật, chuỗi thức ăn
Nước và thực phẩm
bị ô nhiễm
Các tai nạn, thực phẩm vànước bị ô nhiễm
Đường
phơi nhiễm
Các vết cắn, đường tiêu hoá, tiếp xúc Tiếp xúc, tiêu hoá Đường tiêu hoá, tiếp xúc
Các chất hữu cơ phânhuỷ tạo điều kiện chocác véc tơ phát triển
Làm ô nhiễm thực phẩm và nước ngầm
Các tai nạn, ô nhiễm thựcphẩm và nước ngầmĐường
phơi nhiễm
Tiếp xúc, các vết cắn,đốt
Tiêu hoá (ăn), tiếp xúc
Tiếp xúc, qua đường tiêu hóa
2.4 Yếu tố nguy cơ tâm lý xã hội.
Tình trạng mệt mỏi không rõ ràng, cảm giác lo lắng, không làm chủ được
bản thân hoặc không kiểm soát được môi trường có thể dẫn tới hiện tượng căng
Trang 7thẳng (stress) Stress có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với sức khoẻnhư tình trạng buồn chán, gây bạo lực với người khác, các bệnh về căng thẳngthần kinh và tình trạng bất ổn Các yếu tố nguy cơ tâm lý xã hội là các yếu tốtạo ra một môi trường xã hội không ổn định, lo lắng và không kiểm soát được.Môi trường làm việc, môi trường sống: thành thị, nông thôn, tập thể…đều cónhững tác động nhất định lên tâm lý con người.
Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ sức khoẻ môi trường truyền thống và các yếu tốnguy cơ sức khoẻ môi trường hiện đại
Các yếu tố nguy cơ sức khoẻ trong
môi trường truyền thống
Các yếu tố nguy cơ sức khoẻ trong môitrường hiện đại
Các vật chủ trung gian truyền bệnh
Các yếu tố lây nhiễm
Nhà ở không đảm bảo
Chất lượng vệ sinh môi trường và
nước không đảm bảo
Ô nhiễm không khí trong nhà do các
hoạt động đun nấu
Chế độ ăn thiếu các chất dinh dưỡng
Các yếu tố nguy cơ khi sinh con
Các động vật nuôi và động vật hoang
dã
Các yếu tố nguy cơ gây chấn thương
trong nông nghiệp
Hút thuốc láCác yếu tố nguy cơ từ hoạt động giao thông
Ô nhiễm từ nước thải, rác thải và công nghiệp
Ô nhiễm môi trường không khí do các hoạt động công nghiệp, xe ôtô, xe máy…Lạm dụng hoá chất và sử dụng hoá chất không mục đích
Các thiết bị máy móc dùng trong công nghiệp
Ăn uống không khoa học (mất cân bằng các chất dinh dưỡng)
