1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020

88 2,2K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoạt động kinh tế và dịch vụ truyền hình trong đó có dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho việ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN BẢO TRUNG

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT

NAM ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN BẢO TRUNG

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH

VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

1.1.2 Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền 7 1.1.3 Các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền 9 1.2 Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền 11

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình

1.3.3 Bài học thành công của StarHub Limited 25 Chương 2: Thực trạng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

2.1 Khái lược về truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam 28 2.1.1 Giới thiệu về Đài truyền hình Việt Nam 28 2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Truyền hình trả tiền của Đài

2.2 Thực trạng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của

Trang 4

2.2.2 Mục tiêu phát triển của chiến lược 36

2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược phát triển dịch vụ truyền

hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020 42

2.3.3 Những khó khăn và thách thức trong chiến lược phát triển dịch vụ

truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam 46 2.4 Những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện

chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt

Nam hiện nay

53

2.4.2 Những hạn chế trong chiến lược phát triển truyền hình trả tiền

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ

truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020 66

3.2 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực 69 3.3 Nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ 72

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đài Truyền hình Việt Nam là cơ quan báo chí, đơn vị sự nghiệp đi đầu trong việc đổi mới cơ chế tài chính và cơ chế hoạt động, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, tạo động lực cho Đài phát triển, từng bước thực hiện xã hội hóa trong sản xuất chương trình và tăng cường các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện Từ chỗ ngân sách Nhà nước phải bao cấp toàn bộ, đến nay các nguồn thu từ quảng cáo,

từ dịch vụ truyền hình đã đảm bảo cho Đài tự cân đối được các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và đóng góp cho ngân sách Nhà nước Các hoạt động kinh tế và dịch vụ truyền hình trong đó có dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, tuy nhiên trong thời đại bùng nổ thông tin số với sự mở rộng và phát triển không ngừng của hệ thống truyền hình trong và ngoài nước, sự cạnh tranh trên lĩnh vực truyền hình trả tiền sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn Để dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam ngày một phát triển hơn thì việc xây dựng một chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền là một yêu cầu cấp thiết

Có thể nói để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả của dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam, có thể cạnh tranh với các cơ quan truyền hình khác và các loại hình truyền thông để hướng tới sự phát triển bền vững, việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài có một ý nghĩa vô

cùng quan trọng Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Chiến lược phát triển dịch

vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020” mang tính

thực tiễn sâu sắc và sẽ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế hoạt động truyền hình trả tiền Quyết định này quy định việc

Trang 6

quản lý, cung cấp, sử dụng hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ truyền hình trả tiền và nội dung thông tin truyền hình trả tiền tại Việt Nam

Vân Oanh (2011) với bài “Hướng đi của truyền hình trả tiền”, bài viết đã đề cập đến việc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, đang còn thiếu một hành lang pháp lý để các nhà cung cấp dịch vụ cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả hơn

Lưu Hoàng Vân (2010) với bài “Truyền hình trả tiền phải nâng cao chất lượng dịch vụ”, bài viết khẳng định rằng, dù xem truyền hình trả tiền hay không trả tiền thì người dân vẫn có quyền đòi hỏi được thưởng thức những chương trình có chất lượng, thể hiện tính văn hóa và thẩm mỹ, góp phần nâng cao tư tưởng, tình cảm tốt đẹp của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội Người dân có quyền đòi hỏi được tôn trọng và được phục vụ chu đáo, kể cả quyền được xem những chương trình truyền hình chất lượng cao vì vậy các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền có trách nhiệm công bố chất lượng dịch vụ theo quy định

Ninh Ngọc (2013) với bài “Truyền hình trả tiền: sân chơi nhiều tiềm năng và khốc liệt” bài viết đã chỉ ra thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam còn rất lớn, là miếng bánh màu mỡ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ khai thác, đầu tư Tuy nhiên cuộc đua giành thị phần truyền hình trả tiền là một cuộc đua dài hơi do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ, cung cấp thêm nhiều lựa chọn về sản phẩm để có thể giữ chân được khách hàng

Mạnh Chung (2013) với bài “Truyền hình trả tiền ở Việt Nam lộn xộn và manh mún” đã nêu lên ý kiến của Tiến sĩ Trần Minh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông Ông Tuấn cho rằng hiện nay các công ty cung cấp dịch vụ đa số đều sử dụng công nghệ cũ, số lượng khách hàng ít, không đủ sức cạnh tranh, chỉ có một vài doanh nghiệp lớn chi phối thị trường, các doanh nghiệp cũng chỉ tập trung phát triển ở các vùng có lãi như thành phố, thậm chí trong thành phố chỉ có quận giàu, quận nghèo cũng không được chú trọng điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng

Trang 7

Hiện nay ở Việt Nam có tới hơn 40 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền nhưng các đơn vị hoạt động thực sự hiệu quả và được biết đến thì chỉ chiếm khoảng 20% Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển nhanh và nóng như vậy cũng bộc lộ nhiều vấn đề sơ hở và thiếu sót Nhiều doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ nhưng chưa

có một cơ sở pháp lý nào bảo vệ cho hoạt động của họ Nhiều đơn vị phải liên kết với các đối tác khác, hoặc núp bóng dưới danh nghĩa khác để hoạt động, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh; nhiều chương trình thực sự tốt không được phổ biến rộng rãi, chất lượng chưa đồng đều Tình hình vi phạm bản quyền diễn ra ở nhiều nơi, nhiều đơn vị

Tuy nhiên tất cả các bài viết chỉ nêu lên được sự phát triển mạnh mẽ của thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam, các bài viết cũng chưa nêu lên hay chỉ ra

đến thời điểm hiện tại thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến sự phát triển trong lĩnh vực này và cũng chưa có bất kỳ một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền nào đề ra một chiến lược phát triển dịch vụ một cách hoàn chỉnh và nghiêm túc Vậy Đài Truyền hình Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền như thế nào? Cần có giải pháp gì để hoàn thiện chiến

lược này cho tới 2020? Tác giả đã chọn đề tài này “Chiến lược phát triển dịch vụ

truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020” cho luận văn

tốt nghiệp nhằm tìm giải đáp cho các câu hỏi trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020 Để giải quyết mục đích trên, luận văn đã thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về dịch vụ truyền hình trả tiền và chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

- Phân tích thực trạng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam qua đó rút ra được những mặt đã đạt được và những mặt còn

Trang 8

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam cho tới năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu hoạt động dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam để làm rõ quá trình thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài truyền hình Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp: để tập hợp số liệu, dữ kiện nhằm xác định các mục tiêu, các phương án, giải pháp chiến lược được lựa chọn,

- Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu để tổng kết, kế thừa kết quả nghiên cứu, lựa chọn hướng nghiên cứu cho đề tài từ đó rút ra kinh nghiệm trong hoạt động thực tế của Đài truyền hình Việt Nam

- Phương pháp phân tích, so sánh và suy luận để phân tích thực trạng chiến lược phát triển của Đài truyền hình Việt Nam, đối chiếu với kinh nghiệm của nước ngoài để từ đó rút ra giải pháp hoàn thiện chiến lược

6 Kết cầu đề tài

Đề tài được trình bày thành 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

Chương II: Thực trạng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN

1.1 Một số vấn đề lý luận về chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

1.1.1 Khái niệm về chiến lược

- Chiến lược như là một kế hoạch, bởi vì chiến lược thể hiện một chuỗi các hành động nối tiếp nhau hay là cách thức được định sẵn để có thể đương đầu với

tương lai của nó

Đối với một doanh nghiệp chiến lược như là một hệ thống các quyết định nhằm hình thành các mục tiêu hoặc các mốc mà doanh nghiệp phải đi tới Nó đề ra những chính sách và kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nó xác định loại hình và tư tưởng kinh doanh của doanh nghiệp, tính chất của các đóng góp kinh tế và ngoài kinh tế mà doanh nghiệp có thể thực hiện vì lợi ích của các thành viên, của toàn xã

hội

Tóm lại, một cách đơn giản nhất, chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới mục đích của tổ chức

1.1.2 Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chương trình, chương trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đến các

Trang 10

thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương

Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đến các thuê bao truyền hình trả tiền

- Truyền hình trả tiền – Pay TV là hình thức truyền hình có thu phí, do đó đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị gia tăng và đặc biệt là phải có khả năng quản lý được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có hệ thống khóa mã) So với truyền hình quảng bá có sự khác biệt căn bản về nguồn thu chính (từ tiền thuê bao, không phải từ quảng cáo), về tính tương tác, liên hệ mật thiết giữa người xem và nhà cung cấp chương trình và việc đáp ứng hầu hết các nhu cầu về xem truyền hình của khán giả Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và kinh tế, lượng người xem truyền hình trả tiền trên thế giới tăng nhanh và xu thế phát triển truyền hình trả tiền là tất yếu Hiện nay trên thế giới có nhiều phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là: truyền hình cáp (CATV), truyền hình số qua vệ tinh (DTH), truyền hình Internet… nhưng chỉ có hai phương thức được khuyến nghị sử dụng và chứng tỏ được nhiều

ưu điểm cũng như có tính tương hỗ nhau là truyền hình cáp CATV và truyền hình

số qua vệ tinh DTH Truyền hình số mặt đất không thích hợp cho truyền hình trả tiền, chỉ thích hợp cho việc thay thế hệ thống truyền hình quảng bá hiện tai

Trên thế giới, truyền hình trả tiền hiện đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu

so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả doanh thu quảng cáo

vì lợi thế của nó Thứ nhất, do phương thức truyền dẫn là cáp và thu trực tiếp từ vệ tinh, truyền hình trả tiền có thể phục vụ đến từng khách hàng thuê bao với số kênh gần như không hạn chế và có thể cung cấp chương trình theo yêu cầu, truyền hình trả tiền còn có nhiều nguồn thu từ các dịch vụ gia tăng khác Thứ hai, khả năng thu quảng cáo trên truyền hình quảng bá ngày càng hạn chế và đã bão hòa làm cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực truyền thông ngày càng chú ý hơn đến lĩnh vực truyền

