1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc

91 976 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa Dạng Hoá Các Hình Thức Tài Trợ Xuất Nhập Khẩu Tại Sở Giao Dịch Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
Tác giả Đinh Thanh Xuân
Trường học Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 491 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới Xu hướngnày vừa thúc đẩy hợp tác phát triển, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tăng tính phụthuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, không mộtquốc gia nào trên thế giới có thể thiếu các hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế

Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ hội nghịTrung ương VI, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới, mở cửanền kinh tế Bởi vậy trong suốt thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong những năm gầnđây, hoạt động ngoại thương luôn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộngtiêu thụ sản phẩm trong nước, thu ngoại tệ về cho đất nước, tạo điều kiện choviệc NK những mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu đổi mới công nghệ, trangthiết bị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đấtnước ta hiện nay là phải mở rộng kinh tế đối ngoại hướng về XNK Tuy nhiên,thị trường quốc tế ngày càng mở rộng thì khó khăn, thách thức đối với các doanhnghiệp XNK của Việt Nam cũng ngày càng lớn Sự thiếu hụt về vốn, sự hạn chế

về trình độ và kinh nghiệm kinh doanh trong thương mại quốc tế chính là nhữngkhó khăn lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường toàncầu hoá Bên cạnh đó, để đảm bảo lợi ích của mình, thông thường mỗi bên thamgia vào quan hệ thương mại quốc tế đều yêu cầu đối tác của mình cung cấp sựđảm bảo chắc chắn việc thực hiện hợp đồng hoặc khả năng thanh toán… bởi một

tổ chức có uy tín Vì những lý do đó, các doanh nghiệp Việt Nam khi tham giavào hoạt động thương mại quốc tế cần có sự hỗ trợ về tài chính cũng như uy tínthông qua các hình thức tài trợ XNK

Trang 2

Thực tế cho thấy, các NHTM, với tư cách là một định chế tài chính có ưuthế về vốn và có uy tín lớn trong xã hội, được đánh giá là tổ chức thực hiện hoạtđộng tài trợ XNK tốt nhất và có hiệu quả nhất hiện nay Ngược lại, đối với mỗiNHTM, nghiệp vụ tài trợ XNK cũng là một nghiệp vụ quan trọng đem lại mộtphần doanh thu không nhỏ cho ngân hàng

Cùng với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế, hoạt động tàitrợ XNK của các NHTM trên thế giới cũng ngày càng đa dạng, phong phú vớinhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam, các hình thức tài trợ chủ yếuvẫn là những hình thức truyền thống và khá giản đơn Xuất phát từ mong muốnnghiên cứu giải pháp đa dạng hoá các hình thức tài trợ XNK trên cơ sở đánh giá

hiệu quả hoạt động tài trợ tại SGD – NHNT Việt Nam, em xin đưa ra đề tài: “Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp

của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất: hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tài trợ xuất nhập khẩu và

tổng hợp những nhân tố ảnh hưởng đến tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàngThương mại

Thứ hai: phân tích thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao

dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam từ đó rút ra những thành tựu, nhữnghạn chế và nguyên nhân

Thứ ba: đề xuất hệ thống các giải pháp, kiến nghị nhằm đa dạng hóa các

hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương ViệtNam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến các hình

Trang 3

thức tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại.

Phạm vi nghiên cứu: các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu thực hiện tại Sở

giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 đến 2006

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, đồng thời kết hợp các phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh tế, sosánh, tổng hợp … để nghiên cứu

5 Bố cục

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, khoá luận được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân

hàng Thương mại

Chương 2: Thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao

dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nhằm đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập

khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát chung về tài trợ xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm tài trợ xuất nhập khẩu

Mỗi quốc gia trên thế giới đều sở hữu những nét đặc trưng riêng biệt vềđiều kiện tự nhiên, khí hậu, nguồn nhân lực… chính điều này đã tạo cho mỗi mộtnước có một nền sản xuất khác nhau Nếu chỉ dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có

và nền sản xuất trong nước thì không thể cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu, hànghoá, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng phục vụ cho hoạtđộng sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế Chính vì thế một quốc gia khôngnhững có thể sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ đủ để đáp ứng nhu cầu trongnước về loại sản phẩm dịch vụ đó, mà còn dư thừa để xuất khẩu sang các nướckhác bằng cách khai thác tiềm năng và lợi thế kinh tế vốn có của mình, nhờ đóthu về nguồn ngoại tệ để phục vụ cho nhu cầu NK những hàng hoá mà trongnước không có khả năng đáp ứng và cho các khoản chi tiêu bằng ngoại tệ khác

Việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều được thực hiện thông quahoạt động ngoại thương Như vậy, hoạt động ngoại thương tạo cầu nối gắn kếtcác quốc gia, các khối kinh tế, đồng thời tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi quốcgia về mặt kinh tế

Tuy nhiên thương mại quốc tế là một hoạt động phức tạp, do các chủ thểtham gia đều thuộc các quốc gia khác nhau nên có sự khác biệt về mặt ngôn ngữ,phong tục, tập quán, luật pháp cũng như về khoảng cách địa lý… là những ràocản khiến cho hoạt động ngoại thương giữa các bên trở nên khó khăn hơn Mặtkhác, hoạt động xuất nhập khẩu thường được thực hiện với giá trị lớn và tiềm ẩn

Trang 5

nhiều rủi ro do đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình đã được quy địnhtrong hợp đồng Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương,nhà sản xuất hay các thương nhân không phải lúc nào cũng có đủ vốn và uy tín

để hoàn thành nghĩa vụ của mình hoặc để tạo niềm tin cho phía đối tác Từnhững lý do đó, trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp luôn cần có sự thamgia của các NHTM, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng hiệu quả kinh doanh vàthực hiện thương vụ thành công Chính vì vậy, hoạt động tài trợ XNK củaNHTM ra đời được xem như một đòi hỏi tất yếu của thương mại quốc tế

Có thể hiểu: Tài trợ XNK là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về

mặt tài chính hoặc uy tín hoặc cả hai một cách trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh thương mại trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thé giới nhằm mục đích sinh lợi.

Về bản chất, hoạt động tài trợ XNK là một loại hình tín dụng dựa trên cơ

sở “uy tín”, “niềm tin”, tuy nhiên, hoạt động này bao hàm cả dạng thức “bảolãnh” và “chiết khấu” Trong đó, “bảo lãnh” là việc ngân hàng bằng uy tín củamình đứng ra cam kết trả tiền cho bên thứ ba nếu bên được bảo lãnh không thanhtoán khoản nợ của họ, còn “chiết khấu” theo định nghĩa trong UCP 500 là việcngân hàng định giá và trả tiền cho hối phiếu và/hoặc bộ chứng từ được xuất trìnhphù hợp với các điều khoản của L/C

1.1.2 Vai trò của tài trợ xuất nhập khẩu

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế

- Tài trợ XNK giúp cho hoạt động ngoại thương được tiến hành trôi chảy,thuận lợi: thông qua các hình thức tài trợ vốn, uy tín của ngân hàng cho các bêntham gia, tài trợ XNK giúp tạo dựng cơ sở tài chính và niềm tin giữa các đối tác

Trang 6

để các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình Khi hoạt động XNK được thực hiệnthường xuyên, liên tục, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế thì nó sẽ là độnglực để tăng tính ổn định của thị trường và tính năng động của nền kinh tế.

- Tài trợ XNK của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển,tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển:thông qua hoạt động tài trợ XNK của ngân hàng, doanh nghiệp có cơ hội đượcthay đổi dây chuyền máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm, tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về mẫu mã, chủng loại đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân Sự phát triển của doanhnghiệp nói riêng đã tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung Cũngthông qua tài trợ, các doanh nghiệp cũng có thể NK các mặt hàng tiêu dùng thiếtyếu phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Rõ ràng sự phát triển củadoanh nghiệp đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và đem lại nhiều thuận lợicho sự phát triển kinh tế

- Hoạt động tài trợ giúp cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sảnxuất kinh doanh, mở rộng sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc làm chongười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước

- Tài trợ XNK cũng được coi là một trong những công cụ để triển khai cóhiệu quả các chiến lược phát triển kinh tế – chính trị – xã hội của quốc gia Tàitrợ XNK góp phần đáng kể hỗ trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh

tế, cân bằng cán cân thanh toán, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại vớicác quốc gia trên thế giới

1.1.2.2 Đối với Ngân hàng Thương mại

Tài trợ XNK đối với NHTM là một trong những nghiệp vụ quan trọngtrong các nghiệp vụ của ngân hàng quốc tế, mang lại thu nhập cao, sử dụng vốn

Trang 7

an toàn, thời gian thu hồi vốn nhanh.

