1. ĐẤT 1.1. Đất phù sa ven sông Tại Đồng Nai, đất phù sa (chiếm khoảng 9.32%) phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Đây là loại đất tốt, có độ phì nhiêu cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả… Tính chất đất phù sa ven sông: Đất phù sa có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, trong đó cấp hạt sét là chủ yếu (4555%), cấp hạt cát gần gấp đôi cấp hạt limon. Đất phù sa là đất chua đến rất chua, đặc biệt đất phù sa gley rất chua, có trị số pH (KCl) xấp xỉ 3,2 – 3,7. Đất phù sa có cation trao đổi tương đối cao (Ca2+, Mg2+, Na+), có CEC tương đối cao. Đất phù sa gley rất giàu chất hữu cơ, giàu kali, đạm nhưng lại nghèo lân tổng số và lân dễ tiêu. 1.2. Đất đen bazan Diện tích 22.707 ha, chiếm 23,4% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố tập trung dọc hai bên bờ sông Đồng Nai thuộc các xã Phú Lợi, Phú Tân, Phú Vinh và Thanh Sơn. Đất được hình thành từ đá bọt Bazan, giàu kiềm nên thường có màu đen, rất giàu đạm (0,12 – 0,35%), mùn (2,0 – 4,0%), lân (0,1 – 0,4%). Mặt khác dung lượng trao đổi chất dinh dưỡng trong đất và độ no bazơ rất cao (đạt 30 – 40me100g sét và 50 – 80%) nên rất thuận lợi để khai thác trồng nhiều loại cây ăn quả. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số trong đất đen tương đối cao và giảm chậm theo chiều sâu phẫu diện. Ở độ sâu 80 – 100cm hàm lượng chất hữu cơ vẫn đạt 1,6 – 1,7%, đạm tổng số từ 0,10 – 0,11%, lân tổng số rất giàu. Riêng kali tổng số nghèo (0,5 – 1,0%) là do bản chất của đá bazan nghèo kali. Vì hàm lượng kali trong đất thường nghèo (chỉ đạt 0,06 – 0,5%), lại ở các dạng địa hình cao nên rất dễ bị rửa trôi, cần chú trọng đến các biện pháp làm đất và che phủ đất chống xói mòn. Khả năng sử dụng: đây là loại đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng và cây ăn trái nhưng việc bố trí cây ăn trái phải tùy thuộc vào địa hình và độ dày tầng đất. Tuy nhiên, hạn chế chính của nhóm đất này trên địa bàn huyện là trên 52% diện tích có tầng rất mỏng < 30cm (11.807 ha) và 38% diện tích có tầng mỏng từ 30 – 50cm (8.628 ha), ít thích hợp cho cây trồng lâu năm, kể cả các loại cây ăn trái. Hiện trạng trên đất tầng mỏng người dân đang trồng bắp, đậu nành, thuốc lá và trên đất tầng dày trồng cà phê, cây ăn trái. Nhìn chung về hình thái đất đen trên bazan đều có đặc điểm chung là tầng đất rất mỏng, trong phẫu diện lẫn rất nhiều mảnh đá vụn hoặc kết von, nhiều nơi tầng đất mịn chỉ sâu vài cm và trên bề mặt đất có rất nhiều đá lộ đầu, có nơi tạo thành cụm dày đặc. Những thuận lợi: độ phì nhiêu rất cao, các chất dinh dưỡng rất cân đối ngoài trừ kali, cấu trúc đoàn lạp tơi xốp. Những hạn chế: tầng đất thường rất mỏng, lẫn nhiều đá và kết von, nhiều đá lộ đầu. 2. CÂY MÍT 2.1. Giới thiệu Cây Mít có tên khoa học là Artocarpus integrifolia, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), là loại cây ăn quả, mọc phổ biến ở các nước châu Á ( Ấn Độ, Việt Nam, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia, Philippines.. ) và Brasil. Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15m, ra quả sau ba năm tuổi. Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào giữa và cuối mùa hè (tháng 78). Quả Mít là loại quả phức, hình bầu dục, chứa nhiều đường, có giá trị thương mại lớn, được sử dụng trong ẩm thực ở các nước Đông Nam Á. Gỗ của cây mít thuộc gỗ nhóm IV, đôi khi được sử dụng để sản xuất các dụng cụ âm nhạc như các loại mộc cầm, là một phần của gamelan ở Indonesia, tạc tượng thờ trong các đền chùa. Ở Việt Nam, cây mít được trồng phổ biến ở các vùng nông thôn với nhiều loại như mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản của miền Nam) … ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc. Mít có thể trồng hầu hết các nơi, kể cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng. Vùng đồng bằng, vùng trũng chỉ trồng mít ở những chân đất có đê bao vững vàng và phải vun mô cao 0,3m0,8m tùy mức thủy cấp cao thấp. Miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng đồi núi miền Trung đổ ra các tỉnh phía Bắc đều có thể quy hoạch trồng cây Mít nghệ cao sản kết hợp chăn nuôi, thủy sản và công nghệ chế biến.
