1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN PHÁT ÂM L-N CHO HỌC SINH LỚP 3

24 3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 127 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng từ xa xưa, việc giữ gìn tiếng Việt đã trở thành một quan điểmchính thống, Sử sách đã từng ghi, năm 1374 vua Trần Duệ Tông xuống chiếucho quân dân “Không được bắt chước tiếng nói nướ

Trang 1

PHẦN I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

A - CƠ SỞ LÝ LUẬN :

Dân tộc Việt Nam trải qua lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữnước Trong suốt hành trình ấy, đã có biết bao thăng trầm, bao biến cố, nhưngcon người Việt Nam vẫn kiên gan để khẳng định tiếng nói riêng của dân tộcmình Đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong “Tiếng nói” rất riêngkia, không thể không kể đến việc cha ông đã tìm ra tiếng Việt

Tiếng Việt là biểu hiện cụ thể của tính dân tộc, sự hình thành và pháttriển lâu dài trong tiến trình lịch sử của nước nhà Từ xa xưa, bằng thực tiễn

sử dụng ngôn ngữ, cha ông ta đã bày tỏ ý thức bảo vệ và quý trọng tiếng nóidân tộc Một kho tàng văn học dân gian phong phú chính là nơi tiếng Việtđược rèn luyện giữ gìn và phát huy Một thời kỳ rất dài, con người Việt Namdùng chữ Hán Nhưng liệu ai có thể nói rằng cha ông không từng quằn quạiđau đớn để tìm ra ngôn ngữ riêng cho dân tộc mình Thế kỷ thứ 13, chính làmốc son đáng nhớ của sự ra đời chữ Nôm Các nhà thơ, nhà văn Việt Nam có

cơ hội để biểu hiện lòng yêu quý của mình với bản sắc ngôn ngữ dân tộc, vớinhững tác phẩm chữ Nôm đậm chất Việt Nam Không dừng lại ở thành quả

đó, chữ Nôm mới chỉ là giai đoạn khởi đầu của Tiếng Việt…ông cha ta lạitiếp tục học hỏi sáng tạo để rồi cuối cùng một sản phẩm vĩ đại được hìnhthành: Chữ Quốc ngữ (Tiếng Việt)

Cũng từ xa xưa, việc giữ gìn tiếng Việt đã trở thành một quan điểmchính thống, Sử sách đã từng ghi, năm 1374 vua Trần Duệ Tông xuống chiếucho quân dân “Không được bắt chước tiếng nói nước Chiêm, nước Lào”.Nguyễn Trãi trong cuốn Dư Địa Chí (1435) cũng chủ trương: “Người nước takhông được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào,Xiêm làm loạn ngôn ngữ và y phục nước nhà”

Kế thừa và phát triển tư tưởng có tính truyền thống của cha ông, hơnnữa ngày nay Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự

Trang 2

quan tâm thường xuyên, đúng mực đối với vấn đề ngôn ngữ dân tộc Hơn baogiờ hết yêu cầu “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” Đối với mọi ngườidân Việt Nam được đặt ra bởi: Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vôcùng quý báu của dân tộc Chúng ta là thế hệ hậu sinh phải có trách nhiệmyêu quý, nâng niu và giữ gìn tài sản mà cha ông đã dày công tìm được, phảilàm cho nó phổ biến và ngày càng rộng khắp nơi.

Trong thời đại ngày nay, Tiếng Việt đang phát triển rất mạnh, chứcnăng và địa vị của nó ngày càng rộng và được khẳng định rõ rệt Mỗi conngười Việt Nam là một thành viên của cộng đồng, cần có ý thức sâu sắc đốivới việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Chính vì nhiệm vụ cao cả đónên việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường cho học sinh ở mọi lứa tuổi luôn làđiều quan trọng: đặc biệt hơn cả là việc dạy cho học sinh cấp tiểu học Bởiđây chính là lứa tuổi khởi đầu, với các em “ngôn ngữ” cũng là một môn họcđầy khó khăn và thú vị

