Một số tiêu chí đánh giá khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ 4 -5 tuổi trong hoạt động tạo hình theo mẫu ..... Cùng với đó là khả năng thể hiện màu sắc trong tranh vẽ của trẻ mẫu
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN MỸ ĐỨC
TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI NGHĨA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi phối hợp màu nhằm phát triển khả năng
cảm thụ màu sắc cho trẻ”
Lĩnh Vực: Giáo dục mẫu giáo
Họ và tên: Nguyễn Thị Diệu
Giáo viên: Mẫu giáo 4 – 5 tuổi
Tài liệu kèm theo là đĩa CD
Năm học: 2013 - 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I Lý do chọn đề tài 3
CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1 Một số quan điểm nhìn nhận về màu sắc của các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống 4
1.2 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của màu sắc đối với sự phát triển của trẻ em 4
2 Một số vấn đề chung về màu sắc 4
2.1 Màu sắc là gì ?
… 4
2.2 Phối hợp màu là gì ? 5
2.3 Cảm thụ màu 6
3 Đặc điểm khả năng cảm thụ và thể hiện màu sắc của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 8
4 Một số phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình 9
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ SỬ DỤNG MÀU SẮC VÀ KHẢ NĂNG TÔ MÀU CỦA TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI ……… 10
1 Khái quát điều tra thực trạng 10
1.1 Mục đích điều tra 10
1.2 Đối tượng điều tra và địa bàn điều tra 10
1.3 Nội dung điều tra 10
1.4 Phương pháp điều tra 11
2 Một số tiêu chí đánh giá khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ 4 -5 tuổi trong hoạt động tạo hình theo mẫu 11
2.1 Các tiêu chí đánh giá 11
2.2 Thang đánh giá 12
3 Kết quả nghiên cứu thực trạng 13
3.1 Kết quả điều tra điều kiện cơ sở vật chất 13
3.2 Những nội dung phát triển thẩm mỹ cho trẻ trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành .14
3.3 Kết quả quy trình tổ chức hoạt động vẽ của trẻ ( hoạt động tạo hình theo mẫu ) 15
Trang 33.4 Kết quả điều tra sự hiểu biết của giáo viên về tầm quan trọng của việc
dạy trẻ sử dụng màu sắc 16
3.5 Về các nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thục và thể hiện màu sắc
17 3.6 Kết quả phân tích sản phẩm hoạt động 18
CHƯƠNG IV : MỐT SỐ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP THEO MẪU NHẰM PHÁT TRIỂN KHĂ NĂNG CẢM THỤ MÀU CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUÔI VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 19
1 Đề xuất một số biện pháp phối hợp màu và quy trình dạy trẻ 19
1.1 Một số biện pháp phối hợp màu theo mẫu nhằm phát triển khả năng cảm thụ màu sắc cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi ……….……… 19
1.2 Thực nghiệm sư phạm 25
1.3 Kết quả thực nghiệm 30
KẾT QUẢ SO SÁNH SỰ TIẾN BỘ VỀ KHẢ NĂNG CẢM THỤ VÀ SỬ DỤNG MÀU SẮC CỦA TRẺ HAI NHÓM ĐỐI CHỨNG VÀ THỰC NGHIỆM TRƯỚC VÀ SAU THỰC NGHIỆM 31
KẾT LUẬN 32
1 Kết luận chung 32
2 Kiến nghị sư phạm 33
Trang 4CHƯƠNG I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Dựa trên quan điểm giáo dục toàn diện, trẻ em ở trường mầm non đượcchăm sóc và giáo dục sao cho phát triển một cách hài hòa tất cả các mặt: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động Năm yếu tố này không tách rời màđược thực hiện đồng thời, có tác dụng bổ trợ lẫn nhau nhằm đạt được hiệu quảgiáo dục tốt nhất Ta nhận thấy rằng để hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ, một trong số những nhiệm vụ không thể thiếu là phát triển thẩm mỹ cho trẻ
Phát triển thẩm mỹ cho trẻ chính là giúp trẻ hòa mình vào nghệ thuật, cảm nhận được cái đẹp và làm phong phú, thanh lọc tâm hồn trẻ, hướng trẻ đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống Cách tiếp cận nghệ thuật phù hợp nhất với trẻ là vẽ Hoạt động vẽ vốn là một nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ em, đặc biệt là trẻ mẫu giáo nhỡ
Đối với trẻ em, thế giới xung quanh vô cùng rộng lớn và đầy bí ẩn Thếgiới ấy trong đôi mắt trẻ thơ là vô vàn những màu sắc kỳ diệu Màu sắc của cuộc sống là màu sắc của thiên nhiên hòa quyện với màu sắc tâm hồn các em
Vì thế mà nó hết sức huyền ảo và đa dạng Những màu sắc được trẻ thể hiện trong tranh chính là một cách hiện thực hóa những mảng màu vô hình ấy Nó mang đến những rung động và làm tươi mới tâm hồn trẻ, đem lại tình yêu và hứng thú với vạn vật xung quanh
Khả năng cảm thụ màu sắc phụ thuộc vào kinh nghiệm sống và sự lớn khôn của trẻ Trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi có khả năng cảm thụ màu sắc khá tốt
Trang 5Cùng với đó là khả năng thể hiện màu sắc trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo nhỡcũng khéo léo hơn so với những độ tuổi trước đó Tuy nhiên, những điều trẻ thể hiện trong tranh vẽ vẫn mang đậm tính chất hồn nhiên và gắn với những xúc cảm mạnh mẽ Trẻ đem cả yêu, ghét, thích, giận vào tranh Do vậy, khi xem tranh trẻ vẽ, người lớn đọc được những suy nghĩ và tình cảm của trẻ trong đó.