- Thời hạn của tài trợ là ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiệnthương vụ hay chu kỳ sản xuất kinh doanh của nhà XNK Thời gian thực hiệnthương vụ đối với nhà XK kể từ khi gom hàng, xuất đi đến lúc nhận được tiềnthanh toán của người mua Đối với nhà NK, thời gian kể từ lúc nhận hàng tạicảng cho đến khi bán hết được hàng và thu tiền về Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợpvới kỳ hạn huy động vốn của các ngân hàng là dưới một năm Điều này giúp chongân hàng thu hồi vốn nhanh và tránh được rủi ro thanh khoản

- Tài trợ XNK đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích Trong một số trườnghợp, vốn được tài trợ thanh toán thẳng cho bên thứ ba mà không qua bên xin tàitrợ như thanh toán tiền hàng NK, thanh toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lýgom hàng cho người XK… Như thế, ngân hàng sẽ dễ dàng kiểm soát tình hình

sử dụng vốn của doanh nghiệp có đúng mục đích không và kịp thời thu hồi cáckhoản nợ khi doanh nghiệp có nguồn thu, tránh được tình trạng xin tài trợ sửdụng vốn sai mục đích và giảm thiểu rủi ro tín dụng

- Tài trợ XNK nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lýcác nguồn thu thanh toán Đối với người XK, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từgiao hàng để đòi tiền người NK nước ngoài đã chỉ định việc thanh toán phải quatài khoản của người XK mở tại ngân hàng Đối với người NK, trong trường hợp

có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người NK tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mởtại ngân hàng Do vậy, nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản

lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng quay vòng vốn của các doanh nghiệptrong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro

- Nghiệp vụ tài trợ XNK là mảng dịch vụ đem lại nguồn thu đáng kể từcác khoản phí và lãi cho ngân hàng Các khoản thu từ phí và lãi bao gồm: phíphát hành L/C, phí thông báo, phí xác nhận, phí nhờ thu, lãi chiết khấu hối phiếu,

Trang 8

lãi cho vay thanh toán, lãi cho vay bắt buộc…

- Ngoài ra, thông qua việc tham gia tài trợ XNK, cũng như các nghiệp vụkih doanh đối ngoại khác giúp cho ngân hàng duy trì được mối quan hệ với cácdoanh nghiệp trong nước, mở rộng mói quan hệ với các nước ngoài từ đó giántiếp nâng cao cơ hội sinh lời của ngân hàng, đồng thời nâng cao chất lượng phục

vụ, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên cả thị trường trong nước vàthị trường thế giới

1.1.2.3 Đối với các doanh nghiệp

- Tài trợ XNK giúp cho doanh nghiệp thực hiện được các thương vụ quantrọng, phức tạp, cần nguồn vốn lớn để thanh toán tiền hàng Do doanh nghiệpmuốn tiết kiệm chi phí vận chuyển và thuận tiện trong giao nhận hàng hoá nênthường mua bán với số lượng, giá trị lô hàng rất lớn Trong trường hợp này,thông thường vốn lưu động của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng nhu cầu vàphải cần đến nguồn vốn tín dụng của ngân hàng để thực hiện các hợp đồng nàymột cách thuận lợi

- Tài trợ XNK tạo tính an toàn cho hoạt động thương mại quốc tế vốn tiềm

ẩn rất nhiều rủi ro cho cả doanh nghiệp XK cũng như doanh nghiệp NK thôngqua các hình thức tài trợ về mặt uy tín như phát hành L/C, bảo lãnh thực hiệnhợp đồng, xác nhận L/C… Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể yên tâm thực hiệnnghĩa vụ của mình mà không sợ bị đối tác vi phạm các quy định trong hợp đồng

- Tài trợ giúp làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thựchiện hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được vốn đểthực hiện thương vụ Đối với doanh nghiệp XK, vốn tài trợ doanh nghiệp thumua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm Đối vớidoanh nghiệp NK, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những

lô hàng lớn, giá hạ đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong nước

Trang 9

- Việc tài trợ XNK của ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp có vốn đểnhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, dây chuyềnsản xuất chế biến trên cơ sở đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng quy mô,nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, mở rộngsản xuất kinh doanh, có thể đứng vững trong cơ chế thị trường và tạo khả năngcạnh tranh trên cả thị trường trong nước và quốc tế.

- Tài trợ XNK làm gia tăng lợi ích cho cả nhà XK và nhà NK: có sự bảolãnh của ngân hàng và vốn tín dụng được ngân hàng cấp thì năng lực thực hiệnhợp đồng của các doanh nghiệp XNK đã được đảm bảo, tạo lợi thế cho doanhnghiệp trong quá trình thực hiện thương vụ Đối với nhà NK, thì việc đảm bảo vềthanh toán sẽ giúp cho nhà NK có thể thương lượng để được giá cả tốt hơn hoặckéo dài khả năng thanh toán Đối với nhà XK khi cần tăng khả năng cạnh tranh

có thể đồng ý cho nhà NK trả chậm trên cơ sở được ngân hàng chấp nhận thanhtoán hối phiếu kỳ hạn, sau đó mang hối phiếu đã được chấp nhận đến ngân hàngphục vụ mình để chiết khấu đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh

- Tài trợ XNK giúp doanh nghiệp tạo lập, nâng cao uy tín trên thị trườngquốc tế: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện thương vụ mộtcách trôi chảy, thiết lập được mối quan hệ với những khách hàng tầm cỡ trên thếgiới, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường thế giới

1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Thương mại trong hoạt động tài trợ xuất nhập

khẩu

Tài trợ XNK là lĩnh vực kinh doanh mang tính chất truyền thống củaNHTM, ngày nay có nhiều tổ chức phi ngân hàng cũng tham gia vào lĩnh vựcnày như thị trường chứng khoán, công ty tài chính, quỹ đầu tư phát triển… Tuynhiên với khả năng tài chính lớn, có uy tín trong kinh doanh, phạm vi kinh doanhrộng lớn và cung cấp nhều dịch vụ tiện ích cho khách hàng, NHTM vẫn duy trì

Trang 10

được vị thế là người tài trợ chủ yếu cho hoạt động XNK.

Hoạt động thương mại quốc tế cần đến sự hỗ trợ của NHTM cả về mặt tài chính

và kỹ thuật Thông qua hoạt động tài trợ ngoại thương, ngân hàng cung cấp một

hệ thống các giải pháp kỹ thuật tài trợ phong phú, hữu hiệu, giải quyết phần lớnnhững khó khăn về mặt tài chính và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp

Với nguồn vốn dồi dào và kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động tài trợXNK, ngân hàng có thể cung cấp các khoản tài trợ về tài chính cho khách hàngvới thủ tục đơn giản, nhanh chóng Nếu doanh nghiệp là khách hàng truyềnthống, khách hàng đã tạo được uy tín với ngân hàng thì việc xin được tài trợcàng dễ dàng thậm chí có thể được bỏ qua các khoản ký quỹ hoặc thế chấp tàisản

