Phân tích chiến lược sản phẩm của công ty điện tử tiêu dùng Apple
Trang 1Mục Lục
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 2
I Khái niệm: 2
1.1 Sản phẩm theo quan điểm marketing 2
1.2 Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm: 2
3 Phân loại sản phẩm 3
II Nội dung: 4
2.1 Nhãn hiệu: 4
2.2 Bao gói 5
2.3 Dịch vụ 6
2.4 Chủng loại và danh mục sản phẩm 6
2.5 Thiết kế và marketing sản phẩm mới 7
2.6 Chu kỳ sống của sản phẩm 9
Chương 2 10
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA APPLE 10
I Khái quát về doanh nghiệp: 10
1.1.Lịch sử hình thành 10
1.2.Quá trình phát triển 10
II Thực trạng chính sách sản phẩm của công ty Apple 11
2.1 Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm: 11
2.2 Quyết định về bao gói và dịch vụ sản phẩm Apple : 13
Chương 3 27
GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA APPLE 27
KẾT LUẬN 28
Lời mở đầu
Trang 2Bạn thường xem các chương trình quảng cáo trên truyền hình và cực ấn tượng ớicác khẩu hiệu gắn liền với sản phẩm/dịch vụ như: Bitis – Nâng niu bàn chân Việt,Prudential – Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu ; Viettel – hãy nói theo cách củabạn …
Đôi khi bạn vẫn hay nhận được các phiếu thăm dò về chất lượng , chủng loại , giá
cả của một loại sản phẩm nào đó như nước giải khát , dầu gội ,đồ điện tử,.v v Và thỉnhthoảng khi mua hàng bạn lại được khuyến mại hay được tặng quà kềm theo sản phẩm bạn
đã lựa chọn.Cũng đã nhiều lần bạn được chứng kiến các hoạt động họp báo giới thiệu sảnphẩm hoặc trưng bày sản phẩm…Vậy mục đích của những việc làm này là gì?
Một câu trả lời chung cho tất cả đó là: Những hoạt động Marketing – một trong những
công cụ quan trọng nhất , yếu tố then chót quyết đến sự thành công của doanh nghiệptrong kinh doanh.Chức năng chủ yếu của Marketing là thu hút và gìn giữ khách hàng
Để tạo ra khách hàng và đánh bại đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệp phải thực hiện cácchiến lược Marketing.Một chiến lược marketing bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp và cóquan hệ chặt chẽ với nhau Trong số đó việc đề ra các chính sách về sản phẩm là mộtcông việc khó khăn là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của mỗi doanh nghiệp nhằm thựchiện có hiệu quả nhất ba mục tiêu: lợi nhuận,vị thế và an toàn
Để lập được kế hoạch marketing cụ thể cho sản phẩm thì nguời lập ra kế hoạch marketingphải trả lời được các câu hỏi, như:
-Đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới là gi?
-Sản phẩm nằm ở phân khúc nào của thị trường?
-Sản phẩm có những ưu thế gì?
-Thời gian để tung sản phẩm ra thị trường hợp lí nhất là khi nào?
-Khi sản phẩm tung ra thị trường thì lựa chọn hình thức quảng cáo-Marketing nào chophù hợp?
Trong bài tiểu luận này,đề tài đưa ra để nghiên cứu là phân tích chính sách sản phẩm củacông ty điện tử tiêu dùng Apple.Đây là một thương hiệu điện tử được ưa chuộng trên toànthế giới.Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay, rất nhiều các hãng nhưNokia , Samsung , Motorla ,.v v luôn đưa ra các thiết bị điện tử có tính năng ngày càngđược nâng cấp hiện đại nhằm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.Tuy nhiên cácsản phẩm của Apple vẫn luôn chiếm lĩnh thị trường và nhất được giới trẻ yêu công nghệcực ưa thích.Để phục vụ được tốt nhất nhu cầu của khách hàng và luôn giữ vị trí số mộttrong làng công nghệ - một thị trường cực khốc liệt như vậy thì chắc hẳn các nhà đứngđầu của doanh nghiệp Apple đã phải có những chính sách sản phẩm vô cùng hợp lí.Trước tình hình thực tế và sau thời gian nghiên cứu, cùng những hiểu biết về công ty và
những kiến thức đã được học, em xin thực hiện đề tài với nội dung: Phân tích chiến lược
sản phẩm của công ty điện tử tiêu dùng Apple.