Trang 1CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU, MÔI TRƯỜNG ĐẤT, KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY MÍT TRÊN NỀN ĐẤT PHÙ SA VEN SÔNG, ĐẤT ĐEN BAZAN.
1 ĐẤT
1.1 Đất phù sa ven sông
Tại Đồng Nai, đất phù sa (chiếm khoảng 9.32%) phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà Đây là loại đất tốt, có độ phì nhiêu cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…
Tính chất đất phù sa ven sông:
- Đất phù sa có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, trong đó cấp hạt sét là chủ yếu (45-55%), cấp hạt cát gần gấp đôi cấp hạt limon
- Đất phù sa là đất chua đến rất chua, đặc biệt đất phù sa gley rất chua, có trị
số pH (KCl) xấp xỉ 3,2 – 3,7
- Đất phù sa có cation trao đổi tương đối cao (Ca2+, Mg2+, Na+), có CEC tương đối cao
- Đất phù sa gley rất giàu chất hữu cơ, giàu kali, đạm nhưng lại nghèo lân tổng số và lân dễ tiêu
1.2 Đất đen bazan
Diện tích 22.707 ha, chiếm 23,4% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố tập trung dọc hai bên bờ sông Đồng Nai thuộc các xã Phú Lợi, Phú Tân, Phú Vinh và Thanh Sơn Đất được hình thành từ đá bọt Bazan, giàu kiềm nên thường có màu đen, rất giàu đạm (0,12 – 0,35%), mùn (2,0 – 4,0%), lân (0,1 – 0,4%) Mặt khác dung lượng trao đổi chất dinh dưỡng trong đất và độ no bazơ rất cao (đạt 30 – 40me/100g sét và 50 – 80%) nên rất thuận lợi để khai thác trồng nhiều loại cây ăn quả
Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số trong đất đen tương đối cao và giảm chậm theo chiều sâu phẫu diện Ở độ sâu 80 – 100cm hàm lượng chất hữu cơ vẫn đạt 1,6 – 1,7%, đạm tổng số từ 0,10 – 0,11%, lân tổng số rất giàu Riêng kali tổng
số nghèo (0,5 – 1,0%) là do bản chất của đá bazan nghèo kali
Vì hàm lượng kali trong đất thường nghèo (chỉ đạt 0,06 – 0,5%), lại ở các dạng địa hình cao nên rất dễ bị rửa trôi, cần chú trọng đến các biện pháp làm đất và
Trang 2Khả năng sử dụng: đây là loại đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng và
cây ăn trái nhưng việc bố trí cây ăn trái phải tùy thuộc vào địa hình và độ dày tầng đất Tuy nhiên, hạn chế chính của nhóm đất này trên địa bàn huyện là trên 52% diện tích có tầng rất mỏng < 30cm (11.807 ha) và 38% diện tích có tầng mỏng từ
30 – 50cm (8.628 ha), ít thích hợp cho cây trồng lâu năm, kể cả các loại cây ăn trái Hiện trạng trên đất tầng mỏng người dân đang trồng bắp, đậu nành, thuốc lá và trên đất tầng dày trồng cà phê, cây ăn trái
Nhìn chung về hình thái đất đen trên bazan đều có đặc điểm chung là tầng đất rất mỏng, trong phẫu diện lẫn rất nhiều mảnh đá vụn hoặc kết von, nhiều nơi tầng đất mịn chỉ sâu vài cm và trên bề mặt đất có rất nhiều đá lộ đầu, có nơi tạo thành cụm dày đặc
Những thuận lợi: độ phì nhiêu rất cao, các chất dinh dưỡng rất cân đối ngoài
trừ kali, cấu trúc đoàn lạp tơi xốp
Những hạn chế: tầng đất thường rất mỏng, lẫn nhiều đá và kết von, nhiều đá
lộ đầu
2 CÂY MÍT
2.1 Giới thiệu
Cây Mít có tên khoa học là Artocarpus integrifolia, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), là loại cây ăn quả, mọc phổ biến ở các nước châu Á ( Ấn Độ, Việt
Nam, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia, Philippines ) và Brasil Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15m, ra quả sau ba năm tuổi Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào giữa và cuối mùa hè (tháng 7-8) Quả Mít là loại quả phức, hình bầu dục, chứa nhiều đường, có giá trị thương mại lớn, được sử dụng trong ẩm thực ở các nước Đông Nam Á Gỗ của cây mít thuộc gỗ nhóm IV, đôi khi được sử dụng để sản xuất các dụng cụ âm nhạc như các loại mộc cầm, là một phần của gamelan ở Indonesia, tạc tượng thờ trong các đền chùa
