Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ.Quyền sở hữu trí tu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NĂM HỌC 2011 – 2012
Trang 21 Giới thiệu về sở hữu trí tuệ
1.1 Một số khái niệm
Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả
từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học công nghệ của nhân loại
Luật sở hữu trí tuệ là hệ thống pháp luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ.Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng
1.2 Phân loại sở hữu trí tuệ
Ở các nước, khái niệm bản quyền (copyright) hay sáng chế (patent) xuất hiện từ thế kỷ 17 và thế kỷ 18 Không ai dùng danh từ "sở hữu trí tuệ" cho đến khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1952 bởi giáo sư A Bogsch, giám đốc Văn phòng Quốc tế về Quản lý Sáng chế (BIRPI) đưa ra Luật Việt Nam cũng như luật của các nước khác trên thế giới không có định nghĩa trực tiếp như thế nào
là sở hữu trí tuệ, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại sở hữu trí tuệ thành quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
1.2.1 Quyền tác giả:
Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ
Trang 3sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật
Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền Chúng ta thường thấy các thí dụ về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc hay chương trình máy tính (thí dụ trên báo chí có nói đến vụ tranh chấp về quyền tác giả của nhạc sỹ
Lê Vinh với công ty băng đĩa nhạc Dihavina) Đối với quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm Mọi hành vi sao chép, trích dịch, công bố phổ biến nhằm mục đích kinh doanh mà không có
sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả (chúng ta thường thấy các lời cảnh báo như vậy trên băng đĩa) Sao băng đĩa lậu, sao chép phần mềm vi tính, in lậu sách giáo khoa bán ra thị trường, v.v cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả Trong một số trường hợp, pháp luật cho phép chúng ta sao chép, trích đoạn một phần của tác phẩm (người ta gọi là
sử dụng hạn chế)
1.2.2.Quyền sở hữu công nghiệp:
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích,kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hoá), tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các quyền sở hữu công nghiệp khác do pháp luật quy định.Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp
Luật về sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh Sở hữu công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đến tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình
Đó là sáng chế, giải pháp hữu ích, v.v Kể cả những đối tượng mà chúng ta có thể tưởng là tài sản hữu hình như kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hoá cũng không phải là tài sản hữu hình Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một bộ quần áo, hay một dấu hiệu gắn trên hàng hoá, mà
là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu, là thành
Trang 4quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó.
1.2.3.Quyền đối với giống cây trồng:
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực
vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.Thí
dụ, sự kết hợp của giống lúa jasmin hạt dài của Ấn Độ (có mùi hương đặc biệt) với giống lúa hạt vàng của Hoa Kỳ (có tính kháng bệnh và cho năng suất cao, song có mùi khó chịu) có thể cho ra một giống lúa vừa có tính kháng bệnh và cho năng suất cao, vừa có mùi hương dễ chịu Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tính mới, tính ổn định, đồng nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT
2.Bản quyền, bằng phát minh, nhãn hiệu, sự vi phạm quyền tác giả.
2.1.Bản quyền:
- Là một hình thức bảo hộ của luật pháp Hoa Kỳ (điều 17, Bộ luật Hoa Kỳ)
đối với tác giả của “các tác phẩm gốc của tác giả”, bao gồm tác phẩm văn học, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật và các tác phẩm trí tuệ khác Hình thức bảo hộ được áp dụng với các tác phẩm đã được xuất bản cũng như chưa được xuất bản
- Bản quyền phần mềm là quyền được phép sử dụng phần mềm đó một cách hợp pháp Việc sử dụng phần mềm không có bản quyền hợp pháp nào cũng được xem như sao chép phần mềm trái phép vậy Người vi phạm sẽ bị xử theo luật xâm phạm quyền tác giả
Trang 5- Vi phạm bản quyền là sao chép lại hay là lưu chuyền tác phẩm của người khác mà không xin phép, trái phép hoặc không ghi rõ nguồn và tên tác giả chính thức Thậm chí trầm trọng là có thể công bố thêm hay gây hiểu lầm là các công trình đó là của mình sáng tạo ra Đây được xem là vi phạm quyền tác giả, sở hữu trí tuệ.