Các stress tâm lý
3 Lượng giá nguy cơ sức khoẻ và khung quản lý nguy cơ.
Mục tiêu chính của nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ môitrường và sức khoẻ con người là để làm cơ sở cho việc thực hiện các hoạt độngcần thiết nhằm giảm thiểu loại trừ những yếu tố nguy cơ này hoặc giảm thiểu
Trang 8các tác hại của chúng Quá trình này được gọi là quản lý nguy cơ Nhưng đểthực hiện những công việc này thì trước tiên cần tiến hành nhận biết các nguy
cơ và mô tả được đặc điểm của chúng Quá trình phân tích những ảnh hưởngtiềm tàng lên đối tượng phơi nhiễm với các chất và những yếu tố nguy cơ tiềmtàng khác là một dạng của lượng giá nguy cơ
3.1 Lượng giá nguy cơ:
3.1.1 Giới thiệu về lượng giá nguy cơ
Có khá nhiều yếu tố bình thường vẫn tồn tại trong môi trường nhưng trởthành yếu tố nguy cơ với sức khoẻ một khi vượt qua giới hạn cho phép Lượnggiá nguy cơ giúp xác định được mức độ ô nhiễm, mức độ nguy cơ Để lượnggiá nguy cơ cần phải so sánh mức độ ô nhiễm với các tiêu chuẩn hoặc các bảngchỉ dẫn của các ngành, bộ liên quan đã ban hành Việc sử dụng tiêu chuẩn nàocũng đều dựa trên căn cứ:
- Cơ sở khoa học: đảm bảo mức tiếp xúc tối đa cho mọi đối tượng trong cộngđồng không bị ảnh hưởng cấp tính hay mạn tính
- Khả năng kiểm soát môi trường
- Khả năng thực thi và giám sát thực thi dựa trên các tiêu chuẩn
Nếu sử dụng một tiêu chuẩn với độ an toàn cao, khả năng kiểm soát ônhiễm, áp dụng các tiêu chuẩn trong thực tế khó khăn thì hiệu quả của việc ápdụng tiêu chuẩn đó nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng khó có tính khả thi.Tương tự như trường hợp đưa ra một luật lệ mà khả năng áp dụng luật đókhông được thì luật đó không có hiệu quả
3.1.2 Những khó khăn của việc lượng giá nguy cơ:
Trên thực tế việc lượng giá nguy cơ gặp không ít khó khăn về kỹ thuật, quytrình, nhưng khó khăn hơn là sẽ sử dụng kết quả lượng giá đó như thế nàotrong quá trình đưa ra quyết định xử lý Điều này khá rõ ràng khi chúng ta thấymôi trường bị ô nhiễm nặng nề, rất nhiều nguy cơ từ môi trường đã được xácđịnh, song không thể đưa ra một giải pháp nào, không phải vì không tìm đựơc
Trang 9giải pháp mà chọn giải pháp nào khả thi, không để khi áp dụng một giải phápthì hậu quả của giải pháp đó lại mang các ảnh hưởng khác đến điều kiện kinh tế
xã hội của cộng đồng, từ đó lại gây ra các hậu quả sức khoẻ khác, tạo ra cácnguy cơ mới
Một điểm đáng lưu ý khác khi xác định nguy cơ là việc đo đạc mức độ ônhiễm môi trường không phải là việc dễ dàng
Thứ nhất, về mặt kỹ thuật: Có rất nhiều yếu tố ô nhiễm khó xác định, cần
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Nếu biết yếu tố ô nhiễm là gì, phảichọn kỹ thuật đo đạc đủ nhạy Nếu chưa biết yếu tố phơi nhiễm là gì thì phảitiến hành các nghiên cứu dịch tễ học để sàng lọc, tìm ra các yếu tố nguy cơ đểsau đó đo lường mức độ ô nhiễm
Thứ hai, về mặt nhận định kết quả: đối chiếu kết quả với tiêu chuẩn: quyluật ô nhiễm của một yếu tố trong môi trường rất khác nhau Để đo lường mức
độ ô nhiễm đòi hỏi kỹ thuật phải có độ nhạy và độ đặc hiệu nhất định Thêmvào đó, sai số trong quá trình phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm có thểkhông lớn bằng các sai số khi lấy mẫu Chỉ cần đặt mẫu sai vị trí, số mẫu ít,thời điểm lấy mẫu không đúng, không đủ thời gian thì sai số có thể gặp rấtnhiều lần, có khi tới hàng trăm lần so với mức độ thực, trong khi mức sai sốtrong khâu phân tích mẫu chỉ ở mức vài phần ngàn, phần trăm hoặc phần mười.Đối với các yếu tố ô nhiễm trong môi trường lao động thường có mức giớihạn tối đa cho phép cao hơn với cùng chất đó cho môi trường sinh hoạt Domôi trường sinh hoạt là nơi người ta phải sống ở đó không chỉ trong thời gianlàm việc (như môi trường lao động) và đối tượng tiếp xúc là toàn bộ dân cư,trong đó có trẻ em, phụ nữ, người già, những người không khoẻ mạnh là cácđối tượng dễ bị ảnh hưởng hơn Trường hợp các cơ sở sản xuất tại khu dân cưhoặc ngay trong nhà ở, khi đối chiếu mức độ ô nhiễm thì phải so sánh với tiêuchuẩn cho môi trường sinh hoạt
Trong thời kỳ phát triển công nghệ nhanh chóng và đa dạng cùng vớinhững quy định bí mật công nghệ, việc nhà sản xuất hoặc người phân phối
Trang 10hàng hoá không sẵn lòng cung cấp thông tin về các yếu tố có thể có hại cho sứckhoẻ nên việc xác định, đo lường nguy cơ ô nhiễm rất khó khăn Để khắc phụcđiều này không chỉ có các giải pháp kỹ thuật, tài chính mà còn cần củng cố hệthống pháp luật và hệ thống thanh tra môi trường.