Trang 11

hình trả tiền với lượng khách hàng tiềm năng có thể nói là lý tưởng Chính vì những

lý do đó ở nhiều nước trên thế thời hầu như không có truyền hình quảng bá như ở Việt Nam mà chủ yếu là truyền hình trả tiền Qua truyền hình trả tiền mỗi khán giả

có thể đặt mua để xem từng bộ phim, từng trận bóng đá mà họ yêu thích Kinh doanh truyền hình trả tiền ở các nước phát triển còn rất thuận lợi nhờ luật bản quyền

ở họ được thực hiện nghiêm chỉnh Các hãng truyền hình muốn sử dụng chương trình của nhau phải trả tiền bản quyền Truyền hình trả tiền trên thế giới đã được bắt đầu thực hiện từ giữa thế kỷ 20 và luôn phát triển gắn liền với những tiến bộ của viễn thông thế giới

Truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh cung cấp chương trình cho những khách hàng đăng ký dịch vụ với mức thuê bao hàng tháng Truyền hình trả tiền có

số chương trình nhiều hơn so với truyền hình quảng bá, ngoài các chương trình sản xuất trong nước còn cung cấp các chương trình của Đài truyền hình các quốc gia khác Truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh nói chung khác nhau về kỹ thuật truyền tín hiệu đến từng máy thu

Vậy chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền là một chương trình hành động chi tiết được hoạch định nhằm đạt được các mục tiêu Chiến lược bao gồm các vấn để: làm thế nào để tăng được thị phần, làm thế nào để đưa sản phẩm tốt nhất ra thị trường, làm thế nào để thỏa mãn khách hàng, làm thể nào để cạnh tranh thành công với các đối thủ, làm thế nào để đáp ứng với các điều kiện thay đổi của thị trường, thay đổi của công nghệ… nhằm mục tiêu phát triển dịch vụ thành công

1.1.3 Các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền

Các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền được phân chia theo phương thức truyền dẫn phát sóng, bao gồm:

- Dịch vụ truyền cáp: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng dịch vụ hạ tầng kỹ thuật mạng cáp với các công nghệ khác nhau để phân phối

Trang 12

nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình mặt đất kỹ thuật số: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình mặt đất kỹ thuật số (DVB-T) để phân phối nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình trực tiếp qua vệ tinh: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng hạ tầng kỹ thuật phát sóng trực tiếp qua vệ tinh (DTH)

để phân phối nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình di động: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng dịch vụ hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình di động mặt đất

kỹ thuật số, truyền hình di động vệ tinh kỹ thuật số hoặc mạng viễn thông di động

để phân phối nội dung thông tin trên kênh truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền

Trong năm 2009, thị trường toàn cầu của truyền hình trả tiền gồm khoảng 596 triệu thuê bao, mức gia tăng hàng năm là 6.8% Với hơn 440 triệu thuê bao, truyền hình cáp chiếm phần lớn số thuê bao Tuy nhiên, điều quan trọng là xu hướng đi xuống của cáp trong thị trường truyền hình trả tiền mà cụ thể là cáp chiếm hơn 81.2% thuê bao trong năm 2006 và chỉ 74% trong năm 2009

Ngược lại, vệ tinh lại gia tăng thị phần khi lượng thuê bao chỉ chiếm 17% vào năm 2006 tăng lên 20.5% trong năm 2009 Cùng thời gian này, IPTV có 23.5 triệu thuê bao, thị phần tăng từ 3.7% đến 4.8%

Cuối cùng, truyền hình mặt đất phát triển từ 3.7 triệu thuê bao vào năm 2006 đến 4.6 triệu thuê bao trong năm 2009, mức tăng trưởng gần 1% so với tổng lượng thuê bao Việc tăng trưởng của truyền hình mặt đất trả tiền có thể giải thích do sự hỗ trợ mở rộng của truyền hình kỹ thuật số mặt đất (DTT) ở Châu Âu như Anh, Pháp

và Ý, thậm chí là vùng Scandinavia

Trang 13

Trong năm 2009, có 294 triệu hộ (hoặc hơn 49% tổng hộ thuê bao toàn cầu) thuê bao truyền hình trả tiền ở khu vực Châu Á/Thái Bình Dương Châu Âu là vùng

có số thuê bao lớn thứ hai (25.3%), theo sau là Bắc Mỹ (18.7%), Mỹ La Tinh (5.1%), và MEA (1.6%)

Trong giai đoạn 2006-2009, MEA và Mỹ La Tinh giữ kỷ lục về phát triển với mức gia tăng thuê bao theo thứ tự là 44.4% và 38.7% Trong các thị trường đã phát triển như Châu Âu và Bắc Mỹ, tốc độ tăng trưởng hàng năm theo thứ tự là 7.8% và 1.9%

Ở Châu Á / Thái Bình Dương, lượng thuê bao gia tăng hơn 20% từ

2006-2009

1.2 Chiến lƣợc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

1.2.1 Mục tiêu phát triển chiến lƣợc

* Mục tiêu tổng quát của chiến lược

Mở rộng vùng phủ sóng truyền hình trả tiền trong nước nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh đảm bảo cung cấp cho đại đa số người dân trong nước các dịch vụ truyền hình đa dạng, phong phú, chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu và thu nhập của mọi đối tượng

Phát triển hạ tầng truyền dẫn, phát sóng đồng bộ, hiện đại, hiệu quả, thống nhất về tiêu chuẩn và công nghệ, đảm bảo có thể chuyển tải được các dịch vụ truyền hình, viễn thông và công nghệ thông tin trên cùng một hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu hội tụ công nghệ và dịch vụ

Thúc đẩy việc chuyển đổi hạ tầng truyền dẫn, phát sóng từ công nghệ tương tự sang công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng số lượng kênh chương trình, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên tần số

Từng bước hình thành và phát triển thị trường truyền dẫn, phát sóng trên cơ sở tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty cổ phần mà Nhà nước nắm

cổ phần chi phối nhằm thu hút các nguồn lực để phát triển hạ tầng kỹ thuật phát

Trang 14

thanh, truyền hình, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự quản lý thống nhất, có hiệu quả của Nhà nước

Từng bước triển khai lộ trình số hóa mạng truyền dẫn, phát sóng truyền hình

số mặt đất phù hợp với điều kiện thực tế về thiết bị thu truyền hình số của người dân trên từng địa bàn cụ thể Về cơ bản sẽ ngừng phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ tương tự để chuyển sang phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ số khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình có khả năng thu được các kênh chương trình truyền hình quảng bá bằng những phương thức truyền dẫn, phát sóng số khác nhau; Công nghệ số được áp dụng rộng rãi trong truyền dẫn, phát sóng phát thanh;

Đa số các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo có nhu cầu, được cung cấp thiết bị thu các kênh chương trình phát thanh, truyền hình kỹ thuật số với

giá cả phù hợp [6]

* Mục tiêu cụ thể của chiến lược

Các đơn vị, doanh nghiệp được phép thiết lập hạ tầng mạng truyền dẫn, phát sóng truyền hình trả tiền phối hợp đầu tư, xây dựng hệ thống truyền dẫn, phát sóng

số mặt đất tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo;

Các đài phát thanh, truyền hình địa phương phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp được phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phát sóng truyền hình trả tiền trên địa bàn từng bước chuyển toàn bộ các kênh chương trình phát thanh, truyền hình sang truyền tải trên hạ tầng truyền dẫn, phát sóng số;

Triển khai các dự án sản xuất và cung cấp đầu thu truyền hình số giá rẻ cho các hộ gia đình Hạn chế và tiến tới ngừng hẳn việc nhập khẩu và đầu tư mới sản xuất các máy phát tương tự;

Mạng truyền hình cáp được phát triển theo hướng tăng cường sử dụng cáp sợi quang và nâng cao tỷ lệ cáp ngầm để bảo đảm chất lượng dịch vụ và mỹ quan đô thị, đặc biệt là dọc các tuyến đường, phố chính tại các trung tâm đô thị lớn; Mạng truyền hình cáp có khả năng truyền tải các tín hiệu truyền hình, viễn thông và

Trang 15

Internet trên một hạ tầng thống nhất, phù hợp với xu hướng hội tụ công nghệ và dịch vụ

Ưu tiên phát triển mạng truyền dẫn, phát sóng truyền hình vệ tinh ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo trên băng tần Ku để cung cấp dịch vụ truyền hình đến nhà thuê bao (DTH) với thiết bị thu xem đầu cuối nhỏ gọn, tiện dụng; kết hợp sử dụng các băng tần C, Ku để trao đổi chương trình giữa các đài phát thanh, truyền hình;

Nghiên cứu và thử nghiệm các công nghệ phát thanh số để lựa chọn chuẩn phát thanh số; xây dựng phương án khả thi chuyển đổi từ phát thanh tương tự sang phát thanh số; xây dựng lộ trình chuyển đổi sang phát thanh số;

Xây dựng tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất trên cơ sở áp dụng bộ tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất tiêu chuẩn Châu Âu (DVB-T) và các phiên bản tiếp theo để triển khai cho truyền hình số mặt đất; tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các hệ tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất khác để có những lựa chọn phù hợp đối với hệ thống phát sóng truyền hình số trong tương lai;

Đẩy nhanh việc áp dụng các công nghệ di động băng rộng (IMT-2000) và các công nghệ mới tiếp theo để phát triển các dịch vụ phát thanh, truyền hình di động; Từng bước phát triển công nghệ truyền hình Internet (IPTV) và công nghệ truyền hình có độ phân dải cao (HDTV);

