1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này

17 1,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này
Thể loại Bài tập học kì
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó tòa

án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.

Quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có thể nói việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng.

Việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Trong giai đoạn này qua việc xét hỏi và tranh luận dân chủ, công khai tại phiên tòa, hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ những chứng cứ, tình tiết của vụ án đã có trong hồ sơ và tại phiên tòa để đưa ra phán quyết cuối cùng

Vì vậy, việc hoàn thiện BLTTHS hiện hành nói chung cũng như việc hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nói riêng nhằm đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hết sức cần thiết Nhận thức được ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này, em lựa

chọn đề tài “Các quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và việc

hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này ” để thực hiện bài tập học kì.

Trang 2

B NỘI DUNG I.LÝ LUẬN VỀ CÁC QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM.

Phiên tòa sơ thẩm phải được xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm…

1 Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục.

Dựa vào khoản 1 Điều 184 BLTTHS năm 2003 thì tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Đây là quy định quan trọng trong quá trình xét xử sơ thẩm, vì chỉ khi Hội đồng xét xử trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa mới có thể đảm bảo cho quá trình xét xử vụ án được chính xác, khách quan Việc xét xử trực tiếp của tòa án đối với những người có liên quan trong vụ án, những người có mặt tại phiên tòa sẽ tạo cho Hội đồng xét xử sự đối chiếu, so sánh lời khai… để có quyết định đúng đắn nhất

Để bảo đảm tính liền mạch của quá trình tố tụng một vụ án hình sự thì việc tiến hành xét xử của tòa án cần phải được tiến hành liên tục Để Hội đồng xét xử tập trung tư tưởng một cách xuyên suốt vào vụ án và những người tham dự dễ theo dõi việc xét xử

Như vậy, việc xét xử cần được tiến hành liên tục từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi tuyên án trừ: thòi gian nghỉ (nghỉ qua đêm, ngày chủ nhật, ngày lễ, nghỉ vì lí do khách quan khác) Thời gian nghị án cũng là thời gian Tòa án làm việc Khi chưa kết thúc phiên tòa đã được bắt đầu thì Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên không được tiến hành tố tụng đối với vụ án khác.

2 Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm được quy định tại Điều 185 bao gồm: một thẩm phán và hai hội thẩm Đối với trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Trang 3

Việc pháp luật không quy định số lượng thẩm phán và hội thẩm ngang nhau

là nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực của hội thẩm Đồng thời, việc quy định số lượng hội thẩm luôn lớn hơn thẩm phán là bảo đảm tính nhân dân, sự giám sát của nhân dân vào quá trình xét xử vụ án hình sự sơ thẩm.

Hội đồng xét xử phải tham gia xét xử vụ án từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc một thẩm phỏn và hai hội thẩm Đối với trường hợp vụ ỏn cú tớnh chất nghiờm trọng, phức tạp, thỡ Hội đồng xột xử cú thể gồm hai thẩm phỏn và ba hội thẩm.

Việc xét xử vụ án sẽ không hề bị gián đoạn khi thẩm phán hoặc hội thẩm không tiếp tục tham gia phiên tòa nếu có thẩm phán hoặc hội thẩm dự khuyết Yêu cầu thẩm phán hoặc hội thẩm dự khuyết phải có mặt từ đầu tại phiên tòa mới được tham gia xét xử Trong trường hợp không có thẩm phán, hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

3 Những chủ thể khác tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Luật tố tụng hình sự quy định những người sau cần có mặt tại phiên tòa:

a Quy định đối với Kiểm sát viên.

Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự quy định kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa Nếu vụ án có tính chất phức tạp nghiêm trọng thì có thể có hai kiểm sat viên cùng tham gia phiên tòa Họ thực hành quyền công tố, quyết định truy tố người phạm tội trước tòa Họ còn phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử Nếu có những vụ việc đặc biệt mà bị can,

bị cáo là những người có vị trí trong xã hội, người nước ngoài có thể chịu mức hình phạt cao nhất thì Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng viện kiểm sát trực tiếp tham gia phiên tòa

Với vai trò hết sức quan trọng của mình trong quá trình tố tụng nên khi vắng mặt hoặc bị thay đổi kiểm sát viên phiên tòa sẽ bị hoãn Do đó để khắc phục tình trạng trên, thì sẽ quy định cử thêm kiểm sát viên dự khuyết, để cho phiên tòa luôn được diễn ra liên tục không bị gián đoạn.

b Đối với bị cáo

Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án, nếu vắng mặt không có lí do chính đáng thì bị áp giải Theo đó bị cáo bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa nhằm đảm bảo nguyên tắc xét xử trực tiếp cũng như tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền bào chữa của bị cáo Nếu bị cáo vắng mặt có lí do chính

Trang 4

đáng thì phải hoãn phiên tòa, lí do chính đáng phải được báo cho tòa án biết trước khi khai mạc phiên tòa

Nếu trong vụ án đồng phạm có nhiều bị cáo trong đó có bị cáo bỏ trốn, có bị cáo không bỏ trốn thì tòa án vẫn ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với tất cả các

bị cáo Khi đó bị cáo không bỏ trốn sẽ bị tạm giam theo Điều 176, 177 B ộ luật tố tụng hình sự, và ra lệnh truy nã đối với bị cáo bỏ trốn Hết thời hạn một tháng mà việc truy nã không có kết quả, thì tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo bỏ trốn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 187 bộ luật tố tụng hình sự.

c Người bào chữa

Căn cứ vào Điều 190 thì người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho tòa án Nếu người bào ch ữa vắng mặt thì tòa án vẫn tiến hành xét xử Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của BLTTHS, đó là: trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần hoặc trường hợp bị cáo bị truy tố đưa ra xét xử về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình mà người bào chữa vắng mặt, thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa

Nhằm đảm bảo cho bị cáo được hưởng quyền bào chữa thì trong trường hợp

bị cáo là người chưa thành niên, bị nhược điểm về thể chất mà không mời được người bào chữa thì hội đồng xét xử yêu cầu cử người bào chữa.Việc từ chối người bào chữa của bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải được lập thành văn bản, nhưng cần có được sự chấp nhận của hội đồng xét xử.

d Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án và đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên tòa Nếu họ vắng mặt thì tùy trường hợp, hội đồng xét xử hoãn phiên tòa (nếu sự có mặt của họ là cần thiết) hoặc vẫn cứ tiến hành xét xử (nếu sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử).

Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân

sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì hội đồng xét xử có thẻ tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự Điều 191 bộ luật tố tụng hình sự.

Trang 5

e Người làm chứng.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa thì tùy từng trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai ở cơ quan điều tra và tòa án quyết định vẫn tiến hành xét xử thì chủ tọa phiên tòa công bố lời khai đó của họ Điều 192 bộ luật

tố tụng hình sự.

Nếu có lệnh triệu tập của tòa án mà người làm chứng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng thì hội đồng xét xử có thể ra quyết định dẫn giải Vì sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử.

f Người giám định.

Người giám định vắng mặt tại phiên tòa thì tòa án hoãn phiên tòa nếu thấy

sự có mặt của họ là cần thiết Nếu người giám định đã có kết luận viết và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử thì tòa án vẫn xét xử Điều 193 bộ luật tố tụng hình sự.

4 Thời hạn hoãn phiên tòa.

Việc hoãn phiên tòa sơ thẩm với thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa được quy định đối với các trường hợp sau:

- Cần thay đổi thẩm phán hoặc hội thẩm;

- Cần thay đổi kiểm sát viên tại phiên tòa;

- Cần thay đổi thư kí tòa án;

- Cần thay đổi thư kí phiên tòa;

- Bị cáo vắng mặt có lí do chính đáng;

- Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa;

- Người bào chữa vắng mặt;

- Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên tòa;

- Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa;

- Người giám định vắng mặt tại phiên tòa.