Sự tài trợ về uy tín của ngân hàng là một điều kiện quan trọng trong hầuhết các thương vụ buôn bán quốc tế Thương mại quốc tế luôn tiềm ẩn nguy cơxảy ra rủi ro đối với các bên tham gia do sự thiếu hiểu biết về đối tác, do khoảngcách địa lý,do sự bất đồng về ngôn ngữ, luật pháp, phong tục tập quán… Sở dĩngân hàng luôn là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp khi cần có sự tài trợ

về uy tín là vì ngân hàng không chỉ có tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm mà còn

là tổ chức có uy tín lớn nên doanh nghiệp có thể tin tưởng vào khả năng thanhtoán của ngân hàng Hơn nữa, ngân hàng còn có quan hệ đại lý rộng khắp và đểthu hút được thêm nhiều khách hàng, các ngân hàng có thể hợp tác với nhaucung cấp thêm các dịch vụ tài trợ về uy tín như tài trợ xác nhận L/C nếu kháchhàng chưa tin tưởng vào uy tín của một ngân hàng Sự tài trợ về mặt uy tín củangân hàng không những giúp khách hàng giành được hợp đồng mà còn tạo chokhách hàng lợi thế trong việc thương lượng các điều khoản của hợp đồng

Dựa vào mạng lưới chi nhánh rộng khắp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

và kinh nghiệm dồi dào trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại, ngân hàng có thể dễ

Trang 11

dàng thu thập, nắm bắt thông tin, từ đó đưa ra những lời khuyên hữu ích chokhách hàng ngay từ khi ký kết hợp đồng ngoại thương, phát hành L/C hay tư vấn

về bộ chứng từ hoàn hảo giúp khách hàng giảm thiểu được rủi ro trong cácthương vụ XNK

Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các nghiệp vụ phái sinh như: Swap,Forward, Future, Option… để giúp khách hàng xử lý các khoản ngoại tệ cần thiếttrong quá trình thực hiện thương vụ, đồng thời hạn chế được rủi ro tỷ giá chokhách hàng giúp khách hàng bảo toàn lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình

Qua những phân tích trên thì ta có thể thấy vai trò của NHTM trong hoạtđộng tài trợ XNK là khó có thể bị thay thế bởi một tổ chức nào khác Những dịch

vụ tiện ích mà ngân hàng cung cấp không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện thànhcông thương vụ của mình mà còn giúp nâng cao uy tín, nâng cao khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung khi tham gia vàothương mại quốc tế

1.2.1 Tài trợ nhập khẩu

1.2.1.1 Tài trợ phát hành L/C

Thư tín dụng (letter of credit) được định nghĩa như một bức thư, do mộtngân hàng lập ra, trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người NK, trong đó ngânhàng này cam kết trả một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định chongười XK, với điều kiện người này xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợpvới những điều khoản và điều kiện đã quy định trong thư tín dụng Khi ngânhàng đồng ý mở L/C cho nhà NK, có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán chongười hưởng lợi nếu bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C Ngân hàng sẽgánh chịu rủi ro nếu như người NK không có khả năng thanh toán, ngân hàng

Trang 12

mở L/C phải thanh toán cho nhà XK nước ngoài, điều này có nghĩa là ngân hàng

Bên cạnh việc cho phép tỷ lệ ký quỹ dưới 100%, ngân hàng còn có cácbiện pháp tài trợ về mặt tài chính khác cho người NK trong nghiệp vụ mở L/C:

a) Tài trợ bằng hạn mức tín dụng chứng từ

Ngân hàng căn cứ vào kế hoạch NK của khách hàng để cấp cho kháchhàng mức tín dụng và cho phép khách hàng mở L/C (thường là L/C trả ngay)trong khuôn khổ hạn mức đó Loại hình đảm bảo tín dụng thường áp dụng làchính lô hàng NK, hoặc là một mức ký quỹ nhất định theo hạn mức được duyệthoặc theo giá trị của L/C phát hành

b) Cho vay ký quỹ

Trong trường hợp nhà NK đủ điều kiện phát hành L/C nhưng không có đủvốn để thực hiện ký quỹ thì có thể yêu cầu ngân hàng cho vay ký quỹ L/C Ngânhàng sẽ căn cứ vào uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ và tài sản đảmbảo để quyết định có cho vay ký quỹ hay không Hình thức này không nhữnggiúp giải quyết khó khăn về vốn lưu động cho nhà NK, mà còn tăng tính an toàn

và mang lại hiệu quả cho ngân hàng, đồng thời đảm bảo tuân thủ những quy địnhcủa pháp lý của ngân hàng về ký quỹ

c) Tài trợ bằng các L/C đặc biệt

Trang 13

 Tài trợ bằng L/C tuần hoàn (Revolving L/C)

Là L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng hết giá trị của nó hoặc đãhết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như cũ và tiếp tục được sửdụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trịhợp đồng được thực hiện

Thư tín dụng tuần hoàn theo ba cách:

- Tuần hoàn tự động: L/C sẽ tự động có giá trị như cũ mà không cần có sựthông báo của ngân hàng mở L/C cho người XK biết

- Tuần hoàn bán tự động: sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết hiệulực, nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C không có ý kiến gì về L/C kếtiếp và thông báo cho người hưởng lợi L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ

- Tuần hoàn hạn chế: trong trường hợp này, chỉ khi nào ngân hàng mở L/Cthông báo cho người XK biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực

L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán những mặthàng có giá trị lớn, có quan hệ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ thường xuyên,giao nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn L/C tuần hoàn được mở ra để tạothuận lợi cho nhà NK trong khâu thanh toán, tránh được tình trạng ứ đọng vốn vàgiúp cho nhà NK không bị tính phí mở L/C nhiều lần

 Tài trợ bằng L/C dự phòng (Standby L/C)

Trong trường hợp nhà XK đã nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứngtrước, nhưng không có khả năng giao hàng hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giaohàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà XK phát hànhmột L/C trong đó cam kết với người NK là sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiềnứng trước và chi phí mở L/C cho nhà NK Như vậy, L/C dự phòng được mở ra

để đảm bảo quyền lợi cho nhà NK và tránh được rủi ro khi người XK khônghoàn thành nghĩa vụ như đã nêu trong L/C

Trang 14

1.2.1.2 Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập

Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanhmang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh Đồng thời,khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán đểđến thời điểm thanh toán dự kiến có thể xác định khoản thiếu hụt cần ngân hàngtài trợ Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch cũng như phương án của kháchhàng: hiệu quả sử dụng vốn vay, khả năng tài chính, khả năng trả nợ, tài sản thếchấp… để quyết định mức tài trợ cho nhà NK Tất cả các công đoạn này phảiđược thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người XK về đến ngân hàngđứng ra tài trợ Trường hợp bộ chứng từ đã về đến rồi khách hàng mới xin tài trợthanh toán thì khả năng bị ngân hàng từ chối là rất lớn vì ngân hàng ít có thờigian xem xét bộ chứng từ cũng như đánh giá khả năng hoàn vốn của khách hàngcho khoản tiền mà ngân hàng tài trợ

1.2.1.3 Bảo lãnh cho hoạt động nhập khẩu

a) Phát hành bảo lãnh thanh toán

Thực tế đa số các ngân hàng nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoàicho các doanh nghiệp Việt Nam vay để nhập hàng hoá, máy móc thiết bị donước đó sản xuất, nên ít có trường hợp cho vay vốn chuyển về Việt Nam để sửdụng với mục đích khác Nhà XK trước khi giao hàng thường yêu cầu phíadoanh nghiệp Việt Nam phải có ngân hàng đứng ra bảo lãnh Ngân hàng bảolãnh sẽ phát hành thư bảo lãnh cam kết thanh toán cho nước ngoài, nếu doanhnghiệp Việt Nam không thanh toán tiền khi đến hạn Trên cơ sở bảo lãnh củangân hàng, nhà XK có thể giao dịch với ngân hàng phục vụ họ để vay vốn thaycho các doanh nghiệp Việt Nam Nếu chấp nhận những điều kiện vay vốn củangân hàng nước ngoài, doanh nghiệp phải trực tiếp trả nợ cho nước ngoài Khivay nước ngoài có quy định cụ thể về số tiền, ngày trả nợ, lãi suất… thường

Trang 15

doanh nghiệp Việt Nam được tài trợ từ nước ngoài với lãi suất thấp, thời hạntương đối dài.

b) Bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm

Đây là hình thức được áp dụng phổ biến nhất ở nước ta trong thời gian vừaqua, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ bảo lãnh tại các NHTM Đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam, đây là hình thức vay vốn, tranh thủ vốn nước ngoài đơngiản và dễ được chấp thuận bằng cách mua chịu hàng hoá, phù hợp trong hoàncảnh doanh nghiệp đang thiếu vốn