Các đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép thiết lập và khai thác hệ thống truyền dẫn, phát sóng truyền hình phải đảm bảo hệ thống của mình được thiết kế, lắp đặt phù hợp các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để bảo đảm chất lượng dịch

vụ và không gây can nhiễu cho các hệ thống thông tin khác

Ưu tiên phát triển dịch vụ truyền hình mặt đất tại các vùng đồng bằng, trung du; phát triển dịch vụ truyền hình cáp, truyền hình di động tại những vùng thành thị, những vùng có mật độ dân cư cao; tăng cường sử dụng dịch vụ truyền hình vệ tinh kết hợp với các trạm phát lại công suất nhỏ và trung bình tại những vùng sâu, vùng

xa, miền núi, hải đảo;

Trang 16

Các đơn vị, doanh nghiệp đã có giấy phép cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phát sóng truyền hình trả tiền, truyền hình cáp triển khai dự án ở địa phương nào thì phải dành dung lượng để truyền tải một kênh chương trình phát thanh, truyền hình của địa phương và các chương trình phát thanh, truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị của đài phát thanh, truyền hình Phát triển các dịch vụ phát sóng qua vệ tinh, để cung cấp dịch vụ DTH trên phạm vi toàn lãnh thổ

1.2.2 Các công cụ thực hiện chiến lƣợc

*Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, luật pháp:

Xây dựng và sửa đổi Luật và các văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, quy định có liên quan đến lĩnh vực phát thanh, truyền hình:

Xây dựng và sửa đổi Luật Viễn thông, Luật Báo chí, Luật Tần số vô tuyến điện, Quy hoạch viễn thông, Quy hoạch tần số vô tuyến điện, Quy hoạch phát thanh, truyền hình… nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý để thúc đẩy phát triển hạ tầng truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình;

Sửa đổi các quy định liên quan đến việc thu các chương trình phát thanh, truyền hình qua vệ tinh theo hướng cho phép người dân có thể tự mua thiết bị thu vệ tinh (TVRO) để thu các chương trình từ vệ tinh nhằm phổ cập các chương trình phát thanh, truyền hình quốc gia và địa phương tại những khu vực khó khăn về địa lý Trên cơ sở nâng cao hiệu quả sản xuất, tiếp tục có chính sách giảm giá cước các dịch vụ thuê kênh trong nước và quốc tế bằng hoặc thấp hơn mức trung bình của khu vực và thế giới để phát triển thị trường dịch vụ truyền dẫn tín hiệu nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc trao đổi nội dung, chương trình giữa các đài phát thanh, truyền hình;

Xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng trên cơ sở đảm bảo thực hiện đúng các quy định về quản lý tiêu chuẩn, chất lượng và giá cước

*Đổi mới tổ chức hoạt động truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình:

Các đài phát thanh, truyền hình quốc gia và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đủ điều kiện được phép thành lập các doanh nghiệp truyền dẫn, phát sóng

Trang 17

trực thuộc đài để tham gia vào thị trường và cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phát sóng trên phạm vi cả nước hoặc một vùng

Đổi mới tổ chức hoạt động của các đài phát thanh, truyền hình địa phương đồng bộ với lộ trình số hoá công nghệ truyền dẫn, phát sóng theo hướng:

Các đài phát thanh, truyền hình địa phương vẫn đảm nhiệm chức năng truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình tương tự cho đến khi chấm dứt hoàn toàn truyền hình tương tự theo lộ trình số hóa;

Kể từ thời điểm chấm dứt truyền hình tương tự, các đài chưa đủ điều kiện cấp phép thiết lập mạng truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình số mặt đất tại địa bàn sẽ tập trung chủ yếu vào chức năng sản xuất nội dung chương trình

*Phát triển nguồn lực:

Đối với các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng truyền dẫn, phát sóng phục vụ nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao được ưu tiên sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn viện trợ và cho vay ưu đãi từ nước ngoài Đối với các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng truyền dẫn, phát sóng phục vụ các mục tiêu khác, sử dụng nguồn vốn huy động

từ các doanh nghiệp, xã hội;

Nghiên cứu bổ sung cơ chế huy động và sử dụng Quỹ dịch vụ viễn thông công ích nhằm đẩy mạnh lộ trình số hoá phát thanh, truyền hình, đặc biệt là để hỗ trợ thiết bị thu chương trình phát thanh, truyền hình số cho người dân và giải phóng một phần băng tần đang sử dụng cho truyền hình mặt đất để dùng cho các dịch vụ di động và truy nhập vô tuyến băng rộng;

Đẩy mạnh xã hội hóa việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ kỹ thuật viên, thợ lành nghề để đáp ứng cho yêu cầu ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình;

Cải tiến phương pháp đào tạo, chương trình giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật chuyên ngành phát thanh, truyền hình và tại các khoa điện tử - viễn thông nhằm phát triển đội ngũ kỹ sư có trình độ chuyên môn cao

*Nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ:

Trang 18

Khuyến khích việc chuyển giao công nghệ truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình, mua bản quyền để tạo điều kiện cho việc nhập khẩu và triển khai các công nghệ truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình tiên tiến, hiện đại;

Hỗ trợ phát triển công nghệ sản xuất thiết bị truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình, đặc biệt là các thiết bị nghe - xem đầu cuối, thông qua việc nhanh chóng xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho các loại công nghệ truyền dẫn, phát sóng mới

*Đẩy mạnh hợp tác quốc tế:

Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, phối hợp trao đổi, đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật và quản lý phát thanh, truyền hình;

Tranh thủ sự hợp tác quốc tế để huy động các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA, nhằm phát triển mạng phát thanh, truyền hình tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo [6]

1.2.3 Các tiêu chí để đánh giá chiến lƣợc

Truyền hình trả tiền là hình thức xem truyền hình có thu phí, có khả năng truyền dẫn được nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ gia tăng và đặc biệt là khả năng quản lý các chương trình đến từng đầu thu giải mã Nguồn thu chính của truyền hình trả tiền là từ thuê bao Truyền hình trả tiền có mối liên hệ mật thiết giữa người xem và nhà cung cấp chương trình

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kinh tế, lượng người xem truyền hình trên thế giới tăng nhanh, xu thế phát triển của truyền hình trả tiền là tất yếu Với hàng chục nhà cung cấp truyền hình trả tiền khác nhau trên toàn lãnh thổ với đủ các loại hình truyền hình trả tiền như: truyền hình cáp, truyền hình số vệ tinh, truyền hình kỹ thuật số Các nhà cung cấp với đủ các chiêu thức kinh doanh khác nhau nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh và phát triển thị phần truyền hình trả tiền Cũng như các loại hình thị trường dịch vụ và sản phẩm khác, thực chất phát triển thị trường truyền hình trả tiền là nghiên cứu về cầu để kích cầu thị trường

Trang 19

truyền hình trả tiền, nghiên cứu về cung để phát triển cung trên thị trường truyền hình trả tiền nhằm đạt được sự phát triển thị trường ở mức cao nhất, có khả năng cạnh tranh tốt nhất và đạt được thị phần cao nhất cũng như mang lại doanh thu, lợi nhuận tối đa

Khi nghiên cứu để đánh giá sự phát triển của thị trường truyền hình trả tiền của mỗi doanh nghiệp, trước hết phải căn cứ vào tiêu chí khách hàng và thị phần

*Khách hàng và thị phần

Nguồn thu chính của mỗi doanh nghiệp truyền hình trả tiền là nguồn thu từ thuê bao (chiếm tới 60%) Do vậy, khách hàng phải là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá sự phát triển của mỗi đơn vị kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền Nó thể hiện ở: khả năng có được khách hàng, giữ được khách hàng hiện tại, phát triển được khách hàng tiềm năng và lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh Vị trí, vai trò của khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tổ chức, vận hành các hoạt động cung cấp nội dung và khai thác thuê bao Do vậy, đối với thị trường truyền hình trả tiền, khách hàng cần được đặt ở vị trí trung tâm trong toàn bộ hoạt động phát triển thị trường

Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay Để thắng được trong cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải phát triển khách hàng, tăng số lượng thuê bao, chiếm lĩnh thị trường Việc phát triển khách hàng là tất yếu khách quan, là cơ sở, động lực, là phương thức để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh

Thị phần là tiêu chí quan trọng trong đánh giá chiến lược phát triển thị trường truyền hình trả tiền Đối với thị trường của một loại sản phẩm truyền hình trả tiền nào đó, mỗi doanh nghiệp đều xác định cho mình một phần thị trường nhất định và lấy đó làm cơ sở cho việc đạt được các mục tiêu của mình Để tăng cường sức mạnh của mình trước các đối thủ cạnh tranh khác, không những doanh nghiệp phải phát triển, mở rộng được thị trường mà còn phải tăng tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường so

với các đối thủ cạnh tranh đó Thực tế, để phát triển thị trường và tăng thị phần trên

Trang 20

phần của doanh nghiệp thông qua thôn tính thị phần của các đối thủ cạnh tranh hoặc thông qua việc mở rộng sang đối tượng khách hàng không tiêu dùng tương đối (là tập hợp các khách hàng có nhu cầu về truyền hình trả tiền song chưa có khả năng thanh toán hoặc chưa tìm ra các dịch vụ truyền hình trả tiền thích hợp) và kích thích thêm nhu cầu.