Đây là bản kế hoạch được lập dựa trên những gì mà em được học Bài tiểu luậnnày nếu còn nhiều thiếu sót và chưa hợp lý thì em rất mong nhận được sự đóng góp củathầy cô và các bạn.Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
I Khái niệm:
1.1 Sản phẩm theo quan điểm marketing
Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ướcmuốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý muasắm, sử dụng hay tiêu dùng
1.2 Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm:
Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng Sản phẩm theo ý tưởng có chứcnăng cơ bản là trả lời câu hỏi :về thực chất, sản phẩm này thỏa mãn những điểmlợi ích cốt yếu nhất mà khách hàng sẽ theo đuổi là gì? Và chính đó là những giá trị
mà nhà kinh doanh sẽ bán cho khách hàng Những lợi ích cơ bản tiềm ẩn đó có thểthay đổi tùy những yếu tố hoàn cảnh của môi trường và mục tiêu cá nhân của cáckhách hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh nhất định Điều quan trọng sống cònđối với các doanh nghiệp là nhà quản trị marketing phải nghiên cứu tìm hiểukhách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về các khía cạnh lợi ích khác nhau tiềm
ẩn trong nhu cầu của họ Chỉ có như vậy họ mới tạo ra những sản phẩm có nhữngkhả năng thỏa mãn đúng và tốt những lợi ích mà khách hàng mong đợi
Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực Đó là những yếu tố phản ảnh sự có mặttrên thực tế hàng hóa Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng,các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng của baogói Trong thực tế, khi tìm mua những lợi ích cơ bản, khách hàng dựa những yếu
tố này Và cũng nhờ những yếu tố này nhà sản xuất khẳng định sự hiện diện củamình trên thị trường, để người mua tìm đến doanh nghiệp, họ phân biệt hàng hóacủa hãng này so với hãng khác
Cuối cùng là sản phẩm bổ sung Đó là những yếu tố như: tính tiện lợi cho việclắp đặt, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo hành và điều kiệnhình thức tín dụng Chính nhờ những yếu tố này đã tạo ra sự đánh giá mức độhoàn chỉnh khác nhau, trong sự nhận thức của người tiêu dùng, về mặt hàng haynhãn hiệu cụ thể Khi mua những lợi ích cơ bản của một hàng hóa bất kỳ kháchhàng nào cũng thích mua nó ở mức độ hoàn chỉnh nhất Đến lượt mình, chính mức
độ hoành chỉnh về lợi ích cơ bản mà khách hàng mong đợi lại phụ thuộc vàonhững yếu tố bổ sung mà nhà kinh doanh sẽ cung cấp cho họ Vì vậy từ góc độ
Trang 4nhà kinh doanh, các yếu tố bổ sung trở thành một trong những vũ khí cạnh tranhcủa các nhãn hiệu hàng hóa.
3 Phân loại sản phẩm
3.1 Phân loại theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại:
- Hàng hóa lâu bền: là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần
- Hàng hóa sử dụng ngắn hạn: là những vật phẩm được sử dụng một lần hay mộtvài lần
- Dịch vụ: là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay sự thỏamãn
3.2 Phân loại hàng tiêu dùng theo thói quen mua hàng:
- Hàng hóa sử dụng thường ngày: đó là hàng hóa mà người tiêu dùng mua cho việc
sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt
- Hàng hóa mua ngẫu hứng: đó là những hàng hóa được mua không có kế hoạchtrước và khách hàng cũng không chủ ý tìm mua
- Hàng hóa mua khẩn cấp: đó là những hàng hóa mà việc mua diễn ra lâu hơn,đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về công dụng,kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng
- Hàng hóa cho các nhu cầu đặc thù: đó là những hàng hóa có những tính chất đặcbiệt hay hàng hóa đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực, thờigian để tìm kiếm và lựa chọn chúng