Việc ngân hàng mở L/C trả chậm nhập khẩu thì phải tuân theo một số quyđịnh như: hàng hoá phải phù hợp với chính sách XNK hàng năm của Nhà nướcliên quan đến vay và trả nợ nước ngoài, số dư L/C trả chậm ngắn hạn (dưới 1năm và phải nằm trong hạn mức), ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối đa là 3 lần giữa

số dư cho vay và bảo lãnh vay ngắn hạn nước ngoài trên vốn tự có của ngânhàng và ngân hàng không có nợ quá hạn phát sinh từ nghiệp vụ mở L/C trảchậm, việc trích lập quỹ bảo lãnh theo quy định hiện hành về bảo lãnh và tái bảolãnh trong đó:

Quỹ bảo lãnh = 5% giá trị thực tế bảo lãnh

Giá trị thực tế bảo lãnh = giá trị ngân hàng bảo lãnh – giá trị mà bên xinbảo lãnh ký quỹ tại ngân hàng

c) Bảo lãnh nhận hàng

Thông thường người mua luôn mong muốn nhận được vận đơn để có thểnhận được hàng ngay khi tàu đến cảng Nhưng trên thực tế rất nhiều trường hợptàu chở hàng đến trước khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ Điều đó có nghĩa

là người mua chưa có vận đơn để nhận hàng Hàng hoá để ở cảng một thời giandài có thể sẽ bị giảm phẩm chất, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh củanhà NK, đồng thời phải chịu chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn Trong trường hợp

Trang 16

này, để sớm nhận được hàng nhằm tránh các rủi ro, người mua yêu cầu ngânhàng ngân hàng của mình phát hành một cam kết (thay thế cho vận đơn) gọi làbảo lãnh nhận hàng Người NK sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng cho công ty vậntải để tới cảng nhận hàng

Bảo lãnh nhận hàng được ngân hàng phát hành khi người NK chưa có vậnđơn, do vậy khi nhận được vận đơn thì sẽ tiến hành giao vận đơn đó cho hàng tàu

để giải phóng bảo lãnh nhận hàng Thực hiện bảo lãnh nhận hàng có thể mang lạirủi ro cho ngân hàng, vì vậy, trong bảo lãnh nhận hàng ngân hàng sẽ có quy địnhcho biết bảo lãnh đó sẽ hết hạn sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận hàng hoặc kể

từ ngày nhà NK có bộ chứng từ trong tay

d) Các hình thức bảo lãnh khác

Bên cạnh các hình thức bảo lãnh trên thì hình thức ký hậu hối phiếu (Bill

of Exchange) cũng là một trong những loại hình tài trợ uy tín của ngân hàng.Trong hình thức này khách hàng yêu cầu ngân hàng ký chấp nhận trên hối phiếunhận nợ nước ngoài Chấp nhận hối phiếu là hành vi cam kết của người có nghĩa

vụ trả tiền khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán Việc này được thể hiện bằngchữ ký của người đó ở mặt trước, góc trái của hối phiếu

Thực chất của hình thức ký chấp nhận hối phiếu là ngân hàng sẽ tiến hànhcung ứng cho nhà NK một khoản tín dụng và khoản vay này chỉ là hình thức bảođảm về mặt tài chính, thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền ngay cho ngườivay Tuy nhiên, khi hối phiếu đến hạn, nhà NK không có đủ khả năng thanh toánthì ngân hàng (người cho vay hay người đứng ra chấp nhận hối phiếu) sẽ tiếnhành trả nợ thay

Tài trợ chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên XK thiếu tintưởng vào khả năng thanh toán của bên NK nên có thể đề nghị bên NK yêu cầumột ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên XK ký phát Việc

Trang 17

ngân hàng ký chấp nhận vào hối phiếu là một dạng thoả thuận tài trợ bảo lãnh uytín thanh toán cho nhà NK Nhờ vậy, nhà NK sẽ nhận được bộ chứng từ để có cơhội tiếp nhận hàng hoá.

1.2.2 Tài trợ xuất khẩu

1.2.2.1 Tài trợ trước khi giao hàng

a) Cho vay sản xuất hàng xuất khẩu

Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương và người XK nước ngoài đã chuẩn

bị các bước cần thiết quy định trong hợp đồng thì người XK bước vào giai đoạnchuẩn bị hàng xuất Giai đoạn chuẩn bị hàng xuất bao gồm: thu mua nguyên vậtliệu, gia công, chế biến nguyên vật liệu thành sản phẩm Với những giá trị hợpđồng lớn, thời gian tạo thành sản phẩm dài, người XK thường không đủ vốn lưuđộng đẻ chuẩn bị trọn gọi lô hàng XK vì vốn nằm gọn trong cả ba khâu Do vậy,người XK phải nhờ vào sự tài trợ của ngân hàng Hình thức này thường được ápdụng trong trường hợp ngân hàng tài trợ vừa là ngân hàng thanh toán cho L/Cxuất, nhà XK xuất trình bộ chứng từ và được thanh toán tại ngân hàng Để giámsát và kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thôngthường ngân hàng thực hiện tài trợ như sau:

- Khi vay ngân hàng thường yêu cầu nhà XK phải có một số vốn nhất địnhcộng thêm với số tiền vay ngân hàng để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuấthàng XK Hàng hoá sẽ làm tài sản đảm bảo để tiếp tục vay và được nhập tai khongân hàng, hoặc nhập kho mà trước đó ngân hàng và nhà XK thoả thuận và đồng

ý trước sự giám sát của ngân hàng, muốn xuất hàgn ra khỏi kho phải có sự đồng

ý của ngân hàng Ngân hàng tiếp tục cho vay, khách hàng sẽ dùng số tiền ngânhàng tài trợ để đi mua hàng, chế biến sản xuất hàng hoá, cứ tiếp tục như vậy chođến khi bằng 100% giá trị lô hàng xuất Thông thường ngân hàng chỉ tài trợkhoảng 70% giá trị lô hàng XK

Trang 18

- Sau khi giao hàng xong nhà XK lập bộ chứng từ phù hợp với những quyđịnh trong L/C nộp vào ngân hàng để xin thanh toán tiền Trên hối phiếu đòi tiền

nợ thì ngân hàng sẽ là người hưởng lợi trực tiếp trên hối phiếu Ngân hàng sẽkiểm tra bộ chứng từ hợp lý chuyển ra nước ngoài đòi tiền ngân hàng mở L/C.Khi nhận được điện chuyển tiền từ ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thông báoghi có trên tài khoản cho vay để thu nợ Trường hợp giữa ngân hàng mở vàthông báo L/C là đại lý có mở tài khoản tiền gửi cho nhau, việc thực hiện thanhtoán bộ chứng từ để thu nợ được tiến hành nhanh chóng thuận tiện dễ dàng nênngân hàng có thể tài trợ mức lãi suất ưu đãi thấp hơn mức lãi suất bình thường

- Khi ngân hàng tài trợ không phải là ngân hàng thông báo cũng khôngphải là ngân hàng thanh toán, rủi ro có thể xảy ra nếu như sau khi tài trợ doanhnghiệp không xuất được hàng hoặc xuất được hàng nhưng gặp rủi ro trong giaonhận hàng hay thanh toán, hoặc khách hàng không dùng số tiền trên vào mụcđích xuất hàng như đã cam kết

b) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Do trong thương mại quốc tế rủi ro ngày càng lớn cho nên bảo lãnh ngàycàng có vai trò quan trọng Nhà NK không tin cậy hoàn toàn vào khả năng thựchiện hợp đồng của người XK, họ sẽ nhờ vào bảo lãnh của ngân hàng Hình thứcnày trong ngân hàng gọi là bảo lãnh thực hiện hợp đồng Loại bảo lãnh này nhằmchống đỡ rủi ro cho người hưởng thụ trong trường hợp người cung cấp khôngthực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, chẳng hạn như giao hàng chậm trễ, khôngđúng chất lượng, số lượng… Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng thay thếcho yêu cầu ký quỹ mà người đặt hàng đề nghị đối với người cung ứng để đảmbảo bồi thường vi phạm hợp đồng Do đó giá trị tối đa của bảo lãnh là tươngđương với bồi thường (tính tỷ lệ % trên giá trị hợp đồng, dao động ở mức 10%-15%) Thông thường hiệu lực của loại bảo lãnh này chấm dứt khi người được