Việc điều luật quy định thời hạn hoãn phiên tòa cố định là đảm bảo cho việc xét xử vụ án không kéo dài, ảnh hưởng đến tư tưởng người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị cáo.

Trang 6

5 Giới hạn của việc xét xử.

Điều 196 bộ luật tố tụng hình sự quy định: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo

và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm sát đã truy tố.

Việc quy định như vậy là vì tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, tức là làm trọng tài phân xử quan điểm giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, mà tự mình không có chức năng buộc tội nên tòa án chỉ xem xét những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Quy định này cũng bảo đảm cho bị cáo thực hiện đầy đủ quyền bào chữa của mình.

Tòa án không dược xét xử những người và những hành vi chưa được viện kiểm sát truy tố và không xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà viện kiểm sát truy tố

6 Việc rút quyết định truy tố.

Trước khi mở phiên tòa, nếu xét thấy có căn cứ để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thì kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án báo cáo đề xuất lãnh đạo viện kiểm sát xem xét quyết định.

Việc rút quyết định truy tố phải được thể hiện thành văn bản và phải nêu rõ

lí do Nếu viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án Nếu chỉ rút một phần quyết định truy tố thì hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không rút truy tố.

7 Nội quy phiên tòa và biện pháp xử lý đố với người vi phạm trật tự phiên tòa.

Để giữ gìn trật tự phiên tòa, trước khi bắt đầu phiên tòa thư kí tòa ánphổ biến nội quy phiên tòa và hướng dẫn những người tham gia tố tụng cách xưng hô tại phiên tòa.

Việc quy định nội quy phiên tòa để nhằm đảm bảo cho việc xét xử được trang nghiêm, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhâm phẩm, danh dự cho những người tham gia phiên tòa; tạo điều kiện cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Việc điều khiển và duy trì kỷ luật phiên tòa do chủ tọa phiên tòa đảm nhận, mọi người tham gia phiên tòa phải có thái độ tôn trọng hội đồng xét

xử tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa Những người vi phạm nội quy

Trang 7

phiên tòa sẽ bị xử lý hành chính , và thẩm quyền xử lý vi phạm được giao cho chủ tọa phiên tòa.

8 Việc ra bản án và các quyết định của Tòa án.

Theo điều 199 bộ luật tố tụng hình sự việc ra bản án cần tuân thủ triệt để nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định đa số Bản án của tòa án quyết định

bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác.

Khi đó quyết định của hội đồng xét xử có thể được thông qua tại phòng xét

xử hoặc tại phòng nghị án, quyết định đó được thể hiện trong bản án Các quyết định được thông qua bằng hình thức biểu quyết theo đa số, còn các quyết định như hoãn phiên tòa, giải quyết yêu cầu của người tham gia tố tụng, được hội đồng xét

xử theo luận và thông qua tại phòng xử án.

9 Biên bản phiên tòa.

Tại phiên tòa, trong quá trình xét xử, thư kí tòa án có nhiệm vụ ghi rõ mội diễn biến ở phiên tòa Biên bản phiên tòa là văn bản thể hiện đầy đủ, khách quan toàn bộ diễn biến phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa Biên bản phiên tòa là tài liệu quan trọng giúp cho tòa án cấp trên xem xét trong xét xử theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm đối với việc xét xử của tòa án cấp dưới.

Kết thúc phiên tòa chủ tọa phiên tòa phải kiểm tả biên bản nhằm phát hiện

ra những sai xót để kịp thời sửa đổi và bổ sung Nhằm đảm bảo tính khách quan, công khai của phiên tòa xét xử thì biên bản phiên tòa có thể cho những người liên quan tại phiên tòa xét xử xem, và họ có quyền được ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản.

II HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM.