*Lợi nhuận và sự thỏa mãn khách hàng

Tiêu chí quan trọng tiếp theo là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận luôn

là mục tiêu hàng đầu trong kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào, nhưng để thu được lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao lại không dễ chút nào Nó đòi hỏi các doanh nghiệp cần có những chiến lược phát triển đúng đắn và lâu dài Tuy nhiên, có những doanh nghiệp do “nôn nóng” muốn có lợi nhuận tức thời nên đã tiến hành nhiều kế hoạch “không hợp pháp” Với chỉ số mức doanh lợi đầu tư ROI (dùng để đo lường hiệu quả quản trị), người ta biết được, khi một doanh nghiệp kinh doanh truyền hình trả tiền bỏ ra một đồng đầu tư xây dựng hệ thống mạng, phát triển thuê bao họ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Công thức tính: ROI= P/S x S/I Trong đó: P - Lợi nhuận (lãi ròng); S - doanh số; I - tổng đầu tư Doanh nghiệp kinh doanh truyền hình trả tiền muốn phát triển thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh cần làm tăng chỉ số ROI của mình theo hai cách thức: doanh nghiệp phấn đấu tạo ra mức lợi nhuận cao hơn thông qua các giải pháp tài chính, quản trị, tiết kiệm chi phí, thực hiện các giải pháp marketing có hiệu quả hoặc doanh nghiệp duy trì ổn định doanh

số và lợi nhuận nhưng giảm bớt mức đầu tư các dự án kinh doanh không có hiệu quả Chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp (ROA) là tỷ lệ lãi trên số tài sản được quản lý Công thức tính: ROA= (C+V)/P Trong đó: P - lãi ròng (lợi nhuận); C - tổng giá trị tài sản cố định ; V - tổng giá trị tài sản lưu động Có hai cách tăng chỉ số ROA: doanh nghiệp tăng lợi nhuận bằng một hệ thống các giải pháp hoặc doanh nghiệp phải giảm số tài sản được quản lý như thanh lý những máy móc, thiết bị sử dụng không hiệu quả

Bên cạnh đó, mức độ thoả mãn nhu cầu khách hàng (thỏa mãn khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ) cũng là tiêu chí đánh giá sự phát triển thị trường

Trang 21

truyền hình trả tiền Đối với một số sản phẩm công nghiệp, khi bán được sản phẩm rồi thì cơ hội bán hàng còn lại rất ít, nhưng đối với khách hàng thì khác Khách hàng khi cầm sản phẩm của bạn trên tay thì đó mới chỉ là sự bắt đầu – bắt đầu một phương thức mới, một thói quen mới Chính vì thế họ mặc nhiên rất quan tâm tới những dịch vụ sau bán hàng của bạn Và nếu họ cảm thấy hài lòng với dịch vụ này,

họ sẽ là người quảng cáo miễn phí sản phẩm của bạn tới những người xung quanh,

từ đó tạo nên nguồn khách hàng tiềm năng dồi dào cho doanh nghiệp của bạn

Thoả mãn khách hàng, đó chính là bí quyết tạo dựng sự thành công cho bất kỳ doanh nghiệp nào và với thị trường truyền hình trả tiền, thì tiêu chí đó càng trở nên

vô cùng quan trọng Đảm bảo rằng khách hàng hài lòng với sản phẩm và dịch vụ của bạn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì lợi nhuận, bởi điều đó có nghĩa là bạn hiểu những gì khách hàng thực sự muốn

Với những lợi ích rõ ràng như thế, việc thoả mãn khách hàng là tiêu chí tất yếu

để đánh giá sự phát triển của thị trường truyền hình trả tiền Vậy làm gì để thoả mãn khách hàng xem truyền hình trả tiền nói chung? Câu trả lời là hãy ghi nhận từng ý kiến phản hồi của khách hàng; tập hợp, phân tích những phản hồi để có điều chỉnh hợp lý và không ngừng nâng cao chất lượng chương trình, chất lượng sản phẩm.Ngoài ra, cũng cần phải chú ý tới: Thoả mãn khách hàng về phạm vi địa lý Vì truyền hình cáp hiện vẫn đang phát triển chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn, chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu khách hàng muốn xem truyền hình nhiều kênh Các khách hàng ở vùng sâu, vùng xa thì sao? Giải quyết được toàn bộ nhu cầu của đối tượng khách hàng này như thế nào mà không lo ngại tín hiệu truyền hình sẽ bị ảnh hưởng bởi địa hình phức tạp như đồi núi, biển cả

Trong truyền hình trả tiền, tiêu chí chất lượng có thể được định nghĩa như sau: Chất lượng = Giá rẻ + Tín hiệu tốt + Nội dung hay và đa dịch vụ Vì để xem

và hiểu được các kênh truyền hình nước ngoài người xem cần phải có một vốn kiến thức ngoại ngữ tốt Để có chỗ đứng trên thị trường, bắt buộc các nhà cung cấp phải

“nội địa hóa” như làm phụ đề hoặc thuyết minh, lồng tiếng Việt, đặc biệt là nhóm

Trang 22

sẽ giúp khán giả cảm thụ hết giá trị nội dung và nghệ thuật của phim Phụ đề là một lựa chọn phổ biến (ngoài lồng tiếng), phù hợp với các khán giả thích trau dồi ngoại ngữ từ ngôn ngữ gốc và thưởng thức âm thanh gốc (nhạc hay) Nhưng nếu phụ đề tràn lan, thiếu chọn lọc thì người xem sẽ khó chịu do tập trung đọc chữ thì không kịp xem hình ảnh Do đó, thường những phim ít lời thoại và nhạc hay mới được chọn để làm phụ đề Cũng có thể Việt hóa các kênh bằng cách tự sản xuất theo hướng chuyên biệt hóa nội dung

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về chiến lƣợc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là nước có mạng lưới truyền hình trả tiền và nền công nghiệp sản xuất thiết bị truyền hình được xếp vào một những nước hàng đầu thế giới Đây cũng

là nước có thị trường truyền hình trả tiền rất tự do với sự tham gia của hơn 100 nhà khai thác dịch vụ Quá trình phát triển của ngành truyền hình trả tiền Nhật Bản được chia làm hai giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn độc quyền mạng lưới và giai đoạn tự do hoá nhanh chóng

Giai đoạn một, Nhà nước cho NNK được độc quyền, hỗ trợ tài chính để NHK

có thể phát triển mạng lưới một cách nhanh nhất; Giai đoạn hai, sau khi mạng lưới

đã phát triển hoàn chỉnh, Chính phủ cho tự do hoá mạng lưới một cách nhanh chóng

để nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí cho người sử dụng Như vậy một kinh nghiệm có thể rút ra từ quá trình phát triển truyền hình trả tiền của Nhật Bản

đó là: độc quyền cho phép phát triển truyền hình trả tiền theo chỉ tiêu và số lượng, cạnh tranh sẽ tác động làm giảm giá thành và nâng cao chất lượng dịch vụ

a Giai đoạn Nhà nước bảo hộ cho NHK

Từ trước năm 1980, truyền hình trả tiền Nhật Bản rất lạc hậu Năm 1981, Nhật Bản tiến hành quá trình công ty hoá truyền hình trả tiền và được Nhà nước bảo hộ cho độc quyền khai thác truyền hình cáp với nhiệm vụ phát triển mạng lưới truyền hình trả tiền trên toàn quốc Tư tưởng chủ đạo của Chính phủ Nhật Bản trong giai

Trang 23

đoạn này: Một là, khi nhu cầu của người dân vượt xa khả năng đáp ứng của mạng lưới thì độc quyền sẽ tiết kiệm hơn nhiều so với cạnh tranh; Hai là, công ty quốc doanh sẽ làm tốt vai trò phát triển mạng lưới hơn công ty tư nhân, như thế mạng lưới sẽ được trải đều trên phạm vi cả nước

b Giai đoạn tự do hoá

Năm 1985, Nhật Bản tiến hành cải tổ ngành truyền hình (lúc này đã tư nhân hoá), việc cải tổ chủ yếu tập trung ở khâu tạo cạnh tranh, lúc này nhu cầu các dịch

vụ cơ bản của xã hội đã được thoả mãn và mạng lưới truyền hình do NHK đầu tư đã bắt đầu có lãi Nguyên tắc thực hiện lúc này chuyển từ độc quyền (bảo hộ cho nhà khai thác phát triển mạng lưới trên toàn quốc) sang bảo vệ lợi ích cho người sử dụng Tư tưởng cải tổ tập trung ở các điểm:

- Cho tư nhân tham gia cả dịch vụ truyền hình trả tiền, chấm dứt thời kỳ độc quyền của NNK đối với các dịch vụ truyền hình trả tiền

- Tự do hoá thị trường thiết bị đầu cuối Để việc cạnh tranh được công bằng, Nhật bản đã tiến hành phân loại các công ty khai thác dịch vụ truyền hình trả tiền trên mạng lưới để có chính sách hợp lý với các loại công ty này:

- Các công ty loại I: là những công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trên mạng lưới của mình, đây là những công ty khai thác truyền hình trả tiền có mạng lưới riêng

- Các công ty loại II: là những công ty khai thác truyền hình trả tiền thuê mạng lưới của các công ty loại I để khai thác và kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền Tính đến tháng 3/1992, Nhật Bản có hơn 1.000 công ty khai thác dịch vụ truyền hình trả tiền, trong đó có 70 công ty loại I, 1.036 công ty loại II Tuy nhiên, với kinh nghiệm gần 40 năm phát triển mạng lưới, với khả năng về vốn và kỹ thuật công nghệ, NHK vẫn chiếm lĩnh 73% thị trường, lúc này NHK đi vào đầu tư nghiên cứu phát triển các dịch vụ công nghệ cao, lĩnh vực mà không một công ty tư nhân nào ở Nhật Bản có thể theo kịp Để khuyến khích các nhà khai thác mới mở rộng thị trường, Chính phủ Nhật Bản quy định buộc NHK phải cho các nhà khai thác khác

Trang 24

đấu nối bình đẳng vào mạng lưới, cho phép các công ty mới được giảm cước thấp hơn so với mức cước của NHK tới 30%