Trang 19

bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ cung ứng của họ.

c) Tài trợ bằng các L/C đặc biệt

 Tài trợ bằng L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C)

L/C điều khoản đỏ là một loại L/C không thể huỷ ngang, được phát hànhđược phát hành với một điều khoản trong nội dung cho phép của ngân hàngthông báo ứng trước cho nhà XK một phần hoặc toàn bộ giá trị L/C theo các điềukhoản, điều kiện cụ thể và ngân hàng thông báo có thể xác nhận L/C nếu kháchhàng yêu cầu điều đó

Thực chất đây là hình thức tài trợ ứng trước tiền hàng cho người XK đểđổi lấy một cam kết rằng người XK sẽ sử dụng khoản ứng trước vào việc thugom hoặc sản xuất hàng hoá để xuất giao và trình bộ chứng từ phù hợp với quyđịnh của L/C Ngân hàng thông báo (hoặc ngân hàng xác nhận) khi nhận được L/

C có điều khoản đỏ cùng với sự uỷ quyền của ngân hàng phát hành sẽ ứng tiềntrước khi giao hàng cho nhà XK Trách nhiệm tài trợ ở đây thuộc về ngân hàngphát hành Do đó bất kể kết quả thực hiện hợp đồng của nhà XK như thế nào,ngân hàng phát hành cũng phải có trách nhiệm trực tiếp đối với việc hoàn trả chongân hàng thông báo (hoặc ngân hàng xác nhận) cả gốc và lãi khoản nợ vay ứngtrước tiền hàng Nếu nhà NK là người đề nghị khoản ứng trước này cho nhà XKthì nhà NK sẽ phải chịu trách nhiệm trước ngân hàng về việc bồi hoàn tài trợ nếunhà XK không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo quy định của L/C Như vậy,trước khi đồng ý thực hiện L/C điều khoản đỏ, nhà NK cần tin tưởng chắc chắnvào uy tín và năng lực kinh doanh của nhà XK

 Tài trợ bằng L/C giáp lưng (Back – to – Back L/C)

L/C giáp lưng ra đời khi nhà XK sử dụng một L/C (L/C gốc) do ngườinhập khẩu mở cho mình hưởng để làm cơ sở yêu cầu phát hành một L/C khác (L/

C giáp lưng) cho người cung ứng hàng thực sự L/C giáp lưng thuộc loại không

Trang 20

thể huỷ ngang, được sử dụng phổ biến trong các thương vụ tay ba, trong đóngười hưởng L/C gốc đóng vai trò là trung gian thương mại giữa nhà cung ứngthực sự và người mua có nhu cầu NK mặt hàng đó.

Nhìn chung, L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau, tuy nhiên cũng có một vàiđiểm khác biệt giữa chúng:

- Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc

- Kim ngạch của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn hơn L/C gốc, khoản chênhlệch này do người XK trung gian hưởng dùng để trả chi phí mở L/C giáo lưng vàhưởng phần hoa hồng của họ

- Thời gian giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc

Hình thức này được sử dụng khá phổ biến trong mô hình mua bán trunggian Do không đủ khả năng tự thanh toán tiền hàng cho nhà cung ứng nên nhà

XK có thể sử dụng L/C gốc làm cơ sở để phát hành L/C thứ hai cho nhà cungứng hàng thực sự Nhờ đó, nhà XK trung gian có thể tiến hành kinh doanh chênhlệch giá mà không cần phải bỏ đồng vốn nào Nhưng nghiệp vụ tài trợ này rấtphức tạp, nó đòi hỏi phải có sự phối hợp khéo léo và chính xác các điều kiện củaL/C gốc và L/C giáp lưng, nếu không bộ chứng từ NH chuyển giao sẽ bị từ chối.Nhìn chung, NH phát hành L/C giáp lưng sẽ phải đương đầu với nhiều rủi ro liênquan đến sự phức tạp của chứng từ xuất trình, cũng như uy tín thanh toán, nănglực kinh doanh và đạo đức kinh doanh của người XK trung gian

 Tài trợ bằng L/C chuyển nhượng (Transferable L/C)

Là loại L/C không huỷ ngang, theo đó người hưởng lợi thứ nhất chuyểnnhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền

mà mình có được cho người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhậncho mình một phần của thương vụ

Người hưởng lợi thứ nhất thường yêu cầu mở L/C chuyển nhượng trong

Trang 21

những trường hợp sau:

- Khi người hưởng thứ nhất không đủ khả năng cung ứng một phần hoặctoàn bộ hàng hoá trong L/C và vì vậy muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn

bộ quyền và nghĩa vụ của mình cho người thụ hưởng thứ hai

- Khi người hưởng lợi thứ nhất không được ngân hàng phục vụ mình đồng

ý phát hành L/C giáp lưng

- Khi người thụ hưởng thứ nhất hoạt động với tư cách là đại lý hoặc ngườicung cấp chính đối với hàng hoá trong L/C cho nhà NK.Giá trị của những L/Cnày thường rất lớn và người thụ hưởng thứ nhất chịu trách nhiệm phân bổ nó chocác nhà cung cấp khác nhau thông qua ngân hàng thông báo

L/C chuyển nhượng chỉ cho phép chuyển nhượng một lần và người hưởnglợi ban đầu vẫn bị ràng buộc trách nhiệm với người NK bởi hợp đồng thươngmại, đồng thời phải thanh toán các khoản thủ tục phí, lệ phí chuyển nhượng.Thông thường người hưởng đầu tiên là một người trung gian kinh doanh bằngcách bán lại hàng hoá lượng lớn với mức chênh lệch khiêm tốn Đây là một biệnpháp hỗ trợ cho những nhà XK (hay người hưởng lợi) thiếu vốn hoặc khả năngtài chính hạn hẹp vì ở đây nhà XK (hay người hưởng lợi) không cần phải đi vayhoặc dùng vốn của mình để mua hàng từ nhà cung ứng Mặt khác, nhà XK(hayngười hưởng lợi) cũng không cần phải yêu cầu ngân hàng cho vay bảo đảmthanh toán số tiền chuyển nhượng vì việc chuyển nhượng được cho phép chínhthức trong nội dung L/C và không cần một cam kết nào của ngân hàng thực hiệnchuyển nhượng

1.2.2.2 Tài trợ sau khi giao hàng

Trong giao dịch thương mại, nhà XK phải đối mặt với rủi ro thanh toán,tức là bên mua chậm hoặc mất khả năng thanh toán hay không muốn thanh toánngay khi nhận hàng hoặc vào thời điểm trong hợp đồng Mức độ rủi ro cao hay

Trang 22

thấp phụ thuộc phần lớn vào kỳ hạn tín dụng mà nhà XK cho bên mua đượchưởng, vào bản chất và tình hình kinh doanh của bên mua và năng lực tài chínhcủa người này Nhằm hạn chế rủi ro thanh toán, đồng thời bảo đảm vốn cho sảnxuất kinh doanh liên tục, nhà XK khi cần tiền có thể xuất trình bộ chứng từ đểchiết khấu hoặc ứng tiền trước tại ngân hàng đã được chỉ định rõ trong L/C hoặc

ở bất cứ ngân hàng nào

a) Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất

Đây là hình thức tài trợ của XK của ngân hàng thông qua việc mua lạihoặc cho vay căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá Hoạt động này của ngân hàngnhằm tài trợ vốn lưu động cho người XK để đảm bảo sản xuất kinh doanh liêntục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người NK nước ngoài thanh toán tiềnhàng