3.1.3 Các bước lượng giá nguy cơ.
Xác định các yếu tố nguy cơ: dựa vào kết quả của các nghiên cứu độc chấthọc và nghiên cứu dịch tễ học Bước xác định yếu tố nguy cơ có thể baogồm việc mô tả cách thức các chất sẽ phản ứng như thế nào khi vào trong
cơ thể và sự tương tác của chúng tại các cơ quan, tế bào và phân tử Nhữngnghiên cứu này có thể xác định các ảnh hưởng độc hại tiềm tàng trong điềukiện thí nghiệm Xác định yếu tố nguy cơ có thể được xem như là một mô
tả định tính về những ảnh hưởng sức khoẻ tiềm tàng
Lượng giá liều- đáp ứng (dose- response assessment): Đây là bước sử dụngcác thông tin khoa học để mô tả và định lượng mối quan hệ giữa phơinhiễm và liều hấp thu cũng như mối liên quan của nó với nguy cơ sức khoẻ.Điều quan trọng trong bước này là chọn phương pháp xử lý số liệu hợp lý
Lượng giá phơi nhiễm: Là bước tính toán sự phơi nhiễm, xác định cácnguồn phơi nhiễm, ước luợng sự hấp thu vào cơ thể từ nhiều con đườngphơi nhiễm khác nhau và thu thập thông tin nhân khẩu học để xác địnhnhóm người bị phơi nhiễm Nên thu thập số liệu thực địa từ hệ thống quantrắc và giám sát môi trường để đánh giá chất lượng môi trường Nếu không
có sẵn số liệu quan trắc thì có thể tính hoặc ước lượng sự phát thải tạinguồn và mức phơi nhiễm dựa vào các mô hình tính toán chỉ rõ các chấtphát thải được vận chuyển trong môi trường không khí, nước và đất như thếnào Việc sử dụng kết hợp các số liệu này có thể giúp đưa ra một ước lượngkhá chính xác mức phơi nhiễm của những người tiếp xúc với chất ô nhiễm
Mô tả nguy cơ: Là sự kết hợp của cả ba bước trên trong quá trình lượng giánguy cơ Một cách lý tưởng thì bước này đưa ra được ước tính định lượng
Trang 11về nguy cơ mà quần thể phơi nhiễm sẽ phải gánh chịu, hoặc ước tính nguy
cơ tiềm tàng dưới nhiều tình huống phơi nhiễm khác nhau Đặc biệt cần
phải đưa ra được các ước lượng khác nhau sử dụng các giả định và các
phương pháp thống kê khác nhau để xác định độ nhạy cảm của các ước
lượng đối với những giả định trong mô hình Nếu nhiều nguy cơ sức khoẻ
có khả năng xảy ra thì phải mô tả từng nguy cơ riêng biệt Những phơi
nhiễm hay những yếu tố khác góp phần gây ảnh hưởng lên sức khoẻ cũng
cần được xác định và mô tả
Khi đã mô tả được nguy cơ sức khoẻ gây ra bởi một yếu tố nguy cơ sức
khoẻ môi trường nào đó thì cần đưa ra các quyết định về giải pháp can thiệp
Các cơ quan luật pháp có thể xây dựng những phương án kiểm soát bằng luật
lệ, đánh giá tác động của mỗi phương án về mặt sức khoẻ cộng đồng, kinh tế,
xã hội, chính trị và thi hành những quyết định này Những quyết định và hành
động này chính là cốt lõi của quá trình quản lý nguy cơ
NGHIÊN CỨU LƯỢNG GIÁ NGUY CƠ
4 Mô tả nguy cơ
(Uớc tính nguy cơsức khoẻ đối vớicộng đồng phơinhiễm)
Quản lý nguy cơ
(Xây dựng, đánh giá
và triển khai cácgiải pháp can thiệp
để kiểm soát vàgiảm nguy cơ)
Các nghiên cứu thực địa và
trong phòng thí nghiệm về
những ảnh hưởng tiêu cực
tới sức khoẻ do phơi nhiễm
với một yếu tố nào đó
1 Xác định yếu tố nguy cơ
(Yếu tố này có thể gây ranhững ảnh hưởng nào đếnsức khoẻ?)