Trang 3Ở Việt Nam, cây mít được trồng phổ biến ở các vùng nông thôn với nhiều loại như mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản của miền Nam) … ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc
Mít có thể trồng hầu hết các nơi, kể cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng Vùng đồng bằng, vùng trũng chỉ trồng mít ở những chân đất có đê bao vững vàng
và phải vun mô cao 0,3m-0,8m tùy mức thủy cấp cao thấp Miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng đồi núi miền Trung đổ ra các tỉnh phía Bắc đều có thể quy hoạch trồng cây Mít nghệ cao sản kết hợp chăn nuôi, thủy sản và công nghệ chế biến
Quả mít to, dài chừng 30-60cm, đường kính 18-30cm, ngoài vỏ có gai Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được Múi mít chín ăn rất thơm ngon
Hạt mít cũng có giá trị lương thực như các loại hạt và củ khác, được nhân dân dùng chống đói trong những ngày giáp hạt Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng Nói chung protein và lipid của hạt mít khô tuy chưa bằng gạo, nhưng hơn hẳn khoai, sắn khô
Múi mít chín vàng óng đẹp mắt, ăn ngon ngọt, đặc biệt có hương thơm rất đặc trưng, được coi là thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng long đờm Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6-1,5% (tùy loại mít), glucid 11-14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như sắt, canxi, phospho…
Trang 4Mít là loại cây dễ tính được trồng nhiều nơi Nếu trồng đại trà thì phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật thích hợp để chi phí đầu tư thấp, đem lại hiệu quả kinh
tế cao nhất Hiện nay có nhiều giống mít tốt như: Mít nghệ cao sản, Mít ruột đỏ
Mít là giống cây ăn trái duy nhất có thể đóng vai trò cây rừng đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài
Tình hình cây mít ở Đồng Nai
Tại huyện Định Quán, Đồng Nai có trồng rải rác giống Mít nghệ cao sản, loại mít được chọn từ tổ hợp mít nghệ ở miền Nam, có giá trị kinh tế cao Giống Mít Nghệ đang được huyện quan tâm phát triển nhằm thâm canh cây mít, nâng cao năng suất và hiệu quả trồng mít
Sau 3 năm tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “Khảo sát tuyển chọn giống
và nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cây mít ráo tại tỉnh Đồng Nai”, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam bộ đã tuyển chọn được 8 dòng mít tốt vừa có khả năng làm nguyên liệu chế biến, vừa có khả năng ăn tươi, đồng thời đề xuất một số giải pháp về kỹ thuật thâm canh cây mít ráo nhằm canh tác đạt hiệu quả và năng suất cao Các cá thể này đều thuộc giống Mít Nghệ có năng suất cao và chất lượng vượt trội so với trung bình quần thể cùng tuổi
Theo kết quả điều tra, khảo sát, nhóm nghiên cứu khẳng định, Đồng Nai có khoảng 1.500 ha mít và được trồng rải rác trên toàn tỉnh Đa số những vườn mít trong tỉnh đều có quy mô nhỏ và trồng rải rác, thậm chí cả ở những vùng trồng nhiều mít như Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất và Xuân Lộc; kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế, đa số nhà vườn còn theo kiểu quảng canh, chưa có sự đầu tư kỹ thuật và vật tư thích đáng nên năng suất và hiệu quả còn thấp Hiện năng suất mít trung bình toàn tỉnh ước tính khoảng 14-16 tấn/ha, thấp hơn so với một số vùng khác Trong khi đó, mít ráo lại đang có nhu cầu tiêu thụ lớn Nếu được đầu tư thâm canh tốt sẽ đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân
Xuất phát từ thực tế đó, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam
bộ đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây mít ráo tại tỉnh Đồng Nai gồm:
Trang 5+ Phương pháp hỗ trợ nhân giống mít.