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Vào năm 1990, thị trường truyền hình trả tiền Trung Quốc vẫn còn hết sức lạc hậu Tổng số hộ sử dụng dịch vụ chỉ đạt 4,355 triệu Như vậy, mạng lưới truyền hình trả tiền của Trung Quốc thời điểm đó không những kém xa các nước phát triển

mà còn kém cả các nước đang phát triển khác

Về mặt kỹ thuật, truyền hình trả tiền Trung Quốc lạc hậu so với các nước phát triển khoảng 20 đến 30 năm Đường cáp và viba ở Trung Quốc những năm 1980 chỉ tương đương với nước ngoài vào những năm 1960 Trang bị mạng lưới thông tin chỉ tương đương Mỹ vào đầu những năm 1950 Về đầu tư, từ ngày thành lập nước đến năm 1990, đầu tư của Nhà nước cho truyền hình chỉ đạt 8 tỷ nhân dân tệ Trung bình mỗi năm Trung Quốc đầu tư cho truyền hình khoảng 200 triệu nhân dân tệ, năm ít nhất chỉ có 20 triệu nhân dân tệ Tỷ trọng đầu tư cho truyền hình trong GDP

ở Trung Quốc chỉ đạt khoảng 0,1%, thấp hơn xa với mức trung bình ở thế giới là 0,6% GDP

Trước thực tế kém phát triển của ngành truyền hình cộng với áp lực của cải cách mở cửa, Chính phủ Trung Quốc đã có những lựa chọn chiến lược hợp lý, đưa ngành truyền hình thực hiện những bước phát triển nhảy vọt Chiến lược đó có những điểm chính sau:

a Thực thi các chính sách ưu tiên phát triển truyền hình

Để tăng nhanh phát triển thông tin bưu điện, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương đã đề ra một loạt các chính sách trợ giúp trọng điểm, ưu tiên phát triển, nhưng ở góc độ vận dụng phát triển thực tế, mỗi địa phương đều được khuyến khích linh động, sáng tạo theo đặc thù của mình để đưa ngành thông tin bưu điện của địa phương mình phát triển nhanh nhất

+ Chính sách tăng thu phí lắp đặt thuê bao

Trang 25

Việc phát triển ngành truyền hình trả tiền đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu

tư lớn, nếu chỉ dựa vào đầu tư của Nhà nước thì khó lòng đáp ứng đủ Năm 1989, Trung Quốc đã tham khảo cách làm của nước ngoài là tăng cước lắp đặt thuê bao Mức phí lắp đặt lúc đó khoảng 3.000 – 5.000 NDT, tương đương 4-7 triệu đồng Chính sách này cũng đã đưa lại một nguồn lớn vốn đầu tư cho ngành truyền hình trả tiền Trung Quốc

b Lấy nhu cầu thị trường làm phương hướng phát triển

Trang 26

nghệ rất thấp nên họ sẵn sàng từ bỏ và đầu tư công nghệ mới mà không phải tiếc rẻ các thiết bị hiện tại trên mạng lưới

d Huy động toàn xã hội cùng nhau phát triển truyền hình thể hiện rõ nét nhất quan điểm này Trung Quốc đã xây dựng mạng truyền hình hữu tuyến bằng cách huy động mọi tầng lớp nhân dân, quân đội tham gia xây dựng

e Vay nợ để phát triển truyền hình

Việc phát triển nhanh ngành truyền hình đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, nếu chỉ dựa vào sự đầu tư của Nhà nước thì vừa thiếu lại vừa chậm, gây ảnh hưởng đến định hướng đầu tư phát triển Năm 1994, lần đầu tiên ngành truyền hình Trung Quốc sử dụng vốn vay nước ngoài (vay nợ 35 tỷ yên Nhật) để, xây dựng 600 km cáp quang, phát triển 2 triệu km đôi cáp thuê bao làm bớt sự căng thẳng về nhu cầu thông tin lúc đó Từ thành công này, hình thức vay nợ nước ngoài dần dần chuyển

từ chỉ một hình thức duy nhất là vay nợ của Chính phủ sang mua hàng tín dụng của các hãng, vay vốn của các quỹ hỗ trợ vốn của Nhật Bản, vay của các quỹ tiền tệ quốc tế Tính đến năm 1998, tổng cộng vốn vay nước ngoài của ngành truyền hình Trung Quốc lên đến 6,56 tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng giá trị tài sản cố định đầu tư cho truyền hình cả nước

f Thực hiện cải cách sâu rộng ngành truyền hình

Nhằm thích ứng với thực tế cải cách mở cửa của đất nước, tăng cường sức phát triển, theo kịp đà tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghiêm túc xử lý mối quan hệ giữa cải cách và phát triển, cải cách và ổn định Tháng 2/1994, Trung Quốc đã tách phần quản lý hoạch định chính sách với quản lý điều hành sản xuất kinh doanh Song song đó, ngành truyền hình Trung Quốc cũng chú trọng cải cách thu hút vốn đầu tư, chế độ nhân sự, phân phối thu nhập và hệ thống các thông tin phụ trợ

Tóm lại, trước yêu cầu thực tế của quá trình cải cách phát triển kinh tế, mở cửa hội nhập với thế giới, Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của ngành truyền hình đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Xuất phát điểm với một mạng lưới truyền hình nghèo nàn lạc hậu, bằng các chính sách ưu tiên đầu tư, chiến lược phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị, đầu tư thẳng vào công nghệ cao, định

Trang 27

hướng thị trường,… Đến nay, ngành truyền hình trả tiền Trung Quốc đã phát triển vượt bậc và trở thành một trong những thị trường truyền hình trả tiền lớn và năng động nhất thế giới

1.3.3 Bài học thành công của StarHub Limited

StarHub Limited là một công ty viễn thông có trụ sở tại Singapore, là nhà điều hành truyền hình cáp duy nhất tại Singapore StarHub cung cấp dịch vụ viễn thông cho cả cá nhân và doanh nghiệp với các sản phẩm chính : di dộng, truyền hình cáp, băng thông rộng, internet, mạng cố định

Năm 2000, hưởng lợi từ quyết định của Chính phủ đẩy mạnh tốc độ tự do hóa lĩnh vực viễn thông, 49% sở hữu nước ngoài của các công ty viễn thông công cộng

ở Singapore sẽ được dỡ bỏ, chấm dứt độc quyền của Singtel, StarHub chính thức bước chân vào thị trường dịch vụ thông tin truyền thông Singapore bằng việc cung cấp sản phẩm đầu tiên của mình Tháng 01 năm 2002, StarHub sáp nhập với Singapore Cable Vision (SCV) - nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền duy nhất của Singapore và trở thành nhà truyền hình cáp duy nhất tại Singapore sản xuất độc quyền sản phẩm truyền hình cáp – dịch vụ chưa có đối thủ cạnh tranh mạnh Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu việc StarHub ghi tên mình vào Viễn thông Singapore,

đi vào cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ tiềm năng của thị trường này

StarHub đặt chân vào thị trường Singapore là một thách thức không nhỏ, tuy nhiên với những chiến lược kinh doanh thông minh và linh hoạt, được xây dựng một cách bài bản StarHub đã có được chỗ đứng và vị thế ở trên thị trường Viễn thông Singapore Những bài học đáng ghi nhận, đem lại thành công cho doanh nghiệp này đến từ những điểm mấu chốt đáng chú ý:

Với đặc thù ngành Viễn thông, StarHub thực hiện “Chiến lược hội nhập dọc xuôi chiều thông qua việc mua lại, liên minh chiến lược và đa dạng hoá sản phẩm trên nền tảng công nghệ tự đầu tư, mua lại, sát nhập và liên minh Việc chọn lựa

Trang 28

chiến lược này đem lại cho StarHub tránh tạo rào cản cạnh tranh, tận dụng cơ sở hạ tầng và mạng lưới, đồng thời đa dạng hoá được dịch vụ cung cấp cho khách hàng StarHub thực hiện chiến lược đa quốc tịch, thu hút lực lượng lao động thế giới, trên nền tảng quản lý thống nhất, hiệu quả của nguồn nhân lực Đây chính là động lực thúc đẩy, một nguồn lực quan trọng bậc nhất trong thành công của StarHub StarHub thực hiện chiến lược R&D (Research and Development) bằng cách luôn tiên phong đầu tư trong công nghệ Tạo nên lợi thế trong cạnh tranh và cung cấp dịch vụ cho khách hàng

Với chiến lược Marketing, StarHub lựa chọn việc cung cấp gói dịch vụ cho khách hàng và đo lường nó bằng chỉ số Hubbing Index Chính việc cung cấp gói dịch vụ thoả mãn được tối đa nhu cầu khách hàng, khác biệt và hiệu quả hoá việc cung cấp gói đa dịch vụ, đem lại lợi ích cáo hơn khiến chỉ số ARPU – Average Revenue Per Unit (per month) trên một khách hàng cao hợn, mức lợi nhuận cao hơn

Hubbing index = ( Tổng số thuê bao truyền hình cáp + Di dộng + Băng thông rộng ) Tổng số thuê bao hộ gia đình có sử dụng ít nhất 1 dịch vụ Tóm lại, với các chiến lược chức năng trên đã đem lại lợi thế cạnh trạnh của StarHub dựa trên 3 khối cạnh tranh cơ bản đó là: Sự hiệu quả, cải tiến và đáp ứng khách hàng vượt trội

Bài học thứ ba đến từ cách thức thực hiện chiến lược kinh doanh trên từng dịch vụ cung cấp cho khách hàng

StarHub xác định chiến lược dài hạn theo chiến lược tập trung đối với sản phẩm di động, truyền hình cáp, IPTV, chiến lược đầu tư chi phí thấp và khác biệt hóa - chiến lược cốt lõi và xuyên suốt của mình trong giai đoạn 2001-2011 dựa chính vào nguồn lực sẵn có để phát triển dựa trên giá trị cốt lõi của Công ty “Ưu việt, sáng tạo, chính trực và hợp tác” , Lấy sản phẩm di dộng, truyền hình cáp, băng thông rộng là sản phẩm cốt lõi thu hút khách hàng