Việc dạy Tiếng Việt của giáo viên phải nhằm vào cả hai chức năng cơbản: Công cụ tư duy và công cụ giao tiếp Phải chú trọng vào cả 4 kĩ năngnghe, nói, đọc, viết Phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giaotiếp Phải biến ý thức bảo vệ Tiếng Việt thành những hành động cụ thể củaviệc phát ngôn chuẩn hoá

B- CƠ SỞ THỰC TIỄN :

Con người, dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất, đều phải dùng ngôn ngữ đểnói chuyện với nhau Quả vậy, “ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọngnhất của con người” Song sử dụng ngôn ngữ nào hiệu quả nhất không thểkhông kể đến: Ngôn ngữ mẹ đẻ

Tiếng nói mẹ đẻ có vai trò tối quan trọng trong đời sống cộng đồng xãhội và đời sống cá nhân mỗi con người Chính nhờ ngôn ngữ mà con người cókhả năng thiết lập quan hệ xã hội diễn đạt trọn vẹn và sáng tỏ các sự kiệncũng như tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng của mình, làm cho người khác

Trang 3

thấu hiểu tất cả những gì hàm chứa trong sự diễn đạt ấy Bằng ngôn ngữ, conngười thế hệ trước có thể lưu truyền vốn tri thức và kinh nghiệm quý báu củamình cho con cháu, con người thế hệ sau có thể hiểu được cha ông Như vậy,

là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, ngôn ngữ phát huy vai trò đoàn kết, tậphợp con người trong sinh hoạt cộng đồng, trong lao động sản xuất, trong đấutranh phát triển xã hội, duy trì tính liên tục lịch sử của dân tộc, của xã hội

Là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người; tiếng nói (ngônngữ) gắn bó chặt chẽ với tư duy, cùng với tư duy hợp thành một thể thốngnhất

Như vậy tiếng nói không chỉ là âm lượng phát ra bên ngoài mà còn là

“Tiếng nói bên trong” của mỗi cá nhân

Tiếng Việt - ngôn ngữ mẹ đẻ rất phong phú, phức tạp; việc tiếp xúc vàhọc Tiếng Việt để sử dụng Tiếng Việt không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệtvới học sinh tiểu học Người giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng đểhướng dẫn các em học tiếng mẹ đẻ sao cho khoa học và hữu ích nhất; sao chongôn ngữ mẹ đẻ trở thành công cụ đắc lực trong những năm tháng các em họctập ở nhà trường, cũng như suốt cuộc đời

Học Tiếng Việt, học phát âm theo đúng chuẩn hóa là để tiến tới yếu tốthành công đầu tiên của bất kì cuộc giao tiếp nào: Bên trong hay bên ngoài.Học Tiếng Việt chính là ta đã góp phần vào công cuộc bảo vệ và giữ gìn sựtrọng sáng của ngôn ngữ dân tộc

Trang 4

PHẦN II– THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI

I- THUẬN LỢI :

- Mỗi chúng ta đều đã hiểu giao tiếp là hoạt động quan trọng để pháttriển xã hội loài người Có nhiều phương tiện giao tiếp trong đó ngôn ngữ làphương tiện quan trọng nhất, cơ bản nhất Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữacác thành viên trong xã hội với nhau Dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tưởng tìnhcảm, trao đổi ý kiến, kiến thức, nhận xét về xã hội, con người và thiên nhiên.Mỗi cuộc giao tiếp tối thiểu phải có 2 người và phải dùng cùng một ngôn ngữnhất định

- Tiếng Việt được kế thừa một số từ tiếng Hán, lai căng một số tiếngnước ngoài, do vậy mà Tiếng Việt rất phong phú Dân gian thường nói:

“Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.”