Có lẽ điểm hạn chế lớn nhất cần khắc phục trong phần các quy định chung của bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm là việc quy định thành phần hội đồng xét xử Như đã trình bày ở phần lí luận chung bên trên theo quy định tại Điều 185 bộ luật tố tụng hình sự thì đa số các thành viên trong hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hội thẩm: một thẩm phán và hai hội thẩm; hay với những vụ án quan trọng thì sẽ là hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Nhưng thực tế cho thấy các hội thẩm thường là những người đại diện cho quần chúng nhân dân, được nhân dân cử ra Với nhiệm vụ chủ yếu là giám sát việc xét xử phiên tòa, cộng với việc không có trình độ chuyên môn về xét xử, yếu kém

về nghiệp vụ cho nên việc quy định số lượng của họ nhiều hơn số lượng thẩm

Trang 8

phán là hoàn toàn không phù hợp Vì vậy nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong nhiều trường hợp chỉ mang tính hình thức dễ dẫn đến việc xét xử thiếu công bắng, khách quan làm oan, sai vụ án cũng như người vô tội.

Do đó, để nhằm hoàn thiện quy định trên theo tôi thì Điều 185 bộ luật tố tụng hình sự cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định các thẩm phán phải chiến đa số trong hội đồng xét xử sơ thẩm Có như vậy mới đảm bảo cho việc xét

xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm có tính chính xác cáo hơn, hạn chế khả năng vụ án sẽ bị kháng cáo phúc thẩm, hay các thủ tục tố tụng khác làm cho việc thi hành quyết định bản án trậm chễ, cũng như sự tồn đọng án.

C KẾT LUẬN Như vậy, trên đây là toàn bộ quá trình nghiên cứu về quy định chung tại phiên tòa

xét xử sơ thẩm Mặc dù các nhà lập pháp đã quy định hết sức rõ ràng và chi tiết về trình tự, thủ tục, số lượng, nguyên tắc trong quá trình xét xử sơ thẩm, nhưng vẫn còn có những điểm khiếm khuyết nhất định cần phải sửa đổi bổ sung Nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật, làm cho hệ thống tư pháp của nước ta ngày càng có vị thế trong hệ thống các cơ quan của nhà nước cững như tạo niềm tin trong lòng quần chúng nhân dân.

Các quy định tại Chương XVIII của BLTTHS: Theo quy định của BLTTHS thì khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16); toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17) Mặt khác, theo quy định tại Điều 185 BLTTHS thì đa số các thành viên trong HĐXX là hội thẩm Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy do các hội thẩm thường là những người không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về xét xử nên khi tham gia vào quá trình xét xử, họ thường có tâm lí ỷ lại và phụ thuộc vào thẩm phán chủ toạ phiên toà VÌ vậy, trên thực tế nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong nhiều trường hợp chỉ mang tính hình thức dễ dẫn đến việc xét xử oan, sai Để khắc phục thực trạng này, chúng tôi cho rằng Điều 185 BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định các thẩm phán phải chiếm đa số trong HĐXX.

Thứ năm, các quy định tại Chương XVIII của BLTTHS: Cần chuyển các điều từ 184 đến 186 của Chương này về Chương… Toà án và bổ sung một điều luật mới về hình thức phiên toà quy định về vị trí ngồi của HĐXX, các chủ thể của bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể khác tham gia phiên toà; về sự có mặt của công tố viên trước khi HĐXX vào pḥng xử án.

Quy định tại Điều 185 BLTTHS hiện hành cần sửa đổi bổ sung với nội dung như sau: “HĐXX

sơ thẩm có thể chỉ có một thẩm phán hoặc gồm hai thẩm phán và một hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX có thể gồm ba thẩm phán và hai hội thẩm.

Trang 9

Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán và hai Hội thẩm…”.

TS Nguyễn Đức Mai, Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương Theo: Tạp chí Luật học, số 07 năm 2008

đột phá ở phiên tòa sơ thẩm

Tranh tụng không chỉ diễn ra ở phiên tòa sơ thẩm nhưng cần xác định tranh tụng ở phiên ṭa sơ thẩm là khâu đột phá vì xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm trong tiến trình tố tụng.