Nghiên cứu định lượng
liều- đáp ứng với liều từ
thấp tới cao và từ động vật
tới con người
2 Lượng giá liều- đáp ứng
(Xác định mối liên quangiữa liều và những ảnhhưởng lên sức khoẻ connguời)
Đo đạc thực địa để ước tính
mức phơi nhiễm trong quần
thể nghiên cứu
3.Lượng giá phơi nhiễm
(Xác định liều phơi nhiễmđang hoặc sẽ xảy ra dưới các
Trang 12điều kiện khác nhau)
Sơ đồ các bước lượng giá nguy cơ
3.1.4 Các phương pháp lượng giá nguy cơ:
Để lượng giá nguy cơ môi trường, người ta có thể sử dụng phương phápđịnh tính và/hoặc định lượng để xác định xem mức độ trầm trọng của nguy cơ,liệu nguy cơ đó có cần phải giải quyết hay không và trong một bối cảnh cónhiều nguy cơ đe dọa sức khoẻ của cộng đồng Việc lượng giá nguy cơ gópphần giúp các nhà hoạch định chính sách, các bên liên quan đưa ra quyết địnhxem nguy cơ nào cần ưu tiên giải quyết, nguy cơ nào có thể tạm thời chưa gảiquyết khi nguồn lực còn hạn chế
a Sử dụng phương pháp định tính để lượng giá nguy cơ
Phương pháp định tính sử dụng để lượng giá nguy cơ thông qua sự đánh giámột cách định tính về các hậu quả có thể có do nguy cơ đó gây nên và khảnăng xảy ra của nguy cơ đó
Bảng 3 Các mức độ định tính để đo lường các hậu quả của nguy cơ
1 Thảm khốc Chết người, ngộ độc, thiệt hại ghê gớm về tài chính
2 Lớn Chấn thương, giảm khả năng lao động, thiệt hại lớn về
tài chính
3 Trung bình Cần có can thiệp y học, có thiệt hại về tài chính
4 Nhỏ Cần sơ cứu, tiểu phẫu, thiệt hại nhỏ về tài chính
5 Không rõ ràng Không có bệnh, chấn thương, thiệt hại tài chính không
đáng kể
Bảng 4 Các mức độ định tính đo lường khả năng xảy ra của nguy cơ:
Trang 13A Chắc chắn xảy ra Được cho là sẽ xảy ra ở mọi hoàn cảnh
B Gần như chắc chắn sẽ xảy ra Có thể xảy ra ở mọi hoàn cảnh
D Chưa chắc chắn có xảy ra
hay không
Có thể xảy ra nhưng không chắc chắn
E Hiếm khi xảy ra Chỉ có thể xảy ra trong một vài trường
Trong đó các mức độ nguy cơ được diễn giải như sau:
E (Extreme): Nguy cơ nghiêm trọng, cần phải giải quyết ngay
H (High): Nguy cơ cao, cần có sự quan tâm đặc biệt
M (Moderate): Nguy cơ trung bình, có trách nhiệm phải quản lý
Trang 14L (Low): Nguy cơ thấp, có thể được quản lý bằng quy trình thường quy
Việc lượng giá nguy cơ bằng phương pháp định tính do dựa vào đánh giáchủ quan của các bên liên quan nên thiếu tính chính khách quan Mặc dù đánh giá
về khả năng xảy ra và tính nghiêm trọng của các hậu quả do nguy cơ có thể gây ra
có thể được dựa trên bằng chứng của các báo cáo trước đây, các nghiên cứu vềliều- đáp ứng, liều hậu quả… Tuy nhiên việc đưa ra tiêu chí cao hay thấp hoàntoàn phụ thuộc vào ưu tiên giải quyết và khả năng tài chính trong bối cảnh quản lýnguy cơ hiện tại
Bảng 6 Mã hoá các mức độ lượng giá nguy cơ:
Chấn thương, bệnh, thiệt hại không đáng kể 1
Thỉnh thoảng (từ 1 tháng/lần đến 1 tuần/lần) 3
Khó có thể xảy ra (chưa từng nghe nói có xảy ra) 0.5
3 Khả
năng
xảy ra
Có thể xảy ra một cách trùng hợp, không thường xuyên 3