Chính vì nó phức tạp như vậy nên người Việt sử dụng ngôn ngữ TiếngViệt rất phong phú, đa dạng khi nói và viết

* Thực tế: Tiếng Việt nói chung là thống nhất Nó tồn tại trong ý thức

của mỗi người bản ngữ khi học viết đúng chính tả Song thực tế Tiếng Việtđược người Việt phát âm theo 3 vùng rõ rệt: Bắc, Trung, Nam

+ Miền Bắc tiếng nói chuẩn tiêu biểu là người thủ đô Hà Nội.Còn lại một số địa phương phát âm lệch chuẩn ở các phụ âm đầu: s/x; tr/ch; r/d/gi; l/n

+ Miền Nam tiếng nói chuẩn hướng đến cách phát âm của tiếngcủa người Thành phố Hồ Chí Minh

+ Miền Trung hướng đến cách phát âm của hệ thống ngữ âm phùhợp với chữ viết Song một số vùng miền Trung, Nam Bộ còn phát âm chưa

rõ và lẫn một số vần: uôi/uôn; in/inh; en/eng và thanh ?/~

II- KHÓ KHĂN:

Trong Tiếng Việt, ở cùng một âm vị nhưng có nhiều cách viết khácnhau và cách phát âm cũng khác nhau

Ví dụ: r/d/gi; s/x; l/n.

Trang 5

Hai dạng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cần sử dụng triệt để bốn kỹnăng: nghe, nói, đọc, viết Khi sử dụng 4 kỹ năng này thì hai kỹ năng: nghe,viết được giáo viên thực hiện tương đối tốt trong giao tiếp cũng như trong quátrình giảng dạy Song hai kỹ năng còn lại là kỹ năng đọc và kỹ năng nói còngặp nhiều khó khăn và bất cập.

Do những nét dị biệt về phương ngữ, thổ ngữ có từ lâu đời nên một sốngười khi viết một âm vị biết cách phân biệt chữ viết và tuân theo đúng quy ước

về chính tả với nhiều cách viết khác nhau Song khi phát âm đọc và nói còn chưaphân biệt rõ các phụ âm của tiếng Sự phát âm giống nhau l/n, biến vần rất phổbiến ở một số địa phương trong đó có khu vực huyện Mỹ Đức, nói riêng

Ví dụ: Khi nói: Bạn Long thành bạn Nong

Lý ơi ! thành Ní ơi !

Cái chổi thành cái chủi

Với kiểu phát âm như vậy khiến cho một số giáo viên cảm thấy mìnhkhông tự nhiên, mất tự tin, xấu hổ khi giao tiếp với người có giọng chuẩnmực

Trong giao tiếp kỹ năng đọc, nói cần phân biệt rõ l/n thì người nghe(ngôi thứ 2) mới tiếp nhận được thông tin một cách chính xác và hiểu đượcnội dung của người nói cần truyền đạt thông tin, tránh được tình trạng nhầmlẫn và hiểu sai vấn đề nghĩa của từ

Ví dụ: Khi phát âm vị sai dẫn đến hiểu nghĩa từ bị sai.

N trong tiếng nắng chỉ ánh nắng hiểu thành tiếng lắng chỉ lắng nghe.

N trong tiếng no chỉ no ấm thành tiếng lo chỉ lo âu.

N trong tiếng nắm chỉ nắm tay thành tiếng lắm chỉ nhiều lắm hoặc ngược lại.

Học sinh trường tôi nhiều em còn ngọng ở các dạng trên

Qua khảo sát học sinh đầu năm, lớp do tôi chủ nhiệm đạt được kết quả nhưsau:

Chất lượng khảo sát đầu năm học 2009-2010 điểm đọc lớp 3D (30 em) đạt như sau:

Trang 7

PHẦN III - NỘI DUNG ĐỀ TÀI

* BIỆN PHÁP RÈN PHÁT ÂM ĐÚNG L/N:

Do tiếng và tập tục địa phương từ nhiều năm phát âm lệch chuẩn, nhầmlẫn l/n và không có ý thức sửa chữa, tự sửa chữa Cũng có thể do chúng tamột phần cũng chưa nắm chắc quy ước chung của Tiếng Việt và còn nhiềunguyên nhân khác nữa Do vậy dẫn đến khi phát âm, khi viết còn nhầm lẫnnhiều ở một số người

Nguyên nhân do đâu mà nhiều nơi lại có nhiều người phát âm lệch chuẩnnhư vậy?