- Hàng hóa cho các nhu cầu thụ động: đó là những hàng hóa mà người tiêu dùngkhông hay biết và thường cũng không nghĩ đến việc mua chúng
3.3 Phân loại hàng tư liệu sản xuất
- Vật tư và chi tiết: đó là những hàng hóa được sử dụng thường xuyên và toàn bộvào cấu thành sản phẩm được sản xuất ra bởi nhà sản xuất
- Tài sản cố định : đó là những hàng hóa tham gia toàn bộ, nhiều lần vào quá trìnhsản xuất và giá trị của chúng được dịch chuyển vào giá trị sản phẩm do doanhnghiệp sử dụng chúng tạo ra
- Vật tư phụ và dịch vụ: đó là những hàng hóa dùng để hỗ trợ cho quá trình kinhdoanh hay hoạt động của các tổ chức và doanh nghiệp
Trang 5II Nội dung:
2.1 Nhãn hiệu:
2.1.1 Nhãn hiệu sản phẩm và các bộ phận cấu thành:
Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữachúng, được dùng để xác nhận sản phẩm của một người bán hay một nhóm ngườibán và để phân biệt chúng với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
Nhãn hiệu có các bộ phận cơ bản là:
- Tên nhãn hiệu: đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được
- Dấu hiệu của nhãn hiệu: ( Bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu chữđặc thù ) Đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được, nhưngkhông thể đọc được
- Dấu hiệu hàng hóa: là toàn bộ nhãn hiệu hay một bộ phận của nó được đăng kýtại cơ quản quản lý nhãn hiệu và do đó được bảo vệ về mặt pháp lý
- Quyền tác giả: là quyền độc chiếm tuyệt đối về sao chụp, xuất bản và bán nộidung và hình thức của một tác phẩm văn học, âm nhạc hay nghệ thuật
2.1.2 Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu:
- Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?
- Ai là người chủ nhãn hiệu sản phẩm?
- Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lượng sản phẩm có những đặc trưng gì?
- Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào? Khi quyết định đưa ra một sản phẩm hoặcnhóm sản phẩm ra thị trường, gắn nhãn hiệu cho chúng người sản xuất còn gặpphải vấn đề đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩm như thế nào?
- Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?
- Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm hoặc chủng loại sản phẩm cónhững đặc tính khác nhau?
Trong những tình huống trên có thể có bốn cách đặt tên cho nhãn hiệu
- Tên nhãn hiệu riêng biệt được sử dụng cho cùng mặt hàng, nhưng có đặctính khác nhau ít nhiều
- Tên nhãn hiệu đồng nhất cho tất cả các sản phẩm được sản xuất bởi côngty
- Tên thương mại của công ty kết hợp với tên nhãn hiệu riêng biệt của sảnphẩm
- Tên nhãn hiệu tập thể cho từng dòng sản phẩm do công ty sản xuất
Trang 6Nhưng dù lựa chọn cách nào khi đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩm cũng phảiđảm bảo 4 yêu cầu:
- Phải hàm ý về lợi ích của sản phẩm
mô tả sản phẩm trên bao gói
Bao gói đang dần trở thành công cụ đắc lực của hoạt động marketing:
- Sự phát triển của hệ thống cửa hàng tự phục vụ, tự chọn ngày càng tăng
- Mức giàu sang và khả năng mua sắm của người tiêu dùng càng tăng
- Bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về công ty và nhãn hiệu
- Tạo ra khả năng và ý niệm về sự cải tiến sản phẩm
Để tạo ra bao gói có hiện quả cho một sản phẩm, nhà quản trị marketing phảithông qua hàng loạt quyết định kế tiếp nhau:
- Xây dựng quan niệm về bao gói: bao bì phải tuân thủ nguyên tắc nào? Nóđóng vai trò như thế nào đối với một mặt hàng cụ thể? Nó phải cung cấpnhững thông tin gì về sản phẩm?