Chưa xảy ra sau nhiều năm phơi nhiễm, tuy nhiên có thể 0.5
Trang 15Trong đó: R: Điểm nguy cơ E: Tình trạng phơi nhiễm
C: Hậu quả có thể xảy ra P: Khả năng xảy ra củanguy cơ
b Lượng giá nguy cơ bằng phương pháp định lượng
Các nghiên cứu dịch tễ học đóng vai trò quan trọng trong việc lượng giánguy cơ định lượng này Các nghiên cứu về mối quan hệ nguyên nhân- hậu quả
sẽ chỉ ra một yếu tố nguy cơ (hoá chất, sinh học…) có thể gây ra các nguy cơnhư thế nào cho một cộng đồng, đặc biệt là ảnh hưởng lên sức khoẻ Cácnghiên cứu dạng giám sát sinh học có thể chỉ ra mức tăng đột biến cần phảigiải quyết của một hoá chất hoặc một chất độc nào đó trong môi trường Cácthông tin định lượng thu được sẽ được đối chiếu với các tiêu chuẩn, cácngưỡng cho phép theo quy định để xác định mức độ của nguy cơ
c Lượng giá nguy cơ bằng phương pháp bán định lượng (semi-quantitative)Việc lượng giá nguy cơ bằng phương pháp bán định lượng có nghĩa là sửdụng các bằng chứng, thông tin từ các phương pháp nghiên cứu định lượng dựavào thang phân loại để đánh giá nguy cơ Các số liệu định lượng thu nhập từcác nghiên cứu dịch tễ học sẽ được mã hoá theo các tiêu chuẩn định sẵn Từcác mã chuẩn về hậu quả, số người phơi nhiễm và khả năng xảy ra của nguy cơ
từ đó có thể lượng giá được mức độ của nguy cơ
3.2 Quản lý nguy cơ
Quản lý các yếu tố nguy cơ môi trường có hại cho sức khoẻ là xác định mức độcủa nguy cơ và nếu xác định nguy cơ đó là cần thiết phải phòng chống thì đề racác giải pháp để phòng chống các tác hại từ ô nhiễm môi trường, quá trìnhquản lý nguy cơ bao gồm các bước chính sau:
Trang 16- Lượng hoá mức độ ô nhiễm
- Nhận thức và chuyển tải các thông tin về tình trạng ô nhiễm
- Dự phòng và kiểm soát tình trạng tiếp xúc quá mức
- Theo dõi và giám sát các nguy cơ ô nhiễm môi trường
Quản lý nguy cơ là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự tham gia của nhiềungành, nhiều bên liên quan ngay từ bước xác định vấn đề và lựa chọn nguy cơ
ưu tiên cần phải giải quyết Quản lý nguy cơ môi trường khác các dạng quản lýnguy cơ khác do nó có mang đầy đủ các đặc điểm phản ánh bản chất phức tạpcủa môi trường
Một ví dụ để chứng minh tính phức tạp trong việc xác định các nguy cơ từ môitrường là ngộ độc chì Rất khó để có thể xác định nguồn phơi nhiễm chính trênmột bệnh nhân bị ngộ độc chì Các nguồn có thể là do khí xả động cơ của cácphương tiện giao thông sử dụng xăng pha chì, có thể nguồn thức ăn bị nhiễmchì, nguồn nước nhiễm chì hoặc môi trường lao động có tiếp xúc với chì, hoặc
là do nhiều nguồn kết hợp lại
Chu trình quản lý nguy cơ được khái quát theo sơ đồ sau:
Các bên liên quan
Phân tích mức độnguy hiểm
Đánh giá can thiệp
Lựa chọn giải pháp
Tiến hành can thiệp
Ra quyết định can thiệp Xác định vấn đề
Trang 17Trước khi đưa ra các biện pháp phòng chống tác hại ô nhiễm môi trường, người taphải xác định xem:
- Yếu tố ô nhiễm là yếu tố nào?