Do vậy cần sửa đổi bổ sung các quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để phiên tòa sơ thẩm có tính tranh tụng

Trước hết, cần sửa Điều 10 theo hướng xác định tòa án - cơ quan xét xử - không có trách nhiệm chứng minh tội phạm Tòa cũng có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật nhưng thực hiện nhiệm vụ đó thông qua chức năng xét xử của mình Tòa không phải là người truy tố bị cáo nên không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tố tụng thực hiện chức năng buộc tội (cơ quan điều tra, VKS)

Muốn như vậy, phải bỏ những thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử của tòa như thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (khoản 1 Điều 104), thẩm quyền được xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật theo hướng nặng hơn (khoản 2 Điều 196)

Sửa đổi các quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa để đảm bảo tính tranh tụng theo hướng nên quy định chỉ các bên tranh tụng (bên buộc tội là VKS và người bị hại; bên bào chữa là người bào chữa và bị cáo) mới tham gia vào thủ tục xét hỏi Tòa không phải là bên tranh tụng nên không tham gia xét hỏi mà chỉ điều khiển quá trình xét hỏi

Bỏ quy định về việc thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 179 và Điều 199) Chỉ nên quy định trường hợp duy nhất mà thẩm phán có quyền trả hồ sơ yêu cầu bổ sung là khi phát hiện

có những vi phạm tố tụng nghiêm trọng cản trở việc xét xử của tòa (như VKS chưa tống đạt cáo trạng cho bị cáo) Còn vấn đề chứng cứ đã đủ hay chưa, có thể xử được hay không, chứng cứ nào quan trọng không phải là sự quan tâm của tòa vì người phải quan tâm về việc này là VKS Tòa chỉ cần quan tâm là VKS có chứng minh được cáo trạng hay không VKS không chứng minh được thì tòa tuyên vô tội và ngược lại.

Chỉ có thể có phiên tòa sơ thẩm tranh tụng khi tòa trở về vai trò đích thực là trọng tài vô tư khách quan, chỉ xét xử chứ không buộc tội thay cho VKS hay cùng VKS buộc tội bị cáo Đến lúc đó, đương nhiên VKS không còn chỗ dựa nữa VKS sẽ không thể không tranh tụng Khi VKS đã sẵn sàng tranh tụng có nghĩa là việc truy tố bị cáo đã được cân nhắc, xem xét thận trọng từ chứng cứ đến tội danh

Thừa nhận mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay là mô hình pha trộn và định hướng hoàn thiện là xây dựng mô hình pha trộn thiên về tranh tụng là giải pháp cần thiết và đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay và phù hợp với trào lưu chung của lịch

sử tố tụng hình sự trên thế giới.

TS NGUYỄN THÁI PHÚC, Vụ trưởng - Trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp tại TP.HCM

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về vấn đề tranh tụng, cụ thể :

Điều 10 của BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành

tố tụng, trong đó có Tòa án, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội hay không có tội tại phiên tòa đó là của

Trang 10

HĐXX Do vậy, hiện nay tại phiên tòa, HĐXX cũng tiến hành một số hoạt động tố tụng để chứng minh tội phạm Ví dụ: HĐXX sẽ nhắc hoặc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra nếu lời khai của họ tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không khai, vắng mặt hoặc đã chết ( Điều

208 ) Như vậy, phải chăng Tòa án cũng là một cơ quan có chức năng buộc tội ? Do việc quy định không

rõ ràng về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các chủ thể tại phiên tòa nên có quan điểm cho rằng TTHS Việt Nam thuộc hệ tố tụng xét hỏi, các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều là các tầng nấc liên tiếp khác nhau của quá trình buộc tội Để Tòa án đúng là “cơ quan xét xử, cầm cân nảy mực” và đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dân chủ, bình đẳng, khách quan thì cần phải xác định rõ vai trò của HĐXX tại phiên tòa là người trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa để phán quyết về vụ án