Với chiến lược tập trung: Phân đoạn khách hàng theo phong cách sống để đáp ứng dịch vụ theo từng phân đoạn khách hàng, không ngừng đưa ra những dịch vụ và

Trang 29

sản phẩm sáng tạo tạo cơ hội mới nhưng cũng tạo thách thức mới cho StarHub mà không phải tất cả các công ty khác không có cơ sở hạ tầng tốt, đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp dễ dàng thực hiện được

Bài học cuối cùng đến từ cách thức thực thi chiến lược

Hệ thống kiểm soát chiến lược: StarHub kiểm soát việc thực thi chiến lược thông qua kiểm soát theo chỉ số ARPU – Average Revenue Per Unit (per month) Tất cả các sản phẩm của StarHub đều được đo lường doanh thu và tần suất sử dụng qua chỉ số ARPU Trên cơ sở giám sát ARPU hàng tháng, StarHub nắm, đánh giá được sự phát triển từng dịch vụ, từng nhóm khách hàng và đến sự biến động tần suất sử dụng của từng khách hàng Năm 2006 StarHub đã áp dụng BMC Remedy

AR System (BMC Atrium technologies) đây là hệ thống tích hợp trong việc xử lý hiệu quả tất cả những quá trình triển khai dịch vụ từ đăng ký, sử dụng và giải quyết vấn đề phát sinh trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ BMC Remedy AR System thực hiện quản lý cho StarHub trên 4 lĩnh vực chính: Quản lý khủng hoảng - Quản

lý thay đổi - Quản lý thực hiện - Quản lý sự cố

Kiểm soát theo hành vi: Thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên chính là bộ mặt của công ty, nhất là những công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ truyền thông như StarHub Để đạt được chất lượng dịch vụ tuyệt hảo, StarHub đưa vào áp dụng công cụ trong sáng kiến chất lượng dịch vụ như việc tạo ra một hệ thống theo dõi đối với từng trường hợp khách hàng

Chính từ những bước đi chiến lược đó, StarHub đã giành được thị phần lớn ở các mảng sản phẩm đặc biệt là mảng truyền hình trả tiền Truyền hình cáp bao phủ toàn bộ thị trường, giữ thế độc quyền với doanh thu tăng từ 169 triệu SGD năm

2001 lên 376 triệu SGD năm 2011

Qua 10 năm thực thi chiến lược, StarHub đã thực sự trở thành một trong những ngôi sao dẫn đường của thị trường viễn thông Singapore với những thành công đáng khâm phục Xây dựng được thương hiệu StarHub – uy tín và vượt trội có

vị thế mạnh trên thị trường viễn thông, truyền hình giải trí Singapore và thị trường

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.1 Khái lược về truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam 2.1.1 Giới thiệu về Đài truyền hình Việt Nam

Đài truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam và là đài truyền hình phủ sóng toàn quốc duy nhất tại Việt Nam Đài được thành lập vào ngày 7 tháng 9 năm 1970 từ một Ban biên tập thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam Năm 1976, Đài tách khỏi Đài Tiếng Nói Việt Nam và chuyển trụ sở sang khu vực Giảng Võ hiện nay Đài chính thức được đặt tên là Đài Truyền Hình Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1987 và bắt đầu từ đó Đài trở thành Đài truyền hình Quốc gia

Đài Truyền hình Việt Nam là một tổ chức thuộc chính phủ hoạt động bằng ngân sách nhà nước Đài trực thuộc quản lý trực tiếp của Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình

Đài Truyền hình Việt Nam viết tắt bằng tiếng Việt là THVN; có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Vietnam Television, viết tắt là: VTV

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

Năm 1995, dịch vụ truyền hình trả tiền đầu tiên của Đài Truyền hình Việt Nam là MMDS được Đài Truyền hình Việt Nam đưa vào sử dụng gắn liền với sự ra đời của trung tâm truyền hình cáp MMDS Trung tâm truyền hình cáp MMDS ra đời đánh dấu bước đầu phát triển của hoạt động truyền hình trả tiền của Đài Truyền hinh Việt Nam, trung tâm có chức năng quản lý hệ thống truyền hình cáp MMDS, tập trung kinh doanh phục vụ các đối tượng khách hàng là cá nhân, tập thể trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 31

Tháng 12/1995, Đài Truyền hình Việt Nam hợp tác với công ty du lịch Sài Gòn, chuyển giao công ty liên doanh SCTV về trung tâm truyền hình cáp MMDS tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 12/1996, dịch vụ truyền hình MMDS được nâng cấp, số kênh phát sóng tăng từ 4 kênh lên 6 kênh với bán kính phủ sóng 40km

Ngày 25/4/1998, tất cả các kênh phát sóng qua MMDS đều được khóa mã và Trung tâm kỹ thuật truyền hình cáp MMDS bắt đầu thực hiện việc mua bản quyền hợp pháp từ các kênh truyền hình nước ngoài

Năm 1999, SCTV tăng số kênh phát sóng từ 12 kênh lên 16 kênh trong đó 13 kênh khóa mã

Ngày 14/1/2000 thành lập Hãng truyền hình cáp Việt Nam trực thuộc quản lý của Đài Truyền hình Việt Nam, hãng truyền hình cáp hoạt động kinh doanh độc lập,

có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng

Ngày 28/3/2001, Hãng truyền hình cáp Việt Nam hợp tác với công ty điện tử tin học Hải phòng, xây dựng Trung tâm truyền hình cáp Hải Phòng

Ngày 13/6/2001, Hãng truyền hình cáp Việt Nam thành lập chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 11/2001, truyền hình cáp hữu tuyến khu vực Hà Nội chính thức triển khai (chủ yếu sử dụng cáp đồng trục)

Ngày 5/6/2001, Hãng truyền hình cáp Việt Nam hợp tác với Đài phát thanh truyền hình Hải Dương xây dựng trung tâm Truyền hình cáp Hải Dương

Tháng 4/2002, công ty liên doanh SCTV được tách ra khỏi hãng truyền hình cáp để thực hiện nhiệm vụ của một công ty liên doanh và chịu trách nhiệm triển khai hệ thống truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam

Ngày 24/9/2002 Đài Truyền hình Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác với Tổng công ty điện lực Việt Nam xây dựng hệ thống cáp quang trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tại khu vực Hà Nội truyền hình cáp hữu tuyến tăng dần số kênh phát sóng,

Trang 32

Ngày 17/02/2003, Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật truyền hình cáp Việt Nam được thành lập trên cơ sở Hãng Truyền hình cáp Việt Nam, trở thành đơn vị sự nghiệp có thu với nhiệm vụ tập trung vào dịch vụ kỹ thuật, phát triển mạng cáp và thuê bao Ngày 21/11/2003, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam đổi tên Trung tâm dịch vụ kỹ thuật truyền hình cáp Việt Nam thành Trung tâm Kỹ thuật truyền hình cáp Việt Nam, ban hành chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

Ngày 17/08/2003, Trung tâm Kỹ thuật truyền hình cáp Việt Nam được chuyển giao cơ sở kỹ thuật hệ thống truy nhập có điều kiện và có thêm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ truy cập internet cùng với các dịch vụ gia tăng khác

Ngày 11/11/2003 Ban biên tập truyền hình cáp (VCTV) được Chính phủ quyết định thành lập trên cơ sở từ phòng nội dung của Truyền hình cáp Việt Nam

Hệ thống mạng cáp CATV ngày càng được mở rộng, việc sử dụng hệ thống cáp quang đã phát huy tác dụng tốt, tạo tiền đề cho việc mở rộng mối quan hệ hợp tác và triển khai hệ thống truyền hình trả tiền với quy mô lớn trên toàn quốc VCTV, trở thành thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Việt Nam

Ngày 1/11/2004, chính thức phát sóng truyền hình số vệ tinh DTH phủ sóng trên phạm vi toàn quốc đánh dấu bước đột phá và là bước ngoặt trong việc sử dụng công nghệ số tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới trong việc phân phối và cung cấp các kênh truyền hình trả tiền trong nước và nước ngoài đến mọi người dân trên toàn lãnh thổ Việt Nam thông qua truyền hình vệ tinh, khẳng định vị trí và vai trò của Đài truyền hình quốc gia trong việc phát triển truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng của Đài Truyền hình Việt Nam

Năm 2005 VCTV thành lập 4 Chi nhánh và hợp tác với 3 đơn vị khác triển khai mạng cáp CATV trên địa bàn thành phố Hà Nội

DTH tăng trưởng mạnh cả về doanh số bán thiết bị và thuê bao, thiết lập được

hệ thống phân phối trên toàn quốc

Năm 2006 VCTV tiếp tục phát triển CATV tại các tỉnh, thành phố như: Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Tây, Cẩm Phả -

Trang 33

Quảng Ninh, Thanh Hóa, Bình Thuận, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Tiền Giang, An Giang

Lần đầu tiên, VCTV bán bản quyền cho đối tác Mỹ và Canada 02 kênh VCTV2 - VCTV4

Ngày 15/09/2006, VCTV chính thức được Đài THVN giao quyền tự chủ tài chính - nhân sự, tạo điều kiện tốt nhất để VCTV phát triển

Cũng thời gian này, Đài THVN quyết định giao nhiệm vụ kinh doanh quảng cáo trên truyền hình trả tiền cho VCTV

Năm 2007 Với cơ chế quản lý và tài chính thông thoáng, quyền tự chủ cao, đây là năm bứt phá của VCTV VCTV theo đuổi các chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ và chính sách ưu đãi hợp lý nhất cho khách hàng