+ Mức độ bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ để cây đạt năng suất cao, chất lượng trái tốt nhất
+ Ảnh hưởng của một số chất sinh trưởng đến năng suất mít ráo
+ Các biện pháp tạo tán và tỉa cành cho thấy kiểu tán dù có số trái nhiều và năng suất cao đối với mít giai đoạn bắt đầu cho trái 4-5 năm tuổi…
+ Việc phòng trừ sâu đục trái trên mít chủ yếu 2 là loài Glyphodes caesalis
và Connogerthes punctiferalis.
+ Xây dựng mô hình thâm canh tổng hợp cây mít ráo giai đoạn kinh doanh Kết quả cho thấy, các biện pháp canh tác ở mô hình này giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao so với đối chứng canh tác của nông dân, chất lượng trái tốt
Đầu năm 2008, Trung tâm đã chuyển giao và xây dựng được vườn cây đầu dòng tại Công ty Cổ phần giống cây trồng Đồng Nai với diện tích 5.000m2
Được biết Trung tâm sẽ tiếp tục nhân giống và đưa các giống mới ra trồng khảo nghiệm ở những loại đất khác nhau giúp người nông dân trồng mít tăng năng suất, chất lượng, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Ngoài ra, từ cuối năm 2004, giống mít Viên Linh đã có mặt ở xã Bảo Quang – Long Khánh Đến nay đã có hơn 200 hộ nông dân của xã trồng giống mít này với diện tích hơn 100 ha Giống mít Viên Linh có xuất xứ từ Thái Lan, dễ trồng và chăm sóc cũng dễ hơn nhiều so với một số loại cây ăn trái khác, lại lớn rất nhanh Sau khoảng 2 đến 3 năm, cây cho rất nhiều trái, trọng lượng đạt bình quân từ 7 kg đến 10 kg/trái Đặc biệt có những trái rất lớn khoảng từ 15 đến 20 kg Trái mít Viên Linh có hình dáng đẹp, ít xơ, hương vị ngọt thanh vừa phải, mít trồng bằng gốc ghép sẽ cho thu hoạch sau 02 năm Mít Viên Linh là giống cây dễ trồng, không kén đất lại cho năng suất cao Loại mít này cho trái quanh năm, giá cả và đầu ra ổn định nên tạo được niềm tin cho người nông dân
Trang 6Được biết, 1 ha đất canh tác có thể trồng được gần 200 cây mít Viên Linh và chỉ hơn 1 năm sau cây bắt đầu cho trái bói, từ năm thứ 3 trở đi năng suất đạt khoảng 150 kg/cây Cây mít Viên Linh nếu chăm sóc tốt có thể cho trái từ 12 - 15 năm Giống mít Viên Linh dễ trồng, tuy ít chăm sóc nhưng cây vẫn phát triển khá tốt trên những vùng đất đỏ bazan, trái mít Viên Linh hình dáng đẹp, ít xơ, múi dầy,
có vị ngọt thanh, cây cho trái quanh năm
Tại xã Phú An huyện Tân Phú, dự án trồng cây mít nghệ đã được đưa vào trồng thí điểm, bước đầu đã cho thấy những tín hiệu khả quan Do cây mít nghệ phát triển nhanh, đầu ra cũng thuận lợi ít bị sự tác động của thời tiết; ít tốn công chăm sóc và công thu hoạch; giá bán lại ổn định
Về kỹ thuật trồng và chăm bón cũng rất đơn giản, không như những loại cây khác Theo kinh nghiệm của một số bà con đã trồng tại xã Phú An thì do cây cho trái nhiều và dày đặc nên phải thường xuyên kiểm tra, tỉa bớt để có trái mít lớn