Khi chiết khấu bộ chứng từ phải hoàn hảo và xuất trình đúng thời gian quyđịnh Ngân hàng mở L/C phải có uy tín trên thị trường quốc tế và có quan hệgiao dịch thường xuyên với ngân hàng chiết khấu Tình hình sản xuất kinh doanh

và tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định, đảm bảo khả năng thanh toán,

có uy tín với ngân hàng Số tiền chiết khấu phải nằm trong hạn mức tín dụng.Sau khi tiếp nhận bộ hồ sơ từ phía khách hàng, ngân hàng kiểm tra bộ chứng từmột cách cẩn thận và hợp lý vì nếu bộ chứng từ có sai sót có thể sẽ bị từ chốithanh toán, ngân hàng sẽ khó thu hồi nợ Ngân hàng kiểm tra sự phù hợp trên bềmặt của chứng từ so với các điều khoản đã ghi trong L/C Ngân hàng xem xétquyết định tỷ lệ chiết khấu, hiện nay vào khoảng 90% giá trị L/C xuất Tuynhiên, tuỳ từng trường hợp mà ngân hàng sẽ quyết định tỷ lệ chiết khấu Có haihình thức chiết khấu:

- Chiết khấu miễn truy đòi là hình thức người XK bán hẳn bộ chứng từcho ngân hàng và ngân hàng sau khi thanh toán tiền cho nhà XK thì không có

Trang 23

quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanh toán Giá mua sẽ thấp hơngiá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiếttrung bình để đòi tiền người NK nước ngoài

- Chiết khấu truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thanhtoán tiền cho nhà XK có quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanhtoán Khi đó, trách nhiệm của nhà XK vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi đượctiền của người NK Phí chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu tínhtheo ngày và mức phí dĩ nhiên thấp hơn với trường hợp chiết khấu có truy đòi vàđiều này cũng đồng nghĩa với việc rủi ro mà ngân hàng phải chịu cũng thấp hơn

b) Ứng trước tiền hàng cho nhà xuất khẩu

Trường hợp bộ chứng từ không hội đủ điều kiện chiết khấu, có những saisót ngân hàng không đồng ý chiết khấu thì nhà XK có thể yêu cầu ngân hàng ứngtrước tiền hàng thông thường tỷ lệ khoảng 50%-60% giá trị hàng xuất

Ngân hàng tiến hành thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài đểđòi nợ, trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhậnđược báo Có của ngân hàng nước ngoài, ngân hàng sẽ tự động ghi Nợ vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng Nếu tài khoản của khách hàng không đủ số dư thìngân hàng sẽ chuyển số tiền chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ quá hạn trongvòng 7 ngày làm việc Khi được thanh toán từ phía ngân hàng nước ngoài, sẽkhấu trừ trực tiệp khoản vay cùng với các chi phí khác có liên quan

1.2.2.3 Các hình thức tài trợ khác

 Bao thanh toán tương đối (Factoring)

Đây là hình thức tài trợ XNK ngắn hạn Bản chất factoring là một nghiệp

vụ chiết khấu các khoản phải thu của nhà XK Để thực hiện nghiệp vụ này cácNHTM lớn tiến hành thành lập các công ty Factoring và các công ty chuyên mônnày sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán

Trang 24

để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi tiền nợ nhà NK nước ngoài Để khắcphục tình trạng nợ đọng trong quá trình thu tiền bán hàng, các công ty Factoringcung ứng một khoản tiền tương ứng với khoản nợ đó cho doanh nghiệp, đảm bảoquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục Tuỳ theotính chất hoàn hảo của chứng từ, tình hình tài chính và khả năng thanh toán củangười mắc nợ mà ngân hàng quyết định tỷ lệ mua nợ cao hay thấp.

 Bao thanh toán tuyệt đối

Forfaiting là hình thức tài trợ XK dựa trên việc chiết khấu các khoản nợdài hạn phát sinh do XK máy móc, thiết bị có giá trị lớn Để hỗ trợ cho nhà XK,ngân hàng sẽ mua lại khoản nợ này và gánh chịu hoàn toàn rủi ro của khoản nợ

đó Nghiệp vụ Forfaiting nhằm tài trợ cho các nhà XK, giúp họ giảm thời gianphải chờ thanh toán từ nước ngoài

Ngân hàng Thương mại

Hoạt động tài trợ ngoại thương mà cụ thể là hoạt động tài trợ XNK là hoạtđộng kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế Do đó, việc mua bán ở đây cónhững nét riêng phức tạp hơn nhiều so với mua bán trong nước bởi hoạt độngXNK chịu sự chi phối của nhiều yếu tố nên hoạt động này dễ đem lại kết quả độtbiến rất cao, dễ dàng gặp phải rủi ro, gây ra nhiều thiệt hại cho tất cả các bêntham gia Chính vì vậy, ngân hàng trước khi quyết định tài trợ cho khách hàngthì phải lường trước những nhân tố ảnh hưởng và rủi ro có thể xảy ra Căn cứvào khả năng kiểm soát ảnh hưởng của của ngân hàng đối với những nhân tốnày, ta có thể chia thành:

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

a) Các nhân tố nước ngoài

Khác với các đơn vị khác, doanh nghiệp kinh doanh XNK không chỉ có

Trang 25

quan hệ kinh doanh với các bạn hàng trong nước mà chủ yếu là các bạn hàngnước ngoài Trong mối quan hệ đó, khoảng cách về địa lý, sự khác biệt về ngônngữ, luật pháp và tập quán thanh toán… gây ra rất nhiều khó khăn cho mỗi bên

và do đó tác động đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng

 Sự khác biệt về đồng tiền

Mỗi quốc gia khác nhau sử dụng một đồng tiền thanh toán khác nhau.Trong trường hợp tỷ giá ổn định thì việc lựa chọn đồng tiền của quốc gia nàolàm đồng tiền thanh toán không quan trọng, nhưng trên thực tế tỷ giá luôn thayđổi Từ đó kéo theo những ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh mà doanhnghiệp khó có thể dự đoán được Như vậy vấn đề đặt ra đối với mỗi ngân hàngkhi ký hợp đồng với khách hàng XNK là phải lường trước được những diễn biến

về tỷ giá từ đó lựa chọn đồng tiền cho vay một cách tối ưu

Mặt khác việc thanh toán hàng NK cũng phải theo quy chế quản lý ngoạihối của từng quốc gia Do đó, ngân hàng khi thực hiện tài trợ không những phảinắm rõ chế độ quản lý ngoại hối của nước mình mà còn phải nắm rõ quy chế củanước đối tác

 Sự khác biệt về luật pháp:

Mỗi quốc gia có chính sách riêng để hỗ trợ XNK thông qua các công cụnhư: hạn ngạch, thuế suất, cơ chế quản lý ngoại hối… Sự khác biệt về luật phápgiữa các quốc gia cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp và cảngân hàng

 Sự khác biệt về khoảng cách địa lý:

Khoảng cách về địa lý làm phát sinh một số vấn đề như thời điểm vàphương thức thanh toán Việc xác định thời điểm và phương thức thanh toán ảnhhưởng trực tiếp tới quyền lợi của mỗi bên, do đó vấn đề này cần được quy định

rõ trong hợp đồng Căn cứ vào đó ngân hàng phải xác định thời điểm và phương

Trang 26

thức thanh toán sao cho vẫn thảo mãn nhu cầu thanh toán của khách hàng nhưngvẫn đảm bảo hiệu quả tín dụng.