Tuy nhiên, việc thể hiện màu sắc đầy cảm tính như vậy một phần nào
đó đã làm ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ màu ở trẻ Trong một chừng mực nào đó, trẻ cần có một sự hài hòa trong cách thể hiện màu sắc bằng cảm nhận riêng của bản thân mà không làm mất đi giá trị hiện thực của bức tranh Nếu trẻ nắm bắt được tinh hoa và sự phong phú của màu sắc trong thiên nhiên và cuộc sống thì một cách rất tự nhiên, trẻ đã có trong tay những chất liệu tuyệt vời để vẽ nên cảm xúc tâm hồn mình Để giúp trẻ làm được điều đó, những nhà sư phạm cần tham gia vào việc cung cấp cho trẻ những hiểu biết đầu tiên
và cơ bản nhất về màu sắc
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi phối hợp màu nhằm phát triển khả năng cảm thụ màu sắc cho trẻ” làm đề tài nghiên cứu của mình
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 61 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1 Một số quan điểm nhìn nhận về màu sắc của các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống.
Màu sắc là bí ẩn muôn đời mà con người luôn tìm cách để định nghĩa
và lý giải sự kỳ diệu của nó Màu sắc đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong cuộc sống Trong lĩnh vực vật lý, màu sắc đặt cơ sở cho khoa học ánh sáng màu theo thuyết ánh sáng của
Newton Nghiên cứu về mắt và sự nhìn màu trong sinh lý học cũng được phânchia thành một bộ môn khoa học chuyên biệt Sự ảnh hưởng của màu sắc tới các phản ứng tâm lý mang đến ngành nghiên cứu tâm lý màu sắc Trong âm nhạc, các nốt là sự hiện thân của các màu cơ bản và tổ hợp gam được nhìn nhận như các hòa sắc trong hội họa Ngoài ra, ngành mỹ thuật ứng dụng như thiết kế đồ họa, quảng cáo, thời trang, nội thất… đã sử dụng màu sắc hết sức triệt để và sáng tạo mang lại lợi ích kinh tế to lớn Trong hội họa, những họa
sĩ thực sự là những “nhà màu sắc học” vì họ đã sử dụng chúng như một công
cụ đắc dụng để diễn tả cảm xúc về cái đẹp cũng như diễn tả cảm xúc tâm hồn họ
1.2 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của màu sắc đối với sự phát triển của trẻ em.
Ở Việt Nam:
Các tác giả Bùi Thị Ngọc Dung , Lê Hồng Vân đã kết luận: trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có khả năng lĩnh hội được đầy đủ 7 màu cơ bản và một số sắc độcủa màu, cùng với các màu trung gian (đen – xám – trắng) nếu việc giáo dục cảm giác màu sắc cho trẻ được quan tâm một cách đầy đủ
Các tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phạm Hồng Nga đều cho rằng màusắc trong tranh vẽ của trẻ có quan hệ chặt chẽ và được quy định bởi yếu tố tâm lý của trẻ qua hứng thú xúc cảm, tình cảm
Nhìn chung, màu sắc là một vấn đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ngay từ những ngày đầu của nền văn minh nhân loại ở nhiều
Trang 7lĩnh vực khác nhau Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của màu sắc đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ Nhận thức được tầm quan trọng đó tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu này với mong muốn thêm vào vai trò của màu sắc đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ thơ những đónggóp có ý nghĩa.
2 Một số vấn đề chung về màu sắc.
2.1 Màu sắc là gì?
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường sử dụng từ “màu sắc” trong nhiều lĩnh vực khác nhau cho những câu nhận định hay bày tỏ quan
điểm, cảm xúc như: mang màu sắc thời gian, màu sắc dân tộc, màu sắc tôn
giáo, màu sắc hài hòa… Theo Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt,
“màu sắc” là “các màu khác nhau nói chung”
Từ rất nhiều nguồn cơ sở khác nhau, ta có thể tạm hiểu như sau: Màu sắc
mà mắt ta cảm nhận được là dựa trên bước sóng ánh sáng Các bước sóng khác nhau sẽ tạo ra các màu khác nhau Các vật thể dưới tác động của ánh sáng chiếu vào sẽ phản xạ lại và được thị giác của con người ghi nhận.
Một số khái niệm căn bản:
- Màu: là từ chỉ các màu như đỏ, xanh, vàng.