- Những đặc trưng ô nhiễm đó là gì sau khi đã biết mối quan hệ giữa tiếp xúcvới những hậu quả đối với sức khoẻ cũng như tiếp xúc với quá trình thâmnhiễm, mức độ thâm nhiễm
Luợng giá nguy cơ
1, Xác định yếu tố nguy cơ
2, Lượng giá liều- đáp ứng Quản lý nguy cơ
3, Lượng giá phơi nhiễm 1, Đánh giá nguy cơ
2, Nhận thức và truyền thôngnguy cơ
3, Kiểm soát phơi nhiễm
4, Giám sát nguy cơ
4, Mô tả nguy cơ
Khung lượng giá và quản lý nguy cơ
4 Dự phòng phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ môi trường:
Một bộ phận quan trọng của quản lý nguy cơ là dự phòng và khống chế tiếpxúc với các yếu tố tác hại trong môi trường
Giống như các dây truyền dịch tễ học, khống chế yếu tố ô nhiễm môi trườngcũng bao gồm ba khâu:
- Khống chế nguồn gây ô nhiễm
- Ngăn chặn sự phát tán yếu tố gây ô nhiễm
- Bảo vệ những đối tượng tiếp xúc
Mức độ dự phòng được chia làm ba cấp độ như sau:
Dự phòng cấp 1: Bảo vệ khối cảm thụ, không tiếp xúc quá mức với các yếu tốnguy cơ để không bị bệnh
Trang 18Dự phòng cấp 2: Bảo vệ những người đã và đang tiếp xúc quá mức với các yếu
tố nguy cơ, không để các tổn thương dưới lâm sàng hoặc lâm snàg gây ra cáchậu quả lâu dài trên sức khoẻ (phát hiện sớm và xử trí đúng kịp thời)
Dự phòng cấp 3: Không để xảy ra các rủi ro, hậu quả gây chết người do ônhiễm môi trường
Trong y tế dự phòng, người ta chỉ chú ý đến dự phòng cấp 1 và dự phòng cấp
2, còn dự phòng cấp 3 thuộc về trách nhiệm của hệ thống khám chữa bệnh
Dự phòng cấp 1:
Các giải pháp dự phòng cấp 1 bao gồm:
Khống chế ô nhiễm tại nguồn phát sinh:
- Thay thế các yếu tố độc hại bằng các yếu tố không độc hại
- Thay thế các quy trình công nghệ phát sinh nhiều độc hại bằng các quytrình không phát sinh độc hại, ít phát sinh độc hại hơn hoặc quy trình côngnghệ phát sinh độc hại nhưng dễ khống chế sự lan toả các yếu tố độc hại ramôi trường xung quanh hơn
- Không để yếu tố độc hại phát sinh bằng thông gió thoáng khí
- Khống chế sự phát tán yếu tố độc hại vào môi trường sản xuất hoặc môitrường xung quanh:
+ Áp dụng biện pháp che chắn bao bọc, cách ly nguồn phát sinh ô nhiễm.+ Hút cục bộ hoặc tạo ra các mảng hút, hấp thụ yếu tố ô nhiễm tại nguồn
Bảo vệ người tiếp xúc
- Sử dụng các trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân phòng chống tác hại từmôi trường
- Giáo dục sức khoẻ môi trường cho cộng đồng
- Các giải pháp tổ chức hành chính
4.1 Khống chế ô nhiễm tại nguồn phát sinh:
Thay thế các nguyên liệu, nhiên liệu phát sinh độc hại bằng nguyên liệunhiên liệu ít độc hại hơn hay hoàn toàn vô hại sẽ giải quyết tận gốc nguồn ô