Có người cho rằng tiếng nói ngọng do nguồn nước Có người lại nói dothói quen người lớn dạy truyền miệng bi bô cho trẻ nhỏ không chú ý tới cáchphát âm các chữ cái liên quan tới độ rộng, hẹp của miệng,… không rèn chohọc sinh đọc đúng chính âm

- Tại địa bàn tôi sinh sống và giảng dạy, tôi tạm chia thành bốn đối tượng:

+ Một số người có tiếng nói chuẩn do họ không phải người địaphương tôi

+ Một số người đi công tác nơi xa trong thời gian dài, họ đã tựsửa cách phát âm không còn bị ngọng nữa

+ Một số người ở địa phương họ đã có ý thức sửa ngọng

+ Còn lại là những người phát âm ngọng (phần đông là học sinhmẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở.)

a) Đối với giáo viên:

Làm “mẫu” là một trong những biện pháp dạy học có tác dụng tốt ởTiểu học nói chung Trong việc rèn luyện đọc đúng l/n cho học sinh, việc đọcmẫu của giáo viên có một vai trò rất quan trọng Khi đọc mẫu các bài vàgiảng bài cho học sinh, giáo viên phát âm đúng sẽ ảnh hưởng tốt tới cách đọccủa học sinh rất nhiều Bởi học sinh Tiểu học rất hay bắt chước giọng đọc, lời

Trang 8

nói của thầy cô giáo Hơn nữa giọng đọc, ngôn ngữ, lời nói, của thầy cô làtrực quan sinh động, cụ thể trong các giờ học.

Việc đọc mẫu, lời nói, ngôn ngữ của giáo viên có tầm quan trọng nhưvậy nên khi đọc, nói, phát âm l/n tôi nghĩ giáo viên cần phải chú trọng vàkhông phát âm sai l/n Nhưng để có được giọng đọc chuẩn, phát âm đúng l/n

là một quá trình giáo viên phải tự rèn luyện Tự bản thân rèn luyện chưa đủ,tôi thường đưa vấn đề này ra đề nghị trong tổ sinh hoạt chuyên môn Tổchúng tôi gồm có 12 người Trong đó có tới 3 người ( kể cả tôi ) còn ngọng l/

n Chúng tôi đã tổ chức thảo luận về phân biệt l/n; tr/ch; s/x;…và tìm cáchkhắc phục việc luyện phát âm l/n của bản thân và sửa lỗi chính tả cho họcsinh Những góp ý, ý kiến của đồng nghiệp đưa ra, chúng tôi đã tiếp thu, rènluyện

Về phía nhà trường rất quan tâm tới vấn đề này Dưới sự chỉ đạo củaBGH, nhà trường đã đưa ra tiêu chí cần cho học sinh thi đọc với yêu cầu: Đọcđúng, đọc nhanh, đọc hiểu cho từng lớp Từ đó, mỗi giáo viên tự rút kinh nghiệmcho mình và có ý thức tự giác trong việc rèn đọc, sửa ngọng bằng cách:

+ Luyện đọc hàng ngày ở hai dạng: Đọc thành tiếng và đọc thầm ở cácthể loại: Văn, thơ, truyện, tục ngữ và một số những câu thơ tự ghép dễ lẫn

Ví dụ:

- Lúa nếp là lúa nếp làng Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng…

- Lên lớp là lúc lớn lên

Lẽ nào lầm lẫn, luôn luôn lơ là…

- Lấp lánh lửa chài - Sao hiện ra

Mây bay lóng lánh cánh buồm xa

+ Luyện đọc ở mọi lúc, mọi nơi: Luyện cách nói đúng để ứng xử trongcác tình huống khác nhau, có nhấn giọng ở ngữ điệu, điệu bộ Có thể luyện nóitrong các cuộc đàm thoại, chào hỏi, gọi điện, phát biểu, giảng giải, phỏng vấn,

Trang 9

chủ trì nghi lễ, hát, gieo vần, ngâm thơ…chú ý cách nói thích hợp, lịch sự dùngngôn ngữ phổ thông.