- Sắc: là từ chỉ màu do một hoặc một tập hợp các màu khác nhau tạo
nên Ví dụ sự kết hợp giữa màu đỏ và màu vàng tạo ra sắc da cam.Hoặc một màu gọi là đỏ nhưng lại có sắc cam (đỏ cam), một màuvàng nhưng lại có sắc xanh (vàng chanh)
- Độ sáng tối: chỉ lượng ánh sáng phản chiếu hay truyền đi từ một màu
hoặc một tập hợp màu Trắng có độ sáng lớn nhất, đen có độ sángkém nhất
- Cường độ: chỉ mức tinh khiết mạnh yếu hay độ bão hòa của một
hoặc một tập hợp màu Ví dụ một màu có cường độ mạnh quá (da
Trang 8cam) đi với một màu có cường độ yếu quá (xanh tím than) tạo cảmgiác gắt Hai màu cùng có cường độ yếu (nhất là có diện tích màutương đương nhau) như hồng nhạt đi với xanh da trời nhạt gây cảmgiác nhợ, đơn điệu.
- Tương phản: chỉ mức độ (mạnh – yếu) tạo nên cảm giác khi hai hay
nhiều sắc màu tương tác vơi nhau tạo nên Ví dụ vàng tươi và tím làhai sắc màu tương phản mạnh vì khi đặt chúng cùng nhau tạo cho tacảm giác cả hai đều nổi bật Hoặc nâu trung bình và đen là hai sắcmàu tương phản yếu vì khi đặt chúng vào cùng nhau tạo cho ta cảmgiác không sắc màu nào nổi bật cả
- Gam: trong hội họa, gam dùng để chỉ các cấp độ của màu Ví dụ
“gam đỏ” chỉ chung các màu đỏ từ nhạt nhất đến đậm nhất
- Tông: được dùng trong hội họa với nghĩa “loại” Có hai cách dùng:
“tông đỏ” có nghĩa tương đương với “gam đỏ” chỉ chung các màu đỏ
từ nhạt nhất đếm đậm nhất “Tông màu ấm” chỉ chung tất cả các màumang lại cảm giác ấm (đỏ, vàng, cam…) Tuy nhiên cách dùng thứhai chuẩn nghĩa hơn và được sử dụng phổ biến hơn
2.2 Phối hợp màu là gì?
Động từ “phối màu” được sử dụng thường xuyên trong mỹ thuật, cả trong ngành nghệ thuật trang trí lẫn nghệ thuật tạo hình Vây, phải hiểu “phối
màu” như thế nào cho đúng?
Phối màu được hiểu theo hai nghĩa Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn
Như Ý, 2008: “Phối màu: 1 Pha trộn các màu tạo ra màu mới; 2 Sử dụng
màu sắc một cách hài hòa, thích hợp”.
Trong giới hạn của SKKN này, chúng ta sẽ hiểu động từ “phối màu” với ý nghĩa thứ hai là sử dụng màu sắc một cách hài hòa, thích hợp Việc phốimàu là sắp đặt các màu cạnh nhau theo những tương quan nhất định để đạt
Trang 9được hiệu quả về sự hài hòa Qua việc tạo nên sự hài hòa cho màu sắc của bức tranh, trẻ sẽ dần cảm nhận và hiểu được quy luật biến đổi của màu sắc, ý nghĩa và tác dụng của các màu khi đặt cạnh nhau… Nhờ đó, trẻ có thể sáng tạo với màu sắc, tiến đến làm chủ được màu sắc, sử dụng màu sắc như một công cụ hữu hiệu để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, ước mơ của mình.
2.3 Cảm thụ màu.
Sự cảm nhận tác động vào con người từ thiên nhiên, cuộc sống và xã hội Nó được bắt nguồn từ một cảm xúc hoặc từ một kích thích nào đó Có thể
nó cũng xuất phát từ một câu chuyện, một giai thoại, tình huống có sẵn hay từ
sự vận dụng suy nghĩ, suy luận và liên hệ bản thân từ mỗi tác giả trước hiện tượng sự vật đó Những cảm nhận này được xuất hiện hình thành từ nhu cầu sáng tạo, từ tác động của tư duy tình cảm và tinh thần của nghệ sĩ
Cảm giác là hình thức đầu tiên mà qua đó, mối liên hệ tâm lý của
cơ thể với môi trường được thiết lập Trong quá trình phát triển của một đứa trẻ cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của cơ thể trong thế giới xung quanh Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của
sự vật và hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan Nhờ có những cảm giác mà các thuộc tính riêng lẻ của sự vật (màu sắc, âm thanh, hình dáng…) được phản ánh trên vỏ não
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các
thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của con người
Khác với cảm giác, tri khác không phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ cúa sự vật hiện tượng mà phản ánh sự vật nói chung trong tổng hòa các thuộc tính của nó Như thế không có nghĩa tri giác là tổng số các cảm giác riêng lẻ
mà là một mức độ mới của nhận thức cảm tính
Cảm thụ màu sắc chính là mức độ cao của khả năng tri giác, nhận biết
về màu sắc của con người
Sự cảm thụ về màu sắc phụ thuộc vào một số yếu tố và điều kiện:
Trang 10* Yếu tố sinh học:
Khả năng cảm thụ màu sắc trước hết chịu ảnh hưởng bởi hoạt động của mắt, cơ quan thị giác của con người, mà hoạt động của mắt trước hết lại phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh di truyền
Như vậy, ở những trẻ có cấu tạo cơ quan phân tích thị giác bình
thường, cảm nhận sắc giác phát triển bình thường Còn với những trẻ gặp phảirối loạn chức năng võng mạc do yếu tố bẩm sinh hoặc di truyền sẽ kéo theo những rối loạn về sắc giác