Cây mít nghệ là loại cây dễ trồng, không kén đất lại cho năng suất khá cao, giá cả ổn định Sản lượng thu hoạch đã có nhà máy chế biến tiêu thụ hết So với các loại cây trồng khác thì hiệu quả kinh tế của cây mít nghệ rất cao Vì thế, xã Phú An xác định đây sẽ là cây trồng chủ lực của địa phương Huyện Tân Phú cũng đang khuyến khích nhân rộng diện tích cây mít nghệ nhằm nâng thu nhập cho nông dân
và đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo trong toàn xã
2.2 Đặc điểm thực vật
Cây mít nghệ cao sản được nhân vô tính từ phương pháp ghép cành, ghép chồi, ghép mắt, có sức tăng trưởng và phát triển nhanh, khi trưởng thành có thể cao tới 20m
Trang 7Lá: Lá đơn, mọc cách, rìa lá thẳng, cuống lá ngắn, hình Oval, hơi hẹp về
phía đuôi, dài không hơn 20cm Ở cây con trong vườn ươm những lá đầu có khía nhưng cây lớn lên lá trở về hình tròn vì thế gọi là phức tạp “heterophyllus” Màu lá xanh thẳm, gân lá màu vàng nhạt nổi rõ rệt ở mặt dưới lá chứa nhiều Acétylcholin
Lá già mới rụng vì vậy bóng râm nhiều, chống cỏ tốt
Rễ: rễ cọc phát triển ngay từ khi cây còn nhỏ, cắm sâu vào lòng đất Rễ phụ
và lông hút rất phát triển, ăn lan rộng có thể trên hai lần diện tích tán cây Ở cây già
bộ rễ phát triển mạnh, có khi nổi lên mặt đất bám chắc, cho nên chống gió bão và khô hạn rất tốt
Hoa: hoa đơn tính đồng chu, mọc ở thân và cành lớn, hoa đực và hoa cái
sinh cùng một chùm, chung một cuống rất to khỏe Mỗi chùm gồm nhiều hoa, không có cánh, dính vào nhau thành những cụm hoa gọi là “dái mít” có đực riêng, cái riêng Hoa đực rụng sớm còn hoa cái sau khi đã thụ phấn lớn lên thành một trái phức hợp, mỗi múi là một trái con Trái sinh ra trên thân chính hoặc ở chân những cành lớn, cây già trái có khuynh hướng mọc thấp, thậm chí cả ở những rễ ăn nổi lên trên mặt đất
Thân: thuôn thẳng hình trụ, thân cành mạnh Da màu nâu đen, có nhiều nhựa
trắng chứa Steroketon kết tinh và Artostenon Hàm lượng Tanin trong vỏ là 3,3%
Gỗ mít có hai phần: phần ngoài màu vàng nhạt, bên trong màu vàng nghệ, gọi là lõi, cây càng già lõi càng to
Trái: đều đặn, hơi dài Trái dài có màu vàng xanh, rám nâu một ít ở mé dưới
trái, có gai, vỏ trái mỏng, lõi trái nhỏ Múi mít vàng tươi, to, cao, dầy, ráo, giòn, ngọt và thơm, hạt nhỏ, ít xơ, xơ to vỏ mỏng, khi chín không còn nhựa nên ăn tươi hay tách cơm sấy đều thuận lợi
2.3 Đặc điểm sinh thái
Khí hậu: Mít là cây có tính thích nghi rộng, dễ trồng Mít thích hợp với khí
hậu nóng ẩm, mưa nhiều, chịu hạn tốt nhờ bộ rễ phát triển và ăn sâu, không chịu được úng và đọng nước ở vùng rễ, chịu được đất chua
