Dù xoay xở thế nào thì cũng chỉ quẩn quanh những đề văn về tìm hiểu các tác phẩm văn chương, mở rộng ra một chút là các đề bài về nghị luận xã hội.. Bằng sự đầu tư có hiệu quả của giáo v
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HOÁ 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
RA ĐỀ BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VÀ GỢI Ý ĐÁP ÁN
THEO HƯỚNG MỞ.
Người thực hiện: Lê Xuân Toàn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị cômg tác: Trường THPT Hoằng Hoá 4
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC:
Trang
A Đặt vấn đề: ……… 3
B Giải quyết vấn đề ……… 5
I Cơ sở lý luận ……….5
II Thực trạng vấn đề………6
III Các biện pháp tổ chức thực hiện ……… 7
IV Kiểm Nghiệm ……….15
C Kết luận và đề xuất……….16
I Kết luận……….16
II Đề xuất……….17
Tài liệu tham khảo ……… 18
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Ra đề bài và làm bài là một trong những khâu quan trọng của nhà trường phổ thông Ra đề bài làm văn thế nào cho hay, là cả một sự trăn trở của những nhà giáo tâm huyết với nghề dạy học Thời gian qua, những đề văn quen thuộc đã trở nên nhàm chán đơn điệu với các em học sinh Dù xoay xở thế nào thì cũng chỉ quẩn quanh những đề văn về tìm hiểu các tác phẩm văn chương, mở rộng ra một chút là các đề bài về nghị luận xã hội Sự thiếu đổi thay và có phần máy móc này đã làm cho những đề bài làm văn trở nên xơ cứng mang tính chất công vụ, thầy và trò rất lúng túng trong việc ra đề bài và làm bài Ba năm nay, từ năm học 2010 – 2011, Bộ giáo dục và Đào tạo khởi xướng phong trào ra đề bài văn và làm bài dạng mở nhằm khuyến khích các thầy cô giáo và các em học sinh bậc học THPT và THCS đổi mới trong việc dạy và học Đây là một chủ trương đúng đắn kịp thời và chiến lược giúp cho thầy cô giáo đổi mới phương pháp dạy học từ khâu ra đề Đề bài văn
mở rất mới mang tính sáng tạo và tạo nhiều hứng thú cho thầy và trò trong học tập môn ngữ văn Khi ra đề bài này giáo viên phải tư duy chiều sâu giàu liên tưởng tưởng tượng để có một sản phẩm hay tạo kích thích cho học sinh làm bài Bằng sự đầu tư có hiệu quả của giáo viên, đề bài văn mở rất đa dạng phong phú xoay quanh hai lĩnh vực: đề bài nghị luận tác phẩm văn chương, đề bài về nghị luận xã hội Nội dung như vậy nhưng cách thức ra đề thì rất đa dạng theo hướng mở Ví dụ: một đề
mở về nghị luận xã hội: “ Một ngày đáng nhớ của bạn”; một đề nghị luận văn chương: “Nghệ thuật miêu tả tương phản trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ”.