* Yếu tố vật lý:
Ngành khoa học Vật lý về màu sắc chuyên nghiên cứu vấn đề này.Màu sắc trong thiên nhiên luôn luôn biến đổi do ánh sáng không ngừngbiến đổi Khi ánh sáng biến đổi, ánh sáng khúc xạ lên bề mặt của khí quyển
và sự vật cũng biến đổi theo Vì vậy, những hình ảnh về màu sắc trong thiên nhiên chạy qua mắt người rất nhanh Hiện tượng này làm cho con người có cảm giác hỗn hợp về màu sắc
Thiên nhiên có được sự phong phú về màu sắc cũng như sự hòa sắc là nhờ sự rọi sáng chung và các tia phản xạ trong không gian Màu sắc của sự vật sẽ thay đổi về độ sáng khi sự rọi sáng thay đổi Cơ sở vật lý của độ sáng là
độ chói của bức xạ chiếu trực tiếp và bức xạ phản chiếu Độ sáng tăng lên mạnh thì những khác biệt về màu sắc của màu càng giảm xuống
Yếu tố tâm lý:
Sự ảnh hướng của tâm lý cá nhân tới sự cảm thụ màu sắc thể hiện khá
rõ nét Không phải ngẫu nhiên mà cùng đứng trước một cảnh tượng, một sự vật mà mỗi họa sĩ lại có một bức tranh với các gam màu hoàn toàn không có
Trang 11về thị giác màu sắc nhưng sự cảm thụ màu sắc lại mang tính chất chủ quan, mang đậm dấu ấn cá biệt của chủ thể cảm thụ.
- Sự cảm thụ màu sắc của trẻ là một thành tố của quá trình cảm thụ nghệ thuật ở trẻ Do đó, các tác động giáo dục phù hợp sẽ ảnh hưởng tích cực tới khả năng cảm thụ màu sắc của trẻ Bởi vậy, giáo dục có vai trò định hướng cho sự cảm thụ màu sắc ở trẻ Nhờ các tác động giáo dục mà sự cảm thụ màu sắc của trẻ được định hướng phát triển thành sự cảm thụ thẩm mỹ về màu sắc.Các tác động giáo dục cũng định hướng cho những xúc cảm, tình cảm thẩm
mỹ, đánh giá thẩm mỹ của trẻ từ màu sắc phù hợp với các chuẩn mục mang tính xã hội Từ sự tri giác màu sắc đến quá trình lĩnh hội kiến thức, vốn hiểu biết về màu sắc và quan trọng hình thành thái độ tình cảm với màu sắc, sự thể hiện màu sắc của trẻ cần có sự hướng dẫn, tổ chức một cách khoa học của người lớn
3 Đặc điểm khả năng cảm thụ và thể hiện màu sắc của trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi.
Khả năng cảm thụ màu của trẻ 4-5 tuổi là kết quả của cả một quá trình phát triển lâu dài của trẻ thông qua hoạt động tạo hình từ lứa tuổi bé (3-4 tuổi)
* Trẻ 3-4 tuổi:
Trẻ độ tuổi này cảm thụ màu sắc như một giá trị độc lập, ngoài quan hệvới màu sắc thực sự của sự vật Trẻ không có nguyện vọng sử dụng nhiều màu, bởi ở giai đoạn đầu, sự chú ý của trẻ tập trung nhiều hơn vào sự vận động và biến đổi của các đường nét, vì vậy trẻ thường sử dụng một màu cho
cả bức vẽ Tuy nhiên, trẻ đã có thể liên hệ màu với hình ảnh của vật khi màu sắc gợi ta sự liên tưởng trong thể hiện hình ảnh nào đó: màu đỏ - mặt trời; màu xanh – lá cây…
Trẻ thường chơi với bút màu như một loại đồ chơi mới và có thể bôi tất
cả các màu vào tranh vẽ hoặc chỉ dùng một màu mà nó cảm thấy thích và lựa
Trang 12chọn Một điểm đáng chú ý ở lứa tuổi này là: các công trình nghiên cứu tâm
lý học đã cho thấy một số trẻ 3-4 tuổi đã bắt đầu có thái độ khác nhau với các màu khác nhau Ví dụ “màu đáng yêu” là những màu tươi sáng (đỏ, vàng, da cam, xanh lam…); “màu đáng ghét” là những màu tối, lạnh (đen, nâu, tím, xám…) Trẻ có thể tập sử dụng các màu sắc đó để thể hiện quan hệ tình cảm của mình với các đối tượng miêu tả
Trẻ 3-4 tuổi thường có xu hướng tự do thể hiện “màu không bắt chước”(màu không giống với màu có ở sự vật thật) Vì thế trẻ thường phá vỡ hình ảnh trọn vẹn của sự vật thành các bộ phận chi tiết rời rạc khi tô chúng thành các màu khác nhau
buộc đó mà không cần quan tâm tới đặc điểm chiếu sáng, đặc điểm thời gian, không gian trong hiện thực
Cảm xúc vẫn đóng vai trò là một yếu tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn bút màu ở trẻ: cái gì yêu thích thì tô vẽ bằng màu sáng, cái gì ghét hoặc sợ thì thường tô màu tối
Nhìn chung, khả năng cảm nhận của trẻ 4-5 tuổi đã có sự phát triển vượt
trội so với các lứa tuổi trước – nhờ vào sự phát triển mạnh của hoạt động nhậnbiết Trẻ 4-5 tuổi có khả năng nhận biết được các sắc thái của một số màu Một số ít trẻ đã có khả năng pha trộn màu để tạo ra màu mới Tuy vậy, khả năng thể hiện màu sắc vào tranh của trẻ còn hạn chế Nhìn chung một gốc thường được trẻ quy tụ lại ở một màu đại diện
Trang 13Ví dụ Màu xanh lá cây có nhiều sắc độ khác nhau, trẻ có khả năng nắm bắt được các sắc độ đó trong quá trình tri giác, nhưng khi thể hiện trẻ thường vẽ bằng một màu chung Vì thế màu trong tranh của trẻ rất cô đọng, đơn giản và mang sắc thái rất rõ rệt.