Tóm lại: Phát minh, hay khám phá, phát hiện là việc tìm ra những gì tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ
đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người
- Bằng phát minh (patent) là một loại văn bản công nhận đặc quyền cuả một chính quyền cấp cho người (nhóm ngườì, hay một tổ chức) đã đăng kí phát minh cho phép người đó (họ) việc mua, bán sử dụng, cho thuê mướn, san sẻ, chuyển nhượng, hay sản xuất một loại thiết bị, thiết kế,kiến trúc, hay một kiểu máy trong một thời gian ấn định nhằm tưởng thưởng cho (những) người phát minh
2.3 Nhãn hiệu:
2.3.1 Khái niệm:
Nhãn hiệu là những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá,dịch vụ của các cơ sở
sản xuất,kinh doanh khác nhau nhãn hiệu có thể là từ ngữ,hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
2.3.2 Nhãn hiệu trong đời sống:
- Nhãn hiệu là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp phổ biến nhất trong cuộc sống Chúng ta có thể gặp rất nhiều nhãn hiệu: Vietnam Airlines, Bia Sài Gòn, Kem đánh răng P/S, v.v Nhãn hiệu thiết lập độc quyền sử dụng các
Trang 6dấu hiệu phân biệt sản phẩm, dịch vụ của chủ thể này với sản phẩm, dịch vụ của chủ thể khác cùng loại Nhãn hiệu có thể bao gồm từ ngữ, hình khối, màu sắc hay là sự kết hợp của những yếu tố đó.Luật về bảo hộ nhãn hiệu ban đầu bắt nguồn từ luật chống các hành vi cạnhtranh không lành mạnh, do các chủ thể kinh doanh có uy tín than phiền sảnphẩm của mình bị giả mạo Để tránh tình trạng này, Anh Quốc là nước đầu tiên ban hành luật về bảo hộ độc quyền nhãn hiệu Nhãn hiệu đầu tiên được bảo hộ cho hãng bia BASS, với hình tam giác màu cam (năm 1777).
- Mục đích ban đầu của việc sử dụng nhãn hiệu là để phân biệt sản phẩm, tuy nhiên khi sản phẩm đã chiếm được thị trường, nhãn hiệu trở thành biểu tượng của uy tín, chất lượng sản phẩm Nhãn hiệu càng uy tín, càng dễ bị người khác lợi dụng để sản xuất hàng giả, hàng nhái Chính vì thế nảy sinh nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu có uy tín với phạm vi rộng hơn các nhãn hiệu thông thường - đó là những nhãn hiệu nổi tiếng Đối với những nhãn hiệu loại này, việc bảo hộ không chỉ giới hạn ở những sản phẩm cùng loại, mà ở tất cả các loại hình sản phẩm thông qua nhãn hiệu : uy tín, xuất xứ, chất lượng sản phẩm Ở đây vai trò của sức lao động sáng tạo (hay "trí tuệ") không rõ như quyền tác giả hay các đối tượng sở hữu công nghiệp khác Tuy vậy luật về nhãn hiệu vẫn là luật về quyền
sở hữu một tài sản vô hình Việc bảo hộ nhãn hiệu phải thoả mãn lợi ích của bốn chủ thể, đó là người tiêu dùng (không bị nhầm lẫn giữa hàng thật và hàng giả), chủ sở hữu nhãn hiệu (bảo vệ uy tín sản phẩm), các nhà sản xuất khác (được cạnh tranh bình đẳng) và Nhà nước (bảo đảm một hệ thống pháp luật công bằng
và hiệu quả)
2.3.3 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu:
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Xuất phát từ định nghĩa nhãn hiệu, các dấu hiệu thể hiện trên nhãn hiệu phải thể hiện tính độc đáo sao cho có thể phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác "Độc đáo" ở đây thể hiện ở hai yếu tố: "khác biệt" và "không thông dụng."
