Trách nhiệm của một giáo viên ngữ văn đối với việc giảng dạy mộttác phẩm văn học là phải làm sao cho học sinh thực hiện được khả năng cảmthụ của mình vào một tác phẩm văn học, và như gắn
Trang 1A
MỞ ĐẦU 1: Lý do chọn đề tài:
“Việc giảng dạy văn học và tiếng Việt là một khoa học và là mộtnghệ thuật, điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sángtạo để có cách dạy văn tốt hơn” – Phạm Văn Đồng Đó là những lời nói đầysức hướng đẫn và cổ vũ đối với đội ngũ giáo viên bộ môn ngữ văn củachúng ta
Là giáo viên bộ môn ngữ văn, qua quá trình học tập và thời gian giảngdạy ở trường PTTH, và qua khảo sát khả năng tiếp nhận một tác phẩm vănhọc của học sinh Chúng tôi xin trình bày với toàn thể các bạn đồng nghiệp
về đề tài: “ Phát huy năng lực cảm thụ giá trị nội dung thông qua phân tích các yếu tố nghệ thuật trong một tác phẩm thơ” Khi viết đề tài này,
chúng tôi mong các bạn đồng nghiệp đừng tìm trong những trang viết nàynhững khuôn mẫu sư phạm nào đó vế phương pháp giảng dạy tác phẩm vănhọc tốt nhất Những vấn đề chúng tôi viết ra đây nhằm trao đổi với các bạnmong khêu gợi được phần nào những suy nghĩ những tìm tòi sáng tạo củacác bạn Bởi vì chúng ta biết việc giảng dạy một tác phẩm văn học cũng nhưgiảng dạy tiếng Việt đối với thầy cô giáo cũng như đối với học sinh vẫn luôn
là việc phải suy nghĩ, phải tìm tòi và sáng tạo không ngừng
Trách nhiệm của một giáo viên ngữ văn đối với việc giảng dạy mộttác phẩm văn học là phải làm sao cho học sinh thực hiện được khả năng cảmthụ của mình vào một tác phẩm văn học, và như gắn tâm hồn của mình vàotác phẩm để từ đó các em tự ý thức được chính mình trong tất cả các mốiquan hệ và rèn luyện cho các em năng lực cảm thụ giá trị ý nghĩa của mộttác phẩm văn học
Phát triển năng lực cảm thụ thông qua sự tư duy phát hiện của họcsinh, làm cho các em cảm nhận được sâu sắc nhất giá trị nội dung cũng nhưnghệ thuật của tác phẩm văn học
2: Đối tượng nghiên cứu:
- Viết đề tài này nhằm giúp các giáo viên trong bộ môn ngữ văn màchủ yếu là giáo viên THPT có những phương pháp và điều chỉnh tốt hơntrong việc truyền đạt và giảng dạy một tác phẩm văn học cho học sinh
- Trọng tâm chủ yếu là hướng dẫn học sinh đi sâu vào khai thác vàphát hiện các yếu tố nghệ thuật trong một tác phẩm thơ, để từ đó giúp các
em cảm thụ được, nhận biết được giá trị nội dung của tác phẩm, đồng thời
Trang 2phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học văn, giúp giáo viên truyềnđạt kiến thức cho học sinh một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.