Sự khác biệt về địa lý làm hạn chế các doanh nghiệp trong việc thu thậpnhững thông tin về đối tác, điều này đem lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp vàcho cả ngân hàng trong việc thu hồi vốn Hơn nữa, khi quan hệ với khách hàngXNK, khách hàng về địa lý gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm địnhtrước khi cho vay và giám sát sau cho vay Việc kiểm tra mục đích sử dụng vốncủa khách hàng khó khăn hơn nhiều so với khoản tín dụng trong nước

 Yếu tố thời tiết

Yếu tố này ảnh hưởng lớn đến hoạt động XNK, đặc biệt với hàng nôngsản và thuỷ sản, từ đó ảnh hưởng đến công tác tài trợ XNK của các NHTM vì nótiềm ẩn nhiều rủi ro

b) Các nhân tố trong nước

 Môi trường pháp lý

Hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tài trợ XNK nói riêngchịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố môi trường pháp lý Các NHTM phảidựa vào các quy định của pháp luật, trên cơ sở đó mới cung cấp các dịch vụ chokhách hàng Vì vậy, các thay đổi trong chính sách XNK cuả Nhà nước cũng nhưcủa ngân hàng ít nhiều cũng tác động tới hoạt động tài trợ XNK của bản thânngân hàng Trong đó các quy định về tỷ lệ cho vay tối đa của ngân hàng đối vớimột khách hàng, tài sản đảm bảo cho khoản vay, chính sách hỗ trợ XNK củaChính phủ về thuế quan, về bảo hiểm tín dụng XNK… tác động trực tiếp đếnhình thức cung cấp vốn (cho vay riêng lẻ hay đồng tài trợ cùng với các ngânhàng khác), số vốn cung cấp, quy mô, định hướng tài trợ XNK của từng ngânhàng

Chính vì vậy, hoạt động tài trợ của ngân hàng chỉ hiệu quả khi có một môi

Trang 27

trường pháp lý ổn định, đồng bộ và nhất quán Một nền kinh tế mà các cơ chếchính sách, quy định của pháp luật thay đổi thường xuyên, không đồng bộ, cònnhiều chồng chéo và mâu thuẫn sẽ không thể có hoạt động tài trợ XNK pháttriển.

 Yếu tố khách hàng

Các doanh nghiệp kinh doanh XNK chính là các khách hàng của ngânhàng vì vậy muốn mở rộng được hoạt động tài trợ XNK tất yếu ngân hàng phảiquan tâm tới nhân tố này Muốn xin được sự tài trợ từ ngân hàng, khách hàngcần phải có tình hình tài chính tốt, có uy tín trên thị trường, có khả năng kinhdoanh… Khách hàng có khả năng thanh toán mọi khoản vay đúng thời hạn, thựchiện tốt mọi cam kết với ngân hàng sẽ tạo được uy tín tốt và sẽ rất dễ dàng đượcngân hàng tài trợ cho những lần tiếp theo Tuy nhiên, để thành công trên thươngtrường, doanh nghiệp phải trải qua rất nhiều khó khăn và chịu sự tác động củanhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan Ví dụ như giá nguyên vật lệu, nhâncông trên thị trường tăng sẽ làm tăng chi phí sản xuất hàng XK Đối với cácdoanh nghiệp NK thì các biến số kinh tế như lãi suát, thu nhập bình quân đầungười, thuế suất NK, tình hình kinh tế trong nước… ảnh hưởng lớn đến việc tiêuthụ hàng hoá NK Chính vì vậy, các ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứucác nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động XNK của các doanh nghiệp để kịp thời cóbiện pháp thay đổi chính sách tài trợ của mình

 Cạnh tranh trên thị trường ngân hàng

Cùng hoạt động trên thị trường tiền tệ còn rất nhiều các ngân hàng và các

tổ chức khác cùng cạnh tranh để thu hút khách hàng Vì vậy, các chính sách, đặcbiệt là chính sách khách hàng của đối thủ cạnh tranh đều có ảnh hưởng tới ngânhàng Khi đối thủ tung ra một sản phẩm mới, hoặc đơn giản chỉ là cải tiến, thayđổi một đặc điểm nhỏ của sản phẩm như tăng thêm tiện ích, tăng tính hấp dẫn

Trang 28

của sản phẩm hay chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp XNK thì đều cóảnh hưởng tới hoạt động tài trợ của ngân hàng Do vậy, các ngân hàng phải thayđổi chính sách phù hợp với tình hình cạnh tranh trên thị trường nhằm nâng cao

uy tín, tăng thị phần, tạo ra điểm khác biệt với các sản phẩm của đối thủ để thuhút khách hàng về phía mình

Chính sách khách hàng có ý nghĩa rất lớn đối với việc mở rộng hoạt độngtài trợ của ngân hàng truyền thống mà còn khuyến khích các khách hàng làdoanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp liên doanh… Đồng thời các ngân hàng

sẽ đưa ra những điều kiện, những yêu cầu có xu hướng mở hơn để thu hút kháchhàng Với các chiến lược mở rộng kinh doanh, mở rộng phạm vi hoạt động nhưvậy thì thì tương ứng với nó phải là một chiến lược mở rộng quy mô vốn Vốn là

Trang 29

điều kiện tối quan trọng trong hoạt động ngân hàng Nó quy định quy mô, tầmvóc, khả năng cạnh tranh, mức độ chịu đựng và chống đỡ rủi ro Ngân hàng nào

có quy mô vốn càng lớn thì sẽ gặp thuận lợi trong việc mở rộng phạm vi hoạtđộng, nâng cao vị thế, khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại vào nghiệp vụcũng như cung cấp sản phẩm mới, chất lượng cao cho khách hàng

Trong điều kiện như hiện nay, khoa học công nghệ phát triển với tốc độchóng mặt và việc ứng dụng nó vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống đã trở thànhtất yếu Chính vì vậy, ngân hàng nào có trình độ công nghệ thông tin tiên tiến, hệthống kỹ thuật hiện đại sẽ cung ứng dịch vụ cho khách hàng một cách tốt nhất,thoả mãn được các nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, thuận lợi và

sẽ có điều kiện thuận lợi để thu hút khách hàng về phía mình

Đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng là lực lượng trực tiếp tiếp xúc vớikhách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Vì vậy, chiến lượcphát triển quy mô cũng như chất lượng đào tạo cán bộ cũng đóng góp to lớntrong việc tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và việc

mở rộng hoạt động tài trợ XNK nói riêng Do đó, các cán bộ ngân hàng có trình

độ nghiệp vụ, tâm huyết với công việc, hiểu biết về các nghiệp vụ ngoại thương,luật pháp cũng như thông lệ quốc tế, có trình độ ngoại ngữ tốt, có khả năng tưvấn giúp khách hàng thực hiện các thương vụ… sẽ là một trong những ưu điểmcực kỳ quan trọng giúp các ngân hàng mở rộng hoạt động tài trợ XNK

Khả năng kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nóichung và hoạt động tài trợ XNK nói riêng cũng là nhân tố ảnh hưởng tới việc mởrộng hoạt động này Những rủi ro thường gặp bao gồm có rủi ro lãi suất, rủi rotín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro tác nghiệp… Do đó, ngân hàng nào có các biệnpháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả ngân hàng đó sẽ tăng được lợi nhuận, giữ vững

sự phát triển ổn định của ngân hàng, tạo được uy tín, nâng cao vị thế của ngân

Trang 30

hàng trên thị trường Đó là một điều kiện thuận lợi để thu hút khách hàng trong

và ngoài nước đến với ngân hàng

hàng Thương mại trên thế giới

Nhìn chung ở nhiều nước, Chính phủ rất coi trọng hoạt động XNK và sẵnsàng hỗ trợ bằng các chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp thamgia xuất khẩu Nhiều nước đã thành lập những ngân hàng chuyên doanh phục vụXNK, thông qua đó áp dụng những biện pháp đặc biệt để hỗ trợ XNK, đặc biệt là

hỗ trợ những ngành xuất khẩu mũi nhọn Trong từng thời điểm, giai đoạn khácnhau, tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế của mình, mỗi quốc gia có chính sáchriêng phù hợp với đặc điểm của từng ngành kinh tế để nhằm hỗ trợ các doanhnghiệp kinh doanh XNK của quốc gia mình

1.4.1 Hoa Kỳ

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Hoa Kỳ, hoạt động ngoạithương cũng đã phát triển lớn mạnh suốt trong thời gian qua Để khuyến khíchthúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và tạo công ăn việc làm, Chính phủ Hoa Kỳ đãcho thành lập các ngân hàng chuyên doanh XNK (Eximbank) nhằm hỗ trợ hàng

XK của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu

Hoạt động của Exim Bank không nhằm mục đích cạnh tranh với cácNHTM khác mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực nhiều rủi ro mà các ngân hàngkhông hoạt động Qua đó, Eximbank cung cấp các khoản tín dụng cho các nhà