Hầu hết trẻ độ tuổi này vẫn chưa có khả năng pha trộn màu Trẻ chỉ có thể lựa chọn những màu sẵn có để tô Hơn nữa, trẻ chỉ tô theo bảng màu bẹ
mà chưa biết chuyển nhiều màu trong một mảng
Tóm lại, màu sắc trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo nói chung và của trẻ 4-5 tuổi nói riêng rất tươi, mạnh do trẻ thường sử dụng các màu cơ bản Đặc điểm này thể hiện rõ sự hạn chế trong khả năng cảm nhận và thể hiện màu sắccủa trẻ
4 Một số phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình.
Theo TS Lê Thanh Thủy, có thể hiểu “Phương pháp tổ chức hoạt
động tạo hình cho trẻ mầm non chính là hệ thống tác động qua lại của nhà sư phạm với trẻ để tổ chức hoạt động nhận thức thẩm mỹ và hoạt động thực tiễn cho trẻ nhằm bồi dưỡng ở trẻ các năng lực tạo hình giúp trẻ nắm được những hiểu biết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, hình thành và phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo”.
Trước kia, người ta phân chia các phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình thành ba nhóm phương pháp chính như sau:
- Nhóm phương pháp thông tin – tiếp nhận:
Trang 14Là nhóm các phương pháp có vai trò cung cấp cho trẻ những ấn tượng, những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên, xã hội, khoa học kỹ thuật… về phương thức hoạt động, đồng thời hình thành ở trẻ các xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ.
- Nhóm phương pháp thực hành – ôn luyện:
Là nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động tạo ra các sản phẩm tạo hình, giúp trẻ bổi dưỡng các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, các kinh nghiệm biểu cảm
- Nhóm phương pháp tìm tòi – sáng tạo:
Là nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động tìm kiếm khám phá, bồi dưỡng cho trẻ các kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
- Nhóm các biện pháp mang tính chất vui chơi (các biện pháp trò chơi):
Là các biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình có sử dụng yếu tố trò chơi Đây là biện pháp phù hợp với lứa tuổi mầm non, lứa tuổi mà hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ SỬ DỤNG MÀU SẮC VÀ KHẢ NĂNG TÔ MÀU CỦA TRẺ MẪU GIÁO
Trang 15biện pháp phối hợp màu theo mẫu phù hợp nhất với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi để đạt được mục tiêu phát triển khả năng cảm thụ màu cho trẻ.
1.2 Đối tượng điều tra và địa bàn điều tra.
Đối tượng điều tra của đề tài nghiên cứu là trẻ em mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi
Địa bàn điều tra thực trạng là trường mầm non Đại Nghĩa – Huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội
1.3 Nội dung điều tra.
* Những điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động vẽ cho trẻ:
- Về thiết bị
- Về môi trường hoạt động
* Những nội dung phát triển thẩm mỹ cho trẻ trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành:
+ Đối với giáo viên:
- Nhận của giáo viên về mức độ cần thiết của việc phát triển khả năng
cảm thụ màu sắc cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
- Những nội dung đã giáo dục nhằm phát triển khả năng cảm thụ màu
- Khả năng nhận biết và cảm thụ màu sắc: Nhận biết và phân biệt màu
sắc, chọn màu, hiểu một số tính chất của màu sắc
Trang 161.4 Phương pháp điều tra.