Ở kiểu đề bài văn mở, học sinh qua những trải nghiệm của chính bản thân về tri thức văn chương và tri thức xã hội trình bày những hiểu biết , ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội và văn chương từ đó rút ra các bài học nhận thức và hành động cho bản thân Để làm tốt kiểu đề bài này, học sinh không chỉ vận dụng tốt những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận như giải thích,
Trang 4chứng minh, phân tích bình luận, so sánh, bác bỏ… mà còn phải trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội Làm bài văn đề mở, vừa giàu lí lẽ vừa nắm vững kiến thức thực tế Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng bỏ qua cá bước đi khác của quá trình lập luận
Cái khó của dạng đề mở là không có định hướng cụ thể mà học sinh phải suy luận
ra lời giải để nghị luận cho đúng hướng Nắm vững kiến thức, cần phải ngẫm nghĩ cẩn trọng định hướng đúng để viết bài theo quỹ đạo Là bài viết sáng tạo bay bổng nhưng quá trình nghị luận học sinh không được đi quá xa hoặc thoát ly định hướng Giáo viên và học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bàn luận rút ra bài học cho bản thân Thực tế cho thấy, một số học sinh chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai vốn được coi là phần quan trọng của bài văn nghị luận
Các kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi tuyển đại học, cao đẳng những năm gần đây, giáo viên và học sinh cần chú ý cách làm bài đối với dạng đề tổng hợp về các giá trị văn chương, về tư tưởng đạo lý có tính chất mở thường trái ngược nhau, chẳng hạn: nghệ thuật đối lập tương phản trong một tác phẩm văn chương, hoặc quyền lợi và nghĩa vụ, danh và thực, cho và nhận, trung thực và giả dối…Với dạng
đề này, giáo viên cần rèn luyện kỹ năng tổng hợp, xâu chuỗi đánh giá vấn đề
Một vấn đề nữa cần thấy rằng: trình độ về tri thức của học sinh ngày càng nâng cao nhất là tri thức xã hội qua đài ,báo, mạng và các nguồn thông tin khác, các em nắm bắt các vấn đề xã hội nhạy bén hơn Tuy nhiên, các vấn đề về xã hội nhân văn cũng rất phức tạp nên giáo viên trong quá trình dạy, ra đề và trả bài kiểm tra cần định hướng thanh lọc những kiến thức có ý nghĩa tích cực đối với xã hội còn những vấn
đề tiêu cực phản nhân văn cần loại trừ
Việc ra đề bài văn mở, giáo viên cần chú ý những điểm “nóng”, những thông tin thời sự xã hội cập nhật mà mọi người đang quan tâm, những tình huống có vấn đề trong tác phẩm Khi tham gia làm những đề bài này tạo hứng thú cho học sinh học sinh sẽ tập trung tư duy, bày tỏ chia sẻ và bàn luận một cách sôi nổi dân chủ Làm
Trang 5đề văn mở có tác dụng thực sự giúp các em có bản lĩnh tự tin hơn trong cuộc sống.
Có khả năng sáng tạo bày tỏ những chứng kiến của mình, những vấn đề mà mình hằng quan tâm Điều quan trọng là quá trình làm bài sẽ bồi dưỡng được kỹ năng sống và rèn luyện phẩm chất đạo đức cho học sinh
Đứng trước những tầng kiến thức rộng lớn về xã hội và văn chương, bởi vậy, yêu cầu học sinh phải luôn nỗ lực học tập, nắm bắt cuộc sống thì mới giải quyết được các vấn đề một cách thấu đáo và thuyết phục
Trong bài làm, học sinh phải biết trình bày vốn hiểu biết đó một cách khoa học, lập luận chặt chẽ đúng đắn, lý lẽ sắc sảo hợp tình hợp lý, lời văn trau chuốt co dãn hài hoà, dẫn chứng đưa ra vừa tiêu biểu vừa thuyết phục cao
Xuất phát từ những mục đích trên, là một giáo viên đứng lớp thời gian đã trên 20 năm, qua những kinh nghiệm đúc rút từ thực tế giảng dạy, những trải nghiệm từ cuộc sống, qua quá trình nỗ lực tự học tự nghiên cứu của bản thân, sự học tập từ đồng nghiệp, tôi mạnh dạn viết về đề tài: “ Ra đề, xây dựng đáp án và viết văn theo hướng mở” cho học sinh bậc học THPT
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận của đề tài:
- Theo Tiến sĩ Chu Văn Sơn ( Bộ giáo dục và đào tạo): “Mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ khép kín giữa người phát tín hiệu và người nhận tín hiệu, hay ta còn gọi giữa cho và nhận Đối tượng học sinh tiếp nhận vấn đề theo hướng tích cực thì sẽ khơi gợi được hứng thú sáng tạo, ngược lại theo thướng tiêu cực thì sẽ làm thui chột mọi mầm mống sáng tạo linh hoạt Người truyền đạt và định hướng kiến thức, tức là người thầy luôn ý thức cụ thể và chính xác vấn đề mà bản thân mình cung cấp cho người tiếp nhận, tức là học sinh Đồng thời, người tiếp nhận phải luôn phát huy tính năng động sáng tạo của bản thân mình để lĩnh hội tri thức”