Theo Điều 74 Luật SHTT, một nhãn hiệu được coi là khác biệt với các dấu
Trang 7hiệu khác nếu:
- được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ; và
- không trùng hay "tương tự tới mức gây nhầm lẫn" với (i) một nhãn hiệu
đã đăng ký hay nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc có ngày ưu tiên sớm hơn, hoặc đang được sử dụng rộng rãi, hay đã hết hiệu lực song không quá 5 năm, trừ trường hợp bị đình chỉ do không sử dụng, (ii) một nhãn hiệu nổi tiếng, và (iii) kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hiện đang được bảo hộ hay đã nộp đơn yêu cầu bảo hộ, hay một hình tượng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả
Ngoài khái niệm nhãn hiệu, còn có một số khái niệm về các nhãn hiệu đặc thù, được qui định tại Điều 4 Luật SHTT như sau:
- Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.Thí dụ, nhãn hiệu WOOLMARK là nhãn hiệu tập thể của các doanh nghiệp sản xuất len tại Anh Quốc
- Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ
chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu Thí dụ nhãn hiệu và logo HÀNG VIỆT NAM CHẤT LƯỢNG CAO của Báo Sài Gòn Tiếp Thị là một loại nhãn hiệu chứng nhận
- Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau Thí dụ nhãn hiệu ACE, ACE-INA hay ACE LIFE là những nhãn hiệu liên kết của cùng một công ty bảo hiểm ACE-INA
- Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi
trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thí dụ điển hình là nhãn hiệu P/S cho kem đánh
Trang 8răng P/S, hay nhãn hiệu G7 cho Cà phê G7 Xin lưu ý là có những nhãn hiệu rất nổi tiếng trên thế giới, như bia BUDWEISER hay phó mát
CHEEDAR, nhưng lại không được biết đến nhiều ở Việt Nam, khi đó khả năng được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng cũng sẽ bị giảm Trước đây, Cục SHTT
đã công nhận nhãn hiệu BUDWEISER của công ty Anheuser-Busch (Hoa Kỳ) là nhãn hiệu nổi tiếng trong khi ở Việt Nam các nhãn hiệu này chưa được biết đến nhiều Hiện nay, với qui định của Luật SHTT, việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng sẽ trở nên đơn giản hơn
2.3.4 Phạm vi độc quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu:
Chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền sử dụng và định đoạt đối với các dấu hiệu được bảo hộ Độc quyền được hiểu dưới hai nghĩa Thứ nhất, chủ sở hữu có quyền cho hay không cho người khác sử dụng nhãn hiệu của mình thông qua một loại hợp đồng gọi là hợp đồng li-xăng Thứ hai, khi có hành vi xâm phạm độc quyền của mình (sử dụng mà không xin phép), chủ sở hữu nhãn hiệu
có thể tự mình yêu cầu hay thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại
tự tới mức gây nhầm lẫn." Đó là vì đối tượng bảo hộ của nhãn hiệu là khả năng phân biệt của sản phẩm và nguồn gốc sản phẩm Chính vì lý do đó, mà các dấu hiệu nổi bật của nhãn hiệu phải được thể hiện rõ trong yêu cầu bảo hộ (đơn đăng
ký nhãn hiệu) Khi xảy ra tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phần lớn các nước đều tập trung vào vấn đề giải thích nội dung văn bằng bảo hộ để từ đó tìm
Trang 9ra phạm vi bảo hộ.