Trang 8Ở Việt Nam mít được trồng từ Bắc đến Nam trừ những vùng cao ở miền Bắc Ở miền Nam nếu trồng ở vùng có độ cao 1.000 m mít vẫn sinh trưởng phát dục bình thường nhưng chậm hơn ở vùng thấp Yêu cầu lượng mưa hàng năm tối thiểu là 1.000 mm
Đất đai:
Mít có thể trồng ở những vùng đất nghèo dinh dưỡng, nhiều đá sỏi nhưng phải thoát nước tốt, không bị ngập úng kéo dài
Muốn cây mít cho sản lượng cao thì phải trồng ở đất tốt, tầng canh tác dày, phải bón phân Cây mít sẽ không cho sản lượng cao nếu mùa khô quá dài và thiếu nguồn nước tưới
Khi trồng mít nên chọn đất trồng ở nơi khô ráo thoát nước tốt, không bị ngập úng kéo dài, có đủ nước tưới để cây sinh trưởng
Mít được trồng vào đầu mùa mưa tháng 5 đến tháng 7 dương lịch Nếu chủ động nguồn nước tưới có thể trồng sớm hơn, thậm chí trồng quanh năm
2.4 Kỹ thuật trồng mít
2.4.1 Nhân giống
Tùy theo mục đích sử dụng mà lựa chọn giống trồng cho phù hợp Hiện nay các tỉnh phía Nam đang trồng nhiều giống mít được chọn tạo trong nước hoặc nhập nội cho năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chế biến như: mít Nghệ CS M99-I, mít Thái, mít Mã Lai…
Có thể trồng mít bằng cây giống được nhân bằng hạt, giâm rễ, giâm cành, chiết cành, cây ghép và nuôi cấy mô Trồng bằng hạt dễ làm, cây chậm ra trái, dễ phân ly nên ít khi chọn được giống tốt cho trái sai, phẩm chất ngon Cách thông dụng là trồng bằng cây ghép, cây chiết hoặc giâm hom từ rễ, từ cành cây vừa sớm cho quả, thời gian cho quả kéo dài, vừa giữ được đặc tính tốt của cây mẹ (năng suất trái cao, chất lượng trái tốt) Nhược điểm của cách nhân giống này là khó thành công nếu không nắm được bí quyết nhân giống
Trang 9Dùng hạt: sử dụng các hạt mít có khối lượng tối thiểu 4-5g để gieo hạt Hạt
mít khi tách khỏi quả nên gieo ngay, nên ngâm nước 24-48 giờ trước khi gieo thì hạt mọc nhanh hơn Khi gieo, hạt để nằm ngang hoặc lưng lên trên, bụng (chỗ có vết mầm lồi lên) úp xuống thì rễ sẽ mọc thẳng, mọc nhanh Tuy nhiên, khi dùng hạt nhân giống thì cây có nhiều biến dị, không giữ nguyên phẩm chất cây mẹ, lâu có quả (trung bình 4 - 8 năm), gieo hạt cây con có rễ cái khi bứng trồng dễ chết
Ghép: dùng phương pháp ghép mắt hoặc ghép áp Tuy nhiên, phương pháp
ghép cho cây có tỉ lệ sống chỉ đạt 20-50% vì mít là loại cây khó ghép do có nhiều nhựa, khó tiếp hợp, mắt ghép mềm, dễ thối Cây con sau khi gieo hạt 1-2 năm mới
đủ tiêu chuẩn ghép
Chuẩn bị gốc ghép:
+ Có thể chọn hạt mít rừng, tuy nhỏ nhưng mọc khỏe, nhiều trái, khả năng chống chịu sâu tốt hơn so với các giống mít khác Chọn những quả to, chín, tròn đều để lấy hạt, sau đó đem hạt ngâm vào nước lạnh vài giờ để rửa sạch nhớt, vớt ra
để ráo là đem gieo ngay