3: Phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng tiếp nhận: Học sinh THPT (Trường THPT Ngô Gia Tự
-Gò Dầu – Tây Ninh) - là lứa tuổi nhạy cảm trong việc cảm nhận, bởi lẽ tưduy của các em đã phát triển tuy nhiên các em còn nhận thức cảm tính
- Hướng dẫn học sinh đi sâu vào khai thác và phát hiện các yếu tố, dấuhiệu nghệ thuật trong một tác phẩm thơ ở bậc THPT, để từ đó rút ra giá trịnội dung của tác phẩm
4: Phương pháp nghiên cứu:
* Nghiên cứu tài liệu:
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung như: Phântích, phát hiện, so sánh, quan sát, điều tra, tổng hợp để xây dựng cơ sở lýluận và phương hướng giải quyết những nhiệm vụ đã đặt ra trong đề tài
* Thực nghiệm sư phạm:
- Xây dựng nội dung, kế hoạch
- Khảo sát khả năng tiếp nhận của học sinh
- Tổ chức dạy thực nghiệm
- Kiểm ta, đối chiếu kết quả thực nghiệm
* Giả thuyết khoa học:
Năng lực khai thác và phát hiện các yếu tố nghệ thuật trong một tácphẩm thơ còn rất hạn chế Dưới sự hướng dẫn của giáo viên và năng lực củachính bản thân học sinh, từ đó giúp các em cảm thụ được, nhận biết được giátrị nội dung của tác phẩm, đồng thời phát huy tính tích cực của các em tronggiờ học văn, giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách tốtnhất và hiệu quả nhất
B NỘI DUNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Thực hiện nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội và chỉ thị số14/2001/CT – TTG của Thủ tướng chính phủ về việc đổi mới nội dungchương trình SGK phổ thông và đổi mới phương pháp dạy học, nhằm nângcao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ
Trang 3cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Đồng thời để bộ mônNgữ văn ngày càng xích lại gần hơn đối với thế hệ học sinh chunhs ta hiệnnay Chúng tôi đã đi sâu và tìm hiểu phương pháp đổi mới dạy một tác phẩm
văn học mà cụ thể là tác phẩm thơ, với khuynh hướng: Phát huy năng lực cảm thụ giá trị nội dung thông qua phân tích các yếu tố nghệ thuật trong một tác phẩm thơ, để giúp các em nắm bắt giá trị của các tác phẩm
thơ một cách sâu sắc hơn
Để làm sáng rõ nội dung của đề tài, chúng tôi đưa ra một số quanniệm, hiểu biết của mình xoay quanh đề tài như sau:
1: Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức (nghệ thuật) trong một tácphẩm văn học
2: Một số phương pháp tiếp cận giá trị nội dung thông qua phân tíchcác yếu tố hình thức
II: CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1) Dựa trên những tác phẩm văn học trong chương trình và SGK.2) Quá trình tiếp nhận và cảm thụ văn học của học sinh THPT
3) Khả năng phát hiện dấu hiệu nghệ thuật trong TPVH của học sinhTHPT
III: NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
1: MỐI QUAN HỆ THỐNG NHẤT GIỮA NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
Chúng ta biết rằng tác phẩm văn học là một cấu trúc văn bản nghệthuật được tổ chức một cách chặt chẽ thành một chỉnh thể thống nhất Tácphẩm văn học là “loại văn chương tột đỉnh của thiên hạ, đúng là không ởtrong cái đóng mở kết cấu, nhưng mà không đóng mở kêt cấu thì cũngkhông thành văn chương” Là một kiểu tổ chức ngôn ngữ, tác phẩm văn học
dĩ nhiên phải có đóng mở kết cấu, lớp lang có sự gắn bó mật thiết với nhau.Tìm hiểu giá trị nội dung của tác phẩm văn học là phải tháo gỡ tất cả nhữngtương quan vốn không tách rời giữa nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Có nghĩa là trong một tác phẩm nội dung và hình thức có mối liên hệ biệnchứng và mật thiết với nhau Ở những tác phẩm nghệ thuật đích thực, sựphối hợp nội dung và hình thức phải hài hòa: “Nội dung không phải là cái gì
Trang 4khác mà là hình thức chuyển hóa ra thành nội dung, và hình thức cũng chẳngphải là cái gì khác mà là nội dung chuyển hóa ra thành hình thức”
Nói như vậy không phải là cứ nói đến nội dung là phải phân tích bất
cứ hình thức nào có trong tác phẩm văn học, mà chỉ tập trung phân tíchnhững hình thức, những dấu hiệu nghệ thuật mang tính nội dung Tuy nhiênnhững hình thức mang tính nội dung cho dù độc đáo đến đâu nhưng nókhông phải là đột ngột ngẫu nhiên mà phải có tính bền vững lặp đi lặp lạimột cách có đổi mới Có nghĩa là nó không phải là dấu hiệu riêng lẻ mà cómối liên hệ thống nhất trong toàn chỉnh thể tác phẩm, tất nhiên là nhiều sắcthái đa dạng
Như vậy, khi tiếp nhận giá trị nội dung của một tác phẩm văn học phảikhảo sát những dấu hiệu của hình thức một cách có hệ thống như vậy thìmới rút ra kết luận chính xác về giá trị nội dung của tác phẩm được Nhưngnếu trong một chỉnh thể tác phẩm, nội dung được triển khai theo nhiều bộphận, nhiều bình diện, nhiều cấp độ thì hình thức mang tính nội dung cũngnhư vậy Có nghĩa là giữa nội dung và hình thức phải có sự thống nhất,ngoài cung bậc của chỉnh thể tác phẩm, còn được thể hiện ở từng bộ phận,từng bình diện và từng cấp độ
2: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN GIÁ TRỊ NỘI DUNG THÔNG QUA PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ HÌNH THỨC.
Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của một nhà văn, vì vậy để hiểu
rõ được dụng ý của tác giả muốn đề cập trong tác phẩm thì chúng ta cần phảiđào sâu, bởi kỹ trong “đứa con đẻ tinh thần ấy” Nghĩa là chúng ta cần phảiphân tích, tìm hiểu kỹ tác phẩm, cần phải khai thác hết mọi khía cạnh mà tácgiả bộc lộ trong bài thơ Một trong những cách tiếp cận giá trị nội dung ýnghĩa của tác phẩm văn học là phải đi sâu phân tích tìm hiểu giá trị nghệthuật được tác giả sử dụng trong tác phẩm của mình Sau đây là một sốphương pháp tiếp cận giá trị nội dung thông qua cách phân tích các yếu tốnghệ thuật
2.1 Sự thay đổi đột ngột của thanh điệu.
Trong một tác phẩm thơ tác giả đang gieo vần một cách liền mạch, nghĩa
là các câu thơ đi theo một vần, bỗng nhiên đến một câu thơ nào đó vần củabài thơ bỗng nhiên bị thay đổi, không được gieo theo vần liền mạch nữa
- Xét hai câu thơ sau trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đoạn Tú
Bà đánh đập nàng Kiều được kết thúc như sau:
“ Thương ôi tài sắc bậc này
Trang 5Một dao oan nghiệt, đứt dây phong trần”
Ở câu thơ 8(câu bát) trên, ta thấy thanh huyền được gieo cuối cùng, nếu xétriêng trong phạm vi hai câu thơ này, không hề có một ý nghĩa nội dung nào
cả Nghĩa là nó không có giá trị nghệ thuật Nhưng nếu đặt trong mối tươngquan lớn hơn, trong cả đoạn Tú Bà đánh Kiều thì sẽ bộc lộ ngay vai trò thipháp của cái thanh huyền tưởng như vô cùng bình thường này Tất cả các từcuối cùng trong câu ở đoạn thơ khá dài này đều là thanh không:
“ Con kia đã bán cho aiNhập gia phải cứ phép nhà tao đây ”
đến cuối cùng bỗng hạ xuống kết thúc bằng thanh “ huyền” như để khóc, òanhư muốn nói rằng nàng Kiều đã chết rồi
2.2 Sự thay đổi về nhịp thơ
Cũng như sự thay đổi của thanh điệu.Trong một bài thơ nếu như nó đang
đi theo một nhịp nhất định, nhưng đến một đoạn hay một câu thơ nào đóbỗng nhiên nhịp thơ thay đổi, thì chắc hẳn rằng giá trị nội dung của nó xuấtphát từ điều này, nhà thơ muốn bộc lộ điều gì thông qua dấu hiệu đắc biệtấy
- Trong thơ lục bát, chúng ta biết rằng nhịp thơ luôn là nhịp chẵn: 3/3,2/2/2, 2/2/2/2, 4/4 nhưng bỗng nhiên câu thơ thay đổi thành nhịp lẻ như:
- “ Nửa chừng xuân / thoắt / gãy cành thiên hương” ( nhịp 3/1/4)
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)Chúng ta thấy nhịp thơ có sự thay đổi hoàn toàn, dường như nó bị gãy khúc.Phải chăng sự thay đổi này tác giả muốn nói lên cuộc đời của nàng Kiều có