b.Quyền định đoạt:
Ngoài quyền sử dụng, chủ sở hữu nhãn hiệu được quyền chuyển giao quyền sở hữu văn bằng bảo hộ hoặc quyền sử dụng của mình thông qua hợp đồng li-xăng và được quyền để lại thừa kế nhãn hiệu Để đảm bảo khả năng phân biệt của nhãn hiệu, pháp luật quy định chỉ được để lại thừa kế nhãn hiệu cho một chủ thể
c.Nghĩa vụ của chủ sở hữu trí tuệ:
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ phải sử dụng nhãn hiệu mà mình được
bảo hộ không được gián đoạn quá 5 năm Trong trường hợp ngược lại, bất kỳ người nào cũng có quyền yêu cầu Cục SHTT đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ (xem Điều 28.2.c Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996) Điều này nhằm hạn chế tình trạng một số chủ thể chỉ đăng ký nhãn hiệu mà không sử dụng chúng Sau đó
dùng văn bằng bảo hộ bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu Việc quy định nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu được áp dụng ở hầu hết các nước, nhằm tập trung vào mục tiêu tối hậu của việc bảo hộ nhãn hiệu: bảo hộ uy tín sáng tạo của các chủ thể
Ngoài ra, chủ sở hữu nhãn hiệu còn phải thực hiện các quyền của mình về hình thức phải phù hợp với quy định của pháp luật, về mục đích và nội dung không được trái pháp luật, đạo đức xã hội, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác (Điều 49 NĐ 63/CP) Khi nguyên tắc này bị phá vỡ, văn bằng bảo hộ có thể bị đình chỉ hay hủy bỏ theo những căn cứ qui định tại Luật SHTT
2.4 Sự vi phạm quyền tác giả:
2.4.1 Khái niêm quyền tác giả:
Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh là copyright) là độc quyền của
một tác giả cho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) thí dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình
Trang 10chụp, phim và các chương trình truyền thanh Quyền này bảo vệ các quyền lợi
cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này
2.4.2 Nội dung quyền tác giả:
Hiện nay, quyền tác giả được tập trung lại thành hai mảng lớn: quyền nhân than (Điều 19 Luật SHTT) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT)
a.Quyền nhân thân:
Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm ba quyền: quyền được đặt tên tác phẩm, đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của nội dung tác phẩm Nếu chúng ta ví tác phẩm là đứa con tinh thần của tác giả, thì các quyền nhân thân này cũng tương tự quyền của cha
mẹ được đặt tên cho con, nhận con và bảo vệ chăm sóc con cái Vì là quyền nhân thân không được chuyển giao nên nó chỉ được dành cho tác giả (cho dù đồng thời hay không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả) Các quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, tồn tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được bảo hộ vô thời hạn, khác với những quyền khác được bảo hộ có thời hạn
b.Quyền tài sản:
Theo luật Việt Nam, quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng và quyền được hưởng thù lao giải thưởng Thông thường chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng quyền sử dụng, còn tác giả được hưởng thù lao, giải thưởng Quyền sử dụng bao gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, cải biên, chuyển thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình, cho thuê tác phẩm Quyền sử dụng này gắn liền với quyền nhân thân gắn với tài sản (cho/không cho sử dụng tác phẩm) Vì thế, mọi hành vi sử dụng tác phẩm (sao chép, dịch, chuyển thể, v.v.) mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyền tác giả, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác
2.4.3.Vi phạm quyền tác giả:
Trang 111 Mạo danh tác giả.
2 Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả
3 Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó
4 Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
5 Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp: Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
6 Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp: Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
7 Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật
8 Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
9 Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
10 Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình
11 Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm
Trang 1212 Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp
kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình
13 Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo
14 Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