Bây giờ, việc phát âm chuẩn l/n không còn là vấn đề nan giải, chúng tôi

đã sửa ngọng được trong một thời gian nhất định

b) Đối với học sinh:

b1 – Ngay từ khi học sinh bước vào lớp 1, buổi đầu các em được làm

quen bằng bảng chữ cái: a, ă, â, b, c, d, đ…Giáo viên cần chú ý dạy học sinhcách phát âm chuẩn mực Cụ thể khi phát âm chú ý đến độ mở cửa miệngkhông quá rộng, đọc tròn tiếng: a, ă, â, bờ, cờ…chứ không được mở miệngquá rộng

Ví dụ : b ( bờ - ờ ); l ( lờ - ờ )…

Cách đọc này đến khi nghe ghép vần tạo tiếng sẽ làm cho giọngcủa học sinh kéo dài, méo tiếng và ngọng nghịu, tiếng nói sẽ rất nặng

b2

– Sửa lỗi phát âm cho học sinh bằng biện pháp luyện theo mẫu.

Giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn từ cần luyện để học sinhphát âm theo

b3 – Khi luyện l/n giáo viên giúp học sinh phân biệt:

Phụ âm 1

+ Đặc điểm và cách đọc:

Phụ âm “l” là một phụ âm biên, vì khi

phát âm hơi thoát ra hai bên nhiều

hơn Muốn phát âm đúng cần phải

uốn lưỡi và đặt đầu lưỡi vào bên

trong của lợi thuộc hàm trên

Khi phát âm hơi cũng bị đẩy rất

nhanh qua đầu lưỡi và thoát ra khỏi

cả mũi và miệng Muốn phát âmđúng cần phải đặt đầu lưỡi và lợithuộc hàm trên cho sát chân răngrồi mới phát âm

Chú ý khi phát âm không uốn lưỡi

Ví dụ: Trở nên

Nước Việt Nam

Ăn no

Trang 10

Lo lắng

Long lanh…

Nu na nu nống…

b4 – Chúng ta phải trực quan hoá sự mô tả âm vị và hướng dẫn học

sinh quan sát, tự ý kiểm tra xem mình đang phát âm nào? /n/ là một âm mũi, khi phát âm sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung Còn khi phát âm /l/ bằng cách

bịt chặt mũi và đọc: la, lo, lô, lu…Khi bịt chặt mũi, học sinh không thể phát

âm các tiếng: na, nô, nu… Khi cần luyện các âm cuối n/ l, giáo viên đọc tiếng

“lan, hát” thì cần hướng dẫn học sinh quan sát vị trí của lưỡi khi đọc Họcsinh hay đọc nhầm thành tiếng lang, bác Âm “Ng, c” lưỡi vẫn sát vào phầnhàm dưới Còn âm “n/ l” là những âm đầu lưỡi, chân răng Khi đọc đúng tiếng

“lan, hát” lưỡi phải đưa lên chạm vào hàm răng trên

b5 - Cần hướng dẫn học sinh vận dụng triệt để 4 đúng trong các giờ

* Các ví dụ khi học bài tập đọc thể loại văn xuôi:

- Khi dạy bài tập đọc: “Cô giáo tí hon” trang 17 T.V3 tập 1 Tôi cho họcsinh phát âm các từ : nón, ngọng líu, núng nính Nhiều học sinh phần đọc vỡcòn ngọng l/n, thậm chí rất khó khăn khi đọc “ngọng líu”

- Bài tập đọc: “Người mẹ” trang 29 T.V3 tập 1 Các từ học sinh đượcluyện phát âm là: lối nào, nảy lộc, lạnh lẽo Từ có l/n đứng cạnh nhau như: lối

Trang 11

nào, nảy lộc học sinh phần lớn đọc theo n hoặc l cả hai tiếng Ví dụ như lốilào,nối nào.