a) Phương pháp quan sát: Quan sát toàn bộ quy trình tổ chức hoạt
động tạo hình cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại một số trường mầmnon, chú ý đến những màu sắc mà cô giáo hướng dẫn trẻ sử dụng
và những màu được trẻ sử dụng
b) Phương pháp điều tra trực tiếp:
- Trao đổi đàm thoại với giáo viên về việc tổ chức hướng dẫn dùng màu và trẻ tô màu nói chung: những cách phối màu đã được đưa
ra, những khó khăn vướng mắc trong quá trình hướng dẫn trẻ…
- Đưa ra hệ thống câu hỏi để tìm hiểu những thói quen và sở thích củatrẻ khi sử dụng màu sắc
c) Phương pháp điều tra gián tiếp: Dùng phiếu (30 phiếu) để lấy
thông tin, ý kiến của giáo viên tại trường thực nghiệm cùng một
số trường khác về những vấn đề liên quan đến màu sắc và màusắc trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
d) Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Thu thập những
bức tranh mà trẻ tô màu ở nhiều chủ đề khác nhau và một số sảnphẩm ở các hoạt động khác để phân tích, đánh giá đặc điểm nhậnthức, mức độ cảm thụ màu sắc và sở thích dùng màu của trẻ
2 Một số tiêu chí đánh giá khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ 4-5 tuổi trong hoạt động tạo hình theo mẫu.
Khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ trong hoạt động tạo hình theo mẫu được đánh giá qua mức độ nhận thức, qua quan sát quá trình trẻ hoạt động thực tiễn cùng với việc phân tích tranh vẽ của trẻ
2.1 Các tiêu chí đánh giá.
a.Nhận biết về màu sắc:
Trẻ nhận biết, phân biệt, gọi tên được các màu đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím và các màu hồng, nâu, đen, xám, trắng (12 màu)
Trang 17
b Phân biệt sắc độ của màu:
Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để diễn tả các sắc độ khác nhau của hai màu chính: xanh – đỏ
c Hiểu khả năng biểu cảm của màu sắc, sử dụng màu sắc sáng tạo, thể hiện thái độ, tình cảm:
Trẻ hiểu được tính biểu cảm của màu sắc trong tranh vẽ và có ý thực lựa chọn sử dụng các màu sao cho phù hợp với nội dung thể hiện và cảm xúc bản thân của trẻ
d Kỹ năng tô màu:
Trẻ có các kỹ năng tô màu cơ bản, tô theo một chiều hoặc xoay tròn, tô
từ ngoài vào trong hoặc tô theo một hay nhiều hướng khác nhau tùy theo hìnhdáng của đối tượng, tô minh và không chờm ra ngoài nét vẽ
e Khả năng phối hợp màu sắc:
Trẻ có khả năng phối hợp màu sắc theo các cách tương phản hay tương đồng, nóng – lạnh một cách hài hòa Sử dụng linh hoạt phối hợp các biện pháp phối hợp màu vào bức vẽ
2.2 Thang đánh giá
a Nhận biết về màu sắc:
Loại tốt: Nhận biết được từ 10-12 màu
Loại khá: Nhận biết được từ 8-10 màu
Loại trung bình: Nhận biết được 6-8 màu
Loại yếu: Nhận biết dưới 6 màu
b Phân biệt sắc độ của màu:
Loại tốt: Phân biệt được sắc độ của màu, diễn đạt mạch lạc
Loại khá: Phân biệt được sắc độ của màu nhưng diễn đạt chưa mạch lạc
Loại trung bình: Phân biệt được sắc độ của màu khi gợi ý
Trang 18Loại yếu: Không phân biệt được sắc độ của màu.
c Hiểu khả năng biểu cảm của màu sắc, sử dụng màu sắc sáng tạo, thể hiện thái độ, tình cảm:
Loại tốt: Diễn đạt tốt ý đồ sử dụng màu sắc và tình cảm trong tranh của trẻ qua đàm thoại
Loại khá:Diễn đạt tương đối tốt ý đồ sử dụng màu sắc và tình cảm trong tranh của trẻ qua đàm thoại
Loại trung bình: Diễn đạt kém ý đồ sử dụng màu sắc và tình cảm trong tranh của trẻ qua đàm thoại
Loại yếu: Không diễn đạt được ý đồ sử dụng màu sắc và tình cảm trongtranh của trẻ qua đàm thoại
d Phân biệt sắc độ của màu:
Loại tốt: Có kỹ năng tô màu thuần thục, lựa chọn màu sắc phù hợp với nội dung miêu tả, sử dụng sáng tạo linh hoạt các biện pháp phối hợp màu sắc
để thể hiện thái độ tình cảm của mình
Loại khá: Có kỹ năng tô màu, lựa chọn màu sắc phù hợp với nội dung miêu tả, biết sử dụng biện pháp phối hợp màu sắc để thể hiện thái độ tình cảmcủa mình
Loại trung bình: Có kỹ năng tô màu, lựa chọn màu sắc theo khuôn mẫu,biết phối hợp màu sắc một các đơn giản, có cố gắng thể hiện tình cảm
Loại yếu: Kỹ năng tô màu hạn chế, sử dụng màu ngẫu nhiên, không phối hợp với nội dung miêu tả, không biết phối hợp màu sắc