3.Một số hiệp định quốc tế và quyền SHTT:
3.1 Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ sở hữu công nghiệp: quy định
nguyên tắc đối xử quốc gia về quyền ưu tiên, theo đó doanh nghiệp có thể đăng
ký nhãn hiệu của mình ở các nước thành viên của công ước và được hưởng sự bảo hộ đối với nhãn hiệu đó như công dân của nước sở tại mà không có sự phân biệt đối xử (nguyên tắc đối xử quốc gia) Trong vòng 6 tháng kể từ ngày Đơn đăng kí nhãn hiệu của doanh nghiệp được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam chấp nhận hợp lệ, doanh nghiệp có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình tại bất cứ nước thành viên nào của công ước và các đơn nộp sau sẽ được coi như nộp cùng ngày với ngày nộp đơn tại Cục Sở hữu trí tuệ (nguyên tắc quyền ưu tiên) Điều đó giúp cho doanh nghiệp khi muốn bảo hộ nhãn hiệu của mình ở một số nước không phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại Việt Nam và các nước khác mà có đến 6 tháng để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình ở những nước nào và tiến hành nộp đơn ở nước được lựa chọn 3.2 Công ước Bern năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật: còn được gọi ngắn gọn là Công ước Berne (phát âm tiếng Việt: Công ước Bơn hay Công ước Béc-nơ), được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền Nó được hình thành sau các nỗ lực vận động của Victor Hugo Trước khi có công ước Bern, các quốc gia thường từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc Ví dụ, một tác
Trang 13phẩm xuất bản ở một quốc gia được bảo vệ quyền tác giả tại đó, nhưng lại có thể
bị sao chép và xuất bản tự do không cần xin phép tại quốc gia khác
Các quốc gia tuân thủ công ước Bern công nhận quyền tác giả của các tác phẩm xuất bản tại các quốc gia khác cùng tuân thủ công ước này Quyền tác giả, theo công ước Berne là tự động: không cần phải đăng ký tác quyền, không cần phải viết trong thông báo tác quyền Ngoài ra, những quốc gia ký công ước Berne không được đặt ra các thủ tục hành chính sách nhiễu các tác giả trong việc thụ hưởng tác quyền (Các quốc gia ký công ước Bern vẫn có quyền áp đặt các luật
lệ riêng cho các tác giả trong nước họ hoặc từ những nước không ký công ước này)
Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn, như Cộng đồng Châu Âu đã làm năm 1993 Hoa Kỳ cũng gia hạn tác quyền, như trong Đạo luật Kéo dài Bản quyền Sonny Bono năm 1998
3.3 Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHIT thế giới (WIPO):
3.4 Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989: Nghị định thư liên quan tới Hiệp định Madrid về đăng ký các nhãn hiệu quốc tế - Nghị định thư Madrid - đã được thông qua tại thủ đô Tây Ban Nha ngày 27/6/1989, và có hiệu lực ngày
1/12/1995 Nghị định thư này là một trong hai hiệp định tạo nên hệ thống đăng
ký nhãn hiệu quốc tế Madrid Hiệp định đầu tiên - Hiệp định Madrid 1891 - đã quy định đăng ký nhãn hiệu ở một số quốc gia thông qua việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế với WIPO tại Geneva
Nghị định thư Madrid đã ra đời vì một số quốc gia gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Hiệp định Madrid Điều đó được coi là cải thiện hệ thống đăng
ký nhãn hiệu quốc tế Do đó, ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu đang sử
Trang 14dụng Nghị định thư Madrid mỗi năm để bảo hộ nhãn hiệu của họ ở nước ngoài Tính đến ngày 15/9/2005, đã có 66 quốc gia ký kết Nghị định thư Madrid.
Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ không phải là hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung Nghị định thư giúp những người sở hữu nhãn hiệu - các cá nhân và doanh nghiệp - bảo vệ được nhãn hiệu của họ một cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ xin cấp bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một khoản chi phí và một loại tiền tệ Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung gian Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha
Việc nộp hồ sơ đăng ký mang tính quốc tế cũng có hiệu quả tương tự như hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa chọn Khi cơ quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý bảo hộ thì nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ quan này đã đăng ký
Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi lẽ một thủ tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những thay đổi sau này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn hiệu
Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức tạp đối với việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó khăn cho những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các nhãn hiệu của
họ trên thế giới Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng ký trên phạm vi quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước khi chuyển nhượng một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết Việc gia hạn đăng ký cũng chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản Việc đăng ký trên phạm vi quốc tế có thời hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm
Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia nữa nếu
họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc nếu có thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư
Nếu việc đăng ký cơ bản - hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký quốc tế - bị
Trang 15hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid sẽ tạo điều kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một loạt các hồ
sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn Các đơn đăng ký này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế ban đầu
ở mỗi nước Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên, ngay
cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế
3.5 Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970: là một thỏa thuận giữa các quốc gia ký kết hợp đồng cung cấp bảo vệ bằng sáng chế quốc gia và quốc tế đối với sáng chế với việc giảm chi phí bản quyền cho việc ứng dụng nhiều lần
3.6 Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng: Theo Công ước ROME, người biểu diễn được bảo
hộ chương trình biểu diễn chống lại các hành vi không được sự đồng ý của họ Các hành vi này gồm phát sóng và truyền đạt tới công chúng chương trình biểu diễn trực tiếp của họ
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc cấm sao chép trực tiếp hoặc sao chép gián tiếp các bản ghi âm của họ Tổ chức phát sóng được hưởng quyền cho phép hoặc cấm các hành vi tái phát sóng chương trình phát sóng của họ
3.7 Công ước Brussel năm 1924 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
3.8 Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống
việc sao chép không được phép: Lo ngại trước tình trạng tràn lan và tăng nhanh bản sao không được phép của các bản ghi âm và thiệt hại của tình trạng đó gây
ra đối với lợi ích của tác giả, người biểu diễn, và nhà sản xuất bản ghi âm;
Nhận thấy rằng việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống các hành vi trên còn đem lại lợi ích cho những người biểu diễn có tiết mục biểu diễn, và những tác giả có tác phẩm, được ghi trong bản ghi âm đó;
Trang 16Công nhận giá trị công việc đạt được trong lĩnh vực này của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc và Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới;
Mong muốn không ảnh hưởng theo bất kỳ cách thức nào tới các thỏa thuận quốc
tế đang có hiệu lực và đặc biệt là không gây cản trở bằng bất kỳ cách thức nào đến việc chấp nhận rộng rãi hơn nữa Công ước Rome ngày 26/10/1961 quy định
về việc bảo hộ người biểu diễn và các tổ chức phát thanh truyền hình cũng như nhà sản xuất bản ghi âm
Điều 1:
Trong Công ước này:
(a) "Bản ghi âm" là bất kỳ bản định hình các âm thanh biểu diễn hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác;
(b) "Nhà sản xuất bản ghi âm" là người, hoặc pháp nhân định hình lần đầu các
âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác;
(c) "Bản sao" là vật hàm chứa các âm thanh được sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp từ bản ghi âm và nó biểu hiện toàn bộ hoặc phần chủ yếu của các âm thanh được định hình trong bản ghi âm đó;
(d) "Phân phối tới công chúng" có nghĩa là bất kỳ hành vi nào mà thông qua đó các bản sao của bản ghi âm được đưa ra chào bán trực tiếp hoặc gián tiếp cho rộng rãi công chúng hoặc bất kỳ bộ phận công chúng nào
Điều 2
Mỗi quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các quốc gia ký kết khác chống lại việc làm bản sao mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó, với điều kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân phối tới công chúng, và chống lại việc phân phối các bản sao đó tới công chúng
Trang 17Điều 3
Phương thức thi hành Công ước này là vấn đề của pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết và gồm một hoặc nhiều phương thức sau: bảo hộ thông qua việc cho hưởng quyền tác giả hoặc quyền cụ thể khác; bảo hộ thông qua luật về cạnh tranh bất chính; bảo hộ thông qua các chế tài hình sự
Điều 4