- Quyết định về các khía cạnh: kích thước, hình dáng, vật liệu, màu sắc, nộidung trình bày và có gắn nhãn hiệu hay không? Khi thông qua các quyếtđịnh này phải gắn với các công cụ khác của marketing
- Quyết định về thử nghiệm bao gói bao gồm: thử nghiệm về kỹ thuật, thửnghiệm về hình thức, thử nghiệm về kinh doanh, thử nghiệm về khả năngchấp nhận của người tiêu dùng
- Cân nhắc các khía cạnh lợi ích xã hội, lợi ích của người tiêu dùng và lợi íchcủa bản thân công ty
- Quyết định về các thông tin trên bao gói Tùy vào những điều kiện cụ thể
mà các nhà sản xuất bao gói quyết định đưa thông tin gì lên bao gói và đưachúng như thế nào? Thông thường những thông tin chủ yếu được thể hiệnqua bao gói là:
Thông tin về sản phẩm
Thông tin về phẩm chất sản phẩm
Thông tin về ngày, người, nơi sản xuất và các đặc tínhcủa sản phẩm
Thông tin về kỹ thuật an toàn khi sử dụng
Thông tin về nhãn hiệu thương mại và các hình thứchấp dẫn để kích thích tiêu thụ
Các thông tin do luật qui định
Trang 72.3 Dịch vụ
Các nhà quản trị marketing phải quyết định bốn vấn đề liên quan đến việc cungcấp dịnh vụ cho khách hàng:
- Nội dung hay các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khả năng công
ty có thể cung cấp là gì? Tầm quan trọng tương đối tương đối từng yếu tốdịch vụ đó
- Chất lượng dịch vụ và công ty phải đảm bảo chất lượng dịch vụ cho kháchhàng đến mức độ nào so với các đối thủ cạnh tranh
2.4.1 Khái niệm chủng loại sản phẩm:
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau dogiống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, haythông qua cùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng mộtdãy giá
2.4.2 Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm:
Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặt hàngthành phần theo một tiêu thức nhất đinh, ví dụ như theo kích cỡ, công suất Hiện tại, các công ty đều gặp phải vấn đề đặt ra là mở rộng và duy trì bề rộngcủa những loại sản phẩm bằng cách nào? Giải quyết vấn đề này thường có haihướng lựa chọn:
- Phát triển chủng loại:
Phát triển hướng xuống dưới
Phát triển hướng lên trên
Phát triển theo cả hai hướng trên
- Bổ sung mặt hàng cho chủng loại sản phẩm Việc bổ sung xuất phát từnhững mục đích sau:
Mong muốn có thêm lợi nhuận
Để lấp chỗ trống trong chủng loại hiện có
Tận dụng năng lực sản xuất dịch vụ dư thừa
Trang 8 Mưu toan trở thành công ty chủ chốt với chủng loạiđầy đủ.
2.4.3 Quyết định về danh mục sản phẩm:
Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các chủng loại sản phẩm và các đơn vịsản phẩm do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua Danh mục sảnphẩm được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài hòacủa nó
- Bề rộng của danh mục sản phẩm là tổng số các chủng loại sản phẩm docông ty sản xuất
- Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng số những mặt hàngthành phần của nó
- Bề sâu của danh mục sản phẩm là tổng số các đơn vị sản phẩm cụ thể đượcchào bán trong từng mặt hàng riêng của một chủng loại
- Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm phản ánh mức độ gần gũi của sảnphẩm thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sửdụng cuối cùng, hoặc những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phânphối hay một tiêu chuẩn nào đó
2.5 Thiết kế và marketing sản phẩm mới
2.5.1 Khái quát sản phẩm mới:
Theo quan niệm marketing, sản phẩm mới có thể là những sản phẩm mới vềnguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãnhiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của công ty Nhưng dấu hiệuquan trọng nhất đánh giá sản phẩm đó là sản phẩm mới hay không phải là sự thừanhận của khách hàng
2.5.2.Các giai đoạn thiết kế và marketing sản phẩm mới:
a, Hình thành ý tưởng:
Việc tìm kiếm ý tưởng có thể căn cứ vào các nguồn tin sau:
- Từ phía khách hàng
- Từ các nhà khoa học
- Nghiên cứu những sản phẩ thành công hoặc thất bại của đối thủ cạnh tranh
- Nhân viên bán hàng và những người của công ty thường tiếp xúc với kháchhàng
Trang 9- Những người có bằng sáng chế phát minh, các trường đại học, các nhànghiên cứu marketing
Ý tưởng về sản phẩm mới thường hàm chứa những tư tưởng chiến lược tronghoạt động kinh doanh và hoạt động marketing của công ty Với mỗi ý tưởngthường có khả năng, điều kiện thực hiện và ưu thế khác nhau Vì vậy phải chọnlọc ý tưởng tốt nhất
b, Lựa chọn ý tưởng
Mục đích: cố gắng phát hiện sàng lọc và thải loại những ý tưởng không phùhợp, kém háp dẫn, nhằm chọn lọc những ý tưởng tốt nhất Để làm được điều này,mỗi ý tưởng về sản phẩm mới cần được trình bày với những nội dung như: mô tảsản phẩm, thị trường mục tiêu, các đối thủ cạnh tranh, chi phí
c, Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới:
Ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩm, còn dự án là sự thể hiện tưtưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham số về đặc tínhhay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau của chúng
Sau khi đã có dự án về sản phẩm, cần phải thẩm định dự án Thẩm định dự án
là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng mục tiêu đối với cácphương án sản phẩm được mô tả
d, Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới:
Chiến lược marketing sản phẩm mới gồm các phần:
- Mô tả qui mô, cấu trức thị trường và thái độ của khách hàng trên thị trường mụctiêu, dự kiến xác lập vị trí sản phẩm, chỉ tiêu về khối lượng bán, thị phần và lợinhuận trước mắt
- Trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dự đoán chi phí marketingcho năm đầu
- Trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ, lợi nhuận, quanđiểm chiến lược lâu dài về các yếu tố marketing – mix
e, Thiết kế sản phẩm mới.