Mặt khác, do BLTTHS chưa quy định tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS nên các quy định của Bộ luật chưa cụ thể hóa đầy đủ tính chất tranh tụng tại phiên tòa Một số quy định của Bộ LTTHS đặt gánh nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm lên vai HĐXX (ví dụ Điều 207 quy định : “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa …”) Vì vậy, chính các chủ thể tham gia tranh tụng (Kiểm sát viên, Luật sư …) cũng chưa ý thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong tranh tụng Việc xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, cho nên cần phải để các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh (VKS, người bào chữa…) tiến hành xét hỏi là chủ yếu, còn HĐXX thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình xét hỏi ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi BLTTHS cần xác định rõ tại phiên tòa vai trò của HĐXX chỉ là người “trọng tài” giữa bên buộc tội và bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo hướng buộc tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa Vì vậy, đề nghị sửa đổi các quy định về xét hỏi theo hướng : khi xét hỏi, Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự, các thành viên HĐXX có thể hỏi bất kỳ ở thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết nhằm làm sáng tỏ các tình tiết về vụ án hoặc mang tính chất nêu vấn đề để các bên tập trung xét hỏi làm rõ, còn việc hỏi để buộc tội và gỡ tội dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa

Thực tiễn cho thấy trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nhiều khi những câu hỏi, đáp của các bên tranh tụng không đi thẳng vào vấn đề, không giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn, khúc mắc còn tồn tại nên cần có những quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của Kiểm sát viên và Luật

sư Để tạo ra một cơ chế thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội, những quy định này phải được quy định trong văn bản tố tụng có giá trị pháp lý cao nhất là BLTTHS

BLTTHS không quy định bắt buộc tất cả các vụ án hình sự đều phải có sự tham gia của người bào chữa nên trong thực tiễn phần lớn các vụ án hình sự không có người bào chữa tham gia Các điều

49, 50 của Bộ luật không quy định quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không có người bào chữa Để bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình và đảm bảo việc chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng được khách quan, toàn diện, cần bổ sung quyền thu thập chứng

cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không thể thu thập được thì có thể yêu cầu cơ quan tiến hành

tố tụng thu thập chứng cứ Cũng cần bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của bị can, bị cáo, nếu chứng cứ đó có lợi cho họ trong việc bào chữa

Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử những trường hợp bị cáo có những lý lẽ (có thể là chưa phù hợp với thực tế khách quan) nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, thì thường bị coi là có thái độ không thành khẩn nhận tội và nhiều trường hợp đã được nhận định trong bản án để đánh giá nhân thân của bị cáo…Để thực sự đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa trong BLTTHS cần quy định: “Bị cáo có quyền sử dụng những biện pháp và cách thức mà pháp luật không cấm để bào chữa trước tòa, không bị coi là những tình tiết đánh giá về nhân thân cũng như về ý thức của họ

Chức năng của Tòa án trong TTHS là xét xử, có ý nghĩa là vai trò Tòa án là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để giải quyết vụ án Bởi vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý thuộc về chức năng xét xử Khởi tố vụ án hình sự tuy chưa phải là buộc tội đối với một người cụ thể nhưng đó là nhiệm vụ thuộc về chức năng buộc tội Điều 13, Điều 104 của BLTTHS quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự là chưa phù hợp Nếu nhằm mục đích không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm thì chỉ nên quy định Tòa án được quyền yêu cầu VKS khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới là đủ

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các phiên tòa hình sự, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau, đó là: các giải pháp pháp lý; các giải pháp về tổ chức; các giải pháp về con người, các giải pháp vật chất – kỹ thuật và có chính sách tiền lương và chế

Ngày đăng: 04/04/2013, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w