- Ra đề bài theo hướng mở tạo tiền đề cho một hệ thống tư duy, suy luận trên cơ sở tính năng đồng sáng tạo của thầy và trò Bám vững chắc vào văn bản văn chương
Trang 6và các vấn đề về xã hội để tạo ra các tiền đề tri thức cho bản thân Nắm vững kỹ năng làm bài, huy động hợp lý kiến thức, bài viết hấp dẫn lôi cuốn, đồng thời phải
tự giới hạn được vùng kiến thức, xác định được luận điểm, luận cứ của vấn đề nghị luận Đề bài không gợi ý hoặc cho sẵn luận điểm, luận cứ nên xác định được luận điểm, luận cứ là thành công bước đầu cho việc lập luận Sau đó, tập trung xây dựng luận điểm, luận cứ khoa học và diễn đạt tốt, chắc chắn bài nghị luận sẽ đạt kết quả cao
II.Thực trạng của vấn đề:
Qua thực tế giảng dạy hai lớp 11C1 và 12B2 và trao đổi chuyên môn, dự giờ trong
tổ về việc ra đề, xây dựng đáp án và làm bài văn của học sinh, tôi rút ra được những vấn đề sau:
- Tôi tham gia dự giờ hai giáo viên đều đạt chuẩn trở lên (một thạc sĩ và một cử nhân) Giáo án của giáo viên soạn chi tiết, khoa học có tiếp cận sự đổi mới Học sinh nhìn chung chăm ngoan, ý thức học tập tốt
- Nhìn chung, các vấn đề về xã hội và văn chương rất phong phú nhưng để có những dạng đề hay khơi gợi sự hứng thú cho học sinh thì còn nhiều hạn chế Điều
dể nhìn thấy nhất là đề bài và đáp án còn chung chung, đơn điệu, mang tính công
vụ hình thức, đầu tư chưa cao Từ đó dẫn đến thực trạng là việc cho điểm còn rộng
dể dãi, điểm trung bình chiếm trên 90%, điểm khá giỏi ít và điểm yếu kém lại càng hạn chế hơn, chưa đánh giá chính xác phân loại được học sinh Bài viết của học sinh thường rơi vào tình trạng khô khan, viết các ý chung chung, diễn đạt rời rạc, lủng củng, lộn xộn Người chấm thường gặp các bài na ná như nhau, nhàm chán thiếu sáng tạo một phần nữa là do vốn kiến thức của một bộ phận học sinh còn nghèo nàn nên trình bày cách hiểu sáo mòn công thức thậm chí là sai lệch một cách tai hại Số học sinh này kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn hệ thống lộn xộn, bố cục không rõ ràng Giáo viên còn lúng túng trong việc ra đề vì thiếu một “cơ chế mở”
Trang 7trong khi yêu cầu của ngành học và người học ngày càng cao và yêu cầu đổi mới Điều đó lý giải vì sao mà học sinh nhiều em không thích học môn văn học
Đây là kết quả theo dõi học tập của học sinh hai lớp 11C1 và 12B2 trường THPT Hoằng Hoá 4 năm học 2012 – 2013:
- Mức độ hứng thú làm bài: + 20hs/100hs = 20% hứng thú làm bài
+ 40hs/100hs = 40& làm bài ở mức độ trung bình
+ 20hs/100hs = 20% làm bài ở mức độ cầm chừng
+ 20hs/100hs = 20% không biết cách làm bài chán nản
- Mức độ kiến thức: + 15hs/100 hs hiểu biết cao
+ 40hs/100hs = 40% hs hiểu biết ở mức độ trung bình
+ 45hs/100hs = 45% hs hiểu biết ở mức yếu
- Mức độ diễn đạt: + 20hs/100 = 20% hs khá giỏi
+ 50hs/100hs = 50% hs đạt trung bình + 30hs/100hs = 30% hs yếu kém
Kết quả còn hạn chế trên là do giáo viên chưa quyết liệt trong việc phát huy tính tích cực chủ động trong học sinh, yêu cầu các em tự giác học tập nắm vững kiến thức và kỹ năng làm bài Mặt khác, do chưa tập trung tư duy để có những đề, xây dựng đáp án và viết văn theo hướng
III Các biện pháp tổ chức thực hiện:
Ra đề, xây dựng đáp án và viết văn theo hướng mở đòi hỏi giáo viên vừa có kiến thức sâu rộng vừa có kinh nghiệm ra đề hay có ý nghĩa xã hội và nhân văn, khơi gợi sự hứng thú cho học sinh, tránh khô cứng giáo điều Xây dựng đáp án chi thiết, khoa học có hướng mở để phát huy tính tích cực và sáng tạo cho học sinh và còn để phân loại học sinh Làm được điều này rất cần sự tâm huyết yêu nghề của giáo viên, luôn đào sâu nguồn tri thức để có những đề hay cho học sinh
Sau đây là một số đề bài, đáp án theo hướng mở
1 Đề bài số một: Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn tuân và Thạch
Lam trong “ Chữ người tử tù” và “Hai đứa trẻ”.