- Bài tập đọc: “Ở lại với chiến khu” trang 13 T.V3 tập 2 Học sinh đượcluyện đọc đúng, phát âm các từ : lúc lâu, lúc này, van lơn, lạnh tối

- Học sinh khi phát âm Tiếng Việt gặp l/n đã khó, còn ngọng khi đọc,phát âm tiếng phiên âm nước ngoài có l/n còn khó hơn

- Bài đọc thêm: “Người trí thức yêu nước” trang 28 T.V3 tập 2 có từ: ni-xi-lin

Pê Bài tập đọc: “Tiếng đàn” trang 54 T.V3 tập 2 có từ viPê ôPê lông

* Các ví dụ khi học bài tập đọc thể loại thơ:

- Đọc các bài thơ, khi đọc cần ngắt nhịp thơ sao cho đúng đã là khó Vậykhi gặp l/n càng phải chú trọng phát âm chuẩn nếu không sẽ không diễn đạtđược nội dung của bài thơ Đọc từ ngọng dẫn đến nghĩa sai, nội dung sai

- Bài tập đọc: “ Bận” trang 59 T.V3 tập 1 Các từ học sinh luyện phátâm: làm lửa, cấy lúa, thổi nấu

Làm lửa: lửa có nghĩa là lửa cháy

Đọc ngọng lửa thành nửa: một nửa, làm một nửa có nghĩa là chưa xong

- Bài tập đọc: “Cái cầu” trang 34 T.V3 tập 2 Học sinh cần đọc chuẩn, phát

âm đúng l/n kết hợp ngắt đúng nhịp thơ Các từ có l/n cần phát âm là: chumnước, lá tre, lối

Câu thơ có từ “chum nước”:

Nhện qua chum nước/ bắc cầu tơ nhỏ/

Ngắt nhịp như trên là đúng song cũng có trường hợp học sinh đã đọc

ngọng: nước thành lước lại còn ngắt nhịp sai như : Nhện qua chum/ lước bắc

Trang 12

Nếu đọc “lối” thành “nối” thì nghĩa câu thơ sẽ thay đổi Bởi “lối” cónghĩa là lối đi, đường đi sang bà ngoại Còn “nối” có nghĩa là cái này nối cáikia (không chỉ đường đi)

Qua thực tế giảng dạy tập đọc, khi dạy học sinh cần phát âm chuẩn l/n

là cần thiết và rất quan trọng để đảm bảo được nội dung bài học

Luyện đọc thành tiếng không chỉ dừng lại ở việc luyện chính âm màcần phải luyện đọc đúng ngữ điệu Để tạo ra ngữ điệu cho học sinh phải làmchủ các thông số âm thanh của giọng Tạo ra cường độ bằng cách điều khiển

độ nhanh, chậm và chỗ ngắt nghỉ của lời Tạo ra cao độ bằng cách kéo dàigiọng hay không kéo dài Đọc đúng từ phải trung thành với các từ ngữ củavăn bản Không đọc xuyên tạc, không đọc sai lệch từ ngữ Có như vậy ngườinghe mới cảm thụ được nội dung nghệ thuật của tác giả gửi gắm Học sinhđọc diễn cảm, đọc hay ngoài việc diễn đạt chuẩn nội dung nghệ thuật còn phảiphát âm đúng, đặc biệt là n/l

b6 – Dạy học sinh hiểu nghĩa của từ vựng trong các giờ học chính tả.

Luyện từ và câu giúp học sinh phân biệt rõ nghĩa và cách viết của một số cặp

từ dễ lẫn trong khi nói và viết Sau đây là một số ví dụ về những cặp từ :

* Cặp từ: Lên – nên

Lên

Động từ hay từ chỉ hoạt động là

kết quả của hành động chuyển động

theo chiều hướng đi lên

VD : + Nói lên : Truyện Kiều nói lên

nỗi khổ của người phụ nữ

VD : Anh ta đã nên người.

Ngày đăng: 14/04/2015, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w