2.3 Bài thơ có dấu hiệu lạ về cấu trúc câu.
Một tác phẩm văn học là một tác phẩm nghệ thuật của tác giả, cái haycủa tác phẩm văn học là khi viết tác giả có sử dụng nhiều thay đổi đặc biệt
Trang 6trong quy tắc sử dụng câu trúc, cú pháp của câu, nhưng nó vẫn nêu lên đượcgiá trị nội dung một cách sâu sắc Trong một câu thơ, cấu trúc cú pháp hoànchỉnh và quy tắc của nó là câu phải có đầy đủ chủ ngữ vị ngữ , thì nó mớiđầy đủ nội dung thông báo hoặc là chủ ngữ phải đứng trước vị ngữ.
- Chúng ta thử xét một số câu thơ sau:
“ Xiên ngang mặt đất rêu từng đámĐâm toạc chân mây đá mấy hòn”
(Tự Tình II – Hồ Xuân Hương)
Tác giả đã sử dung biện pháp đảo ngữ (chủ ngữ đứng sau vị ngữ ) kết hợpvới việc đưa động từ mạnh lên đầu câu “xiên ngang”, “đâm toạc” và việc kếthợp phép đối “mặt đất / chân mây” để tạo ra cách nói mạnh mẽ thể hiện thái
độ không cam chiu, ngang ngạnh, phẫn uất muốn vạch đất trời mà oán hờn,muốn thách thức số phận Từ than thở, tức tối đến muốn đập tan mốn giảithoát sự cô đơn, lẻ mọn của tác giả, nữ văn sĩ Hồ Xuân Hương
2.4 Sử dụng hình ảnh giàu tính biểu cảm các động từ mạnh, các từ tượng thanh, tượng hình, những từ ngữ đặc tả vv
- “Con gió xanh rì rào trong lá biếc,Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rôn rã bỗng đứt tiếng reo thi,Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
(Vội Vàng – Xuân Diệu)
Hình ảnh con gió cũng biết chuyện trò, cũng biết hờn vì sắp phải chia tayvới lá Hình ảnh tiếng chim đang rộn ràng ca múa, vậy mà bỗng ngừng bặt vìđang nghĩ rằng mình sắp mất đi => Đó chính là cảm nhận đầy bi kịch về sựsống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, li tan, phai tàn và mònhéo
2.5 Sử dụng câu ngắn dài khác nhau, câu đặc biệt
Nghĩa là trong một bài thơ chúng ta thấy có sự đặc biệt của số chữ trongcâu Số chữ trong câu không cố định nghĩa là câu thơ dài ngắn khác nhau,thay đổi liên tục thể hiện tâm sự của nhân vật trữ tình trúc trắc, gập ghềnh:
- “Khách tử lệ giao lạc
Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông,Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng!
Trang 7Cổ lai danh lợi nhân,Bôn tẩ lộ đồ trung ” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát” - Cao Bá Quát)
2.6 Trong một bài thơ có sử dụng các biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán
dụ, nhân hóa, so sánh và các biện pháp: lặp, điệp, láy, liệt kê, đối, nhấn
mạnh một điều gì đó hay thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả đối vớithiên nhiên, xã hội:
- “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
( )
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”
(Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ)
khẳng định tài năng của Nguyễn Công Trứ
- “Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đay khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.”
(Vội Vàng – Xuân Diệu)thể hiện sự reo vui của nhà thơ khi sự vật phơi bày trước mắt nhiều vô số kể,bất tận, đẹp vô cùng, tràn ngập tình yêu của con người Nhà thơ ngất ngâytrước vẻ đẹp của cây cỏ mùa xuân ấy, nó như thiên đường ở chốn trần giantăm tối này Kết hợp với những hình ảnh hết sức sáng tạo: lấy vẻ đẹp củacon người làm tâm điểm để xây dựng vẻ đẹp thiên nhiên “ánh sáng chớphàng mi”, “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” => Vạn vât dường nhưcũng có đôi có lứa và cũng có tình yêu như con người
- Hoặc trong 2 câu thơ sau:
“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,Váy lê quét đất mụ dầm ra.”
(Vịnh khoa thi hương – Trần Tế Xương)
Trang 8- Hay: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ thơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát bay”
(Chạy Giặc – Nguyễn Đình Chiểu)
=> Nghệ thuật đối “bỏ nhà/ mất ổ”, đảo ngữ, cách dùng từ láy đã làm nổi bậtcảnh chạy thất thần, hoảng loạn , tan tác, mất phương hướng , bơ vơ, tangtóc của lũ tre, cưa những con vật nhỏ bé Thật đáng tội nghiệp
2.7 Sử dụng thành ngữ,điển cố, điển tích.
Là sử dụng những cum từ cố định được hình thành trong lich sử và tồntại dưới dạng sẵn có, được sử dụng nguyên khối có ý nghĩa biểu đạt, có giátrị hình tượng và biểu cảm (Thành ngữ) Hay là những sự việc có trong sách
vở đời trước hoặc trong đời sống văn hóa dân gian được dẫn gợi trong vănchương, sách vở đời sau nhằm thể hiện nội dung tương ứng hình thức biểuhiện bằng từ, ngữ, câu… để tạo nên ý nghĩa hàm súc có giá trị tạo hìnhtượng và biểu cảm, để đời sau suy ngẫm, học hỏi, bình xét(Điển tích, điểncố)
- “Giường kia treo cũng hững hờ,Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)
“Giường kia” – dùng điển tích Trần Phồn -Từ Trĩ, “Đàn kia”- dùng điểntích Bá Nha – Chung Tử Kỳ , tất cả để nói lên nỗi đau đớn , trống vắngkhông còn người tri âm, tri kỷ
- “Dẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương”
(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)
Đàn Ngu Cầm : Mượn tích xưa (vua Nghiêu, vua Thuấn) để nói lên cái
mơ ước hiện tại, một khát vọng, mong mỏi một xã hội thanh bình, hạnhphúc, no ấm cho nhân dân
2.8 Mượn cảnh tả tình, mượn có nói không, lấy động tả tĩnh, thi trung hữu họa, ước lệ tượng trưng, cánh miêu tả từ xa đến gần, từ cao xuống thấp:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Trang 9Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mât lơ lửng trời xanh ngắt,Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
(Thu điếu – Nguyễn Khuyến)
Cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao xa, rồi từ cao xa trở lại gần:Chiếc thuyền câu -> mặt ao -> bầu trời -> ngõ trúc -> ao -> chiếc thuyềncâu Không khí mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật,với màu sắc “nước trong veo”, “sóng biếc”, “trời xanh ngắt” của làng quê.Cùng với những đường nét chuyển động nhẹ : sóng -> hơi gợn tí, lá vàng ->khẽ đưa vèo, tầng mây -> lơ lửng, kết hợp với những âm thanh tĩnh lặng,trầm mặc “khách vắng teo” Tất cả tạo nên một cảnh thu đẹp nhưng đượmbuồn không gian tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng Tuy bên cạnh đó cũng
cố được sự chuyển động, nhưng những chuyển động ấy rất nhẹ, rất khẽkhông đủ tạo âm thanh “sóng hơi gợn”, “lá khẽ đưa”, “mây lơ lửng” nên “cáđâu đớp động dưới chân bèo” càng làm tăng sự tĩnh mịch, yên ắng của cảnhvật, cái tĩnh bao trùm được gợi lên từ cái động rất nhỏ (lấy động tả tĩnh)
- “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng”
(Mộ - Hồ Chí Minh)
Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng bút pháp ước lệ: chỉ gợi lên những hình ảnh tượng trưng “Quyện điểu quy lâm”, “Cô vân mạn mạn”, “Sơn thôn thiếunữ”, “lô dĩ hồng”, kết hợp với phong cách của thơ ca cổ điển: tả cảnh ngụ tình Bài thơ đã miêu tả lên cảnh vật lúc chiều tà, đồng thời bộc lộ được tâm
sự buồn, cô đơn của người tù
2.9 Lối chơi chữ:
Là lợi dụng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, trong ngôn ngữnhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, )trong lời nói; “một biện pháp tu từ trong đó ngữ âm, nhữ nghĩa, văn tự, văn
Trang 10cảnh, được vận dụng một cách đặc biệt nhằm đem lại những liên tưởng bấtngờ, lí thú.”.