Trang 8- Gợi ý đáp án làm bài: 1 Đặc điểm của sáng tác lãng mạn và yêu cầu sử dụng nghệ thuật miêu tả tương phản
a Đặc điểm của sáng tác lãng mạn: - Biểu hiện cái nhìn chủ quan của nhà văn trước cuộc đời, hình tượng nhân vật ít nhiều mang phảng phất bóng dáng cái tôi của tác giả hướng tới khám phá và thể hiện những gì độc đáo khác thường kỳ lạ
b Yêu cầu sử dụng nghệ thuật miêu tả tương phản: - Hiệu quả của miêu tả tương phản: làm nổi bật đặc điểm của từng đối tượng, gây ấn tượng mạnh mẽ, phù hợp với yêu cầu của sáng tác lãng mạn
2 Phân tích nghệ thuật miêu tả tương phản trong hai tác phẩm:
Điểm chung: a Đều phát hiện sự đối lập giữa tính cách và hoàn cảnh:
- “Chữ người tử tù”: + Hoàn cảnh: Môi trường tù ngục đen tối xấu xa, cảnh ngộ
éo le với những áp lực nặng nề phải đối mặt dể khiến con người tha hoá
+ Tính cách: có nhân cách, thiên lương trong sạch, khác biệt với thế giới đen tối, tội lỗi Có dũng khí: ở huấn Cáo là dũng khí của bậc anh hùng, ở quản Ngục là dũng khí của bậc hiền nhân Chính nhân cách lương tâm và dũng khí giúp họ chiến thắng hoàn cảnh
Từ cách miêu tả có thể thấy Nguyễn Tuân luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ (phong cách)
- “Hai đứa trẻ”: + Hoàn cảnh: nghèo khó, tù túng, đơn điệu, buồn tẻ - một kiểu
hoàn cảnh có thể tạo ra sự chết mòn về tinh thần
+ Tính cách: sự hồn nhiên ngây thơ trong cách nhìn và rung động; sống với một tấm lòng nhân hậu và thế giới tâm hồn trong sáng, phong phú
Từ cách miêu tả, có thể thấy tấm lòng yêu thương, cái nhìn trìu mến mà nhà văn đàn cho những tâm hồn thơ trẻ
b Đều miêu tả sự đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà cả ánh sáng và bóng tối đều hiện diện với nghĩa thực và nghĩa tinh thần:
- “Chữ người tử tù”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của đêm khuya, của buồng
giam tử tù- nơi ánh sáng không thể lọt qua được; theo nghĩa tinh thần lại chính là
Trang 9cảnh ngộ éo le mà con người phải đối mặt ( Huấn Cao - án tử tù, quản ngục – môi trường sống không phù hợp với tính cách con người ông) Là biểu tượng cho cái xấu xa
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là bó đuốc tẩm dầu khói toả như đám cháy nhà - thứ ánh sáng khá mờ nhạt; theo nghĩa tinh thần là ánh sáng toả ra từ cái đẹp của nghệ thuật ( chữ Huấn Cao) và tư thế tâm hồn con người Chính thứ ánh sáng này soi sáng con đườngđể những kẻ tri âm đến với nhau Đó là sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu xa
- “Hai đứa trẻ”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của phố huyện trong thời khắc
chiều muộn và đêm khuya; theo nghĩa tinh thần là nỗi buồn đang lan toả, thấm thía
và trĩu nặng dần trong tâm hồn nhân vật