+ Để tiện cho việc vận chuyển sau này nên gieo vào túi bầu nilon kích thước 20x10cm hoặc 20x15cm Chọn đất tơi xốp, thoát nước tốt, đất trộn với phân chuồng hoai, phân lân và thuốc trừ kiến, mối, sau đó tiến hành cho vào bầu xếp thành luống, làm mái che phía trên, gieo mỗi bầu một hạt rồi tưới nước đủ ẩm Chăm sóc làm cỏ cho đến khi cây có chiều cao từ 50cm đến 60cm là ổn định, vỏ thân gần gốc chuyển sang màu nâu và lớn gần bằng ngón tay út có thể tiến hành ghép được
Chuẩn bị cành ghép:
Cành để lấy mắt ghép phải chọn từ những cây đúng giống, cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, sai trái, trái tròn đều, năng suất cao và ổn định, chất lượng ngon
… Chọn cắt những cành bành tẻ có các mầm khỏe, cắt bỏ hết các lá chỉ chừa lại 1-2mm cuống lá, bảo quản tốt, không để cành ghép bị mất nước, như vậy tỷ lệ sống sau khi ghép rất thấp
Trang 10Kỹ thuật ghép:
Có nhiều cách ghép, nhưng trong đó có cách ghép mắt cửa sổ là dễ sống nhất, cách ghép như sau:
+ Trên cây gốc ghép, dùng dao ghép sắc rạch hai đường song song cách nhau 1cm, dài 2cm, cách mặt đất từ 15-20cm, sau đó cắt đường ngang phía dưới nối hai đường song song rồi lật vỏ lên tạo thành cửa sổ hình chữ U
+ Trên cành ghép chọn một mầm ghép đã nổi u khỏe mạnh không bị trầy xước cắt làm mắt ghép theo hình cửa sổ tương ứng với cửa sổ trên gốc ghép Tách lấy mắt ghép xong, đặt vào cửa sổ gốc ghép sau đó dùng dây nilon trong có vải rộng 1cm quấn chặt lại Cây mít là loại cây có nhiều nhựa, nếu để như vậy sẽ khó sống, vì thế phải dùng một miếng vải mềm sạch thấm nhẹ cho khô hết mủ trên gốc ghép và mắt ghép Sau khi ghép khoảng 2 tuần mở dây kiểm tra, nếu mắt ghép còn tươi thì cắt bỏ ngọn của gốc ghép cách nơi ghép khoảng 1,5cm nhằm giúp cho mắt ghép nhanh nảy chồi, ngược lại mắt ghép có màu nâu khô là mắt ghép đã chết, ta tiến hành ghép lại
+ Cây mít trước khoảng 2 tháng ta tiến hành bón phân kali để khi ghép dễ bóc vỏ, mau liền sẹo và nên ghép vào mùa khô, cây ghép sẽ dễ sống hơn so với ghép vào mùa mưa, mùa xuân do cây sinh trưởng mạnh và nhiều mủ
Chiết cành: Chọn cành chiết khoảng 2-3 năm tuổi, đường kính chỗ chiết
khoảng 2-3cm và nên chiết cành vào mùa mưa, tránh những tháng khô hạn Khi bóc
vỏ phải bóc cả vòng hình ống, bóc xong cạo cho chết tầng hình thành Để khô 1-2 ngày thì lấy đất (đất xốp gồm 2 phần cát, 1 phần bùn) bọc lại Ngoài cùng bọc bao nilon, rồi buộc chặt, thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm Có thể sử dụng một số hoạt chất để kích thích sinh trưởng nhằm tạo nhanh chồi và rễ Khoảng 70-80 ngày sau khi chiết, rễ đã ra nhiều nên có thể cắt cành Sau 10 ngày cắt cành có thể đem ương
Giâm rễ, giâm cành: Lấy rễ hoặc cành bánh tẻ lá đã ổn định có đường kính
2-3cm cắt thành từng đoạn 15-20cm, nhúng gốc vào thuốc chống nấm (Benlet C, Aliette…0,15%) rồi cắm nghiêng sâu 10-15cm trên mặt luống cát sạch, chừa lại