f, Thử nghiệm trong điều kiện thị trường.
g, Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung sản phẩm mới ra thị trường:
Trong giai đoạn này công ty phải thông qua bốn quyết định:
Trang 10- Khi nào thì tung ra sản phẩm mới chính thức vào thị trường?
- Sản phẩm mới sẽ được tung ra ở đâu?
- Sản phẩm mới trước hết phải tập trung bán cho đối tượng khách hàng nào?
- Sản phẩm mới được tung ra bán như thế nào? Với những hoạt động hỗ trợnào để xúc tiến việc bán?
2.6 Chu kỳ sống của sản phẩm
2.6.1 Định nghĩa:
Chu kỳ sống của sản phẩm là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể
từ khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thịtrường Chu kỳ sống của sản phẩm có thể được xem xét cho từng mặt hàng cụ thể,từng nhóm chủng loại, thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm
2.6.2 Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
a, Giai đoạn tung ra thị trường:
Hướng chiến lược của hoạt động marketing trong giai đoạn này:
- Tập trung nỗ lực bán vào nhóm khách hàng có điều kiện sẵn sàng mua nhất
- Động viên khuyến khích các trung gian marketing
- Tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán
b, Giai đoạn phát triển
Trong giai đoạn này, các công ty có thể thực hiện các chiến lược sau:
- Giữ nguyên giá hoặc giảm chút ít để thu hút khách hàng
- Giữ nguyên hoặc tăng chi phí kích thích tiêu thụ
- Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về sản phẩm cho công chúng
- Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo cho nó tính chất mới, sản xuất nhữngmẫu mã mới
- Xâm nhập vào những phần thị trường mới
- Sử dụng kênh phân phối mới
- Thay đổi đôi chút về thông điệp quảng cáo để kích cầu khách hàng
c, Giai đoạn bão hòa
Khi nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bướcvào giai đoạn chín muồi Sản phẩm tiêu thụ chậm có nghĩa là chúng tràn đấy
Trang 11trên các kênh lưu thông, điều đó hàm chứa cuộc cạnh tranh gay gắt Để cạnhtranh, các đối thủ dùng một số thủ thuật như: bán hạ giá, bán giá thấp, tăngquảng cáo Tình hình đó dẫn đến sự giảm sút của lợi nhuận Để tiếp tục tồntại, các nhà quản trị marketing có các phương án sau:
- Cải biến thị trường, tìm thị trường mới cho sản phẩm
- Cải biến sản phẩm
- Cải biến công cụ marketing – mix
d, Giai đoạn suy thoái
Giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ các loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sảnphẩm giảm sút Khi mức tiêu thụ giảm sút, dẫn đến lợi nhuân giảm sút, một sốcông ty có thể rút khỏi thị trường, số còn lại có thể thu hẹp chủng loại sảnphẩm chào bán, từ bỏ phần thị trường nhỏ, những kênh thương mại ít hiệu quả.Nhưng việc giữ lại sản phẩm đã suy thoái có thể gây ra khó khăn cho công ty,giảm uy tín cho toàn công ty.Để hạn chế ảnh hưởng xấu của hiện tượng nàycông ty cần quan tâm tới các khía cạnh:
- Luôn theo dõi để phát hiện những sản phẩm bước vào giai đoạn suy thoái