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là của thiên nhiên ( ráng chiều, vì sao, đom đóm) và cuộc sống con người ( các loại đèn, bếp lửa); theo nghĩa tinh thần là hồi quang ký ứcvề một thiên đường đã mất và nìêm hy vọng dù le lói, mong manh Đó là sự đối lập tương phản giữa cuộc đời thường nhật và khát vọng trong tâm hồn con người Điểm riêng: cách xử lý mối quan hệ cụ thể của tương quan ánh sáng- bóng tối, tính cách- hoàn cảnh
1 Ánh sáng và bóng tối: - “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của ánh sáng
và bóng tối, của cái đẹp và cái xấu xa
- “Hai đứa trẻ”: ở cảnh thực ánh sáng có nguy cơ bị bóng tối nuốt chửng, đè bẹp để rồi thay thế hoàn toàn Ở đời sống tinh thần, ánh hồi quang ký ức có rực rỡ nhưng cũng nhanh chóng vụt tắt, hy vọng có tồn tại song rất mong manh
2 Tính cách và hoàn cảnh: - “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của tính cách với hoàn cảnh
+ Quản ngục dù sống trong hoàn cảnh đen tối vẫn giữ niềm đam mê cái đẹp và một thiên lương trong sáng + Huấn Cao dù phải đối diện với án tử hình, với cả một hệ thống những hiện thân của thế lực đen tối vẫn hiên ngang bất khuất, vẫn bộc lộ tài năng và tấm lòng đáng quý
Trang 10- “Hai đứa trẻ: hoàn cảnh có sự tác động ở mức độ nhất định.
+ Cuộc sống nghèo khó, buồn tẻ và không khí buồn lặng của cảnh ngày tàn, chợ tàn thấm vào tâm hồn Liên nỗi buồn man mác
+ Những khó khăn cuộc sống khiến Liên “già trước tuổi”- đảm đang tần tảo khi vẫn còn ở tuổi trẻ con
3 Kết luận: - Cả hai tác phẩm đều mang màu sắc lãng mạn, thể hiện cái nhìn và những ấn tượng riêng - chủ quan của nhà văn về cuộc sống và con người
- Xét về mức độ và những biểu hiện cụ thể, có thể thấy, Chữ người tử tù là mẫu mực của kiểu sáng tác lãng mạn còn Hai đứa trẻ dường như đi chênh vênh trên ranh giới giữa hiện thực và lãng mạn nên tuy có gieo vào lòng người đọc những cảm xúc bâng khuâng, những tình cảm man mác và trí tưởng tượng bay bổng, song đồng thời nó cũng đem đến những cảm nhận thấm thía về đời sống hiện thực của con người
2 Đề bài số hai: “Nhà bác học qua sông”:
Một hôm, có một nhà bác học ngồi trên một con thuyềnqua sông Ngồi không, cảm thấy buồn chán, nhà bác học bèn nói chuyên với người chèo thuyền Ônmg ta ngẩng cao đầu, kiêu ngạo hỏi:
- Anh có nghiên cứu triết học không? Đó là thứ học vấn cần thiết nhất trên thế giới đấy! Im lặng hồi lâu, người chèo thuyền trả lời một cách ngượng ngập: - Tôi suốt ngày chỉ biết chèo thuyền, không có thời gian nghiên cứu triết học – Như vậy là anh đã lãng phí mất một nửa cuộc đời rồi- nhà bác học nói Nói xong, ông ta quay mặt ra ngoài, ngắm nhìn sông nước, không nói chuyện với người chèo thuyền nữa Nào ngờ, một lúc sau, trời nổi giông bão, con thuyền đã xa bờ, chao đảo trong sóng gió, lúc nào cũng như sắp bị chìm
Bỗng nhiên, một cơn gió lớn thổi đến, con thuyền nhỏ bị lật, cả nhà bác học và người chèo thuyền đều bị rơi xuống nước
- Ông có biết bơi không? người chèo đò hét lớn, hỏi nhà bác học