3 Kết quả nghiên cứu thực trạng.
3.1 Kết quả điều tra điều kiện cơ sở vật chất.
- Về trang thiết bị:
Trang 19Bàn ghế cho cả ba độ tuổi bé, nhỡ, lớn có kích thước bằng nhau.Không có giá vẽ cho mỗi trẻ mà trẻ đặt giấy trực tiếp lên mặt bànphẳng để vẽ
Ở các lớp đều có bút màu sáp và màu nước Tuy nhiên, trẻ được sửdụng chủ yếu là màu sáp Màu sáp được chia thành nhiều rổ Trongmỗi rổ có nhiều màu khác nhau Tuy nhiên, các màu trong mỗi rổkhông đầy đủ sắc độ do trẻ thường mang màu từ rổ này sang rổkhác và lấy hết màu mình thích từ tất cả các rổ màu Điều đó gâykhó khăn cho việc thể hiện màu sắc ở trẻ Màu nước, màu bột vànhững loại màu khác trẻ rất hiếm khi được sử dụng do phương diện
vệ sinh và yêu cầu sử dụng các loại màu này tương đối phức tạp, đa
số trẻ không có kỹ năng sử dụng
Giấy vẽ cho trẻ là giấy A4 trắng hoặc những giấy đã dùng một mặt
do phụ huynh cung cấp cho lớp
- Về môi trường hoạt động:
Trẻ được vẽ trong lớp học Trong đó, có thể nhận thấy chưa có sự quan tâm đến việc tạo môi trường thẩm mỹ cho quá trình hoạt động tạo hình của trẻ Ở tất cả các lớp học đều có rất nhiều màu sắc Tuy nhiên, những màu sắc
đó không tuân theo một quy luật nào cả Đó chỉ là một tập hợp hỗn độn của những màu sắc khác nhau Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất như tường đã quá cũ, màu sơn bạc và quá nhiều đồ đạc khác nhau trong lớp học làm cho không gian lớp bị bó hẹp, thiếu ánh sáng tự nhiên Chính vì thế mà ở các lớp đều phải bật đèn điện cả ngày, trừ giờ ngủ Đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến sự nhận biết không chuẩn về màu sắc của trẻ cũng như ảnh hưởng đến thị giác của trẻ nói chung
Tóm lại, điều kiện cơ sở vật chất tại các trường mầm non hiện nay tuy đã
có rất nhiều thay đổi tích cực so với trước đây nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế dẫn đến chất lượng của giờ dạy tạo hình nói riêng chưa cao, khả năng cảm thụ màu sắc của trẻ chưa có điều kiện phát triển tốt
Trang 203.2 Những nội dung phát triển thẩm mỹ cho trẻ trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành:
Quá trình giáo dục bao gồm các thành tố cơ bản như mục đích, nội dung, phương pháp và biện pháp, phương tiện, hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục Các thành tố này có quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Do vậy, để có thể tìm ra các biện pháp giáo dục bồi dưỡng khả năng cảm thụ và thể hiện màu sắc cho trẻ, cầm xem xét cả quá trình giáo dục, với yếu tố đầu tiên là mục tiêu giáo dục
* Mục tiêu giáo dục
Với mục tiêu “… phát triển một số giá trị, nét tính cách, phẩm chất cần thiết phù hợp với lứa tuổi như: mạnh dạn, tự lực, độc lập, sáng tạo…, tạo điềukiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị học tập ở tiểu học và các bậc học sau có kết quả” thì việc phát triển khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc cho trẻ trong hoạt động vẽ góp phần phát triển năng lực sáng tạo, do
đó góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục mầm non
* Nội dung phát triển khả năng cảm thụ và thể hiện màu sắc cho trẻ
Trên thực tiễn giáo dục, nội dung phát triển khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc cho trẻ 4-5 tuổi được thể hiện trong các chương trình chăm sóc
và giáo dục trẻ mầm non:
- Trong chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ được thực hiện từ đầu thập
kỷ 90 (chương trình cải cách) nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ
và sử dụng màu sắc cho trẻ được đặt ra với các yêu cầu cụ thể như sau:
Trẻ thích tìm hiểu cái đẹp trong tranh ảnh, đồ dùng, đồ chơi,nhận biết được sự thay đổi của thiên nhiên, của loài vật quamàu sắc, hình dáng, bố cục
Trẻ biết phân biệt và sử dụng các màu: đỏ, vàng, xanh, xanh lácây, da cam, nâu, tím, đen, trắng
Dạy trẻ dùng màu để tô vẽ theo cảm xúc
Trang 21Dạy trẻ sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau để vẽ và tômàu như bút chì, bút dạ, bút lông, hoặc màu nước.
- Tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫugiáo 4-5 tuổi” chủ yếu tập trung vào đổi mới hình thành tổ chức hoạt động trên cơ sở cấu trúc lại nội dung đã có (chương trình cải cách) theo các chủ điểm nên về cơ bản không có sự thay đổi về nội dung giáo dục nói chung, về nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc cho trẻ trong hoạt động tạo hình nói riêng
Tôi đã sử dụng nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc cho trẻ trong các tài liệu trên làm căn cứ để xác định nội dung
và các yêu cầu cụ thể đối với sự cảm thụ, sử dụng màu sắc của trẻ nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu trong đề tài này
Cụ thể, tôi xác định nội dung đó là:
Dạy trẻ biết nhận biết, phân biệt, gọi tên màu
Dạy trẻ biết phối hợp các màu sắc theo những mối tương quan nhấtđịnh
Nắm được một số tính chất của màu
Dạy trẻ cách lựa chọn sử dụng màu
Dạy trẻ kỹ năng tô màu
3.3 Kết quả quy trình tổ chức hoạt động vẽ của trẻ (hoạt động tạo hình theo mẫu)
Hoạt động vẽ trên tiết mẫu của trẻ được thực hiện theo trình tự như sau:
- Cô cho trẻ xem mẫu (tranh, ảnh, vật thật…) đa số là tranh mẫu của cô (số liệu thống kê bảng 1)
B ng 1: M c ức độ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo độ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo s d ng m t s m u cho tr quan sát trong gi t o ộ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ố mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ẻ quan sát trong giờ tạo ờ tạo ạo hình
Trang 22- Phân tích mẫu: kể tên những đối tượng có trong tranh theo kiểu liệt
kê Giáo viên chủ yếu quan tâm đến việc cung cấp biểu tượng, kiến thức về đặc điểm cấu tạo, hình dạng của đối tượng mà ít quan tâm đến việc giảng giải cho trẻ hiểu mối liên hệ giữa hình thức và nội dung của đối tượng miêu tả
- Hướng dẫn vẽ: Giáo viên hướng dẫn trẻ vẽ theo kiểu miêu tả liệt kê làchủ yếu: cô vẽ cái gì trước, rồi đến cái gì sau, cái đó như thế nào… và cuối cùng là kể tên các màu cô dùng cho mỗi mảng
Ví dụ: Hướng dẫn trẻ vẽ con cá Cô vẽ một nét cong trên, tiếp theo là một nét cong dưới có cùng điểm đặt bút và cắt nét cong trên ở phía cuối tạo thành đuôi con cá Cô vẽ một nét cong trái để tạo thành đầu con cá, vẽ một hình trong nhỏ ở đầu cá làm mắt cá Sau đó cô vẽ những chiếc vây, và những chiếc vẩy cá Cô tô mắt cá bằng bút màu đen, vì đây là con cá vàng nên cả người con cá sẽ có màu vàng Các con có thể vẽ thêm rong rêu và sóng nước xung quanh con cá cho đẹp…
- Nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của trẻ: Bức tranh nào vẽ và tô
màu giống cô nhất là đẹp nhất Các bước của quá trình nhận xét kết quả hoạt động của trẻ thương là: Treo tranh của trẻ lên, cô cho trẻ lựa chọn bài mà trẻ thích nhất, giải thích tại sao thích, cho trẻ có bài vẽ
đẹp tự trình bày về cách vẽ và ý tưởng của mình, cô chọn một bài để nhận xét, động viên khuyến khích các trẻ
Ban đầu, khi cô cho trẻ xem tranh mẫu, trẻ tỏ ra rất hứng thú
Trang 23dáng và màu sắc của đối tượng Khi bắt đầu vẽ, một số trẻ vẽ rất nhanh theo mẫu của cô và bắt tay vào tô màu Một số trẻ yếu hơn bắt chước các bạn xungquanh để vẽ, sau đó lựa chọn màu theo ý thích Một số trẻ khác không biết vẽ
ra sao và ngồi cắn bút rất lâu Có trẻ nhận được sự giúp đỡ của cô, có trẻ đượcbạn vẽ giúp Tuy nhiên, khi bắt tay vào tô màu, trẻ chọn màu một cách bừa bãi và kỹ năng tô màu của những trẻ này thường yếu Đa số trẻ mất nhiều thờigian cho việc vẽ nên còn rất ít thời gian để tô màu Chính vì vậy mà rất nhiều trẻ không hoàn thành bài vẽ của mình Hầu hết trẻ chỉ vẽ xong mà chưa tô màu xong
B ng 2: Cách th c t ch c ho t ức độ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ổ chức hoạt động vẽ theo mẫu (% trên 10 giờ dự) ức độ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ạo độ sử dụng một số mẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ng v theo m u (% trên 10 gi d )ẽ theo mẫu (% trên 10 giờ dự) ẫu cho trẻ quan sát trong giờ tạo ờ tạo ự)
Số
TT Nội dung Đặc điểm hướng dẫn
Số giờ dự
2 Phân tích mẫu
- Miêu tả liệt kê
- Hướng dẫn vẽ bằng các phương tiện truyền cảm
1000
3 Hướng dẫn
cách vẽ
- Trình bày cách vẽ theo kiểu sơ đồ
- Hướng dẫn vẽ bằng các phương tiện truyền cảm
1000
4 Phân tích sản
phẩm của trẻ
- Gọi tên, liệt kê những chi tiết trẻ miêu
tả được trong tranh
- Phân tích khả năng thể hiện tính biểu cảm đặc trưng của vật qua các phương tiện truyền cảm
8020
3.4 Kết quả điều tra sự hiểu biết của giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy trẻ sử dụng màu sắc:
Đa số giáo viên mầm non đều cho rằng việc dạy trẻ sử dụng màu sắc nhằm phát triển khả năng cảm thụ và thể hiện màu của trẻ cũng như phát triển