- “Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”
(Thương vợ - Trần Tế Xương)
Tác giả đã tách từ ngữ để đặt vào cấu trúc đối xứng Các từ “duyênnợ”, “nắng mưa” được tách đôi trong “Một duyên hai nợ” “ Năm nắng mườimưa” đã tạo nên những nét nghĩa riêng, thay vì duyên (tình duyên) là nợ (nợnần), tránh khỏi nắng thì mắc mưa, đề khổ, nhưng mỗi cái khổ có vị khácnhau, => càng làm nổi rõ đức tính chịu thương, chịu khó, hi sinh vì chồng
Trang 113: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM:
3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm:
Xây dựng đề tài này, chúng tôi muốn triển khai tới học sinh các khối10,11,12 của trường THPT Ngô Gia Tự khi khai thác, tiếp nhận hay cảm thụmột tác phẩm thơ
3.2 Kế hoạch thực nghiệm.
Sau khi xây dựng đề tài, chúng tôi đưa ra thảo luận và xin sự đónggóp, bổ sung ý kiến của tổ chuyên môn Chúng tôi đã tổ chức tiến hành xâydưng giáo án, dạy thực nghiệm trên các khối lớp K10: 10TN2, 10CB6; K11: 11CB3 - Trường THPT Ngô Gia Tự - Gò Dầu – Tây Ninh
3.3 Tổ chức các nội dung dạy thực nghiệm.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu giáo án thực nghiệm được xây dựng dựatrên phương hướng của đề tài
CẢNH NGÀY HÈ
( BẢO KÍNH CẢNH GIỚI 43 – NG TRÃI )
1- MỤC TIÊU:
1.1* Kiến thức :Vẻ đẹp của bức tranh cảnh ngày hè được gợi tả một
cách sinh động Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bức tranh trong cảnh ngàyhè: nhạy cảm với thiên nhiên và cuôc sống đời thường của nhân dân, luôn hướng về nhân dân với mong muốn “ dân giàu đủ khắp đòi phương”
-Nghệ thuật thơ Nôm độc đáo, những từ láy sinh động và câu thơ lục ngôn tự nhiên
1.2* Kĩ năng : Tự nhận thức là khả năng của con người biết nhìn
nhận đánh giá đúng tiềm năng, quan tâm và ý thức được mình đang làm gì
Trang 12- Kỹ năng giao tiếp: Xác định lối sống cao đẹp gắn với thiên nhiên, chung thủy, tình nghĩa với quê hương
- Đọc hiểu thơ Nôm đường luật Khả năng phát hiện và phân tích tác dụng của các yếu tồ nghệ thuật
1.3* Thái độ: bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng cao đẹp.
2 - TRỌNG TÂM:
Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bức tranh trong cảnh ngày hè: nhạy cảm với thiên nhiên và cuôc sống đời thường của nhân dân, luôn hướng về nhân dân.Nghệ thuật thơ Nôm độc đáo, những từ láy sinh động và câu thơ lục ngôn tự nhiên
3 - CHUẨN BỊ:
3.1: GV: Tư liệu về Quốc âm thi tập của Ng Trãi
3.2:HS : Tập soạn câu hỏi cuối bài “Cảnh ngày hè.”.
4 - TIẾN TRÌNH:
4.1 - Ổn định:
4.2 - Kiểm tra:
4.3 - Bài mới:
Hoạt động 1 : Tạo tâm thế cho học
sinh
Giới thiệu bài mới
Hoạt động 2: Tái hiện tác phẩm:
- Hãy nêu vài nét về tập thơ « Quốc
- Gồm 254 bài thơ Nôm
- Nội dung : phản ánh vẻ đẹp con