Ngày 06/03/2007, Info TV - kênh thông tin tài chính kinh tế - kênh truyền hình chứng khoán trực tiếp đầu tiên tại Việt Nam, do VCTV ký kết triển khai cùng đối tác Ocean Media chính thức phát sóng, đưa số kênh trên mạng cáp VCTV lên tới 45 kênh

Năm 2008 được đánh giá là năm bứt phá của VCTV và SCTV, với cơ chế quản lý và tài chính thông thoáng, quyền tự chủ cao, các chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ cả về nội dung lẫn kỹ thuật Với chính sách ưu đãi hợp lý đã mang tới cho khách hàng các chương trình truyền hình vượt trội Cũng trong năm này đón đầu sự kiện Vinasat 1, VCTV dự kiến tiếp tục đầu tư cho DTH, xúc tiến liên doanh với đối tác nước ngoài nhằm phát triển DTH cả về nội dung và kỹ thuật

Mạng CATV tiếp tục được mở rộng thêm các chi nhánh tại Hà Nội và một số tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc

VCTV không ngừng tăng kênh theo đúng lộ trình cam kết, kênh TV Shopping, Sức khỏe và cuộc sống đã phát sóng từ Quý II/2008

Năm 2009 Các kênh Astro Cảm xúc, Style TV, Real TV, Invest TV và Bóng

đá TV cũng đã lần lượt được ra mắt khán giả VCTV

Ngày 12/06/2009: Đài Truyền Hình Việt Nam (VTV) và tập đoàn Canal Plus

Trang 34

lượng cao với nhiều gói thuê bao có chi phí hợp lý Đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm của VTV là Trung tâm Kỹ thuật Truyền Hình Cáp Việt Nam (VCTV) và của Canal Plus là công ty con Canal Overseas Liên doanh sẽ triển khai hệ thống hạ tầng truyền hình số vệ tinh (DTH) đến người xem và các kênh truyền hình sẽ được cung cấp qua vệ tinh Vinasat 1

Năm 2012 ra mắt công ty TNHH MTV Truyền hình Cáp Việt Nam, thành lập hơn 100 chi nhánh, văn phòng đại diện của Truyền hình cáp Việt Nam trên toàn quốc

Năm 2013 ra mắt dịch vụ VTVPlus – dịch vụ xem truyền hình trực tuyến trên nền tang công nghệ OTT

Hợp tác với CMC telecom triển khai cung cấp dịch vụ Internet trên hạ tầng mạng truyền hình cáp trên toàn quốc Đã thử nghiệm đang xúc tiến và chính thức ra mắt dịch vụ truyền hình tương tác VTV Live – dịch vụ truyền hình với các trải nghiệm mới về tính tương tác trên đa nền tảng mạng và đa dạng thiết bị truy cập Tháng 4/2013 Truyền hình cáp Việt Nam thay đổi thương hiệu từ VCTV sang VTVcab và đổi tên chính thức thành Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam các công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đang triển khai nhiều phương thức truyền dẫn cơ bản cho hoạt động truyền hình trả tiền gồm: truyền hình cáp, truyền hình mặt đất kỹ thuật số, truyền hình DTH và truyền hình di động Đã có 47 đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp

Nếu như vào tháng 9/2003, lượng thuê bao của hệ thống truyền hình trả tiền mới chỉ đạt con số khoảng 80 ngàn thuê bao tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện tại số thuê bao đã tăng gần 40 lần, đạt khoảng 3 triệu thuê bao Với dân số hơn 86 triệu người và khoảng 26 triệu hộ gia đình thì con số này còn rất nhỏ bé, thị trường truyền hình trả tiền của Việt Nam hứa hẹn còn rất nhiều hấp dẫn

Ớ các nước phát triển thì số lượng thuê bao truyền hình trả tiền chiếm khoảng 60% tổng số hộ gia đình, ở một nước Châu Phi thì tỷ lệ này cũng khoảng 20%-30%

Trang 35

50%-hoạt động truyền hình trả tiền trở thành một trong những ngành kinh doanh có tốc

độ phát triển nhanh Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tốc độ phát triển thuê bao nhanh, số lượng thuê bao truyền hình cáp lớn nhất cả nước với 1,5 triệu thuê bao, sau đó tới Hà Nội gần 1 triệu thuê bao, Đà Nẵng gần 80 ngàn thuê bao và Hải Phòng khoảng 70 ngàn thuê bao

Bên cạnh đó, một loại hình dịch vụ công nghệ mới đó là dịch vụ truyền hình giao thức Internet trên mạng viễn thông hiện đang có 4 đơn vị được cấp phép thử nghiệm là VNPT, Viettel, VTC và FPT Có thể nói, song song với hệ thống truyền hình quảng bá, các hệ thống dịch vụ truyền hình trả tiền đã góp phần quan trọng tạo nên những kênh thông tin đa dạng và phong phú Với việc đa dạng hoá nội dung thông tin theo từng kênh chuyên biệt, truyền hình trả tiền đang là phương tiện thông tin giải trí hữu hiệu phục vụ cho nhiều lớp đối tượng khán giả khác nhau Việc phát triển hệ thống truyền hình trả tiền trong những năm qua đã tạo động lực cho việc nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, kể cả các chương trình quảng bá, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong việc sản xuất nội dung chương trình giữa các đài phát thanh, truyền hình với nhau…

Hình 2.1: Thị phần các công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam

Trang 36

Tuy nhiên thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam còn có rất nhiều những bất cập, hiện nay tại bất kỳ điểm nào của Việt Nam người dân cũng có thể sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền (hoặc bằng công nghệ truyền dẫn cáp, DTH hay truyền hình kỹ thuật số, truyền hình vệ tinh), nhưng hệ thống truyền hình trả tiền đặc biệt

là dịch vụ truyền hình cáp chủ yếu mới tập trung phục vụ tại khác khu vực thành phố, thị xã, thị trấn đông dân cư, diện phủ sóng tại vùng nông thôn rất thấp và không có ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa với lý do cơ bản là mật độ dân cư thưa, thu nhập người dân thấp không đủ để chi phí cho loại hình dịch vụ này

Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ phát thanh, truyền hình, dịch vụ truyền hình trả tiền đang trở thành một ngành kỹ thuật - dịch vụ gắn kết với hạ tầng kỹ thuật và

xu thế hội tụ truyền hình, viễn thông trên một hạ tầng kỹ thuật thống nhất Thế nhưng các quy định của pháp luật về báo chí hiện nay đã tỏ ra bất cập trong việc điều chỉnh hoạt động thiết lập hạ tầng cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình, nhất là các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng dịch

vụ Chính sách quản lý về hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật chưa đồng bộ với chính sách quản lý về nội dung thông tin Hạn chế nữa đó là vấn đề năng lực kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ Hiện có rất ít đơn vị hoạt động truyền hình trả tiền đặc biệt là truyền hình cáp có đủ năng lực cả về nhân sự, tài chính, công nghệ, kỹ thuật Công nghệ truyền hình cáp được sử dụng là công nghệ analog với ưu thế giá thành

rẻ, vận hành đơn giản tuy nhiên chất lượng còn hạn chế, loại hình dịch vụ cũng còn nghèo nàn bởi không tích hợp được các dịch vụ giá trị gia tăng khác trên cùng hệ thống như truyền hình theo yêu cầu, thoại…Chất lượng tín hiệu của truyền hình số mặt đất vẫn chưa thực sự ổn định, đặc biệt là ở các thành phố lớn có mật độ xây dựng dày đặc Thêm vào đó, giá thành thiết bị khoảng 1,5 triệu đến 3 triệu đồng còn cao so với mặt bằng thu nhập chung của người dân Ngoài ra, sự buông lỏng trách nhiệm kiểm soát nội dung thông tin của các đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp cũng là một hạn chế lớn Đa số các đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp vẫn không xác định được vai trò quyết định của mình trong việc quản lý nội dung chương trình truyền hình cáp Việc biên tập các chương trình truyền hình

Trang 37

nước ngoài phát trên hệ thống truyền hình trả tiền gần như đang bị bỏ ngỏ Trừ một

số đài Truyền hình lớn như Đài truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình Thành phố

Hồ Chí Minh và Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, VTC có tổ chức biên tập, nhiều đài địa phương khác không thực hiện việc biên tập chương trình theo quy định, thậm chí có đơn vị còn “khoán trắng” cho đối tác liên kết Một số bất cập khác cũng cần sớm khắc phục như sự phân tán và bất cập về năng lực biên tập các chương trình nước ngoài; việc cấp phép lắp đặt thiết bị thu tín hiệu chương trình truyền hình trực tiếp từ vệ tinh cho người dân không còn phù hợp, rồi chính sách cấp phép truyền hình trả tiền theo địa bàn hành chính tỉnh, thành phố đến nay cũng

đã bộc lộ hạn chế; thiếu chính sách thúc đẩy phát triển truyền hình trả tiền theo hướng thị trường…

2.2 Thực trạng chiến lƣợc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

2.2.1 Quan điểm chiến lƣợc phát triển

Phát triển truyền hình trả tiền hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu, lợi ích của nhân dân; phát triển đi đôi với việc quản lý tốt để bảo đảm Đài Truyền hình Việt Nam là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, góp phần bảo đảm an ninh chính trị quốc gia trong mọi tình huống

Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới, bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế

Sử dụng các phương thức, công nghệ truyền dẫn phát sóng phù hợp, hỗ trợ cho nhau, đồng thời quan tâm thích đáng đến phương tiện thu xem đơn giản nhất của người dân đã có sẵn, đặc biệt là các hộ dân tại các vùng sâu, vùng xa

Phát triển sự nghiệp truyền hình trên cơ sở gắn kết các yếu tố nội dung, kỹ thuật, kinh tế; từng bước đổi mới kỹ thuật và công nghệ truyền hình theo hướng hội

tụ các công nghệ, ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo Đài

Trang 38

Tăng cường xã hội hóa việc sản xuất các chương trình truyền hình, phim truyền hình theo đúng định hướng của Đảng và các quy định của Nhà nước; đẩy mạnh phát triển kênh truyền hình quảng bá song song với phát triển nhanh chóng các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền

Phát triển đồng bộ cả 3 khâu: sản xuất chương trình; truyền dẫn và phát sóng; phương tiện thu xem truyền hình [4]

2.2.2 Mục tiêu chiến lƣợc phát triển

Truyền hình là một lĩnh vực truyền thông luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Tại các Đại hội Đảng, quan niệm của Nhà nước là luôn xem truyền hình là cầu nối giữa trong nước và quốc tế, giữa Chính phủ và nhân dân, giữa nhà sản xuất

và người tiêu dùng, giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp Vì vậy phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong công đoạn sản xuất chương trình; xây dựng dây chuyền sản xuất phù hợp với số lượng kênh; đồng bộ về thiết bị công nghệ; thực hiện số hoá hệ thống tự liệu truyền hình Việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, xây dựng các chương trình hiện đại, thiết thực với một bộ máy làm việc linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng như cầu của khán giả và nhu cầu phát triển của xã hội đang luôn là mục tiêu mà Đài Truyền hình Việt Nam hướng tới

* Mục tiêu tổng quát của chiến lược

Xây dựng dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam thành một trong những dịch vụ có nguồn thu lớn nhất của Đài, làm tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân; làm tốt chức năng giáo dục, nâng cao dân trí, giải trí, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; tăng cường thông tin đối ngoại, đảm bảo hội nhập thông tin trong khu vực và quốc tế, đồng thời đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu tuyên truyền, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, chống chế độ của các thế lực thù địch và phản động, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 39

Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình, chú trọng các chương trình dạy học, phổ biến kiến thức, thông tin đối ngoại, tăng cường chất lượng phủ sóng, đặc biệt chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng lõm; khẩn trương hoàn thiện hệ thống cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền tại các địa phương

Xây dựng và hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, chất lượng ngành truyền hình, bảo đảm phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế để áp dụng thống nhất trong toàn quốc

Chăm lo xây dựng, đào tạo đội ngũ làm truyền hình có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và trình độ chuyên môn cao; phát huy hiệu quả cơ chế

tự chủ tài chính để phát triển sự nghiệp truyền hình và không ngừng cải thiện đời sống của cán bộ, viên chức Đài Truyền hình Việt Nam

* Mục tiêu cụ thể của chiến lược

Hoàn thiện, tăng thêm các kênh truyền hình, nâng cao chất lượng nội dung chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, nâng cao dân trí, giải trí và mục tiêu giáo dục cộng đồng của mọi người dân, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; tăng cường chương trình cho người Việt Nam ở nước ngoài và thông tin đối ngoại; đảm bảo thông tin quốc tế nhanh nhạy, chính xác và hấp dẫn

Đến năm 2020, Đài Truyền hình Việt Nam tự sản xuất 90% tổng thời lượng chương trình phát sóng của truyền hình trả tiền Đảm bảo duy trì tối thiểu 60 kênh analog, về kênh truyền hình tiêu chuẩn HD thì có 30 kênh vào năm 2015 và tăng lên

45 kênh vào năm 2020

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong công đoạn sản xuất chương trình; xây dựng dây chuyền sản xuất phù hợp với số lượng kênh, đồng bộ về công nghệ thiết bị; thực hiện số hoá hệ thống lưu trữ tư liệu truyền hình

Tăng cường hợp tác sản xuất, trao đổi chương trình truyền hình với các đài truyền hình nước ngoài, các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức khác trong xã hội Tăng cường khả năng trao đổi thông tin, mua bản quyền và nâng cao chất

Trang 40

thuyết minh, phụ đề tiếng Việt); hợp tác với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước

để sản xuất, trao đổi, khai thác chương trình và cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cho các hộ dân có nhu cầu xem truyền hình ở mức cao hơn mức cần quảng bá Đến năm 2020 hoàn thành việc đầu tư, xây dựng Trung tâm sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam với dây truyền công nghệ hiện đại, tiên tiến, đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng phát sóng trên các kênh

Kết hợp nhiều phương thức truyền dẫn, phát sóng (vệ tinh, mặt đất, cáp) và tận dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật viễn thông đã có của các ngành, đơn vị có liên quan để nâng cao chất lượng và mở rộng diện phủ sóng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng trong xã hội; mở rộng hệ thống phát sóng đối ngoại trực tiếp qua vệ tinh, cáp; tăng cường thời lượng, chất lượng truyền dẫn phát sóng kênh đối ngoại trên mạng Internet, báo điện tử

Tiếp tục thực hiện quy hoạch truyền dẫn, phát sóng truyền hình đã được phê duyệt, có điều chỉnh bổ sung phù hợp với thực tế; tăng cường hệ thống truyền dẫn, phát sóng tương ứng với số kênh truyền hình, đáp ứng yêu cầu truyền dẫn, trao đổi chương trình truyền hình

Phát triển phát sóng truyền hình số mặt đất theo một lộ trình hợp lý, phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước

Truyền dẫn, phát sóng các kênh truyền hình trả tiền qua vệ tinh trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phát triển dịch vụ Internet và các dịch vụ gia tăng khác trên hệ thống hạ tầng kỹ thuật truyền hình Phấn đấu đến năm 2020 phủ sóng 100% dân số

cả nước, tín hiệu phát sóng ổn định chất lượng cả ngày và đêm đến từng xã, từng huyện trên cả nước

Đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn lành nghề, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, có năng lực trí tuệ và khả năng tổ chức thực hiện, từng bước đáp ứng yêu cầu của truyền hình hiện đại

Tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về công nghệ, kỹ thuật của Đài Truyền hình Việt Nam và giải quyết những vấn đề chung của hệ thống truyền hình

cả nước, trong đó chú ý các vấn đề sau đây: nâng cao chất lượng nội dung chương

Ngày đăng: 14/04/2015, 15:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Bưu chính Viễn thông (2007), Định hướng chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Bộ Bưu chính Viễn thông
Năm: 2007
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2011), Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2011
3. Chính phủ (2005), Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
4. Chính phủ (2005), Quyết định số 767/2005/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 767/2005/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
5. Chính phủ (2008), Nghị định số 18/2008/NĐ – CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 18/2008/NĐ – CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
6. Chính phủ (2010), Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình tương tự mặt đất đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình tương tự mặt đất đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
7. Chính phủ (2011), Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
8. Đài Truyền hình Việt Nam (2010), Dự thảo chiến lược phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2010
9. Đài Truyền hình Việt Nam (2011), Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011, 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011, 2012
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2011
10. Lưu Hoàng Vân (2011), Truyền hình trả tiền phải nâng cao chất lượng dịch vụ, E-info, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình trả tiền phải nâng cao chất lượng dịch vụ
Tác giả: Lưu Hoàng Vân
Năm: 2011
11. Nguyễn Quang Thái (2009), Báo cáo chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2030
Tác giả: Nguyễn Quang Thái
Năm: 2009
12. Trần Thanh Hải (2013), Bài học kinh nghiệm từ doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Singapore – Starhub, Vinaphone.com.vn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học kinh nghiệm từ doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Singapore – Starhub
Tác giả: Trần Thanh Hải
Năm: 2013
13. Vân Oanh (2010), Hướng đi của truyền hình trả tiền, Thời báo Kinh tế Sài gòn, Thành phố Hồ Chí MinhTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đi của truyền hình trả tiền
Tác giả: Vân Oanh
Năm: 2010
14. Fanbin Zeng & Wu Heng (2013), “Development of Pay Television Channels in China” Asian Culture and History; Vol 5, No.1, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of Pay Television Channels in China”
Tác giả: Fanbin Zeng & Wu Heng
Năm: 2013
15. Jack J, Philips (2003), Return on Investment in Training and Performance Improvement Program, Bristish Library Cataloguing-in-Publication Data, United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Return on Investment in Training and Performance Improvement Program
Tác giả: Jack J, Philips
Năm: 2003
16. J.David Hunger $ Thomas L.Wheelen (2013), Essentials of Strategic Management, Pearson Education,Limited Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essentials of Strategic Managemen
Tác giả: J.David Hunger $ Thomas L.Wheelen
Năm: 2013
17. Robert W, Bradford and J. Peter Duncan with Brian Tarcy (2000), Simplified Strategic Planning: A No-Nonsense Guide for Busy People Who Want Results Fast, Chandler House Press, United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simplified Strategic Planning: A No-Nonsense Guide for Busy People Who Want Results Fast
Tác giả: Robert W, Bradford and J. Peter Duncan with Brian Tarcy
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trả tiền  7 - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Hình tr ả tiền 7 (Trang 3)
Hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020  42 - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Hình tr ả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020 42 (Trang 4)
Hình 2.1: Thị phần các công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Hình 2.1 Thị phần các công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam (Trang 35)
Hình trả  tiền cũng  tăng lên đáng  kể, chỉ  đứng sau nguồn thu quảng  cáo  đóng góp  quan trọng vào nguồn thu hàng năm của Đài - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Hình tr ả tiền cũng tăng lên đáng kể, chỉ đứng sau nguồn thu quảng cáo đóng góp quan trọng vào nguồn thu hàng năm của Đài (Trang 56)
Bảng 2.2. Bảng so sánh doanh thu quảng cáo, doanh thu tài trợ và doanh thu dịch - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Bảng 2.2. Bảng so sánh doanh thu quảng cáo, doanh thu tài trợ và doanh thu dịch (Trang 62)
Hình 2.2. So sánh doanh thu QC và doanh thu truyền hình trả tiền - Chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của đài truyền hình việt nam đến năm 2020
Hình 2.2. So sánh doanh thu QC và doanh thu truyền hình trả tiền (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w