- Đối với từng mặt hàng phải nhanh chóng thông qua quyết định tiếp tục lưugiữ hay thải loại chúng ra khỏi danh mục sản phẩm công ty
Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA APPLE
I Khái quát về doanh nghiệp:
Trang 121.2.Quá trình phát triển
Năm 1976, tại một Gara oto nhỏ Paul Jobs 21 tuổi với biệt danh “kẻ tham vọng”
và Wozniak 26 tuổi thường gọi là “Thợ hàn” đã xây dựng nên ý niệm đầu tiên vềkiểu dáng cho một chiếc máy tính cá nhân và hình thành lên công ty Apple Banđầu họ mở một cửa hàng có tên “ Byte Shop “bán những phụ tùng máy tính cánhân và khách hàng đầu tiên biết đến những chiếc máy với các linh kiệnmainboard được hàn bằng tay
Cái tên “Quả táo” là ý tưởng của Jobs ,vốn là sinh viên đại học Oregon haylàm thêm bằng nghề thu hoạch táo cho một số trang trại
Tháng 4/1977 Apple II ra đời với bàn phím ,màn hình hiển thị màu.Đây là chiếcmáy tính đầu tiên được bán cho người tiêu dùng phổ thông chứ không phải chonhững ai am hiểu máy tính hay các tập đoàn
Từ một bộ sản phẩm nghiệp dư được yêu thích, Apple II đã trở thành sản phẩmbán chạy nhất vào thời điểm đó
Năm 1984, Apple tạo ra một ảnh hưởng quan trọng khác đến sự phát triển của ngành công nghệ thông tin khi cho ra mắt Macintosh - máy tính cá nhân đầu tiên được điều khiển bằng chuột và hệ điều hành đồ họa Đây là một phát minh quan trọng vì vào thời điểm đó window vẫn chưa ra đời
Apple là một trong những nhà sáng lập quan trọng và nổi bật trong lĩnh vực
IT Ngoài những sản phẩm truyền thống như máy tính Macintosh, Apple còn cho
ra mắt máy nghe nhạc kĩ thuật số Ipod và các dịch vụ liên quan rất thành công thông qua iTunes Đặc biệt sự ra đời của những chiếc điện thoại IPhone đầu tiên vào năm 2007 đã đưa Apple nên một tầm cao mới và sự thành công vượt trội
Với sự độc đáo về công nghệ cùng sự chau chuốt về sản phẩm, Applekhông ngừng sáng tạo và phát triển sản phẩm của mình
Hiện nay công ty thiết bị điện tử tiêu dùng Apple đã xây dựng ba nhóm sản phẩmnổi bật cho mình đó là: máy tính ,điện thoại di động thông minh và máy nghe nhạccùng các dịch vụ đi kèm
Thị trường mục tiêu của Apple nhắm tới là giới chuyên gia ,những người yêu thíchcông nghệ và sự đặc biệt về kiểu dáng thiết kế cũng như tính năng độc đáo về sảnphẩm
Ngày nay Apple đã trở thành một công ty hàng đầu trong lĩnh vực côngnghệ và họ cũng được coi là công ty sáng tạo nhất trên thế giới.Họ đã tạo đượcmột vị thế vững chắc trên thị trường của mình.Các sản phẩm luôn gắn liền vớihình ảnh của doanh nghiệp đã chiếm được vị trí đặc biệt trong tâm trí kháchàng.Hình ảnh của quả táo cắn dở đi vào tâm trí người tiêu dùng,đặc biệt là cácbạn trẻ với sự yêu mến và niềm hãnh diện khi sở hữu chúng
Để làm được điều đó Apple đã xây dựng được một chiến lược định vị hoànhào mà ít doanh nghiệp làm được
Trang 13II Thực trạng chính sách sản phẩm của công ty Apple.