Thời hạn bảo hộ sẽ tùy thuộc vào pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết Tuy nhiên, nếu luật pháp quốc gia quy định một thời hạn cụ thể cho sự bảo hộ này, thì thời hạn đó sẽ không ít hơn hai mươi năm kể từ khi kết thúc của năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc của năm mà bản ghi âm được công bố lần đầu
Điều 5
Nếu, một quốc gia ký kết, theo pháp luật quốc gia của mình, yêu cầu tuân thủ các thủ tục hình thức với tư cách là điều kiện cho việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, các thủ tục hình thức này được coi là đã hoàn tất nếu tất cả các bản sao được phép của bản ghi âm được phân phối tới công chúng hoặc bao gói của chúng mang dấu hiệu có biểu tượng (P), cùng với năm công bố lần đầu, được trình bày theo cách thức nhằm tạo ra một dấu hiệu hợp lý chỉ rõ về yêu cầu bảo hộ; và nếu các bản sao hoặc bao gói của chúng không chỉ rõ nhà sản xuất, người thừa kế hợp pháp hoặc người được cấp li-xăng độc quyền (bằng việc đưa tên, nhãn hiệu hàng hóa hoặc các chỉ dẫn phù hợp khác), dấu hiệu cũng có thể gồm tên của nhà sản xuất, người thừa kế hợp pháp hoặc người được cấp li-xăng độc quyền
Điều 6
Bất kỳ quốc gia ký kết nào dành sự bảo hộ thông qua phương thức quyền tác giả hoặc quyền cụ thể khác, hoặc sự bảo hộ thông qua phương thức các chế tài hình
Trang 18sự, đều có thể quy định trong pháp luật quốc gia của quốc gia mình, liên quan tới việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, về các loại hạn chế tương tự như đã quy định đối với việc bảo hộ các tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật Tuy nhiên, không cho phép bất kỳ một li-xăng cưỡng bức trừ khi đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:
(a) Việc sao chép chỉ dành cho việc sử dụng nhằm mục đích giảng dạy và
nghiên cứu khoa học;
(b) Li-xăng chỉ có hiệu lực đối với việc sao chép trong phạm vi lãnh thổ quốc gia ký kết có cơ quan có thẩm quyền đã cấp li-xăng đó và không mở rộng áp dụng đối với việc xuất khẩu các bản sao;
(c) Việc sao chép thực hiện theo li-xăng là cơ sở của khoản thù lao thỏa đáng do
cơ quan có thẩm quyền nói trên ấn định có tính tới, ngoài các vấn đề khác, số lượng bản sao sẽ được tạo ra;
Điều 7
(1) Không được giải thích Công ước này bằng bất kỳ cách thức nào để hạn chế hoặc ảnh hưởng tới sự bảo hộ khác được bảo đảm đối với tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm hoặc tổ chức phát sóng theo bất kỳ pháp luật quốc gia hoặc thỏa thuận quốc tế nào
(2) Pháp luật quốc gia của mỗi quốc gia ký kết có thể quy định phạm vi, nếu có,
mà trong đó những người biểu diễn có các tiết mục biểu diễn đã được ghi trong bản ghi âm phải được quyền hưởng sự bảo hộ và các điều kiện cho việc hưởng
sự bảo hộ đó
(3) Không một quốc gia ký kết nào bị bắt buộc áp dụng các quy định của Công ước này đối với bất kỳ bản ghi âm nào được ghi trước khi Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó
Trang 19(4) Bất kỳ quốc gia ký kết nào mà vào ngày 29/10/1971, chỉ dành sự bảo hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở nơi ghi âm lần đầu, có thể thông qua một thông báo nộp tới Tổng thư ký của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới,tuyên bố là quốc gia đó áp dụng tiêu chuẩn nơi ghi âm lần đầu này thay vì áp dụng tiêu chuẩn quốc tịch của nhà sản xuất bản ghi âm.
Điều 8
(1) Vụ quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới họp và công bố thông tin về việc bảo hộ bản ghi âm Mỗi quốc gia ký kết gửi trực tiếp tới Vụ quốc tế tất cả các luật và các văn bản mới chính thức về vấn đề này
(2) Vụ quốc tế, theo yêu cầu, cung cấp thông tin cho bất kỳ quốc gia ký kết nào
về các vấn đề liên quan tới Công ước này, và tổ chức nghiên cứu và cung cấp các dịch vụ nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự bảo hộ được quy định trong Công ước này
(3) Vụ quốc tế thực hiện các chức năng nêu tại Khoản (1) và (2) trên với sự hợp tác với Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc và Tổ chức Lao động quốc tế về các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của các tổ chức đó
Điều 9
(1) Công ước này được nộp cho Tổng thư ký của Liên hiệp quốc Công ước này được để ngỏ cho việc ký kết tới ngày 30/04/1972 của bất kỳ quốc gia nào là thành viên của Liên hiệp quốc hoặc các cơ quan chuyên môn có quan hệ với Liên hiệp quốc, hoặc Cơ quan năng lượng quốc tế hoặc là một bên ký kết của Quy chế về Tòa án quốc tế
(2) Công ước này phải được sự phê chuẩn hoặc chấp thuận của các quốc gia ký kết Công ước sẽ mở rộng cho việc gia nhập của bất kỳ quốc gia nào nêu tại Khoản (1) của Điều này