Tất cả những mặt hạn chế trênkhông chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống màcòn gây ra những tác động không nhỏ đến chất lượng môi trường làng nghề,đặc biệt là đố
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trải qua bao nhiêu đời nay, các làng nghề thủ công truyền thống từlâu đã là một nét đẹp rất riêng của vùng nông thôn Việt Nam Trong nhiềunăm vừa qua, cùng với sư phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội nóichung thì nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đã được khôi phục vàcũng đạt được những bước tiến khá mạnh tạo thành phong trào rộng khắptrong cả nước, góp phần cải thiện đáng kể cho đời sống nhân dân trongvùng Tuy nhiên, sự phát triển ấy còn mạng nặng tính tự phát, tùy tiện, chưa
có quy hoạch định hướng cụ thể cũng như quy mô sản xuất còn nhỏ, quytrình sản xuất và trang thiết bị còn lạc hậu Tất cả những mặt hạn chế trênkhông chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống màcòn gây ra những tác động không nhỏ đến chất lượng môi trường làng nghề,đặc biệt là đối với sức khỏe cộng đồng tại địa bàn và cả các vùng lân cận Vìvậy, lồng ghép sự phát triển để duy trì vững chắc hoạt động của các làngnghề với việc bảo đảm BVMT là việc cần thường xuyên được chú trọngquan tâm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng, thống nhất từ TrungƯơng đến địa phương
Tỉnh Bắc Ninh tính đến nay có 62 làng nghề truyền thống chiếm 10%lượng làng nghề truyền thống trong cả nước, chủ yếu trong trong các lĩnhvực sản xuất sản xuất giấy, đồ gỗ mỹ nghệ đem xuất khẩu, gốm, sắt thép táichế, đúc đồng Trong đó, thị xã Từ Sơn của tỉnh Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng
với sự phát triển của làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Làng nghề Đồng
Kỵ với chuyên môn là sản xuất đồ gỗ gồm nhiều chủng loại sản phẩm, nhiềunăm qua đã đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, không những là trongvùng mà còn cả những vùng miền lân cận, góp phần cho sự phát triển kinh tếcủa làng nghề, của thị xã Từ Sơn nói riêng và cả tỉnh Bắc Ninh nói chung
Trang 2Nhưng cũng không nằm ngoài thực trang chung, việc hoạt động sản xuất củalàng đang gây ra một vấn nạn về sự ô nhiễm môi trường Do đó, yêu cầuhiện nay là đòi hỏi công tác quản lý môi trường cho làng nghề Đồng Kỵ cầnđược các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, các nhà chuyên mônquan tâm sát sao để có định hướng, quy hoạch giải quyết
Những năm qua, công tác quản lý môi trường cho làng nghề Đồng Kỵcũng đã đạt được những kết quả nhất định nhưng bên cạnh đó vẫn khôngtránh khỏi nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau Ý thức được vấn
đề trên, bản thân tôi là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế và quản lý môitrường rất muốn nghiên cứu sâu hơn để có thể tìm ra những giải pháp chovấn đề môi trường nơi đây Vậy nên, tôi quyết định xin lựa chọn đề tài :
“Quản lý môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình
II Mục tiêu
Đề tài nghiên cứu của đề tài nhằm đi đến 2 mục tiêu:
Thứ nhất, phân tích thực trạng môi trường và tình hình thực hiện côngtác quản lý môi trường được quan tâm, tiến hành ra sao tại làng nghề Đồng
Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh Sau đó, rút ra những điểm tốt cần phát huy đồngthời nhìn ra những hạn chế phải khắc phục kịp thời
Thứ hai, từ những điểm mạnh điểm yếu đó chính là những căn cứ đưa
ra được nhiều giải pháp, kiến nghị cần thiết nhất góp phần đẩy mạnh côngtác quản lý môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ được tốt hơn cho những nămsau này
Trang 3III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến công tác QLMT làngnghề Đồng Kỵ - thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến công tác QLMT tạilàng nghề Đồng Kỵ - thị xã Từ Sơn – Bắc Ninh
Thời gian: từ 2005 đến nay
Địa điểm : làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ - thị xã Từ Sơn – TỉnhBắc Ninh
IV Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc.
Tiến hành thu thập tài liệu, số liệu quan trắc có liên quan từ các cơquan, Sở ban ngành như các Báo cáo hiện trạng môi trường có các số liệuthống kê, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Phương pháp so sánh, đánh giá.
Tiến hành điều tra thực địa bằng các bảng hỏi cụ thể, rõ ràng
Căn cứ vào các đánh giá thu được qua bảng hỏi cộng với các số liệunói chung có liên quan và các số liệu có tiêu chí đánh giá, để từ đó phân tíchđược sự hiệu quả cũng như chưa đạt yêu cầu qua các thời kỳ khác nhau củahiện trạng môi trường và công tác quản lý môi trường
Phương pháp đánh giá tác động môi trường.
Từ những số liệu có sẵn và có sự so sánh với các tiêu chí đánh giá đểphân tích những ảnh hưởng đến các mặt kinh tế - xã hội và môi trường
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp.
Tiến hành điều tra thực địa bằng các bảng hỏi cụ thể, rõ ràng với 14câu hỏi để đánh giá hiệu quả công tác quản lý môi trường qua ý kiến ngườidân
Trang 4V Nội dung
Chuyên đề có nội dung được chia thành 3 chương lớn:
Chương I: Cở sở lý luận của Quản lý môi trường làng nghề
Chương II: Thực trạng Quản lý môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ
-Từ Sơn – Bắc Ninh
Chương III: Giải pháp và kiến nghị cho công tác Quản lý môi trườngtại làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn – Bắc Ninh
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
QLMT : Quản lý môi trường
TN&MT: Tài nguyên và Môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QLMT LÀNG NGHỀ
1 Tổng quan về QLMT
Khái niệm chung về QLMT
Ngày nay, song hành với sự phát triển kinh tế là chất lượng môitrường sống đang bị đe dọa nghiêm trọng, nguy cơ mất cân bằng sinh thái,cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên là những vấn đề đang ngày càng hiệnhữu Phát triển kinh tế là cần thiết nhưng không thể xem nhẹ môi trườngsống, như vậy mới đảm bảo mục tiêu PTBVcủa mỗi quốc gia và của toàncầu Do đó, công tác QLMT ra đời là một yêu cầu tất yếu, để cân bằng giữalợi ích kinh tế và BVMT nhằm đảm bảo mục tiêu PTBV
Theo những quan điểm phương pháp luận của lý thuyết hệ thống thìquản lý ở đây là sự tác động chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và kháchthể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môitrường ngoài Quản lý phải bao gồm: chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra cáctác động, một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động đó và mụctiêu và quỹ đạo đặt ra cho cả chủ thể quản lý lẫn đối tượng quản lý
Từ cách tiếp cận vấn đề quản lý nói chung như trên thì QLMT được
hiểu như sau: QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của
chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ tiến hành.(theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Như Toàn – Giáo
trình Quản lý môi trường)
Trang 7QLMT được triển khai để tạo ra hiệu quả hoạt động phát triển tốt hơn,bền vững hơn cho hệ thống môi trường, cân bằng, ổn định về vật chất, tinhthần cho hôm nay và thế hệ mai sau.
Nguyên tắc của QLMT
Các nguyên tắc QLMT phản ánh các yêu cầu khách quan của quy luật
tự nhiên, KT – XH chi phối trong công tác QLMT Các nguyên tắc ấy là:
Bảo đảm tốt tính tổng hợp: Các hoạt động phát triển diễn ra dưới
nhiều hình thức, quy mô, tốc độ, trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu thìđều tác động lên đối tượng quản lý Do đó, trong hoạch định chính sáchQLMT cần tính đến những tác động tổng hợp cũng như hậu quả từ chúng
Bảo đảm không vi phạm tính hệ thống: Môi trường như là một hệ
thống hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành nên QLMTphải thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin về tình trạng hoạt động của hệ thốngmôi trường để đưa ra các quyết định phù hợp, đưa các phần tử cấu thànhhoạt động đều đặn, cân đối và hài hòa phục vụ cho mục tiêu đã dự tính
Bảo đảm được tính liên tục và nhất quán: Đặc tính của môi trường là
môt hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trìnhtrao đổi vật chất, năng lượng trong không gian và thời gian Chính vì vậy,đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý trong công tác QLMT
Bảo đảm nhất quán tập trung dân chủ: Tập trung phải được thực hiện
ổn thỏa trong bàn bạc, quyết định các vấn đề một cách công khai, minhbạch Dân chủ phải được thực hiện tập trung, không mâu thuẫn, tránh lãngphí nguồn lực quốc gia Tập trung dân chủ để QLMT tạo sự bình đẳng, nângcao nhận thức, trách nhiệm với môi trường
Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: một thành phần môi
trường chịu sự quản lý song trùng từ nhiều phía, do đó, cần có sự kết hợp
Trang 8chặt chẽ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ để tăng hiệu quả, hiệu lực củacông tác QLMT.
Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý KT – XH: Luôn ý thức phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý
tài nguyên, môi trường với quản lý KT – XH bằng các chính sách, chiếnlược phát triển đúng đắn, có tính bao quát và tổng hợp, thông qua các kếhoạch và đầu tư ở tất cả mọi khâu, mọi cấp quản lý của Nhà nước
Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích: nhiệm vụ quan trọng của QLMT là
tính đến lợi ích của con người, khuyến khích thái độ, hành vi ứng xử phùhợp với môi trường vì vậy BVMT cần kết hợp hài hòa các lợi ích bao hàm
cả lợi ích quốc gia, khu vực, lợi ích quốc tế
Tiết kiệm và hiệu quả: Tối ưu để nâng cao năng lực QLMT chính là
thực thi tiết kiệm và tăng hiệu quả thông qua việc hoạch định chính sách vàchiến lược BVMT để giảm tiêu hao tài nguyên, năng lượng, giảm chi phínguyên liệu đầu vào bằng các kỹ thuật, công nghệ ít hoặc không có chất thải;tận dụng và tái chế phế liệu, sử dụng các vật liệu thay thế, cải tiến sản phẩm,chú trọng đầu tư đồng bộ và hệ thống cho QLMT v.v
Mục tiêu của QLMT
Mục tiêu chung cũng là lâu dài và nhất quán nhất của QLMT chínhnhằm góp phần tạo lập cho sự PTBV
Với nội dung “tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,
kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống vàPTBV” của QLMT thì cần hướng đến mục tiêu cơ bản như sau:
Phải khắc phục và phòng chống ô nhiễm, suy thoái môi trườngphát sinh ra trong quá trình hoạt động sống của con người
Hướng tới thực hiện 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững dohội nghị Rio – 92 đề xuất được tuyên bố ở Johannesbug – Nam Phi về
Trang 9PTBV KT – XH quốc gia gắn liền với BVMT (bảo đảm sự hài hòa giữamôi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinhhọc).
Cần phải xây dựng các công cụ có tính khả dụng và hiệu lực vềQLMT quốc gia và vùng lãnh thổ Các công cụ đó đảm bảo phải thíchhợp cho mỗi ngành, mỗi địa phương và cộng đồng dân cư
Công cụ QLMT
Các công cụ QLMT chính là phương tiện để thực hiện công tácQLMT của Nhà nước, các tổ chức khoa học và cơ sở sản xuất Chúng cóchức năng, quyền hạn nhất định, được liên kết và hỗ trợ lẫn nhau khi cầnthiết Theo bản chất có thể chia công cụ QLMT ra làm 4 loại cơ bản sau:1.4.1 Công cụ pháp lý
Công cụ này còn có thể được hiểu là công cụ chính sách và luật pháp
mà nó bao gồm các văn bản đầy đủ của :
Luật quốc tế về lĩnh vực môi trường là tổng hợp các nguyên tắc, quyphạm mang tầm quốc tế để điều chỉnh công bằng mối quan hệ giữa các quốcgia, vùng, lãnh thổ với các tổ chức trên thế giới trong việc ngăn chặn, loại bỏnhững thiệt hại gây ra cho môi trường ở trong và ngoài mỗi nước
Luật quốc gia về môi trường là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạmmang tính quốc gia để điều chính công bằng mối quan hệ giữa những chủthể sử dụng hay tác động đến môi trường ở một hay một vài yếu tố bằngnhiều phương pháp khác nhau, với mục đích BVMT có hiệu quả
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn được tính toáncho phép có cơ sở khoa học dùng làm căn cứ QLMT, được thực tế kiểmnghiệm, có nghiên cứu khoa học rõ ràng, chính xác bảo đảm phù hợp vớinhu cầu BVMT, khả thi và có lợi về mặt KT – XH Cơ cấu như: tiêu chuẩn
về đất, về nước, tiêu chuẩn về không khí, về bảo vệ thực vật
Trang 10Chính sách BVMT, chiến lược BVMT phải được xây dựng song hànhvới chính sách phát triển KT – XH đề giải quyết những vấn đề cần thốngnhất trong quan điểm QLMT, các mục tiêu cơ bản và định hướng trọng tâm,chú trọng sử dụng hiệu quả nguồn lực, tài nguyên đảm bảo PTBV.
1.4.2 Công cụ kinh tế
Là các công cụ thị trường nhằm tác động tới chi phí và lợi ích tronghoạt động kinh tế của cá nhân và tổ chức từ đó tác động đến hành vi ứng xửtheo hướng có lợi cho môi trường Các công cụ kinh tế được sử dụng là:
Thuế tài nguyên: là khoản thu từ các doanh nghiệp nộp vào Ngân sách
Nhà nước trong việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên như thuế sử dụngđất, thuế sử dụng nước, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản
Thuế hay phí môi trường: là một loại công cụ kinh tế đưa chi phí môi
trường vào giá sản phẩm dựa theo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trảtiền” nhằm khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất thải gây ônhiễm ra ngoài môi trường và cũng làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước
Giấy phép môi trường hay giấy phép xả thải được trao đổi mua bán
trên thị trường trong đó người bán chính là các đơn vị, tổ chức sở hữu giấyphép, còn lại người mua là đơn vị, tổ chức cần giấy phép để xả thải Ở đây,lượng ô nhiễm nhất định giới hạn với một chỉ tiêu môi trường nào đó Khitổng lượng thải thấp hơn lượng thải mà đơn vị, tổ chức muốn thải sẽ tạo nên
sự khan hiếm về quyền được thải và từ đó làm cho nó có giá trên thị trường
Hệ thống đặt cọc – hoàn trả: BVMT bằng cách quy định đối tượng
tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả trướcmột khoản tiền khi mua hàng, cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩmcòn lại trả cho các đơn vị, tổ chức thu gom phế thải, đưa đến các địa điểmquy định để tái chế, tái sử dụng, tiêu hủy an toàn
Trang 11Ký quỹ môi trường: áp dụng cho các hoạt động kinh tế có nguy cơ gây
ô nhiễm cho môi trường Các doanh nghiệp, tổ chức, cơ sở sản xuất kinhdoanh trước khi tiến hành hoạt động của mình phải ký gửi một khoản tiền tạingân hàng hay tổ chức tín dụng, cam kết sẽ có các biện pháp hạn chế ônhiễm, tổn thất cho môi trường
Trợ cấp môi trường: được thực hiện dưới các dạng cơ bản như trợ cấp
không hoàn lại; cho phép khấu hao nhanh; ưu đãi thuế như miễn, giảm thuế
và các khoản cho vay ưu đãi
Nhãn sinh thái: là một danh hiệu hay biểu tượng của Nhà nước cấp
cho các hàng hóa thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất hay tiêudùng sản phẩm đó, khẳng định uy tín cho nhà sản xuất và sản phẩm
Quỹ môi trường: được thiết lập để nhận tài trợ từ nhiều nguồn khác
nhau như thuế, phí môi trường, tài trợ tài chính hay hiện vật sau đó sẽ phânphối vốn này để hỗ trợ các hoạt động hay các dự án nhằm cải thiện chấtlượng môi trường sống
1.4.3 Công cụ kỹ thuật quản lý môi trường
Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường bao gồm các đánh giá tácđộng môi trường, hạch toán, kiểm toán môi trường, các hoạt động quan trắcmôi trường, xử lý, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật nàyđược sử dụng nhằm thực hiện chức năng kiểm soát và giám sát Nhà nước vềchất lượng và thành phần môi trường, sự hình thành và phân bố các chất ônhiễm phát tán ngoài môi trường sống
1.4.4 Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
Giáo dục môi trường được hiểu là các hoạt động giáo dục sự hiểu biết,
nhận thức, thái độ, hành vi, kỹ năng và giá trị, tạo điều kiện cho con người
có cơ hội được tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về môi trườngsinh thái Nó còn cả việc học hỏi, tiếp thu những công nghệ kỹ thuật mới
Trang 12nhằm giảm những tác hại gây ra cho môi trường từ những tác động của conngười và cũng để đảm bảo lợi ích kinh tế.
Truyền thông môi trường được hiểu là quá trình tương tác hai chiều
mục đích giúp cho những người có liên quan nói riêng và toàn xã hội nóichung nhận thức được các yếu tố môi trường có tầm quan trọng ra sao, cómối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động như thế nào Truyền thông môitrường được thực hiện thông qua ý tưởng, tình cảm, thái độ giữa con ngườivới con người hay các nhóm người với nhau
KT – XH của nông thôn, cấu thành bởi hai yếu tố ghép là làng và nghề, tồntại trong một không gian địa lý nhất định bao gồm nhiều hộ gia đình laođộng bằng một nghề thủ công chính, giữa những con người này luôn có mốiliên kết về KT – XH và văn hóa, không nhất thiết người dân trong làng đềuphải sản xuất thủ công, vì có tay nghề cao nên đã họ trở thành những ngườithợ chuyên sản xuất hàng thủ công tại quê hương mình đồng thời cũng làm
cả nghề nông
Tựu chung lại, chúng ta có thể hiểu khái niệm Làng nghề theo hướng
sau: Làng nghề là làng ở nông thôn có gắn với sản xuất nông nghiệp
nhưng ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp ngày càng lớn mạnh lên và tạo ra nguồn thu nhập chính cho người dân, mà theo chuẩn thì trong làng phải có ít nhất 30% so với tổng số lao động và hộ gia đình trong làng
Trang 13nhưng đóng góp ít nhất 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng, hay có thể tính doanh thu hằng năm ít nhất phải là 300 triệu đồng.
Trải qua nhiều thăng trầm phát triển của lịch sử mà làng nghề ngàynay không chỉ đơn thuần là những hoạt động sản xuất với công nghệ thủcông mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa Sau đókhông phải tự làng nghề phải lo đầu vào lẫn đầu ra cho sản phẩm mà hômnay đã có sự tham gia cung ứng cũng như phân phối hàng hóa của địaphương là các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh
Dù đã có nhiều làng nghề cổ truyền bị mai một và biến mất, theothống kê đến 22/9/2010, ở Việt Nam có trên 2000 làng nghề, , trải dài trênkhắp các tỉnh thành trong cả nước với nhiều loại hình, ngành nghề sản xuất,trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm đến gần ½ số làng nghề của cả nước
T l các lo i l ng ngh trong c n ỷ lệ các loại làng nghề trong cả nước ệ các loại làng nghề trong cả nước ại làng nghề trong cả nước àng nghề trong cả nước ề trong cả nước ả nước ước c
Ươm tơ, dệt nhuộm, đồ da ơm tơ, dệt nhuộm, đồ da ệt nhuộm, đồ da ộm, đồ da đồ da
Ch bi n nông s n, th c ế biến nông sản, thực ế biến nông sản, thực ản, thực ực
Tái ch ph li u ế biến nông sản, thực ế biến nông sản, thực ệt nhuộm, đồ da
Th công m ngh ủ công mỹ nghệ ỹ nghệ ệt nhuộm, đồ da
V t li u xây d ng, g m s ật liệu xây dựng, gốm sứ ệt nhuộm, đồ da ực ốm sứ ứ
Trang 14Hình 1.1 Phân bố các làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Tiêu chí làng nghề
Tiêu chí để xét duyệt là nghề truyền thống, làng nghề, làng nghềtruyền thống ở mỗi vùng miền, địa phương lại khác nhau, tùy thuộc vào điềukiện, khả năng, quan điểm đánh giá
Theo như Thông tư số 116/2006/ TT – BNN ngày 18/12/2006 của Bộ
NN & PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số66/2006/NĐ –CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghềnông thôn, được ghi trong Báo cáo hiện trạng môi trường Làng nghề ViệtNam 2008, có nêu ra cụ thể cho tiêu chí với từng loại như sau:
Đối với nghề truyền thống, tiêu chí gồm 3 điểm sau:
Nghề đã xuất hiện tại địa phương hơn 50 năm tính đếnthời điểm được công nhận
Nghề đã tạo ra được những sản phẩm mang bản sắc vănhóa địa phương, vùng, miền, dân tộc
Nghề đã gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhânhay chính bản thân tên tuổi làng nghề
Đối với làng nghề, thì tiêu chí cũng gồm 3 điểm sau:
Có tối thiểu là 30% tổng số hộ gia đình trên địa bàn cótham gia các hoạt động sản xuất của ngành nghề tại địa phương
Hoạt đọng sản xuất kinh doanh phải ổn định ít nhất là 2năm tính đến thời điểm được xét duyệt công nhận
Luôn đảm bảo chấp hành tốt các thể chế, chính sách phápluật của Nhà nước
Trang 15Còn đối với làng nghề thủ công truyền thống hay gọi tắt là làng nghề truyền thống, thì điều kiện phải có là đã đạt tiêu chí làng nghề đồng thời có
ít nhất một nghề được coi là truyền thống theo quy định của Thông tư
Và đối với những làng chưa đạt yêu cầu thứ nhất và thứ hai của côngnhận làng nghề nhưng có tối thiểu là một nghề truyền thống được công nhậntại Thông tư thì cũng được gọi là Làng nghề truyền thống
Thêm nữa, hiện nay, theo xu thế phát triển chung của cả nền kinh tế,các vùng nông thôn cũng đang vươn lên mạnh mẽ, xuất phát từ sự hìnhthành nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ cộng với việc tổ chức đầu tư giacông của các cơ sở sản xuất, tổ chức xuất nhập khẩu; sự nhạy bén thị trường
mà xuất hiện nhiều làng nghề mới bên cạnh các làng nghề truyền thống
Phân loại và đặc trưng của từng loại làng nghề
Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận vấn đề, mục đích sử dụng hay tiêuchí khác nhau mà có những quan điểm phân loại làng nghề theo nhiềuhướng khác nhau Có thể theo ngành nghề, loại hình sản xuất, theo quy mô,quy trình hoạt động, theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm, theo thị trường tiêuthụ và tiềm năng phát triển Tuy nhiên, theo hướng tiếp cận môi trường thìphân loại theo ngành nghề sản xuất và loại hình sản phẩm là ưu việt hơn cả.Theo đó, chúng ta có thể phân ra thành 6 nhóm ngành chính cụ thể như sau:
Các làng nghề tái chế: đa phần là mới hình thành với số lượngcũng không nhiều, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và chất lượng
Ở các làng nghề này, công nghệ sản xuất đang dần được cơ khí hóa
Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: có nhiều làng nghề
từ xa xưa, sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa lâu đời như lụa tơ tằm,thổ cẩm, dệt may cho ra đời nhiều kiệt tác nghệ thuật Quy trình sảnxuất không biến đổi nhiều, đòi hỏi lao động phải có trình độ tay nghề cao,thẩm mỹ tốt
Trang 16 Các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: đây là loại hìnhlàng nghề chiếm 40% tổng số làng nghề, có truyền thống lâu đời và sảnphẩm có nét đặc sắc về văn hóa, giá trị thẩm mỹ và kinh tế cao Bao gồmcác làng nghề về gốm, sứ, thủy tinh, chạm khắc, mạ vàng bạc, hàng thủcông mây tre đan, nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi vàgiết mổ: đa số sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu nhiều vềtrình độ, sản xuất thủ công, gần như không thay đổi gì về quy trình so vớilúc mới hình thành Ví dụ: nghề nấu rượu, làm bánh đa, bún, miến, bánhđậu xanh với những nguyên liệu nông sản như gạo, ngô, khoai sắn
Các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác: với đặcthù này mà các làng nghề này phải tập trung ở vùng có khả năng cungứng nguyên liệu cho hoạt động xây dựng, ra đời từ hàng trăm năm nay.Lao động phần lớn là thủ công, công nghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp
Các nhóm ngành khác như các làng nghề chế tạo công cụ thô sơnhư búa, liềm, cuốc xẻng, mộc gia dụng
Tác động tích cực của làng nghề đối với sự phát triển KT – XH.
Các làng nghề Việt Nam trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm,song hành với quá trình phát triển KT – XH và văn hóa của đất nước, tạo ranhững sản phẩm có giá trị cao, trở thành thương phẩm nổi tiếng, đem lạidanh tiếng mỗi làng nghề Vì vậy mà mục tiêu khôi phục và phát triển cáclàng nghề truyền thống nông thôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâmtrong đẩy mạnh kinh tế nông thôn
Thứ nhất, góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn.
Việc khôi phục và phát triển không ngừng của các làng nghề truyềnthống cũng như những làng nghề mới trong nhiều năm gần đây đang góp
Trang 17phần không nhỏ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương, cải thiện
và nâng cao đời sống cho người tại chính làng nghề và cả lao động các vùngphụ cận Hoạt động làng nghề đang ngày một thể hiện được chỗ đứng vữngchắc của mình khi thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, bao gồmkinh tế cá thể, kinh tế tập thể và các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân
Trong nhiều năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thônngày càng gia tăng, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm làng nghề khôngngừng tăng lên, đem lại nguồn thu nhập đáng kể, góp phần quan trọng trongxóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người dân lúc nông nhàn, nâng caochất lượng cuộc sống Theo thống kê thì mức thu nhập trong ngành nghề caogấp ba, bốn lần so với thu nhập của người lao động thuần nông Chính sựchênh lệch này mà ngày càng nhiều người đã ý thức chuyển từ sản xuất nôngnghiệp sang sản xuất thủ công nghiệp
Thứ hai, làng nghề phát triển cũng đem lại một bộ mặt mới sáng sủa, khang trang hơn cho cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn.
Với việc thu nhập đang tăng lên, đời sống nhân dân được cải thiện thìnhu cầu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng là một tất yếu Nhu cầu về thông tin,điện, nước, giao thông, trường học, trạm y tế rất cần thiết đối với sự pháttriển ở nông thôn Sự đi lên về kinh tế đem lại cho làng một bộ mặt mới đầy
đủ, no ấm và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng góp phần thực hiện mục tiêunâng cao chất lượng cuộc sống không chỉ nhân dân trong làng mà cả cácvùng miền lân cận
Thứ ba, làng nghề - với những ưu điểm và tiềm năng phát triển cũng
là một ưu thế để đẩy mạnh thêm hoạt động du lịch làng nghề.
Bên cạnh những lợi thế sẵn có của tự nhiên như cảnh quan thiênnhiên, vị trí địa lý, hệ thống di tích lịch sử, những phong tục tập quán là nétvăn hóa đặc sắc bản địa, thì bản thân các làng nghề với đặc trưng ngành
Trang 18nghề cũng mang trong mình một sức hấp dẫn đặc biệt Điểm đáng chú ý của
du lịch làng nghề đó chính là cơ hội được quan sát, tận mắt chứng kiến quátrình sản xuất ra các sản phẩm mang đậm bản sắc của địa phương, thêm nữa
là có thể tham gia trực tiếp vào một khâu nào đó của quá trình Tiềm năngphát triển du lịch tại các làng nghề là không nhỏ, phát hiện đưa vào quyhoạch cụ thể và có kế hoạch nghiêm túc, rõ ràng sẽ lại mang lại một nguồnthu lớn nữa cho làng, hỗ trợ gia tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp, dịch
vụ cho chính địa phương, cũng như tăng tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất
có thể giới thiệu và quảng bá sản phẩm tới du khách
Tác động tiêu cực của làng nghề đối với môi trường địa phương.
Các vấn đề môi trường tại làng nghề
Như đã trình bày ở trên thì những tác động tích cực của làng nghề đốivới sự phát triển chung của KT – XH địa phương nói riêng và cả nước nóichung là không nhỏ, nhưng, cũng lại đang tồn tại một thực trạng là hoạtđộng của làng nghề khiến chất lượng môi trường sống ngày càng đi xuống,ảnh hưởng đến mục tiêu PTBV của cả nền kinh tế
Tác động đến môi trường tự nhiên tại địa phương: Nổi cộm của ô
nhiễm môi trường làng nghề chính là lượng các CTR, khí thải, nước thảikhông qua xử lý sau cùng bị đổ thải trực tiếp ra môi trường ngoài, gây ônhiễm nghiêm trọng cho môi trường đất, môi trường không khí, các nguồnnước mặt, nước ngầm tại mỗi địa phương và cả các vùng lân cận, đặc biệt làdọc các con sông Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm :
Thường là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi nhỏ như khu vực
thôn, làng, xã Bởi quy mô không lớn lại nằm trong khu dân cư sinh hoạtnên gây khó khăn cho phân tách và khó quy hoạch
Trang 19Với từng loại hình làng nghề thì lại có một đặc trưng ô nhiễm môi trường riêng, có tác độm, đồ dang tr c ti p ực ế biến nông sản, thực đế biến nông sản, thựcn môi trường đất, nước, không khíng đất, nước, không khít, nước, không khíc, không khí
t i ại địa phương: địa phương:a phươm tơ, dệt nhuộm, đồ dang:
Bảng 1.1 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất đối với từng loại làng nghề
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề Việt Nam 2008)
Tác động đến đời sống con người: Với hoạt động sản xuất ngành
nghề tại các làng nghề đang đe dọa không chỉ đối với môi trường địaphương mà nghiêm trọng hơn là đến cuộc sống người dân bản địa
Thứ nhất, đó là sức khỏe suy giảm, bệnh tật gia tăng, tuổi thọ trung bình đang giảm đi tại các làng nghề ô nhiễm.
Thực tế minh chúng tại nhiều làng nghề hiện nay, số lượng người bịsuy kiệt về sức khỏe, mắc các chứng bệnh đang có xu hướng gia tăng, theođặc trưng ô nhiễm ở mỗi loại hình làng nghề Các bệnh về hô hấp, tai mũihọng, bệnh ngoài da, bệnh về thần kinh đang trở nên nhiều hơn tại các làngnghề Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề cao hơn hẳn so với các khuvực không phải làng nghề Gánh nặng bệnh tật, mang di chứng suốt đời vàtuổi thọ trung bình của những người dân tại đây cũng thấp hơn so với tuổithọ trung bình của cả nước
Thứ hai, ô nhiễm môi trường làng nghề gây tổn thất lớn đối với nền kinh tế.
Ô nhiễm môi trường làng nghề đang gây ra ảnh hưởngxấu đến sức khỏe con người, làm gia tăng thêm chi phí khám, chữabệnh, gánh nặng bệnh tật làm giảm năng suất lao động do tiêu tốn thời
Trang 20gian và không đảm bảo sức khỏe, thiệt hại về kinh tế là điều tất yếunhận thấy
Một khi môi trường bị ô nhiễm, người ta sẽ phải tính đếnviệc giải quyết vấn nạn ô nhiễm và dĩ nhiên vấn đề phát sinh tiếp theo
là chi phí trong đó có chi phí thời gian, công sức, tài chính để xử lý,giảm thiểu ô nhiễm tại các làng nghề
Điều nữa là sự ô nhiễm ấy cũng sẽ làm giảm đi sức hút
du lịch của làng nghề, lượng khách du lịch sẽ dần ít đi, gây tổn thất vềkinh tế
Thứ ba, ô nhiễm môi trường tất sẽ dẫn đến nảy sinh các tranh chấp, xung đột môi trường
Do nhận thức chưa cao nên người dân phần lớn vẫn đặt lợi ích kinh tếlên hàng đầu, do đó mà xuất hiện các mâu thuẫn và xung đột môi trường Cóthể là:
Xung đột giữa các nhóm xã hội trong bản thân làng nghề:các loại chất thải được xả thẳng ra môi trường gây ảnh hưởng tới cộngđồng trong vùng, chính là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp, khiếukiện
Xung đột giữa làng nghề và làng không phải làng nghề:nảy sinh khi quyền lợi của làng không làm nghề bị ảnh hưởng do chịu
ô nhiễm môi trường từ các làng nghề lân cận
Xung đột giữa hoạt động sản xuất và cảnh quan tự nhiên:việc ô nhiễm nghiêm trọng gây mất cảnh quan thiên nhiên, dĩ nhiên sẽdẫn đến những bức xúc trong cộng đồng
Xung đột trong QLMT tại địa phương: nảy sinh khi cơquan chức năng và chính quyền địa phương xử lý vi phạm đối với các
Trang 21cơ sở sản xuất gây ra ô nhiễm bằng các chính sách và pháp luật đượcquy định cụ thể.
2.4.3 Nguyên nhân của các ảnh hưởng đến môi trường
Chính những tồn tại trong nhiều năm qua của quá trình hình thành vàphát triển làng nghề là những nguyên nhân làm cho môi trường làng nghề bị
đe dọa nghiêm trọng Những nguyên do đó là:
Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề vốn là nhỏ, khó có khả năng phát
triển vì sự hạn chế về không gian, kỹ thuật Một khi sản xuất được mở rộngthì nguy cơ lấn chiếm sang không gian sinh hoạt và sẽ dẫn đến ô nhiễm khuvực sinh sống của dân cư, chất lượng môi trường đi xuống
Quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất đa phần còn lỗi thời, lạc hậu
do vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại làng nghề còn thấp, khó có khả
năng điều chỉnh để đổi mới công nghệ có lợi cho sinh thái nên nguyên nhiênliệu bị tiêu hao lãng phí, làm tăng phát thải chất ô nhiễm ra ngoài môitrường, ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường
Quan hệ sản xuất còn mang nặng tính chất gia đình, dòng họ, làng xóm nên họ chỉ tuân theo một quy trình sẵn có theo truyền thống thường
được gọi là bí quyết gia tộc, cùng với nếp sống tiểu nông cố hữu vốn có từnguồn gốc nông dân của chủ các cơ sở sản xuất tại các làng nghề cũng làmột nguyên nhân ảnh hưởng lớn Do không ý thức được những tác hại lâudài nên họ thường không lựa chọn quy trình công nghệ mới mà chủ yếu làthủ công Thậm chí, một số còn đưa những nguyên nhiên liệu rẻ tiền, độchại, không có dụng cụ đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động nhằm hạ giá thànhsản phẩm để tăng tính cạnh tranh
Nhận thức của từ chủ sản xuất đến người lao động còn thiếu hiểu biết
về việc BVMT do chủ yếu là lao động thủ công, trình độ văn hóa thấp Họ
Trang 22chỉ xem lợi nhuận là quan trọng mà chưa ý thức được hết tầm quan trọng củavấn đề ô nhiễm tới môi trường sống.
Công tác QLMT tại địa phương còn bị xem nhẹ, chưa được quan tâm đúng mực đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công tác này Hệ
thống thu gom và xử lý chất thải ở hầu hết các làng đều không đạt yêu cầu
Các công cụ QLMT áp dụng trong QLMT làng nghề.
2.5.1 Công cụ pháp lý
Cũng giống như QLMT nói chung thì QLMT làng nghề cũng cần sửdụng đến công cụ pháp lý như một căn cứ để áp đặt việc BVMT là cần thiết
và được quy định cụ thể, rõ ràng như thế nào
Công cụ này đề ra các tiêu chuẩn môi trườngBao gồm tiêu chuẩn môi trường như tiêu chuẩn môi trường đất, tiêuchuẩn môi trường nước, tiêu chuẩn môi trường không khí là những thước
đo, giới hạn cho phép để từ đó đánh giá được mức độ ô nhiễm tại từng vùng,địa phương có làng nghề và được dùng làm cơ sở để xác định chế tài xử lý,quản lý theo hướng bền vững về sinh thái
Xây dựng các chính sách BVMT làng nghề:
Các chính sách BVMT làng nghề được đưa ra, tiếp đó sẽ cụ thể hóabằng việc xây dựng chiến lược BVMT làng nghề phát triển thân thiện hơnvới môi trường, cuối cùng là sẽ lựa chọn các mục tiêu khả thi để lập kếhoạch thực hiện rõ ràng
Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về BVMT tại địaphương:
Các cơ quan chức năng và chính quyền có quyền thanh tra, kiểm tra,giám sát và cưỡng chế, yêu cầu các làng nghề phải tuân thủ theo những quyđịnh chung và quản lý chặt chẽ được các loại chất thải độc hại trong và sausản xuất, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm làm tổn hại đến môi trường,
Trang 23trong luật BVMT quốc gia Ngoài ra, các hoạt động thi đua khen thưởng,khuyến khích hoạt động sản xuất có lợi cả về kinh tế và môi trường đưa vàotrong quản lý chung tại địa phương hằng năm, cũng như chính các doanhnghiệp, cơ sở sản xuất
2.5.2 Công cụ kinh tế
Thuế/ phí môi trường đánh vào nguồn gây ô nhiễm làng nghề: Các chất ô nhiễm chịu loại thuế/phí môi trường tại làng nghề này làcác chất thải vào môi trường nước (COD, BOD, kim loại nặng ) như Quyđịnh 67/2003/NĐ – CP của Chính phủ ngày 13/6/2003; vào khí quyển (SO2,
CO, NOx ) và vào đất (chất thải rắn, mùn, xỉ ) trên cơ sở tính chất và hàmlượng chất gây ô nhiễm
Thuế/phí môi trường đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm làng nghềThuế/phí môi trường này được áp dụng với những loại sản phẩm gâytác hại đến môi trường khi đưa ra thị trường tiêu thụ hay khi hủy bỏ, như vỏhộp, vỏ chai, giấy bao gói không thân thiện môi trường
Phí dịch vụ môi trường:
Phí sử dụng dịch vụ môi trường như phí sử dụng nước sạch, bãi đỗ xe,phí thắng cảnh sinh thái các làng nghề, phí hành chính nhằm đóng góp tàichính cho việc cấp phép, giám sát và quản lý hành chính của chính quyềnđối với công tác BVMT tại làng nghề
Phí môi trường:
Phí môi trường cho việc hệ thống xử lý ô nhiễm bằng công nghệ kỹthuật, phí vệ sinh môi trường cộng đồng, thu gom và xử lý rác thải giảmthiểu được phần lớn lượng rác thải tại các làng nghề hiện nay
2.5.3 Công cụ kỹ thuật
Trang 24Đây là công cụ quan trọng trong QLMT làng nghề vì việc đánh giá,quan trắc môi trường, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải là vô cùng cầnthiết
Thông qua quy trình quan trắc kỹ thuật, các nhà quản lý, các chuyêngia mới có được những thông tin đầy đủ, chính xác về hiện trạng và dự báodiễn biến môi trường đất, nước, không khí hay tiếng ồn Sau đó tiến hànhđịnh hướng phương pháp giải quyết theo hướng kỹ thuật, đó là xử lý bằngcông nghệ kỹ thuật và áp dụng quy trình công nghệ mới ưu việt hơn sẽ giảmthiểu được lượng phát thải, giải quyết được lượng ô nhiễm trước đó, lấy lạiphần nào sự trong lành cho môi trường
2.5.4 Công cụ tuyên truyền giáo dục
Đây là công cụ cũng vô cùng cần thiết được áp dụng để xây dựngnhận thức đầy đủ và đúng đắn cho chủ cơ sở và người lao động hoạt độngsản xuất tại các làng nghề Giáo dục và truyền thông môi trường cho chínhnhững người đang trực tiếp sản xuất tại làng nghề, giúp cho họ có cái nhìnthiện chí hơn với môi trường, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm để hạnchế tối đa việc gây ô nhiễm, tổn hại đến môi trường Nhận thức tốt là quantrọng trong việc thay đổi thái độ, hành vi có lợi cho BVMT và công tácQLMT làng nghề tại địa phương
2.5.5 Công cụ hỗn hợp
Với bốn loại công cụ được áp dụng trong QLMT làng nghề mà giữachúng cũng luôn có sự bổ sung hỗ trợ cho nhau nên việc kết hợp các công cụlại cùng nhau, phát huy được những điểm mạnh và hạn chế những điểm hạnchế của từng loại công cụ, sẽ đem lại được sự chính xác, nhạy bén và hiệuquả cao hơn
tại Việt Nam
Trang 25Trên thế giới
Trên thế giới cũng có một số nước có mô hình phát triển làng nghềnhư làng nghề rượu sochu, nấm đông cô của Nhật Bản hay Trung Quốcvới hiện có 50 000 làng nghề áp dụng mô hình OVOP của Nhật Bản (mỗilàng một sản phẩm) đã giúp cho các làng nghề từ hoạt động tự phát, phân tánsang hoạt động chuyên sâu, quy mô lớn theo nhu cầu thị trường Họ cũngtừng vấp phải những vấn đề tương tự Việt Nam và có những phương ánQLMT cho riêng quốc gia mình
Hiện trạng môi trường đất, nước, không khí tại các làng nghề TrungQuốc làm đau đầu các nhà quản lý Trung Quốc trong nhiều năm Trong mỗigiai đoạn kế hoạch năm năm thì tỷ lệ đầu tư và vốn cho việc quản lý là khácnhau Chiến lược huy động vốn của Trung Quốc có hiệu quả chuẩn bị cho vệsinh môi trường nông thôn Về quản lý nước, đối với Trung Quốc thì tiêuchuẩn Quốc gia là tiêu chuẩn nước uống duy nhất Ở nhiều làng nghề thì khóđạt tiêu chuẩn nước, do vậy mà Chính Phủ đã ban hành Hướng dẫn giám sátchất lượng nước cho vùng nông thôn nói chung và làng nghề nói riêng Bàihọc về kinh nghiệm quản lý nước thải, chất thải rắn và vệ sinh môi trườngtại khu vực làng nghề nói riêng và vùng nông thôn nói chung của TrungQuốc cho thấy, cần phải cả chiến lược, quy hoạch đi đôi với có phù hợp điềukiện, tập quán của nhân dân hay không và công tác truyền thông qua cácchiến dịch được duy trì liên tục và rộng rãi
Đối với nước Nhật thì lượng phát thải rắn ở các làng nghề cụm côngnghiệp là không nhỏ Họ có bộ khung pháp lý quốc gia giảm thiểu chất thảirắn nhằm xây dựng một xã hội tái chế như Luật quản lý rác thải về giữ vệsinh nơi công cộng, Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể đượctái chế, Luật tái chế vỏ hộp và bao bì Theo đó, mà ở các làng nghề địaphương, thay bằng việc quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu
Trang 26theo một hướng mà áp dụng xử lý theo mô hình 3R ( giảm thiểu, tái chế, tái
sử dụng) Cùng với đó là là hoạt động thoát nước và hệ thống sông ngòi tạicác địa phương làng nghề của Nhật Bản cũng như cách sử dụng hiệu quảbùn cặn sau khi xử lý nước thải
3.2
Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác QLMT làng nghề được triển khai trong vài nămtrở lại đây và bước đầu cũng thu được những kết quả tốt Các công cụQLMT được đưa vào áp dụng cho QLMT làng nghề, không những TrungƯơng mà cả các địa phương cũng tự xây dựng cho mình phương hướngquản lý riêng phù hợp với điều kiện và tính chất làng nghề trong vùng
Tại nhiều tỉnh đã có chiến lược quy hoạch không gian dành cho làngnghề với mục đích tập trung quần thể với hệ thống xử lý chất thải và hạ tầng
kỹ thuật đồng bộ tập trung, hạn chế mức thấp nhất mức ô nhiễm phát thải,tiết kiệm nguyên nhiên liệu và xử lý, giảm thiểu chất thải như công nghệyếm khí với làm hệ thống biogas tại các làng nghề chăn nuôi, nông sản;công nghệ đốt nung từ than sang khí gas hoặc khí hóa lỏng LPG đối với cácsản phẩm gốm sứ tại các làng nghề gốm
Nguồn tài chính dành cho BVMT làng nghề ngày càng nhiều, có cácchính sách hỗ trợ kinh phí, giảm thuế, ưu đãi vốn được áp dụng Cộng thêm
sự xuất hiện của nhiều hương ước ra đời tại các làng nghề, các hoạt độngBVMT của nhiều tổ chức tình nguyện cùng sự đóng góp tài chính của các cơ
sở sản xuất, các hộ gia đình đã hoạt động hiệu quả
Tuy nhiên công tác QLMT làng nghề vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bấtcập
Các văn bản quy phạm phát luật về QLMT làng nghề còn thiếu
và đôi chỗ chưa rành mạch với nhiều quy chuẩn chung là sự áp tiêu
Trang 27chuẩn quá cao đối với các làng nghề về kinh phí và điều kiện kỹ thuật
để lắp đặt hệ thống xử lý đạt quy chuẩn hiện hành
Chức năng, nhiệm vụ để QLMT làng nghề của các cấp từ Bộ,
Sở, ban ngành, địa phương là chưa rõ ràng, chồng chéo, thiếu sát sao
Chiến lược quy hoạch cho các khu, cụm công nghiệp tập trungcho làng nghề còn nhiều thiếu sót, chưa đồng bộ, thống nhất
Những yếu tố đòn bẩy như nguồn tài chính, công nghệ, nhânlực chưa đáp ứng được yêu cầu với khối lượng công việc lớn và cấpbách trong hiện tại mặc dù tình trạng ô nhiễm đã diễn ra từ lâu
Hiệu lực thực thi pháp luật để QLMT làng nghề còn yếu kém,chưa phát huy được hiệu quả, việc phổ biến thông tin, nâng cao nhậnthức BVMT cho cộng đồng người lao động làng nghề còn bị bỏ ngỏ
Chưa đẩy mạnh huy động đầy đủ các tiềm năng trong cộngđồng gồm dân trí, sự ủng hộ, trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ sản xuấttại làng nghề trong công tác BVMT làng nghề
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QLMT TẠI
Trang 28 Phía Bắc giáp với xã Tam Sơn.
Phía Đông giáp với xã Đồng Nguyên
Phía Tây giáp với xã Phù Khê
Phía Nam giáp với Quốc lộ 1
Cho đến nay, làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ được coi là một trongnhững làng nghề giàu nhất của tỉnh Bắc Ninh, không chỉ nổi tiếng nhất về đồ
mỹ nghệ trong tỉnh mà còn được xướng danh trong cả nước
Điều kiện tự nhiên
Theo nguồn tài liệu tỉnh Bắc Ninh, trước 1997 Đồng Kỵ thuộc xãĐồng Quang ( gồm có 2 thôn là Bính Hạ, Trang Liệt, Đồng Kỵ ) của huyệnTiên Sơn, tỉnh Hà Bắc
Từ 1997 đến tháng 8/1999, Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang - huyệnTiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh khi đã được phân tách các tỉnh
Tới tháng 9/1999 Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
-Và từ 2008 đến nay, theo Quyết định đưa huyện Từ Sơn trở thành thị
xã Từ Sơn thì phân tách xã Đồng Quang thành 2 phường là phường Trang
Hạ và phường Đồng Kỵ Phường Đồng Kỵ gồm 7 khu phố chính: phố Thanh
Trang 29Bình, phố Đại Đình, phố Thanh Nhàn, phố Đồng Tâm, phố Tân Thành, khuĐồng Tiến.
Tổng diện tích đất tự nhiên của làng Đồng Kỵ, theo như thống kê củatỉnh Bắc Ninh (2008) là 334,29ha Với:
Đất nông nghiệp là 199,04ha
Đất phi nông nghiệp là 132,84ha
Đất chưa qua sử dụng là 2,41ha
Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội.
Dân số: Đồng Kỵ hôm nay đang diễn ra quá trình đô thị hoá khá
nhanh Làng có dân số đông với khoảng 13000 của năm 2006, cộng thêm tỉ
lệ sinh cao và tính đến ngày 31/12/2008 là có 4152 hộ với 19833 dân HiệnĐồng Kỵ có thêm một khu công nghiệp làng nghề và 2 khu dân cư nhỏ
Kinh tế: Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
năm 2007 đạt được là 250 tỷ đồng, so với năm 2006 đã tăng 28,2% và so với
kế hoạch năm tăng 8,3% Đối với 2 quý I và II của năm 2008 thì đạt được là
81 tỷ đồng, đã tăng so với kế hoạch đề ra là 30% Bình quân giá trị sản xuấtcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đạt được con số là 210 tỷđồng/ năm đã tăng 16,6%
Làng Đồng Kỵ ngày nay đang thật sự “ lên hương” và được mệnhdanh là “làng giám đốc” từ khoảng chục năm trở lại đây Ở Đồng Kỵ, hầunhư không có hộ nghèo hay có người bị thất nghiệp vì lao động ở đây luôntrong tình trạng thiếu chứ ít khi thừa Con đường mở rộng thênh thang hơnvới những ngôi nhà cao tầng dọc bên đường san sát nhau, phía trước mặt làcánh đồng mênh mông thắng tắp Phố xưa, làng cũ chỉ còn lại là một gócbình yên của hình ảnh làng Đồng Kỵ hôm nay
Trang 30Ngày nay, số hộ làm làm sản xuất nông nghiệp ở đây còn rất ít mà chủyếu chuyển sang sản xuất thủ công nghiệp Sản lượng nông nghiệp khôngđáng kể.
Ngoài ra, vì là loại hình làng nghề truyền thống nên Đồng Kỵ lại pháthuy thêm điểm mạnh nữa về du lịch Đồng Kỵ cũng được biết đến là mộtdanh thắng đẹp của vùng quê Kinh Bắc, gìn giữ được các phong tục, lễ hộitruyền thống nổi tiếng Ngày nay, người ta đã xây dựng các tour du lịch vềvới mảnh đất Đồng Kỵ, về với làng nghề phát triển, về với lễ hội rước pháodiễn ra vào mùng 3, mùng 4 và mùng 5 Tết hằng năm tại đây – cũng là ngàykhai xuân cho mùa lễ hội xứ Kinh Bắc Trong đó, làng sẽ chọn ra bốn người
độ tuổi 50 ở mỗi giáp làm thành bốn vị tướng xuất quân đánh giặc, có tráchnhiệm lãnh đạo quân lính và làm một quả pháo đủ các kích thước to nhỏtheo quy định Đây là một phong tục rất đẹp đến nay vẫn được duy trì vàphát huy
Xã hội: Sự phát triển đáng nể của các cơ sở ở Đồng Kỵ kèm với đó là
tốc độ đô thị hoá đến chóng mặt với làng quê này Sự trỗi dậy đáng kinhngạc của “làng giám đốc” này, những ông chủ nơi đây lại tình nguyện đónggóp xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho quê hương cũng như thị xãmình, đưa Đồng Kỵ không những giàu có về vật chất mà cả tinh thần vănhoá cũng theo đó mà đi lên Không có cảnh trẻ con không được đi học, tỷ lệngười phổ cập THCS, THPT luôn cao, người học cao đẳng, đại học, cao họccũng tăng lên, học thức, văn hoá của người dân trong làng ngày một cao
Trang 31Theo như nghiên cứu qua các tài liệu để lại và truyền miệng thì làngnghề Đồng Kỵ được xác định là đã có lịch sử tồn tại và phát triển khoảng
300 năm về trước Đầu tiên được biết đến với tên làng Cời, đây là ngôi làngvới dáng dấp điển hình của làng quê Kinh Bắc, cổ kính có, hiện đại có Từxưa, đây là đã làng “bách nghệ” nổi tiếng với nghề mộc, chạm khảm với 4-5đời các hộ ngày nay đã theo nghề này
Để hình thành, tồn tại và phát triển của một làng nghề thì yếu mộttrong những yếu tố tối quan trọng đó chính là nhu cầu thị trường tiêu dùng.Các làng nghề của Việt Nam xuất hiện từ khoảng mấy trăm nay trước, khi xãhội còn dưới ách của nền phong kiến cổ hủ, lạc hậu Tuy dưới các triều đạiphong kiến chưa hề chú trọng các phương hướng khuyến khích phát triểncác làng nghề nhưng cũng chính vì xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, cộng vớitính chất của một nền kinh tế tiểu nông, bó hẹp trong khuôn khổ làng, xã,hương ấp mà cái cần có đủ dụng cụ, đồ dùng trong gia đình cũng như sinhhoạt mà nghề ra đời, rồi sau đó là cả làng một nghề ra đời, được chung quylại là làng nghề Nghề mộc Đồng Kỵ rồi ngày nay là làng nghề Đồng Kỵ từ
đó mà ra đời và phát triển Thời phong kiến, có nghề mộc nhưng quy mô cònnhỏ, sản xuất còn manh mún
Nhưng từ những năm sau đổi mới, tức từ 1986, khi Nhà nước quyếttâm bỏ từ chế độ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, thì như gặpthời cùng với sự năng động, nhạy bén trên thương trường mà làng nghềĐồng Kỵ phất lên nhanh chóng, trở thành một trong những làng nghề giàu
có nhất của tỉnh Bắc Ninh, khẳng định chỗ đứng cho hàng thủ công mỹ nghệtrong và ngoài nước
Ngày nay, khi về với Đồng Kỵ, người ta khó có thể tìm được nhữngnét cổ kính của một ngôi làng cổ nằm uốn mình bên đường cong của consông Ngũ Huyện Khê thơ mộng của vùng đất Kinh Bắc thưở nào, mà thế
Trang 32vào đó là sự sang trọng, hiện đại của những tòa nhà cao tầng nối dài nhaukhoe mình với sự đi lên của cả nước
Đã có một thời gian, Đồng Kỵ gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra chosản phẩm, thị trường của Đồng Kỵ gần như bị đóng băng Khoảng nhữngnăm đầu của thập kỷ 90, đồ gỗ của Đồng Kỵ đứng trước nguy cơ bị mai một.Nhưng cho đến hiện nay, phường nghề Đồng Kỵ lại lấy được vị thế và đangngày một khẳng định sự lớn mạnh không ngừng Đặc biệt trong dịp Đại lễ
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010 vừa qua, làng nghềĐồng Kỵ thật tự hào khi tác phẩm quý nổi tiếng Chiếu dời đô cũng có sựtham gia của nghệ nhân tài ba của làng Đồng Kỵ
2 Thực trạng hoạt động của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh.
2.1 Quy mô hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ.
Chủng loại, số lượng sản phẩm của làng nghề Đồng Kỵ
Tính đến thời điểm này, làng nghề thủ công mỹ nghệ Đồng Kỵ đã cókhoảng gần 100 doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký sản xuất với số vốn đăng
ký đầu tư từ 1tỷ đến 2 tỷ đồng, nổi bật có những doanh nghiệp đầu tư trên10tỷ đồng Ngày nay, sản phẩm của Đồng Kỵ đã xuất hiện trên khắp 64 tỉnhthành trong cả nước và các nước bạn như Lào, Campuchia rồi các châu lụckhác, với đa dạng chủng lại số lượng sản phẩm không ngừng được thiết kế,cải tiến, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của thị trường
Từ những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên cùng bàn tay khéo léo củanhững người thợ lao động lành nghề, họ đã chế tác ra vô vàn những sảnphẩm mộc khác nhau, đa dạng về mẫu mã, phong phú về kiểu dáng, tinh xảo
về đường nét Với đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ, làng Đồng Kỵ cũng cóđầy đủ các nhóm chủng loại:
Các sản phẩm nội thất như bộ bàn ghế, giường, sập,tủ loại này mang lại thu nhập khá cao và cũng là nguồn thu chính
Trang 33của các doanh nghiệp trong làng Đây là loại mặt hàng cao cấp, đòihỏi trình độ tay nghề khá trở lên, ngoài sự sáng tạo, sự nhạy bénvới thay đổi ngoài thị trường, người thợ cũng cần có khiếu thẩm
mỹ cao Đồ nội thất chiếm khoảng 70% tổng doanh thu làng nghề
Các sản phẩm trang trí mang yếu tố tâm linh, tôn giáonhư tượng, đồ thờ cúng chiếm khoảng 15% doanh thu Tuỳ theomục đích sử dụng, yêu cầu của khách hàng mà chúng có nhiều loạivới những hình dáng, đường nét, màu sắc, kích cỡ khác nhau
Các sản phẩm thuộc loại vật liệu xây dựng phục vụ thiết
kế nhà cửa như cầu thang, lan can, cửa sổ chỉ chiếm khoảng 15%tổng doanh thu của làng Loại này không đòi hỏi tay nghề điêuluyện như mặt hàng đồ nội thất, phần lớn được tiêu thụ trongnước
Số hộ và số lao động làng nghề
Làng nghề Đồng Kỵ có 4152 hộ thì có đến 95% số hộ tham gia sảnxuất đồ gỗ mỹ nghệ, đã giải quyết việc làm được cho gần 5000 lao độngtrong làng và trên 4000 lao động ngoài tỉnh như các lao động từ Hà Nội, BắcGiang, Hưng Yên, Thái Bình…với mức thu nhập bình quân hiện nay là 2 – 7triệu đồng/tháng/người (2009) Nghề thủ công mỹ nghệ này, ngoài sự lànhnghề thì người thọ đòi hỏi phải có óc quan sát, sự sáng tạo, khiếu thẩm mỹcao, do vậy mà vấn đề đào tạo tay nghề cho người thợ rất được chú trọng.Nghề này cần một quá trình rèn luyện chăm chỉ, kiên nhẫn và cũng cần cócái tâm, cái nhiệt huyết với nghề mới theo đuổi lâu dài được
Trong làng, việc người thợ cả là kỹ sư, cử nhân không hiếm Cácdoanh nghiệp, hợp tác xã hiện đang mở các lớp đào tạo nghề cho rất nhiềuthanh niên ở các tỉnh khác, với số lượng 20 đến 30 người trong lớp, khoáhọc kéo dài 18 tháng Sau khi kết thúc khoá học thì những người được đào
Trang 34tạo này sẽ trở thành thợ cho làng nghề Đồng Kỵ Đây là bước làm tiết kiệm,tận dụng được nguồn nhân lực bên ngoài phục vụ cho kinh tế địa phương vàgiúp tạo việc làm cho các địa phương khác Tính đến thời điểm hết năm
2010, Đồng Kỵ đã nhận đăng ký sản xuất của 149 doanh nghiệp, hợp tác xã.Thị trường và các vấn đề kinh doanh liên quan
Nhắc đến đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, là nhắc đến một thương hiệu đượcđảm bảo về uy tín và chất lượng sản phẩm, đáng tin cậy cho khách hàng cảtrong và ngoài nước
Trước năm 2000, thị trường chủ yếu của đồ gỗ Đồng Kỵ là các tỉnhbạn lân cận Nhưng sang đến năm 2001 thì Đồng Kỵ đã xuất khẩu đượclượng lớn hàng hóa, chiếm đến 85% tổng thể Thị trường ưa chuộng của đồ
mỹ nghệ của làng là các nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á nhưMalaysia, Singapo, Đài Loan, Trung Quốc …và một số nước ngoài châu Ánhư EU, Mỹ, Canada, Braxin…
Nhận thức được thị trường trong nước là trọng điểm nên 2 năm lạiđây, các doanh nghiệp tại đây đã quan tâm và quay lại với thị trường nội.Trên thực tế, khoảng 200 doanh nghiệp, hợp tác xã cùng hàng nghìn hộ sảnxuất kinh doanh trong mấy năm trở lại đây, ở các tỉnh thành khác trong nướcđều có các cửa hàng buôn bán sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ
Khâu tiếp thị cho sản phẩm ngày càng được chú trọng như việc cho rađời Hội sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ hay trang web củariêng đồ gỗ Đồng Kỵ, giới thiệu, quảng bá sản phẩm bằng cả ngôn ngữ tiếngViệt lẫn tiếng Anh là việc làm đáng khích lệ, tập hợp được nhiều hộ kinhdoanh cá thể, tìm được một hướng đi bài bản và cũng để tạo dựng được mộtthương hiệu tin cậy, không lẫn được với bất kỳ đâu, ngay cả ở nước ngoài,khi cạnh tranh với đồ gỗ các nước bạn thì đồ gỗ Đồng Kỵ vẫn tồn tại đượcchỗ đứng vững chắc Thậm chí, nhiều sản phẩm đồ gỗ nước ngoài cũng đang
Trang 35thách thức sản xuất trong nước, nên việc thành lập Hội và trang websiteriêng đang thực sự thức tỉnh nhiệt thành của những người làm nghề.
Quy trình hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh.
Nguyên nhiên liệu sản xuất
Nguyên liệu sản xuất chính là gỗ tự nhiên
Ngoài ra, còn có nhiên liệu gồm:
Keo cồn là chất làm kết dính và đóng rắn trong quá trình lắpghép, tạo sản phẩm thô
Giấy giáp để làm nhẵn bề mặt sản phẩm gỗ
Xăng và củ xi dùng để đánh bóng bề mặt
Bột đắp gồm có bột đa, bột đất, mùn chả dùng để gia công bềmặt, pha chế cồn keo, khắc phục được khuyết tật của sản phẩm
Sơn và vecni dùng để làm bóng bề mặt, tăng tính hấp dẫn
Các trang thiết bị sản xuất
Các sản phẩm mộc được tạo ra từ các công cụ là đục, cưa, trạm,khuôn vẽ Nếu trước đây, xẻ gỗ được thực hiện thủ công, thì nay đã đượcthay thế bằng những chiến cưa Sau khi gỗ được cắt thành từng khối theocác mục đích sử dụng khác nhau thì tiếp tục được vẽ theo khuôn Cuối cùng
là dùng đục để tạo ra các hoa văn, đương nét – là công việc quan trọng nhất
để quyết định tính thẩm mỹ của một sản phẩm mỹ nghệ
Đặc trưng sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ là bán cơ giới, các côngđoạn được cơ giới hóa khoảng 75% là một thuận lợi so với sản xuất thủ côngtrước đây
Quy trình sản xuất
Trang 36Tiếng ồn, CTR (gỗ vụn) Tiếng ồn, hơi keo cồn
Bụi,tiếng ồn, CTR (gỗ vụn)
Bụi gỗ, tiếng ồn, hơi keo cồn, CTR(mùn gỗ, giấy ráp) Tiếng ồn, CTR(vỏ trai, mùn gỗ)
Trang 37Hiện trạng môi trường nước.
Làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ cùng với bốn làng nghềkhác là làng nghề sản xuất thép Châu Khê, làng tái chế giấy Phong Khê, làngtái chế giấy Phú Lâm và làng tái chế sắt Đa Hội, đang hàng ngày trực tiếp đổcác CTR và nước thải độc hại xuống dòng sông Ngũ Huyện Khê, khiến chocon sông với 24km chạy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh này như bị bức tử từngngày từng giờ
Mẫu phân tích kết quả cho thấy bùn ở đáy sông Ngũ Huyện Khê đoạn
đi qua các làng nghề thì hầu hết các chỉ tiêu về kim loại nặng (Fe, Mn) đềucao hơn so với đoạn trước khu vực có làng nghề từ 1 tới 2 lần Theo nghiêncứu, thấy rằng nước thải tại làng nghề Đồng Kỵ chứa rất nhiều chất hữu cơ,vượt TCCP như COD vượt đến 1.6 lần (QCVN 08) cộng với tổng lượng chất
lơ lửng TSS vượt TCCP (QCVN 08) đến 1.14 lần và lượng Coliform cũngvượt TCCP tới 10.8 lần Còn đối với nước mặt thì kết quả quan trắc cho thấylượng BOD5 tại cống mương rãnh vượt QCCP (QCVN 08) là 3.6 lần; CODvượt QCCP (QCVN 08) là 5.16 lần; chất lơ lửng TSS lại vượt QCCP(QCVN 08) tới 1.48 lần; đối với chỉ tiêu Coliform thì vượt QCCP (TCVN08) đến 2.16 lần.Cụ thể đối với khúc đoạn chảy qua làng nghề Đồng Kỵ làmcho chất lượng nước sông ở đây chủ yếu chứa chất hữu cơ và chất lơ lửng(như COD vượt QCCP (TCVN 08) là 1.6 lần và TSS vượt QCCP (QCVN08) là 1.96 lần)
Trang 38tiêu Đơn vị Kết quả nước mặt QCVN08/
2008 *
Kết quả nước thải 5945-2005B TCVN
Kết quả nước ngầm Tiêu chuẩn số 1329-2002
BYT/QĐ *
Trang 39Bảng 2.2 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm
(nước giếng khoan) tại làng nghề Đồng Kỵ
(Nguồn: http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=3322998 )
Hiện trạng môi trường đất.
Ô nhiễm môi trường đất tại làng nghề Đồng Kỵ cũng giống như cáclàng nghề đồ gỗ mỹ nghệ khác chủ yếu là do các CTR phát sinh trong quátrình hoạt động như các đầu mẩu gỗ thừa, mùn gỗ sau khi bào, giẻ lau chứadung môi hữu cơ hay cặn hóa chất Tuy nhiên thì lượng CTR này với lượngthải không quá lớn, lại được tận dụng để dùng cho đun nấu hay làm các chitiết nhỏ hơn trong sinh hoạt hằng ngày nên tác động của nó đến môi trườngkhông đáng kể
Nhưng vì có hoạt động sản xuất diễn ra nên theo nghiên cứu tình toán,người ta vẫn nhận thấy lượng Cacbon, Nito hay Photpho tại vị trí như cốngthải chung hay bờ mương là nơi thải CTR thì ở trong đất có độ mùn thấphơn các khu vực không diễn ra hoạt động sản xuất như ở vị trí đình làng,đường làng, khu canh tác Bảng thống kê sau sẽ cho thấy rõ điều đó:
Trang 40Hiện trạng môi trường không khí.
Cũng giống như các làng nghề thủ công mỹ nghệ khác, làng nghề đồ
gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ cũng gặp phải tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm
trọng, đây cũng chính là vấn đề ô nhiễm chính tại làng so với môi trường đất
và không khí nêu trên
Sự ô nhiễm không khí ở làng nghề chủ yếu là do bụi, SO2, NO2 Hầu
hết các hộ ở đây phun sơn có diện tích nhỏ lại không có quạt hút nên hơi của