2.1 Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm:
Nhãn hiệu là một trong những vai trò quan trọng để làm nên thành công củabất kì một sản phẩm nào Công ty Apple cũng đã có những quyết định quan trọngliên quan đến nhãn hiệu cho các sản phẩm của mình, làm nên nét hấp dẫn của sảnphẩm này trong lòng khách hàng
Trước hết, về việc gắn nhãn hiệu: Apple quyết định gắn nhãn hiệu cho toàn
bộ dòng sản phẩm đó là: máy tính ,điện thoại di động thông minh và máy nghenhạc Việc gắn nhãn cho sản phẩm vừa có thể giúp khách hàng có thể dễ dàngphân biệt các sản phẩm trên của Apple, vừa giúp công ty có thêm lòng tin củakhách hàng vào nhà sản xuất, bởi khách hàng tin vào công ty thông qua sự hiệndiện công khai của nhãn hiệu trên thị trường
Apple đã ghi một dấu ấn khá sâu sắc với khách hàng bằng cái tên của mình.Hãy nhìn tên các sản phẩm của Apple: iPod, iPhone, iMac v.v… Không phải cáitên nào cũng hoàn hảo nhưng tất cả chúng đều rất dễ nhớ.Tất cả những điều đó đãkhiến cho Apple luôn được mọi người yêu mến
Đi kèm với cái tên nhãn hiệu ấn tượng đó là một dấu hiệu của nhãn hiệucũng vô cùng độc đáo mà khách hàng khó có thể nhầm lẫn Apple với sản phẩmnào khác.Việc đưa ra logo và khẩu hiệu dễ nhớ cho Apple chính là một biện phápđưa tên tuổi sản phẩm vào lòng người tiêu dùng.Logo đầu tiên do Steve andWayne thiết kế năm 1976 vẽ ông Isaac Newton ngồi dưới gốc cây táo và có dòng
Sau đó logo đã được thay đổi bởi nhà thiết kế Rob Janoff với một quả táo màu cầuvồng (vì nó có nhiều màu sắc) và bị cắn một bên phải được cho là để kỷ niệm sựkiện khám phá lực hút trái đất và sự tán sắc ánh sáng của IsaacNewton Một sốcho rằng logo nhiều màu này nhằm mục đích quảng cáo thế hệ máy tính màuApple II.Qua vài năm, logo Apple xuất hiện với nhiều màu sắc khác nhau Giờ chỉ
sử dụng màu trắng hoặc màu crôm bạc
Trang 14Apple gắn logo lên sau tất cả các mặt hàng để người tiêu dùng nhận biếtđược sản phẩm của hãng , Với mỗi mặt hàng có đặc tính khác nhau thì được đặttheo tên gọi khác nhau như iPhone , iPod , iPad ,.v v Việc này giúp cho ngườitiêu dùng dễ dàng lựa chọn được các sản phẩm phục vụ thỏa mãn nhu cầu của họ.
2.2 Quyết định về bao gói và dịch vụ sản phẩm Apple :
2.2.1 Bao gói
Trong tất cả những dòng sản phẩm của Apple, ngay cả đến các chi tiết, mọi thứgần như hoàn hảo và bắt mắt từ thiết kế, đóng gói thậm chí đến cả những mẫuquảng cáo trên truyền hình
iPod hay iPhone, chúng ta hay xem xét về sản phẩm và hình thức bên ngoàicủa chúng Chúng đã dấy lên một lối sống công nghệ sành điệu, bởi có sự đầu tư
về thiết kế, cũng như hình thức bên ngoài Hình thức bên ngoài đã tạo nên sự cảmnhận và hứng thú cho khách hàng khi sử dụng sản phầm và đạt được cảm giác cựcđỉnh
Giá cả không phải là tiêu chí đánh giá “Giá trị” với các dòng máy Apple, trong
Trang 15khi khách hàng vẫn có thể mua các mày nghe nhạc MP3 hay điện thoại cùngtính năng và rẻ hơn Giá trị lớn nhất Apple có được là dám can đảm thay đổi tưduy thiết kế Họ hiểu rõ điều đó và khách hàng cũng thích vậy, nó giúp đẩy tàisản của các sản phẩm Apple lên mức cực đại.
Tuy nhiên, nếu sự khác biệt nếu bị sao chép và bắt chước, thì cách tính giá sẽphải thay đổi Sản phẩm phải được định giá trong khuôn khổ kỳ vọng củangười tiêu dùng (trừ khi họ có được các giá trị cộng thêm)
2.2 2 Dịch vụ
Điều quan trọng nhất mà các doanh nghiệp cần hết sức lưu tâm đó là hãy tạo ranhững trải nghiệm chưa từng có cho khách hàng, từ đó hãy để những khách hàngtrung thành cũng như các phương tiện truyền thông giúp mình bán hàng Đó chính
là cách mà Apple đã làm Họ để các khách hàng sử dụng sản phẩm của mình sau
đó mời họ phát biểu cảm tưởng của mình Căn cứ vào đó họ sẽ tạo ra những sảnphẩm tốt có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của khách hàng và thu đượcnhững phản hồi rất tốt từ người sử dụng Apple còn đưa ra các chính sách bảohành phục vụ tốt nhất cho lợi ích người tiêu dùng
Chính sách bảo hành bổ sung: