1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx

89 650 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thuỳ Linh
Trường học Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 335,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các nướcngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế của mỗi quốcgia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phậncấu thành nên sự phát triển đó Vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phảihòa nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM cùng các hoạt động kinh doanhcủa mình đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này

Đặc biệt trong năm 2006 vừa qua với một loạt sự kiện quan trọng như:Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14, Quốc hội

Mỹ thông qua dự luật quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) đốivới Việt Nam… Các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các Ngân hàngthương mại, sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh trên thịtrường quốc tế Trong bối cảnh hội nhập đó, các Ngân hàng thương mại nước

ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới

Hội nhập đồng nghĩa với việc Nhà nước ta phải xoá bỏ chính sách bảo

hộ các Ngân hàng trong nước và dỡ bỏ các rào cản thương mại đối với cácNgân hàng nước ngoài theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO Từngày 01/04/2007, nước ta sẽ cho phép các Ngân hàng nước ngoài thành lậpNgân hàng con 100% vốn nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện cho các Ngânhàng nước ngoài có quyền bình đẳng với các Ngân hàng Việt Nam trong quátrình huy động vốn và các hoạt động Ngân hàng khác Do đó, các Ngân hàngnước ta sẽ vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với các Ngân hàng nước ngoài trên thịtrường Việt Nam và thị trường quốc tế

Tín dụng, trong đó tín dụng trung dài hạn là một lĩnh vực có vai trò đặc

Trang 2

biệt quan trọng đối với nền kinh tế, và cũng là lĩnh vực mà các Ngân hàngthương mại Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các Ngân hàngnước ngoài Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng trung dài hạn của các Ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay còn chứa đựng rất nhiều rủi ro Bất kỳmột sự tác động nào ảnh hưởng đến tính khả thi và tính sinh lời của dự án đều

có thể gây thiệt hại cho Ngân hàng, nhẹ thì cũng làm giảm tính cạnh tranh củacác Ngân hàng, nặng thì sẽ gây tổn thất cho người gửi tiền và cho toàn bộ nềnkinh tế do bản chất hoạt động của Ngân hàng là đi vay để cho vay

Trong những năm vừa qua, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã cónhiều cố gắng và đã đạt được những thành tựu nhất định như dư nợ tín dụngtăng, tỷ lệ nợ xấu giảm… Song để đứng vững trong môi trường cạnh tranh vàbắt kịp với xu hướng đổi mới của thời đại, thì Ngân hàng Ngoại Thương cần

nỗ lực hơn nữa trong việc ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn.Xuất phát từ bối cảnh đất nước và thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

Ngoại Thương, em đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi

ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam”.

2 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận sẽ hệ thống lại những vấn đề có tính lý luận về rủi ro tíndụng trung dài hạn để khẳng định rằng rủi ro tín dụng là một tất yếu song cóthể hạn chế đến mức thấp nhất để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lợicủa Ngân hàng

Trên cơ sở phân tích thực trạng rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngânhàng Ngoại Thương Việt Nam, khoá luận sẽ rút ra các vấn đề còn tồn tại, đưa

ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạntại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trong thời gian tới

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Do rủi ro tín dụng là một vấn đề rộng và phức tạp, trong phạm vi khoáluận này, em xin chỉ tập trung vào đối tượng nghiên cứu là hình thức cho vay

Trang 3

trung dài hạn đối với các tổ chức kinh tế, phạm vi nghiên cứu là các dự ánđược thực hiện tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trong những năm gầnđây.

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng,duy vật lịch sử Sử dụng các số liệu thực tế để luận chứng thông qua cácphương pháp so sánh, thống kê, đồ thị…

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài được kết cấu gồm 3 phần:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trung dài hạn của

Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng

Ngoại Thương Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Hoàn thành khoá luận này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn,chỉ bảo tận tình của cô giáo, Tiến sĩ Lê Thị Tuấn Nghĩa, chủ nhiệm bộ môntiền tệ khoa Ngân hàng cùng các anh chị cán bộ phòng Đầu tư dự án Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam Do còn nhiều hạn chế về trình độ cũng nhưthời gian nghiên cứu, bài khoá luận chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, emmong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các anh chị

Hà Nội, ngày tháng năm 2007

Sinh viên

Nguyễn Thuỳ Linh

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Khái niệm tín dụng trung dài hạn

Hoạt động Ngân hàng ra đời khi quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoácủa xã hội đã phát triển ở mức độ cao, và cùng với thời gian, hệ thống Ngânhàng đã đóng một vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của nền kinh tếthế giới Ngày nay, các Ngân hàng hiện đại có thể làm thoả mãn mọi đốitượng khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp bởi một khối lượng dịch vụ rất

đa dạng và phong phú bao gồm nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, bảo lãnh,

uỷ thác đầu tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ đối ngoại, dịch vụ bảo quản và ký gửitài sản… Song dù các Ngân hàng có mở rộng và đa dạng hoá các dịch vụcung ứng đến thế nào, nó cũng không thể tách rời hoạt động tín dụng, bởi hoạtđộng tín dụng chiếm một tỷ lệ lớn trong nghiệp vụ sử dụng vốn và mang lạithu nhập chủ yếu cho Ngân hàng

Có thể định nghĩa tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiềnhay hàng hoá), giữa bên cho vay (là Ngân hàng) với bên đi vay (là các cánhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó, Ngân hàng chuyểngiao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoảthuận Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi choNgân hàng khi đến hạn thanh toán

Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động tín dụng cũng phát triển ngàycàng phong phú và đa dạng với rất nhiều hình thức khác nhau Các hình thứctín dụng càng đa dạng, thì các loại rủi ro đi kèm với nó cũng càng đa dạng và

Trang 5

phức tạp hơn Để quản lý hoạt động tín dụng, các Ngân hàng phải đưa ra rấtnhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng, trên cơ sở đó đề ra các biệnpháp quản lý thích hợp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng có thểxảy ra Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng như phân loại theo thờigian tín dụng, theo đối tượng tín dụng, theo xuất xứ của tín dụng, theo mụcđích sử dụng vốn… Nếu sử dụng tiêu thức thời hạn cho vay để phân loại tíndụng, ta có thể đưa ta khái niệm về tín dụng trung dài hạn của các NHTM nhưsau:

Tín dụng trung dài hạn là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ mộtnăm trở lên

Trong đó, các NHTM thường qui định:

 Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm

 Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm.Tín dụng trung dài hạn có các loại sau : tín dụng trung và dài hạn theo

dự án đầu tư, tín dụng thuê mua, tín dụng tuần hoàn, cho vay đồng tài trợ

Tín dụng trung dài hạn là một nghiệp vụ chủ yếu của NHTM Mục đíchcủa tín dụng trung dài hạn là đầu tư cho các dự án xây mới, hoặc tài trợ chocác chương trình mở rộng, cải tạo khôi phục, ứng dụng khoa học, đổi mới kỹthuật… của doanh nghiệp

1.1.2 Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn

Tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng riêng so với các loại tín dụngkhác bao gồm:

 Vốn đầu tư lớn

Việc đầu tư trung dài hạn nhằm vào các dự án lớn như xây dựng nhàmáy, cầu cảng, cơ sở hạ tầng, hoặc dây chuyền sản xuất… do đó mà số vốncần thiết cho mỗi dự án lớn gấp nhiều lần cho vay ngắn hạn

 Thời hạn đầu tư dài

Các dự án đầu tư thường là để tài trợ nhu cầu vốn cố định của doanh

Trang 6

nghiệp, tuy toàn bộ số vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng

nó chỉ chuyển một phần giá trị vào các sản phẩm được sản xuất ra trong suốtquá trình khấu hao Do đó, việc thu nợ phải thực hiện trong thời gian dài quanhiều kỳ hạn nợ

 Tính rủi ro cao

Các dự án đầu tư mà Ngân hàng tài trợ có thể có quy mô rất lớn và liênquan tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau Hơn nữa, vì thời gian thu nợkéo dài, trong thời gian đó có thể xảy ra nhiều thay đổi với vị thế của doanhnghiệp về sản phẩm được cung cấp, sự xuất hiện sản phẩm mới ưu việt hơn,

sự thay đổi công nghệ sản xuất, nguyên liệu sản xuất, hoặc biến động về kinh

tế – chính trị… tất cả các yếu tố này đều có thể gây khó khăn cho sự trả nợcủa doanh nghiệp

 Lãi suất cao

Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu trúc rủi

ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất Mức độ rủi ro càng cao, thời hạn cho vaycàng dài thì mức bù rủi ro cho Ngân hàng càng lớn, do đó, lãi suất càng cao

và ngược lại

Ngoài ra, Ngân hàng cũng phải tốn nhiều chi phí trong huy động vốn,thẩm định, thực hiện và giám sát khoản cho vay… Chính vì vậy, lãi suất trongcho vay trung dài hạn thường cao hơn so với cho vay ngắn hạn

Các đặc điểm của cho trung dài hạn theo dự án đầu tư đòi hỏi Ngânhàng phải tăng cường việc thẩm định, quản lý và giám sát khoản vay Việcnày khiến Ngân hàng tốn khá nhiều công sức và chi phí Bù lại, các dự ántrung dài hạn có giá trị rất lớn Giá trị của một khoản vay trung dài hạn có thểbằng rất nhiều khoản vay nhỏ lẻ gộp lại trong một thời kỳ Hơn nữa, nhữngNgân hàng thành công trong việc đầu tư theo dự án thường tạo được danhtiếng và ưu thế cạnh tranh rất lớn Chính vì vậy, các Ngân hàng luôn coi trọnghoạt động tín dụng trung dài hạn

Trang 7

1.1.3 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với nền kinh tế

Tín dụng trung dài hạn không chỉ là nghiệp vụ mang lại nguồn thu nhậplớn cho Ngân hàng, mà xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, tín dụng trungdài hạn còn có vai trò cực kỳ to lớn:

 Tín dụng trung dài hạn góp phần phát triển kinh tế theo chiều sâuMột doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết nắm bắt và tìmmọi cách thoả mãn những nhu cầu không ngừng nâng cao của xã hội Điều đóđồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần có vốn để không ngừng đổi mới, nângcao chất lượng sản phẩm Nguồn vốn ngắn hạn sẽ chỉ đáp ứng được nhu cầuthiếu vốn tạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp trongviệc mở rộng vốn trung dài hạn Đối với Việt Nam, số các doanh nghiệp lớn

có khả năng kêu gọi vốn trung dài hạn trực tiếp từ thị trường chứng khoánkhông nhiều, nên vay vốn từ Ngân hàng được coi là giải pháp tối ưu nhất chonhu cầu vốn của các doanh nghiệp Nguồn vốn tín dụng trung dài hạn củaNgân hàng sẽ tạo nền tảng cơ sơ vật chất kỹ thuật cho sự tăng trưởng thực sựvững bền, đó chính là đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu

 Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy, mở rộng sản xuất pháttriển

Đầu tư nhằm mở rộng sản xuất, tăng quy mô, nâng cao năng lực sảnxuất…, đòi hỏi một lượng vốn rất lớn mà không phải chủ đầu tư nào cũng cóthể đáp ứng được Vì thế, tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng thực sự làmột cứu cánh khi doanh nghiệp có tiềm năng mở rộng sản xuất mà chưa cóvốn đầu tư Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động, nó cũng tạo cơ hội mởrộng sản xuất cho các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, cung cấp máy mócthiết bị, giải quyết nhân lực… Ngoài ra nhờ việc đầu tư vào máy móc, thiết bịhiện đại, năng lực sản xuất của doanh nghiệp được tăng lên, sản phẩm sảnxuất ra có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng yêu cầu của thị trường nội địa

và nước ngoài, kích thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tăng khả năng xuất

Trang 8

 Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theohướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Thông qua nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn, Ngân hàng có thể cho vayđáp ứng sự phát triển của ngành này, cũng có thể hạn chế đối với một sốngành kinh tế khác Công nghiệp hoá không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ

và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà là cả quá trình chuyểndịch cơ cấu gắn với chuyển đổi mới cơ bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sựtăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Nội dung giai đoạn đầu của tiến trình CNH-HĐH đất nước là tập trung vốnđầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ máymóc, chuyển dịch nền kinh tế, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiềurộng lẫn chiều sâu

Trong điều kiện thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện tại

và thời gian tới, tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng vẫn đóng vai trò quyếtđịnh cho giai đoạn đầu thực hiện CNH-HĐH

 Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo nguồn thu vững chắc cho ngânsách

Tín dụng trung dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế theo chiều sâu, do

đó khi sản xuất phát triển sẽ taọ ra nhiều sản phẩm hàng hoá để tiêu thụ trong

Trang 9

nước cũng như xuất khẩu Việc này sẽ tạo ra nguồn thu cho ngân sách từ thuếGTGT, thuế xuất khẩu, thuế sử dụng tài nguyên, thuế thu nhập… Khi xuấtkhẩu tăng thì chúng ta sẽ thu được ngoại tệ đảm bảo duy trì cho nhu cầu nhậpkhẩu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế…

Tóm lại, vốn trung dài hạn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển củanền kinh tế Các NHTM ở các nước đang phát triển đều cố gắng tăng tỷ lệ dư

nợ tín dụng trung dài hạn để phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước

1.2 Rủi ro tín dụng trung dài hạn của NHTM trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Bản chất rủi ro tín dụng trung dài hạn

Hiện nay, hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam vẫn chiếm tỷtrọng lớn nhất trong danh mục tài sản có (trên 60%), nguy cơ phát triển tíndụng nóng vẫn chưa được ngăn chặn hữu hiệu, kinh doanh tín dụng là hoạtđộng tạo ra thu nhập chủ yếu của các Ngân hàng trong khi đó môi trường kinhdoanh tín dụng còn nhiều rủi ro Do đó, rủi ro lớn nhất mà các NHTM ViệtNam gặp phải chính là rủi ro tín dụng

Vậy rủi ro tín dụng là gì?

Trong tài liệu “Công nghệ Ngân hàng dành cho các nước đang pháttriển” rủi ro tín dụng được định nghĩa là: Thiệt hại kinh tế của Ngân hàng domột khách hàng hoặc nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay củaNgân hàng”

Trong tài liệu “Financial institutions management –Amodernperpective” A.Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềmtàng khi Ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năngnguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của Ngân hàng không thểđược thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn

Có định nghĩa khác cho rằng “rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện cácbiến cố không thể đo lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các

Trang 10

cam kết đã thoả thuận đối với Ngân hàng”.

Hiện nay rủi ro tín dụng được định nghĩa: là khoản lỗ tiềm tàng vốn cóđược tạo ra khi Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng Cụ thể hơn, rủi ro tíndụng là khả năng khách hàng không trả được đúng nợ với Ngân hàng xét trên

cả hai khía cạnh: số lượng và thời gian Do đó, rủi ro tín dụng có thể đượcphân thành:

 Rủi ro mất vốn: là rủi ro không thu hồi được một phần hay toàn bộnợ

 Rủi ro bị đọng vốn: là rủi ro không thu hồi được nợ đúng hạn

Qua định nghĩa có thể biểu diễn sơ đồ rủi ro tín dụng của NHTM

Phát sinh lãi treo đóng băng

Phát sinh nợ khó đòi

Khả năng thanh toán suy giảm Hiệu quả kinh doanh giảmThất thoát vốn, phá sản

Trang 11

Các chuyên gia cho rằng một số tài sản của Ngân hàng (đặc biệt là cáckhoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tíndụng Do vốn chủ sở hữu của Ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏnên chỉ cần một tỉ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một Ngânhàng tới nguy cơ phá sản Có bốn chỉ tiêu sau được sử dụng rộng rãi nhấttrong việc đo lường rủi ro tín dụng của Ngân hàng:

Chỉ tiêu thứ nhất: tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư

Nợ quá hạn tăng làm gia tăng chi phí có tính chất có tính chất hiệu ứng:khi các khoản nợ quá hạn phát sinh các NHTM không có nguồn thu từ cáckhoản vay này trong khi đó vẫn phải tiếp tục trả lãi cho nguồn vốn vay, vốnhuy động từ khách hàng Bên cạnh đó các chi phí khác tiếp tục phát sinh cótính chất cộng hưởng như chi phí quản lý nợ quá hạn phát sinh, các chi phíkhác có liên quan… Tình trạng này dễ dẫn đến kết quả kinh doanh của Ngânhàng bị lỗ

Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốncủa NHTM, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quảkinh doanh Đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng,khả năng kinh doanh cũng như giảm uy tín của Ngân hàng và khả năng cạnhtranh của Ngân hàng

Nợ quá hạn được kiểm soát chặt chẽ góp phần làm lành mạnh hoá toàn

Trang 12

bộ tình hình hoạt động và tài chính của Ngân hàng Do đó, các Ngân hàngphải nắm được tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ để có các biện pháp tác độngthích hợp nhằm giảm tỷ lệ này.

Chỉ tiêu thứ hai: tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ cho vay

= Theo điều 6 quy định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợthuộc các nhóm 3,4, và 5, bao gồm:

Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại

Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, cáckhoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại

Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): các khoản nợ quá hạn trên 360ngày, các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lạithời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụngcủa các TCTD Tỷ lệ này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của Ngânhàng càng kém Khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên thì sẽ làm cho hệ thống Ngân hàngrơi vào tình trạng mất an toàn của toàn hệ thống, chất lượng tín dụng và hiệuquả kinh doanh sẽ xấu đi nghiêm trọng Đặc biệt khi việc tăng trưởng dư nợ

đi kèm với gia tăng các khoản nợ xấu trên thực tế, trong đó có một phần dư

nợ xấu không được nhận dạng đầy đủ thì hoạt động tín dụng và mức độ antoàn của Ngân hàng sẽ trở nên xấu đi nghiêm trọng nếu như tốc độ tăngtrưởng kinh tế bị sụt giảm vì các nguyên nhân ngoại sinh (ví dụ như thịtrường quốc tế thay đổi bất lợi, khủng hoảng…) Do vậy đây là một chỉ tiêuquan trọng để đánh giá tình trạng rủi ro tín dụng của NHTM

Chỉ tiêu thứ ba: tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ

Trang 13

=

Nợ khó đòi là các khoản nợ mà Ngân hàng khó có khả năng thu hồiđược Đối với những khoản nợ khó đòi NHTM thường phải tiến hành các biệnpháp xử lý như sử dụng quỹ dự phòng rủi ro, xoá nợ… mà quỹ dự phòng rủi

ro được hạch toán và chi phí hoạt động của Ngân hàng Do đó, tỷ lệ này càngtăng thì Ngân hàng càng phải đối mặt với tình trạng tăng chi phí, giảm lợinhuận, suy giảm năng lực tài chính, thậm chí là nguy cơ phá sản nếu nhưNgân hàng không còn khả năng bù đắp những khoản nợ này Vì vậy, đâycũng là một tỷ lệ quan trọng phản ánh tình trạng rủi ro tín dụng tại NHTM

1.2.3 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trung dài hạn

Các khoản vay không bao giờ bị giảm giá bất thình lình mà không códấu hiệu bất thường báo trước Đối với cho vay trung dài hạn, thời hạn củacác khoản vay khá dài, nên cán bộ tín dụng càng có điều kiện để nhận biếtnhững dấu hiệu cảnh bảo rủi ro Các dấu hiệu này có thể được nhận biết từcác nguồn sau:

Nhóm 1: Các dấu hiệu liên quan đến các mối quan hệ với Ngân hàng

- Thông qua việc theo dõi tài khoản và việc thanh toán cho khách hàng,Ngân hàng cần thận trọng khi bắt gặp thường xuyên các dấu hiệu sau: pháthành quá số dư, khó khăn trong thanh toán lương, số dư của các tài khoản tiềngửi giảm, gia tăng dư nợ thương mại

- Thông qua mối quan hệ tín dụng của khách hàng: Ngân hàng phải lưu

ý đến các hiện tượng: mức độ vay tăng, thanh toán chậm nợ gốc và lãi, vaylớn hơn nhu cầu, thường xuyên yêu cầu Ngân hàng cho gia hạn

- Thông qua việc theo dõi các phương thức tài chính của khách hàng,khoản vay có thể gặp rủi ro nếu có các dấu hiệu: khách hàng thường sử dụngcác nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn, khách hàng chấp nhậncác khoản phương thức tài trợ đắt nhất, các khoản phải trả giảm và các khoảnphải thu tăng, có biểu hiện giảm vốn điều lệ

Trang 14

Nhóm 2: Các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của kháchhàng

- Thường xuyên thay đổi cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành

- Đội ngũ quản trị bất đồng về mục tiêu, có tranh chấp về quyền lực

- Cách thức quản trị có biểu hiện: hội đồng quản trị hay giám đốc ítkinh nghiệm, can thiệp quá sâu vào những vấn đề thường nhật, ít quan tâmđến lợi ích của cổ đông, chủ nợ

- Có tranh chấp với chính quyền địa phương, tranh chấp trong nội bộdoanh nghiệp

Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinhdoanh như hội chứng hợp đồng lớn, hội chứng sản phẩm đẹp Các dấu hiệunày phải được xem xét cùng các yếu tố khác để đánh giá được ưu tiên đó làđúng hay sai để có được kết luận chính xác

Nhóm 4: Các dấu hiệu thuộc về kỹ thuật, thương mại của doanh nghiệpnhư khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sản phẩm mang tính thời vụcao, hay có các thay đổi bất lợi trên thị trường hay trong các chính sách củaNhà nước

Nhóm 5: Các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán như chuẩn

bị không đầy đủ hay chậm trễ, trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính, hay từ cácbáo cáo đó, Ngân hàng nhận thấy khách hàng đang gặp khó khăn về tài chính:

tỷ lệ nợ tăng, khả năng thanh toán giảm, hàng tồn kho tăng, lợi nhuận giảm

Ngoài các nhóm dấu hiệu trên, Ngân hàng còn có thể nhận biết sớmđược rủi ro tín dụng thông qua các dấu hiệu phi tài chính khác như dáng vẻ bềngoài của chủ doanh nghiệp, thái độ làm việc của nhân viên, hiện trạng cơ sởsản xuất kinh doanh Đối với tín dụng trung dài hạn, Ngân hàng không phải

lo lắng thái quá nếu có biểu hiện trên trong một số giai đoạn nhất định Miễnsao các khó khăn đó không phải là thường trực và tình trạng kinh doanh là tốtkhi đến hạn trả nợ

Trang 15

1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trung dài hạn

Tín dụng trung dài hạn với đặc điểm là thời hạn cho vay kéo dài (trên 1năm), có những dự án đầu tư vào các lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng, muamáy móc thiết bị, đóng tàu, mua tàu thì thời hạn đầu tư kéo dài hàng chụcnăm Trong một thời gian dài, bản thân dự án cũng như khách hàng có nhiềuthay đổi khó dự đoán Vì vậy, tín dụng trung dài hạn thường có độ rủi ro caohơn trong các loại tín dụng Khó có thể liệt kê một cách đầy đủ các nguyênnhân gây ra rủi ro tín dụng trong tín dụng trung dài hạn Xét một cách kháiquát, có thể kể đến ba nhóm nguyên nhân chính như sau:

Nguyên nhân rủi ro từ phía Ngân hàng:

Nguyên nhân rủi ro từ phía Ngân hàng là rất quan trọng, theo đánh giácủa quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): 50% Ngân hàng phá sản trên thế giới là donăng lực quản lý yếu kém của chính bản thân Ngân hàng Cụ thể có thể là do:

- Chính sách tín dụng của Ngân hàng không hợp lý: Ngân hàng thiếumột chính sách cho vay rõ ràng, hay chính sách cho vay không phù hợp vớiđặc điểm thực trạng nền kinh tế Kinh nghiệm cho thấy, sự hoạt động của mộtNgân hàng dựa trên cơ sở chính sách tín dụng thống nhất, hợp lý, có hiệu quảnhiều hơn là dựa trên kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho cá nhân điềuhành Một chính sách cho vay không đồng bộ, thống nhất sẽ gây ra địnhhướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúngđối tượng, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho Ngân hàng

- Ngân hàng không phân tích, đánh giá được khách hàng một cách đầy

đủ trước khi cho vay, đồng thời không giám sát được việc sử dụng vốn vaymột cách chặt chẽ sau khi giải ngân Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cóthể do:

 Ngân hàng thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác, kịp thời

để đánh giá vai trò, vị trí của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trườnghiện tại và tương lai, do đó quyết định cho vay thiếu chính xác

Trang 16

 Ngân hàng chủ quan tin tưởng vào khách hàng truyền thống củamình hoặc quá coi trọng tài sản đảm bảo mà coi nhẹ khâu kiểm tra, giám sátkhách hàng.

 Cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc năng lực chuyênmôn yếu kém, không am hiểu về ngành nghề kinh doanh mà mình đang tài trợkhông phát hiện được các yếu kém của dự án xin vay vốn cũng như các dấuhiệu bất thường trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Hoặc do cán bộtín dụng thái hoá biến chất, cố ý làm trái, không chấp hành đúng chính sách chế

độ, tiếp tay đồng loã với kẻ gian lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng

 Ngân hàng quá nhấn mạnh vào lợi nhuận và phát triển mà sao nhãng

sự lành mạnh của các khoản cho vay

 Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các đảm bảo tíndụng Việc định giá tài sản đảm bảo thấp hơn giá trị thực, cho vay quá giá trịtài sản đảm bảo, không giám sát, bảo vệ tài sản cẩn thận

 Ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm ngăn ngừa hạn chế rủi ro khi hoạtđộng trong nền kinh tế thị trường, từ đó chưa có được các biện pháp phòngngừa, phân tán rủi ro thích hợp, chưa có tổ chức theo dõi quản lý rủi ro thật sựhữu hiệu

Nguyên nhân rủi ro từ phía khách hàng:

Nguyên nhân rủi ro từ phía khách hàng rất đa dạng, nhưng đối với tíndụng trung dài hạn, khách hàng chủ yếu là các tổ chức kinh tế, nguyên nhânchủ yếu tập trung ở một số loại chính sau:

- Khách hàng gặp khó khăn trên thị trường cung cấp nguyên vật liệuhoặc thị trường tiêu thụ sản phẩm nên không thu đựơc lợi nhuận dự kiến: trênthị trường đầu vào, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi giá cả nguyên vậtliệu tăng đột biến, nguyên liệu khan hiếm, hoặc chất lượng nguyên liệu khôngđảm bảo Các biến cố này ảnh hưởng đến giá thành cũng như chất lượng củasản phẩm, do đó ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Trang 17

Trên thị trường đầu ra, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi giá bán khôngcạnh tranh, sản xuất vượt quá mức cầu, mẫu mã hàng hoá không phù hợp

- Vốn vay sử dụng sai mục đích: có những trường hợp doanh nghiệp

sử dụng vốn vay vào những mục đích khác với mục đích khai báo với Ngânhàng, khiến cho Ngân hàng không thể kiểm soát được khoản tín dụng cấp ra,tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho Ngân hàng

- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản: trong nhiềutrường hợp, doanh nghiệp không trả được nợ không phải do hoạt động kinhdoanh thua lỗ mà do vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng quá nhiều, nên đếnhạn, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán cho Ngân hàng

- Do tình trạng tham nhũng, gian lận diễn ra trong nội bộ doanhnghiêp

- Do rủi ro đạo đức: khách hàng cố tình dùng những thủ đoạn để lừađảo, chiếm dụng vốn của Ngân hàng

Nguyên nhân rủi ro do môi trường hoạt động kinh doanh:

- Do một dự án có thời hạn dài nên nó thường không tránh khỏi ảnhhưởng từ môi trường bên ngoài Có thể kể đến một số nguyên nhân chính từphía môi trường kinh doanh có thể gây khó khăn cho dự án như sau:

- Do những nguyên nhân mang tính chất bất khả kháng như thiên taibão lụt, hạn hán, động đất, núi lửa

- Tình hình an ninh, chính trị và kinh tế trong và ngoài nước không ổnđịnh làm chậm quá trình thi công, xây dựng dự án hoặc làm cho dự án sảnxuất phải tạm thời gián đoạn

- Do tác động của thời kỳ khủng hoảng, suy thoái của chu kỳ kinh tế

Sự phát triển kinh tế thường diễn ra theo chu kỳ: hưng thịnh – khủng hoảng –suy thoái – phát triển – hưng thịnh Trong thời kỳ phát triển và hưng thịnh,hoạt động kinh doanh thuận lợi, do đó hoạt động tín dụng cũng khá an toàn.Còn thời kỳ khủng hoảng, suy thoái, sản xuất đình trệ nên các khoản tín dụng

Trang 18

gặp rủi ro cũng gia tăng Tín dụng trung dài hạn thường diễn ra trong thờigian tương đối dài, nên khó có thể tránh khỏi ảnh hưởng của các chu kỳ kinhtế.

- Môi trường pháp lý không thuận lợi và sự lỏng lẻo trong quản lý vĩ

mô Sự thay đổi bất thường của các chính sách có thể gây bị động, khó khăncho kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời kéo theo khókhăn trong việc thu hồi vốn của Ngân hàng Sự lơ là quản lý của các cơ quanpháp luật cũng có thể tạo những “kẽ hở” cho các doanh nghiệp thực hiện các

vụ làm ăn phi pháp, gây nguy cơ rủi ro cao cho Ngân hàng

1.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.

Trên cơ sở các nghiên cứu về nợ quá hạn, ta thấy khả năng phát sinh nợquá hạn luôn tồn tại kể từ khi khoản vay phát sinh cho đến khi thu hồi hết nợ

Để đảm bảo khả năng thu hồi nợ và lãi đúng hạn, Ngân hàng phải thực hiệnmột số biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém thuộc về bản thân Ngânhàng, phát hiện, loại trừ khả năng phát sinh nợ quá hạn từ phía khách hàng vàmôi trường kinh doanh Rủi ro là một vấn đề phức tạp, để hạn chế được nó,đòi hỏi phải có sự phối hợp của tất cả các bộ phận, từ bộ phận quản trị chođến bộ phận tác nghiệp của Ngân hàng Trong phần này, chúng ta chỉ nêu lênnhững biện pháp cơ bản, có liên quan trực tiếp đến rủi ro tín dụng trung dàihạn

1.3.1 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý kết hợp hài hoà giữa mục tiêu mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng.

Chính sách tín dụng là một hệ thống các quy định nhằm mở rộng haythu hẹp hoạt động cho vay của một NHTM nhằm 3 mục tiêu chủ yếu là lợinhuận cao, sự an toàn và sự lành mạnh Thông thường, chính sách tín dụngđược thể hiện dưới hình thức các văn bản Tuy nhiên, trong một số trườnghợp, nó có thể là chỉ là những chỉ thị bằng lời của ban lãnh đạo Ngân hàng,

Trang 19

hoặc là một tập hợp những hành vi, thông lệ hoặc tập quán.

Chính sách tín dụng có tầm quan trọng đặc biệt với sự phát triển củamột NHTM Chính sách tín dụng thể hiện “triết lý” và “văn hoá’ cho vay, bởivậy nó là cơ sở hình thành nên các thủ tục cho vay Mức độ chặt chẽ, khoahọc của một thủ tục cho vay lại quyết định đến cơ cấu và chất lượng tín dụngcủa một Ngân hàng

Một chính sách tín dụng hợp lý sẽ là “kim chỉ nam” đảm bảo cho hoạtđộng tín dụng đi đúng quỹ đạo, giúp Ngân hàng có thể đạt được lợi nhuận vàkiểm soát rủi ro theo kế hoạch đã định Trên thực tế, chính sách tín dụng phảiđược thay đổi theo từng thời kỳ nhằm đảm bảo cho việc phát triển tín dụngphù hợp với nhu cầu thị trường và xu hướng của nền kinh tế

1.3.2 Hoàn thiện kỹ thuật thẩm định các nhu cầu tín dụng

Tín dụng trung dài hạn luôn là những khoản tín dụng có số lượng vốnlớn, thời hạn cho vay dài, do đó cần có sự cân nhắc trước khi cho vay: nêncho vay hay không và cho vay thì sẽ cho vay như thế nào, cho vay bao nhiêuthì phù hợp Để trả lời những câu hỏi này và đi đến quyết định cuối cùng, cầnthiết phải hoàn thiện thẩm định trên các mặt:

Thứ nhất, uy tín của khách hàng phải được đề cập trong thẩm định và

cụ thể hơn, nó phải có nội dung trong tờ trình của cán bộ tín dụng, với cáctiêu thức cụ thể là: thẩm định qua hồ sơ quá khứ của khách hàng; thẩm địnhqua phỏng vấn trực tiếp với mục đích cần đạt rõ ràng là: tìm hiểu phẩm chấtcủa khách hàng vay trên góc độ như động cơ cho vay, sự liêm chính, thái độsẵn lòng trả nợ; thẩm định danh tiếng hoặc tai tiếng; uy tín của khách hàngqua các luồng thông tin và giới thiệu của khách hàng khác về khách hàng vayvốn

Thứ hai, hoàn thiện thẩm định nguồn trả nợ của khách hàng Trước khimột nhu cầu cho vay được đáp ứng, việc nhìn thấy một loạt các nguồn tiền trả

nợ là cần thiết, nó đem lại cho TCTD giải quyết cả ba vấn đề trong quan hệ

Trang 20

tín dụng là giá cả, rủi ro và lòng tin Với ba nguồn được xếp thứ tự trong việcthẩm định cần làm là:

Một là, nguồn từ quyết toán của khoản vay: là nguồn trả nợ từ chínhhiệu quả của khoản tín dụng, nó phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận củangười vay mà trưc tiếp là phương án vay vốn

Hai là, nguồn từ chính năng lực tài chính của khách hàng vay vốn:được dùng khi dự án vay thực hiện không thành công, khi đó bản thân vốn nộisinh của doanh nghiệp, với tư cách người đi vay là nguồn thu khác của Ngânhàng Nguồn này vẫn chứa đựng sự không chắc chắn do việc Ngân hàng cùngphải chia sẻ nguồn thu này với chủ nợ khác

Ba là, tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố ): Là nguồn thu sau cùng từkhách hàng Nguồn này tỏ ra khá chắc chắn do tính “ưu quyền” của Ngânhàng trên giá trị của tài sản đảm bảo Tuy không phải là nguồn gắn liền vớibản chất của tín dụng do thanh lý chậm, tốn kém chi phí và sức lực, khó tìmkiếm thị trường

1.3.3 Thực hiện một cách khoa học và đồng bộ quy trình cho vay:

Quy trình cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng củaNgân hàng Một quy trình cho vay chặt chẽ và có hiệu quả sẽ là biện pháphữu hiệu nhất để hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng Quy trình chovay là một quy trình kể từ khi khách hàng lập đơn đề nghị vay vốn đến lúcNgân hàng thu hồi hết nợ vay Nó gồm 6 giai đoạn:

- Lập hồ sơ đề nghị vay vốn

- Giai đoạn phân tích tín dụng

- Giai đoạn quyết định tín dụng

- Giai đoạn giải ngân

- Giai đoạn giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro

- Giai đoạn kiểm tra và thanh lý hợp đồng

Các giai đoạn trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi phải

Trang 21

được thực hiện một cách đầy đủ, sát sao ở từng giai đoạn Tuy nhiên, trongthực tế có không ít cán bộ tín dụng lơi lỏng hời hợt trong việc thực hiện cácgiai đoạn, họ chỉ quan tâm tới một, hai giai đoạn đầu mà không xem xét kỹcác giai đoạn sau, điều đó rất dễ gây ra rủi ro Chính vì vậy, từ khi thiết lậpcho đến khi kết thúc mối quan hệ tín dụng, các cán bộ Ngân hàng phải ápdụng đồng bộ quy trình nhưng cũng phải kết hợp một cách linh hoạt và mềmdẻo Có như vậy, hiệu quả đầu tư tín dụng mới được nâng cao, rủi ro tín dụngcũng mới được hạn chế ở mức thấp nhất

1.3.4 Tham gia bảo hiểm tín dụng

Đây là một giải pháp nhằm đảm bảo sẽ bồi thường cho các Ngân hàngtrong trường hợp khách hàng của Ngân hàng gặp rủi ro, không có khả nănghoàn trả số tiền vay Ngân hàng có thể tiến hành bảo hiểm tín dụng dưới 3hình thức:

- Một là, Ngân hàng khuyến khích khách hàng tham gia bảo hiểm chongành nghề mà họ kinh doanh Như vậy, khoản tín dụng trong trường hợp này

đã được coi như là đã tham gia bảo hiểm

- Hai là, Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách thành lậpquỹ dự phòng rủi ro để bù đắp những thiệt hại do rủi ro gây ra

- Ba là, Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm từ các tổ chức bảo hiểmchuyên nghiệp và sẽ được bồi thường thiệt hại khi gặp rủi ro mất vốn tíndụng

1.3.5 Phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng

Để tiến hành phân tán, chia sẻ rủi ro, Ngân hàng thực hiện dưới 2 hìnhthức:

- Đa dạng hoá đối tượng tín dụng: nhà kinh tế học Sammuelson đãkhuyến cáo các nhà đầu tư cần tránh mạo hiểm, rủi ro rằng: “không nên bỏ tất

cả trứng vào trong một giỏ” Muốn tránh rủi ro Ngân hàng cần phân phối đầu

tư vào nhiều khách hàng hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau Như vậy, nếu xảy ra

Trang 22

rủi ro tại một lĩnh vực hay một khách hàng nào đó, Ngân hàng vẫn có thể bùđắp vào những khách hàng hay lĩnh vực khác Để thực hiện biện pháp này cácNgân hàng cần thực hiện 2 vấn đề:

 Cho vay nhiều đối tượng thuộc loại hình sản xuất khác nhau, khôngcho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một sản phẩm, hàng hoá

 Không nên đầu tư một số tiền lớn cho một khách hàng mà phải san

sẻ ra nhiều khách hàng

- Liên kết đầu tư: trong kinh doanh có những doanh nghiệp có nhu cầuvay vốn rất lớn mà một Ngân hàng không thể đáp ứng được hoặc khó xácđịnh mức độ rủi ro có thể thì Ngân hàng cần liên kết đầu tư, đồng tài trợ vớicác Ngân hàng khác Theo cách này, Ngân hàng sẽ phân tán rủi ro của mìnhcho các Ngân hàng khác

1.3.6 Tăng cường hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng

Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng theo nghĩarộng Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyếtđịnh cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi quản lý tài khoản cho vay.Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở Ngân hàng (hồ sơvay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng ),

từ khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực tiếp) từ cácnguồn thông tin khác (các cơ quan thông tin đại chúng, toà án )

Để đảm bảo cho hệ thống thông tin của các NHTM hoạt động có hiệuquả, là nơi tin cậy để các cán bộ tín dụng nắm được những thông tin cần thiết,cần thực hiện một số biện pháp sau:

- Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc đối với các chủ đầu tư Trướcmắt phải kiểm toán tài liệu cân đối kế toán và kết quả hoạt động tài chính củacác đơn vị xin vay vốn, đầu tiên là thực hiện đối với các dự án có quy mô từtrung bình trở lên

- Tổ chức dữ liệu trên cơ sở các chỉ tiêu tín dụng chuẩn hoá, cung cấp

Trang 23

thông tin và các báo cáo ngược lại trên mạng Online cho tất cả các chi nhánhNHTM và các phòng, ban NHTM TW.

- Kết nối với các hệ thống thông tin khác của NHNN, bộ thương mại,

bộ công nghiệp thu thập thông tin tín dụng toàn ngành Ngân hàng và thôngtin kinh tế khác

- Xây dựng trang Web cung cấp thông tin tín dụng điện tử trực tuyếncho toàn hệ thống bao gồm: thông tin kinh tế, thông tin hoạt động tín dụngcủa khách hàng bất kỳ, thông tin xếp hạng tín dụng

1.3.7 Tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ tín dụng

Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tham gia vào quá trình cung cấp tíndụng cho khách hàng, từ khâu đầu tiên như lập hồ sơ tín dụng cho đến khâucuối cùng là thu hồi nợ cho vay, do đó, cán bộ tín dụng giữ một vai trò vôcùng quan trọng trong việc quyết định chất lượng của các khoản cho vay

Để nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro trong tín dụng trungdài hạn cần tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ tín dụng: Lựa chọn cán

bộ có đủ kiến thức và đạo đức nghề nghiệp làm công tác tín dụng; thườngxuyên tổ chức các lớp tập huấn phổ bíên kiến thức mới và kinh nghiệm chovay đến các cán bộ tín dụng; gửi cán bộ đi đào tạo tại nước ngoài, nhất là họchỏi kinh nghiệm của các Ngân hàng có uy tín trong khu vực về thẩm định dự

án và cho vay theo dự án

1.3.8 Phân tán rủi ro thông qua thị trường bán nợ và các hợp đồng tín dụng phái sinh

Bên cạnh các phương pháp truyền thống được các NHTM sử dụng từtrước tới nay, hiện nay, các NHTM đã sử dụng các biện pháp hiện đại đểphòng ngừa rủi ro tín dụng trung dài hạn

(1) Chứng khoán hoá các khoản cho vay

Chứng khoán hoá tài sản là việc Ngân hàng đem tài sản có ở nội bảngchưa đến hạn của mình bán cho những người đầu tư dưới hình thức phát hành

Trang 24

chứng khoán Ngân hàng sẽ dành riêng một nhóm tài sản sinh lời và bán ra thịtrường các chứng khoán được phát hành trên các tài sản đó Khi các tài sảnnày được thanh toán, Ngân hàng sẽ chuyển khoản thanh toán này cho người

sở hữu chứng khoán nói trên

Chứng khoán hoá là một công cụ tài chính giúp hạn chế rủi ro về lãisuất và rủi ro về danh mục đầu tư cho Ngân hàng, vì nhờ nó Ngân hàng có thểgiảm được thời lượng của danh mục đầu tư cho phù hợp với tính chất củanguồn vốn huy động, và có thể chuyển nguồn đầu tư từ thị trường này sangthị trường khác có triển vọng hơn

Ngân hàng có thể phát hành chứng khoán qua trung gian là các tổ chứchoạt động chuyên nghiệp về phát hành chứng khoán hay không qua trunggian Người đầu tư vào các chứng khoán này thường là các Ngân hàng, cáchiệp hội xây dựng, các công ty bảo hiểm, quỹ nhân thọ, quỹ hưu trí

Để có thể thực hiện chứng khoán hoá một cách hiệu quả, Ngân hàngphải có được một nhóm tài sản có giá trị đủ lớn và có cùng một đặc trưng.Với tiêu chuẩn như vậy, các khoản cho vay dài hạn với tài sản thế chấpthường là bất động sản là nhóm tài sản được ưu tiên hàng đầu để chứng khoánhoá Các quốc gia phát triển thường có thị trường thứ cấp đối với các bất độngsản (thường là địa ốc), do đó cho phép định giá tương đối chính xác các bấtđộng sản trong trường hợp người vay không trả được nợ

(2) Bán các khoản cho vay

Bán các khoản cho vay là nghiệp vụ trong đó Ngân hàng chuyển quyềnthu nợ cho một tổ chức khác để sớm thu hồi vốn của mình Các khoản chovay mà Ngân hàng bán ra thường gồm 2 loại: các khoản cho vay tốt và cáckhoản nợ xấu

Thông thường các Ngân hàng bán các khoản nợ được đánh giá là tốt,còn hạn khoảng 90 ngày, có tính thu hồi cao Việc này thường tăng khả năngthanh khoản cho Ngân hàng, giảm bớt rủi ro lãi suất góp phần chuyển hướng

Trang 25

đầu tư cho Ngân hàng.

Đối tượng thứ 2 của giao dịch bán các khoản cho vay là các khoản nợquá hạn, tỷ lệ thu hồi thấp Giá bán các khoản nợ này có thể thấp hơn mệnhgiá, nhưng Ngân hàng có thể thu hồi vốn để đầu tư mới ngay và đảm bảo antoàn hơn và tránh phải lập dự phòng bổ sung, làm tăng chi phí của Ngân hàng

Người mua các khoản vay thường phải có sẵn điều kiện thông tin vềlĩnh vực cũng như về khu vực đầu tư của khoản vay Các Ngân hàng nướcngoài có kinh nghiệm và tiềm lực vốn lớn cũng có thể mua lại các khoản nợlớn với mục đích tìm kiếm một vị trí chắc chắn trong thị trường nội địa

(3) Các công cụ tài chính phái sinh

Bán nợ hay chứng khoán hoá có thể giúp Ngân hàng ngăn ngừa và hạnchế rủi ro tín dụng, tuy nhiên 2 phương pháp này không linh hoạt do cáckhoản vay được bán hay chứng khoán hoá phải có giá trị tương đối lớn và cónhững đặc điểm tương đồng Ngày nay, Ngân hàng thường dùng công cụ tíndụng phái sinh, là các công cụ tài chính hiện đại và chủ động dể giảm rủi rotín dụng

* Hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit swap): Các hình thức phổ biếncủa hợp đồng trao đổi tín dụng bao gồm:

- Hợp đồng trao đổi tín dụng: Là hình thức trong đó 2 Ngân hàng cùngthoả thuận trao đổi với nhau 1 lượng tiền nhất định, bao gồm cả vốn và lãi màNgân hàng thu được từ người vay vốn thông qua tổ chức trung gian

- Hợp đồng trao đổi toàn bộ thu nhập: là hình thức Ngân hàng A đồng

ý thanh toán cho Ngân hàng B hoặc tổ chức trung gian toàn bộ các khoản thu

từ 1 món vay nhất định Bù lại Ngân hàng B hay tổ chức trung gian phảithanh toán cho Ngân hàng A một tỷ lệ lãi suất cố định (như lãi suất trái phiếuhay lãi suất Libor + một biên độ nhất định) Như vậy, Ngân hàng đã đổinhững khoản thu nhập rủi ro từ khoản tín dụng lấy những khoản thu nhập ổnđịnh hơn

Trang 26

* Hợp đồng quyền tín dụng (Credit options)

Đây là một công cụ phổ biến giúp bảo vệ Ngân hàng khi chất lượng tíndụng của Ngân hàng giảm sút Nếu Ngân hàng lo lắng về chất lượng mộtkhoản vay, Ngân hàng có thể ký hợp đồng quyền tín dụng với các tổ chứckinh doanh quyền (option dealer) Hợp đồng sẽ đảm bảo thanh toán toàn bộkhoản cho vay nếu khoản cho vay này giảm giá đáng kể hoặc không thể đượcthanh toán Còn nếu khách hàng trả nợ, Ngân hàng sẽ không cần sử dụng đếnhợp đồng quyển và sẽ chỉ mất chi phí trả trên hợp đồng quyền

* Trái phiếu ràng buộc (Credit – Linded Notes)

Trái phiếu ràng buộc là một công cụ kết hợp đặc tính của các khoản nợthông thường và hợp đồng quyền tín dụng, nó tạo cho Ngân hàng một đặcquyền trong việc giảm mức thanh toán nếu như có những thay đổi lớn trongmột số yếu tố Ví dụ khi Ngân hàng chứng khoán hoá 1 nhóm các khoản nợvới lãi suất 10%/năm, chứng khoán này có thể có ràng buộc rằng nếu tỷ lệ tổnthất trong tín dụng trên khoản nợ là quá lớn thì Ngân hàng sẽ thanh toán chocác nhà đầu tư 1 tỷ lệ lãi suất thấp hơn, giả sử 7%/năm

Việc sử dụng các công cụ phái sinh tuy rằng khá hữu ích nhưng khôngphải không có rủi ro bởi vẫn còn nhiều vấn đề về mặt pháp lý liên quan đếnviệc sử dụng các công cụ này và do đó, Ngân hàng không được pháp luật bảođảm hoàn toàn, trên thực tế thị trường các công cụ này còn nhỏ và chưa tạođược hấp dẫn đối với các Ngân hàng cũng như nhà đầu tư

1.3.9 Xử lý nợ có hiệu quả

Đặc điểm của kinh doanh tiền tệ là các Ngân hàng vẫn gặp rủi ro nhưng

là ở mức chịu đựng được, tức là trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàngvẫn luôn tồn tại những khoản nợ xấu Nợ xấu là những khoản nợ khi đến hạn

mà không được khách hàng thanh toán, những khoản nợ xấu này chính lànguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất cho Ngân hàng, để giảm bớt tổn thấtNgân hàng phải lập ra một kế hoạch thu nợ và cân nhắc các phương án tối ưu

Trang 27

để thu hồi khoản vay một cách hiệu quả nhất Có thể xử lý nợ quá hạn bằngmột số biện pháp sau:

Biện pháp khai thác có thể là những lời khuyên về một chương trình

mở rộng sản xuất, thay đổi phương thức bán hàng, tăng thêm sản phẩm mớihoặc loại bỏ các hoạt động không sinh lời, bán bớt một phần tài sản khôngcần thiết Đối với các doanh nghiệp quản lý yếu kém, Ngân hàng có thể nắmphần chủ động trong quản lý kinh doanh Mặt khác, Ngân hàng có thể điềuchỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt mức hoàn trả cấp thêm vốn

 Thanh lý các khoản nợ khó đòi

Nếu Ngân hàng thấy rõ việc tổ chức khai thác không có lợi, sự thanh lýdưới một vài hình thức có thể được coi là cách hay nhất để xử lý một khoảncho vay đã trở thành khó đòi, tuy rằng đôi khi các thủ tục pháp lý rắc rối và tẻnhạt:

 Xiết nợ và thanh lý các tài sản đảm bảo

Ngân hàng có thể xử lý tài sản đảm bảo theo nguyên tắc đồng thuậnhoặc theo phán quyết của toà án

Với phương pháp đồng thuận, khách hàng và Ngân hàng cùng thoảthuận việc thu hồi nợ từ tài sản đảm bảo theo một trong các cách sau:

- Khách hàng tự bán tài sản đảm bảo để thanh toán cho Ngân hàng:đây là biện pháp có lợi nhất đối với cả khách hàng và Ngân hàng vì Ngânhàng không mất các chi phí phát mại, doanh nghiệp thì có thể bán được vớigiá cao như mong đợi

Trang 28

- Ngân hàng nhận tài sản thay cho nghĩa vụ trả nợ: biện pháp này cóthể được thực hiện nhanh chóng, chi phí thấp, tuy nhiên không phải tài sảnđảm bảo nào cũng có thể áp dụng.

- Bán tài sản qua các trung tâm bán đấu giá: phương pháp này khá tiệnlợi vì dễ tìm được người mua nhưng chi phí quá cao nên ảnh hưởng đến việcthu nợ của Ngân hàng

- Ngân hàng cũng có thể khởi kiện toà án khi không đạt được một thoảthuận thống nhất với khách hàng Nói chung đây là biện pháp ít được sử dụng

nó gây căng thẳng trong mối quan hệ giữa khách hàng và Ngân hàng, tốnnhiều chi phí và thời gian chờ đợi lâu Tuy nhiên đây là cơ hội thu được vốncho Ngân hàng trong trường hợp tài sản đảm bảo có tranh chấp, khách hàngkhông thiện chí

 Phá sản doanh nghiệp

Trong trường hợp Ngân hàng quyết định sử dụng biện pháp pháp lý đểthu hồi nợ vay không đảm bảo, cần phải có phán quyết từ toà án Phán quyếtnày cho phép nắm giữ và bán tài sản của người thiếu nợ với số lượng phù hợpthường thì quá trình này đi đôi với sự phá sản của một doanh nghiệp

 Bù đắp tổn thất từ nguồn dự phòng, từ bảo hiểm tín dụng

Tổn thất trong thanh lý tín dụng là những khoản nợ không được hoàntrả sau khi Ngân hàng đã tận thu tất cả các nguồn của người vay Phần tổnthất này cần bù đắp để đảm bảo cho hoạt động Ngân hàng được ổn định và antoàn Các nguồn bù đắp tổn thất bao gồm:

- Tiền bảo hiểm tín dụng

- Quỹ dự phòng rủi ro: quỹ này được hình thành sau khi phân loạicác khoản vay trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và được hạch toán vào chiphí hoạt động của Ngân hàng Đây là nguồn đáng kể nhất để bù đắp nhữngtổn thất trong hoạt động tín dụng

- Quỹ dự phòng tài chính: được trích lập bằng một tỷ lệ so với lợinhuận còn lại trước quỹ dự phòng tài chính Quỹ này được sử dụng để bù đắptổn thất khi quỹ dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp tổn thất trong thực tế

Trang 29

- Hạch toán vào chi phí bất thường: phần tổn thất còn lại sau khi đã

bù đắp từ các nguồn kể trên sẽ được hạch toán vào chi phí thất thường củaNgân hàng Trong một số trường hợp đặc biệt, ngân sách có thể hỗ trợ để giảiquyết tổn thất

Kết Luận

Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM Trong đó tíndụng trung dài hạn đóng góp một phần không nhỏ trong lợi nhuận từ hoạtđộng tín dụng mang lại Tuy nhiên, rủi ro tín dụng trung dài hạn cũng là mộttất yếu và có tác hại rất nặng nề đối với Ngân hàng, đối với người gửi tiền vàtoàn bộ nền kinh tế Song, các NHTM có thể nhận biết được các dấu hiệu dẫnđến rủi ro, đánh giá được mức độ rủi ro mà Ngân hàng mình đang phải đốimặt và có các biện pháp để hạn chế tối thiểu rủi ro phát sinh

Có rất nhiều giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn, cácNgân hàng thường tập trung vào nhóm các giải pháp như thiết lập một chínhsách tín dụng chặt chẽ, khoa học, thực hiện tốt việc thẩm định toàn diện vềkhách hàng, về dự án vay vốn, về tài sản đảm bảo, có các biện pháp kiểm tra,giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng một cách hiệu quả, xử lý tốt nợquá hạn và áp dụng các công cụ phòng chống rủi ro hiện đại như chứng khoánhoá, bán nợ và các công cụ tài chính phái sinh để chủ động phòng ngừa rủi rotrong hoạt động kinh doanh Ngân hàng…

Trang 30

Chương 2:

THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN

TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua

2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Ngày 1/4/1963, NHNT Việt Nam được thành lập theo nghị định số115/CP của hội đồng chính phủ và được thành lập lại theo mô hình Tổng công

ty 90 theo quyết định số 286/QĐ-NH5 ngày 21/09/1996 của Thống đốc Ngânhàng nhà nước Việt Nam, có tên giao dịch là BANK FOR FOREIGN TRADE

OF VIETNAM (VIETCOMBANK) NHNT VN có chức năng thực hiện cácnghiệp vụ đối ngoại và đối nội Là Ngân hàng thương mại đầu tiên đượcNHNN Việt Nam cho phép độc quyền về quản lý ngoại hối, NHNT VN đãđánh dấu bước phát triển rất quan trọng trong hoạt động Ngân hàng đối ngoạitại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và phát triển nền kinh tế

Trải qua hơn 42 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, NHNT VN

đã góp phần tích cực trong sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế nói chung củađất nước bằng việc huy động vốn trong xã hội để đầu tư phục vụ mục tiêutăng trưởng kinh tế và thực thi chính sách tiền tệ theo định hướng của nhànước Cùng với những thành tích đã đạt được, NHNT VN còn thể hiện đượcvai trò của một Ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu trong lĩnh vựcđối ngoại NHNT VN đã và đang mở rộng hợp tác với Ngân hàng nước ngoài,giới thiệu các sản phẩm Ngân hàng hiện đại trên thế giới vào Việt Nam Bêncạnh đó, NHNT cũng đang áp dụng các phương thức thanh toán mới như làứng dụng thẻ thông minh, trở thành thành viên của MASTER CARD quốc tế

và VISA CARD quốc tế, là đại lý thanh toán của AMERICAN EXPRESS vàJBC NHNT còn là Ngân hàng thành viên của hệ thống thanh toán quốc tếqua mạng SWIFT

Trang 31

Hiện nay, NHNT đã có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ sau:

- Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửitiết kiệm của các tổ chức kinh tế bằng VND và bằng ngoại tệ

- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VND lẫn ngoại tệ

- Thực hiện thanh toán xuất nhập khẩu

- Chuyển tiền thanh toán trong và ngoài nước (đi và đến), nhờ thu, đổitiền,

- Kinh doanh ngoại tệ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi, kinh doanh vàngbạc đá quý

- Phát hành và thanh toán các loại thẻ và làm đại lý thanh toán các loạithẻ tín dụng quốc tế như VISA CARD, MASTER CARD và AMERICANEXPRESS

- Mở L/C thanh toán hàng nhập

- Phát hành L/C trả chậm

- Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng bán lẻ cho khách hàng như dịch vụE-Banking

- Ngoài ra, NHNT còn tiếp nhận và quản lý các tài sản của nhà nước

và các TCTD khác nếu có yêu cầu, cho vay bán buôn các TCTD trong nước,cũng như hỗ trợ vốn cho các chi nhánh trong hệ thống khi cần

Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, NHNT đã có một hệ thống tổ chứchoàn chỉnh gồm các phòng giao dịch và các chi nhánh tại các trung tâmthương mại, khu vực trên toàn địa bàn cùng đội ngũ cán bộ có nhiều kinhnghiệm trong hoạt động đối ngoại và quan hệ đại lý rộng khắp trên thế giới

2.1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Qua nhiều năm đổi mới và tự hoàn thiện mình, hiện nay NHNT thực sựvững chắc để sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời ngày càngkhẳng định mình là một Ngân hàng đứng đầu trong cả nước, cố gắng vươn lên

với phương châm: “uy tín hiệu quả - luôn mang đến cho khách hàng sự thành

Trang 32

Bảng 01: Tình hình huy động vốn tại NHNT VN năm 2003-2006

Trang 33

31/12 hàng năm.

Dựa vào bảng trên ta thấy, tính đến cuối tháng 12/2006 tổng nguồn vốnNHNT huy động được đạt 171862 tỷ quy đồng, tăng 23,3% so với cuối năm2005; tăng 39,32% so với năm 2004 Điều này cho thấy khả năng huy độngvốn của NHNT ngày càng tăng và có hiệu quả cao qua các năm, mặc dù trongnhững năm qua, thị trường vốn huy động có nhiều biến động, như việc tăngchỉ số giá tiêu dùng, biến động trên thị trường tiền tệ do tác động của việctăng lãi suất trên thị trường quốc tế, cuộc chạy đua lãi suất VND trên thịtrường trong nước, đặc biệt là trong năm 2006 luôn có những biến động thấtthường của giá vàng, giá bất động sản, giá chứng khoán, tỷ giá USD Đó lànhờ các chính sách linh hoạt, việc điều hành quản trị lãi suất được thực hiệnmột cách năng động theo tín hiệu của thị trường, cơ chế quản lý và tập trungvốn toàn hệ thống đang từng bước phát huy hiệu quả, các hình thức huy độngvốn ngày càng đa dạng, mang tính đặc trưng của NHNT (lãi suất bậc thang,

kỳ phiếu dự thưởng “cùng VCB khám phá thế giới, lãi suất tiết kiệm bậcthang ) Các đơn vị có nhiều nỗ lực trong công tác huy động vốn là NHNT,

Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi và Tân Thuận

Tuy nhiên, tổng nguồn vốn huy động từ các TCKT và cá nhân (thịtrường 1) cuối năm 2006 là 123300 tỷ đồng, chỉ tăng 14,2% so với cuối năm

2005 Mức tăng trưởng này thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng 28% của toànngành Ngân hàng, nguyên nhân chủ yếu giảm thị phần huy động vốn ngoại tệ(từ 49,6% năm 2005 chỉ còn 37,2% năm 2006), đặc biệt là giảm tiền gửingoại tệ từ các TCKT Vốn huy động từ thị trường liên Ngân hàng (thị trường2) đạt 48562 tỷ quy đồng, tăng 1,5 lần so với cuối năm 2005, trong đó phầntăng chủ yếu tập trung vào tiền đồng Cơ cấu vốn VND/Ngoại tệ trong tổngnguồn vốn huy động trên 2 thị trường hiện nay đạt mức 46/54 – thay đổi khánhiều so với những năm trước đây: 39/61 vào cuối năm 2004 và 43/57 ở thời

Trang 34

điểm cuối năm 2005.

Như vậy, trong thời gian tới NHNT cần quan tâm nghiên cứu để tạo ranhững sản phẩm phù hợp với nhu cầu của đối tượng khách hàng TCKT cótiền gửi ngoại tệ hơn nữa, đặc biệt trong điều kiện môi trường cạnh tranhtrong hoạt động Ngân hàng ngày càng gay gắt

2.1.2.2 Hoạt động cho vay

Nếu như hoạt động huy động vốn có vai trò quan trọng đối với Ngânhàng thì hoạt động cho vay đóng vai trò sống còn của các Ngân hàng, hiệnnay nghiệp vụ cho vay vẫn là hoạt động chính chủ yếu của các NHTM VN,chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nghiệp vụ của NHTM, mang lại thu nhậpcho Ngân hàng, quyết định sự tồn tại của các Ngân hàng Trong điều kiệncạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng, NHNT đã có những chiến lược thíchhợp trong việc mở rộng và tăng trưởng tín dụng, kiểm soát an toàn, chuyểndịch cơ cấu tín dụng

Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của NHNT năm 2003-2006

Nhìn vào bảng trên, nhận thấy công tác cung cấp tín dụng đối với nềnkinh tế qua các năm có xu hướng tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước,hình thức tín dụng cũng ngày càng được mở rộng và phát triển đa dạng hơn.Năm 2004 tổng dư nợ tín dụng mà NHNT đạt 48786 tỷ đồng, tăng 32,39% sovới năm 2003, năm 2005 đạt 56065 tỷ đồng tăng 14,92% so với năm 2004, và

Trang 35

đến năm 2006 đạt 62400 tỷ đồng tăng 11,3% so với năm 2005 Có thể thấytuy doanh số năm sau cao hơn năm trước, nhưng lại thấy tốc độ tăng trưởng

dư nợ có xu hướng giảm dần Xu hướng này nằm trong định hướng tăngcường kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng của toàn hệ thốngNHNT, phù hợp với tốc độ tăng trưởng chậm lại của ngành và 04 NHTMNN

Trong những năm qua công tác tín dụng từng bước chuyển dịch theohướng tích cực và phù hợp với nguồn vốn hơn Trong công tác tín dụng,NHNT luôn đề cao việc thực hiện nghiêm túc Luật các TCTD, các quy định,quy chế của NHNN NHNT đang từng bước cơ cấu lại hoạt động tín dụng chophù hợp với tình hình chung và hiệu quả, mở rộng tìm kiếm cho vay cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh cho vay thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh, đa dạng hoá các loại hình cho vay, phân tán rủi ro tránh tập trung tíndụng vào một loại hình doanh nghiệp

Đồng thời, chiến lược của NHNT trong 3 năm qua là “tăng trưởng tíndụng trên cơ sở tập trung và nâng cao chất lượng hướng tới chuẩn mực quốctế” NHNT đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro như:Quy chế hoá, quy trình hoá nghiệp vụ, tháng 6/2006 NHNT đã đưa vào ápdụng quy trình tín dụng mới, có hệ thống xếp hạng doanh nghiệp, xây dựngphương pháp xác định hạn mức tín dụng, hệ thống chấm điểm xếp hạngTCTD được đưa vào từ cuối năm 2004, đưa ra phương pháp quản lý danhmục đầu tư theo ngành và lĩnh vực đầu tư, chính sách tín dụng được chú trọngtheo khu vực kinh tế và nhóm khách hàng

2.1.2.3 Hoạt động khác

 Hoạt động thanh toán

Thanh toán quốc tế là lĩnh vực kinh doanh truyền thống mà NHNTluôn duy trì và khẳng định vị thế hàng đầu trong toàn ngành Trong nhữngnăm qua, kim ngạch xuất khẩu cả nước liên tục tăng trưởng với tốc độ cao đã

Trang 36

tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu qua NHNT (năm 2006tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 22% và nhập khẩu tăng… so với năm 2005).Tính chung xuất nhập khẩu, năm 2006 NHNT đạt doanh số 22,8 tỷ USD, tăng9% so với năm 2005 (thấp hơn nhiều mức tăng 28% của năm 2005) và chỉchiếm 27% thị phần cả nước, giảm 3,2% so với năm ngoái (năm 2005 thịphần thanh toán xuất nhập khẩu đạt 30,2%).

Thanh toán liên Ngân hàng: Hoạt động thanh toán liên Ngân hàng đã

có sự thay đổi quan trọng với việc NHNT thực sự trở thành trung tâm xử lýgiao dịch VCB-MONEY của toàn hệ thống, cung cấp dịch vụ thanh toán điện

tử cho các đối tượng khách hàng là các định chế tài chính và các doanhnghiệp (kênh VCB-MONEY chiếm 97% giao dịch) Với việc thường xuyênnâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng các tiện ích cho khách hàng sử dụngnhư dịch vụ báo có trực tuyến, trả lương với số lượng giao dịch không hạnchế, hệ thống bảo mật xác thực OTP, cho đến nay đã có 120 định chế tàichính và 175 tổ chức kinh tế sử dụng dịch vụ thanh toán qua kênh này Trongnăm 2006 đã thực hiện 928000 giao dịch với trị giá lên tới 332750 tỷ đồng và

21 tỷ USD

 Kinh doanh thẻ

Trong những năm qua, dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ của NHNT

đã phát triển với tốc độ rất nhanh, tính tới cuối năm 2006 NHNT đã phát hành

20907 thẻ quốc tế, đưa tổng số thẻ quốc tế đang lưu hành đạt 72500 thẻ vớitổng doanh số sử dụng thẻ đạt 1012,6 tỷ đồng, tăng 36,5% so với năm 2005.Trong đó, thẻ ghi nợ quốc tế- VIETCOMBANK MTV sau 9 tháng phát hành(từ tháng 03/2006) đến nay đã đạt 11576 thẻ Tổng số thẻ Connect 24 lên tới1,5 triệu thẻ, riêng năm 2006 NHNT phát hành 580000 thẻ, tăng 63% so vớinăm 2005

Doanh số thanh toán thẻ quốc tế năm 2006 đạt 6200 tỷ quy đồng (386,3

Trang 37

triệu USD), tăng 22,8% so với năm 2005 Doanh số sử dụng thẻ Connect 24đạt mức rất cao: rút tiền mặt gần 2000 tỷ đồng/tháng (tăng 64%), chuyểnkhoản hơn 335 tỷ đồng/tháng (tăng 67,5%) và thực hiện các giao dịch chỉ tiêuhàng hoá dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ hơn 1,5 tỷ đồng/tháng (tăng 50%).

Sự tăng trưởng vượt bậc về doanh số sử dụng dịch vụ tại ATM năm 2006(tăng 73,3%) là kết quả trực tiếp từ việc mở rộng mạng lưới ATM (705 máy),đẩy mạnh triển khai các dịch vụ thanh toán billing với các đối tác cung cấpdịch vụ là bảo hiểm, điện lực, bưu điện, các công ty viễn thông di động

Trong năm 2006, NHNT đã phát hành được một số loại thẻ mới như:VIETCOMBANK SG24 và phát triển dịch vụ thương mại điện tử V-CPB.Năm 2006 đã đánh dấu một bước tiến của NHNT trong lĩnh vực liên kết vớicác đối tác trong và ngoài nước với một loạt các chương trình hợp tác vớiVISA, MASTERCARD, AMERICAN EXPRESS và VIETNAM AIRLINE,CHINA UNION PAY (CUP)

 Kinh doanh ngoại tệ

Trong giai đoạn 2004-2006, hoạt động kinh doanh ngoại hối củaVIETCOMBANK có nhiều thuận lợi: kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh,nguồn kiều hối dồi dào, tỷ giá USD/VND tăng ổn định Trong năm 2006, tổngdoanh số mua bán ngoại tệ của NHNT đạt 19 tỷ USD, tăng 15% so với năm

2005, doanh số mua vào đạt 8,5 tỷ USD, mua từ NHNT đạt 1 tỷ USD Doanh

số ngoại tệ bán ra đạt 9,5% tương ứng với 9,5 tỷ và hầu hết là bán cho TCKT

và cá nhân, trong đó bán cho doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu chiếm 24,8%

2.1.3 Kết quả kinh doanh

Lợi nhuận trước thuế và trước trích lập dự phòng năm 2006 đạt 3600

tỷ, tăng 14,5%; Lợi nhuận sau thuế đạt 2470 tỷ, tăng 88,7% so với cuối năm

2005 Chỉ số thu nhập /tổng tài sản (ROA) của NHNT trong năm 2006 đạt1,6%; Chỉ số thu nhập /vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 27,4% Cơ cấu thu nhậptiếp tục có những chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng thu từ hoạt

Trang 38

động tín dụng (từ 57,3% năm 2005 xuống còn 47,5% năm 2006), tăng tỷtrọng thu dịch vụ và thu khác (từ 42,7% lên 52,5% trong năm 2006).

2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng trung dài hạn tại NHNT VN

2.2.1 Hoạt động tín dụng trung dài hạn

2.2.1.1 Nguồn vốn trung dài hạn

Một trong những thế mạnh của NHNT VN là tiềm lực vốn rất mạnh.Với tổng nguồn vốn huy động là 171862 tỷ quy đồng, NHNT hiện nay đang

là Ngân hàng Việt Nam có tổng nguồn vốn lớn nhất Tuy nhiên để tiến hànhcấp tín dụng trung dài hạn thì NHNT không thể dùng và cũng không đượcphép dùng toàn bộ nguồn vốn huy động được bao gồm nguồn vốn huy độngngắn hạn và nguồn vốn huy động trung dài hạn để cho vay trung dài hạn.Theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN nguồn dùng để cho vay trung dài hạnngoài nguồn huy động trung dài hạn thì chỉ được dùng 40% nguồn huy độngngắn hạn, do đó nguồn chính dùng để cho vay trung dài hạn là nguồn huyđộng trung dài hạn Trong khi đó với những điều kiện hiện nay ở nước ta thìnguồn vốn huy động trung dài hạn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổngnguồn vốn huy động, đây là một khó khăn đối với bất kỳ một Ngân hàng nàocũng như NHNT VN

Bảng 03: Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn năm 2006 của NHNT VN

Đơn vị: tỷ đồng Nội dung

Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2006 của NHNT VN

Nhìn vào bảng trên ta thấy trong năm 2006 nguồn vốn có kỳ hạn trên

Trang 39

12 tháng đã được cải thiện đáng kể so với năm 2005 Nguồn vốn trung dàihạn đạt 40174 tỷ đồng, chiếm 23,4% tổng vốn huy động, tăng 37,2% so vớinăm 2005 trong khi tốc độ tăng của vốn huy động chỉ đạt 23,3% Đây là thànhtích rất lớn của NHNT VN Tuy nhiên, do cơ cấu vốn của NHNT có tới 54%

là ngoại tệ nên số vốn tiền đồng có thời hạn trên 12 tháng thực tế cũng khôngnhiều

Nguồn lực về vốn trung dài hạn bằng VND khá mỏng đã hạn chế khảnăng mở rộng tín dụng bằng VND của NHNT, nguồn vốn trung dài hạn bằngngoại tệ tương đối dồi dào nhưng việc mở rộng tín dụng bằng ngoại tệ cũngđang gặp khó khăn khi ngoại tệ liên tục tăng giá như thời gian qua

2.2.1.2 Hoạt động cho vay trung dài hạn

Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn

mở cửa thì nhu cầu vốn cho nền kinh tế là rất lớn, đặc biệt là nhu cầu vốntrung dài hạn cho các dự án Đứng trước bối cảnh đó, NHNT đã triển khaichiến lược phát triển đến năm 2010, trong đó một trong những mục tiêu phấnđấu là tăng tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ Cho đếnnay, hoạt động cho vay trung dài hạn ngày càng phát triển ở NHNT, có thểthấy qua biều đồ sau:

Biểu đồ 02: Tốc độ tăng trưởng tín dụng trung dài hạn của NHNT VN

trong những năm gần đây

Nguồn: Báo cáo thường niên các năm 2003-2006

Trong những năm qua dư nợ tín dụng trung dài hạn tại NHNT liên tục

Trang 40

tăng với kết quả rất khả quan, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng.Đây chính là kết quả của một thời gian dài nỗ lực tập trung triển khai chươngtrình đầu tư các dự án lớn, các dự án trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vựcđiện lực, vận tải biển Tình hình tín dụng trung dài hạn ngày 31/12/2006được thể hiện thông qua bảng sau:

Bảng 04: Tình hình dư nợ tín dụng trung dài hạn tại NHNT năm 2006

Đơn vị: tỷ đồngChỉ tiêu

Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2006 của NHNT NHNT VN

Trong năm 2006 vừa qua, dư nợ tín dụng trung dài hạn đã tăng 3185 tỷđổng, với tỷ lệ 14,3%, tăng mạnh hơn so với tốc độ tăng tổng dư nợ tín dụng(11,3%), Nếu như đối với cho vay vốn ngắn hạn, dư nợ VND chiếm tỷ trọngchủ yếu (chiếm 70,68% so với tổng dư nợ ngắn hạn) thì trong cho vay trungdài hạn, dư nợ ngoại tệ thường chiếm tỷ trọng lớn hơn

Cơ cấu khách hàng và cơ cấu lĩnh vực đầu tư trung dài hạn tại NHNTnăm 2006 có xu hướng giảm tỷ trọng cho vay đối với các tổ chức quốc doanh,tăng tỷ trọng cho vay đối với các tổ chức ngoài quốc doanh, mở rộng cho vayđối với các ngành kinh tế mũi nhọn, mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổn định,cho vay thận trọng đối với các mặt hàng có nhiều biến động về thị trường, giá

cả Cơ cấu tín dụng phân theo loại hình doanh nghiệp và phân theo ngànhkinh tế năm 2006 như sau:

Ngày đăng: 19/09/2012, 17:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Tình hình huy động vốn tại NHNT VN năm 2003-2006 - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 01 Tình hình huy động vốn tại NHNT VN năm 2003-2006 (Trang 32)
Bảng 02: Tổng dư nợ tín dụng của NHNT VN - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 02 Tổng dư nợ tín dụng của NHNT VN (Trang 34)
Bảng 03: Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn năm 2006 của NHNT VN - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 03 Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn năm 2006 của NHNT VN (Trang 38)
Bảng 04: Tình hình dư nợ tín dụng trung dài hạn tại NHNT năm 2006 - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 04 Tình hình dư nợ tín dụng trung dài hạn tại NHNT năm 2006 (Trang 40)
Bảng 08: Phân loại nợ theo tài sản đảm bảo - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 08 Phân loại nợ theo tài sản đảm bảo (Trang 45)
Bảng 10: Tình hình nợ khoanh chờ xử lý của NHNT - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
Bảng 10 Tình hình nợ khoanh chờ xử lý của NHNT (Trang 47)
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT - Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.docx
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w