NK tư nhân hay tổ chức nước ngoài đáng tin cậy khi mà các khoản vay tư nhânkhông có Để có được sự giúp đỡ này thì các sản phẩm hoặc dịch vụ của các tổchức này phải có ít nhất là 50% hàm lượng nội địa Hoa Kỳ và không làm thiệthại gì cho nền kinh tế Hoa Kỳ Phần lớn các dịch vụ tài chính của Eximbankđược cung cấp cho các công ty đa quốc gia, còn những doanh nghiệp nhỏ chiếm

Trang 31

khoảng 12%-15% tổng khối lượng cung cấp tài chính của Eximbank

Eximbank cung cấp 4 loại hình dịch vụ chính:

 Bảo lãnh vốn lưu động:

Dịch vụ này cho phép các ngân hàng cấp tài trợ cho nhà XK để gom hànghoặc sản xuất hàng hoá XK cũng như tài trợ các khoản phải thu ngắn hạn chongười này Trong trường hợp nhà XK không thanh toán nợ vay thì Eximbank sẽthực hiện bồi hoàn cho ngân hàng tài trợ phần giá trị nợ vay được bảo lãnh(thông thường là 90% khoản nợ vay), giúp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng tàitrợ

 Bảo hiểm tín dụng

Dịch vụ này giúp cho các nhà XK Hoa Kỳ mở rộng và phát triển ra nướcngoài thông qua bảo hiểm cho họ trước các khoản thu lỗ trong trường hợp ngườimua hoặc con nợ nước ngoài bị vỡ nợ vì các lý do chính trị hoặc thương mại.Thông qua hợp đồng bảo hiểm của Eximbank, người XK có thể dễ dàng tìmđược các khoản hỗ trợ về tài chính cho XK, bởi các khoản tiền thu được từ hợpđồng này có thể đem chuyển nhượng như một khoản ký quỹ cho một TCTC,miễn là được sự chấp nhận trước của Eximbank

 Bảo lãnh cho các khoản vay thương mại

Eximbank bảo lãnh cho các khoản vay thương mại của người mua nướcngoài khi họ mua hàng hoá hoặc dịch vụ của Hoa Kỳ lên đến 100% giá trị gốc vàlãi trong trường hợp không thanh toán được rủi ro chính trị hay thương mại

 Cho vay trực tiếp đối với nhà NK nước ngoài

Các khoản vay với lãi suất cố định trực tiếp cho nhà NK nước ngoài đểgiúp cho những nhà XK Hoa Kỳ có thể cạnh tranh được với các nhà cung cấpnước ngoài Eximbank sẽ xem xét cho khách hàng nước ngoài đáng tin cậy vàphải có sự bảo lãnh của Chính phủ hoặc của một ngân hàng khác vay một khoản

Trang 32

(với lãi suất cố định) trị giá tới 85% giá trị hợp đồng cung ứng hàng hoá từ HoaKỳ.

Sự hỗ trợ của Eximbank nhằm mục đích trợ giúp trong trường hợp rủi rochính trị và thương mại cản trợ tới việc cung ứng vốn của tư nhân, hoặc khi cungứng vốn được sự hỗ trợ của chính phủ khác làm giảm tính cạnh tranh của các nhà

XK Hoa Kỳ

1.4.2 Hàn Quốc

Ngân hàng XNK Hàn Quốc (Kexim) là một TCTC của Chính phủ, đượcthành lập ngày 1/7/1976 nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và tăng cường hợp táckinh tế với nước ngoài Để thực hiện được mục tiêu đó, ngân hàng thực hiệncung cấp hai chương trình tài trợ trực tiếp đó là tín dụng XK và chương trình tíndụng dịch vụ kỹ thuật

 Tín dụng XK

Loại hình này áp dụng cho giao dịch XK những hàng hoá tư liệu sản xuất

do Hàn Quốc chế tạo, bao gồm: nhà máy, tàu biển, máy móc, thiết bị vận tải,công cụ y khoa… Mọi nhà sản xuất hoặc XK Hàn Quốc đều có thể được tài trợbằng chương trình này Trong đó, Kexim yêu cầu:

- Ký quỹ 15% giá trị hợp đồng đối với loại hàng là nhà máy, máy bay, sắtthép các loại… và 20% đối với tất cả các loại hàng hoá còn lại

- Mức lãi suất áp dụng không thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng

- Việc hoàn trả nợ vay gốc và lãi phải được thực hiện theo định kỳ nửanăm kể từ 6 tháng sau ngày giao hàng

- Ngoài ra, ngân hàng còn yêu cầu phải có một thư bảo lãnh hoặc thư tíndụng được phát hành hoặc xác nhận bởi một ngân hàng tiếng tăm quốc tế hoặcbởi Chính phủ của nước NK hay NHTW nước đó để đảm bảo tín dụng

 Chương trình tín dụng dịch vụ kỹ thuật

Trang 33

Ngân hàng tiến hành cấp tài trợ cho các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuậtHàn Quốc nhằm thúc đẩy việc bán ra nước ngoài các dịch vụ kỹ thuật, chẳng hạnnhư: bí quyết kỹ thuật, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, kỹ thuật giám sáttrong việc lắp đặt và vận hành nhà máy, chương trình xây dựng ở nước ngoài.

 Tài trợ XK gián tiếp qua người mua

Ngân hàng của người mua nước ngoài vay trung và dài hạn để mua hàng

tư liệu sản xuất của Hàn Quốc Theo đó, ngân hàng kết lập hợp đồng tín dụngvới người mua, cho phép nhà XK Hàn Quốc được thanh toán khi thực hiện giaohàng

 Chương trình tái tài trợ của Kexim

Ngân hàng sẽ cấp tín dụng trung và dài hạn cho các ngân hàng nước ngoài

có uy tín, các ngân hàng sẽ dùng nguồn tài trợ này để cấp các khoản cho vaytrung và dài hạn cho người mua nước ngoài để mua tư liệu sản xuất của HànQuốc chế tác

1.4.3 Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại một số nước khác

Những năm đầu của thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh, Nhật Bản áp dụngchính sách tài trợ cho XK như cấp tín dụng đặc biệt, miễn giảm thuế và bảo hiểmđối với hàng XK Ngân hàng XNK của Nhật(J-EXIMBANK) ra đời năm 1950

có nhiệm vụ cấp tín dụng cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thuộc cácngành công nghiệp then chốt, những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như thép,thiết bị… J-EXIMBANK có bốn hình thức tài trợ chính là: tín dụng xuất khẩu,tín dụng nhập khẩu, tín dụng đầu tư ra nước ngoài và tín dụng không điều kiện(untied loans)

Ngân hàng tiến hành áp dụng tín dụng người mua nhằm giúp người mua

Trang 34

trả tiền ngay cho người bán theo tiến độ thực hiện hợp đồng Phương thức này đãcho pháp giảm bớt, thậm chí xoá hẳn nhu cầu cấp vốn trước cho người nhậpkhẩu Ngân hàng Ngoại thương của Pháp cung cấp hình thức tín dụng thăm dòthị trường mới Mặt khác, Ngân hàng còn thực hiện các phương thức tài trợ khácnhư tài trợ vật liệu sử dụng ở nước ngoài, tài trợ hàng tồn kho ở nước ngoài, tàitrợ cho việc góp vốn… Ngoài ra, còn có hình thức tạm ứng ngoại tệ và đã pháttriển rất mạnh vì chúng không nằm trong hạn mức tín dụng Việc tạm ứng bằngngoại tệ là hình thức tín dụng của ngân hàng dành cho người nhập khẩu để bùđắp khoảng thời gian giữa lúc trả tiền cho người cung cấp và thời điểm nhậnhàng Các khoản ứng trước ngoại tệ này khiến người NK phải chịu rủi ro hốiđoái, nhưng có thể bù đắp rủi ro này bằng cách mua ngoại tệ kỳ hạn.

Eximbank thực hiện hình thức tín dụng cho người đặt hàng Đây làphương thức tín dụng cung cấp cho người nhập hàng bằng cách các ngân hàngĐức ký kết với các ngân hàng các nước khác trên cơ sở hiệp định khung doChính phủ các nước này những khoản tín dụng riêng rẽ nhằm tài trợ cho việcnhập khẩu hàng hoá, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ Đức Thông qua

đó, nhà XK sẽ tránh được rủi ro, giữ được khả năng tín dụng của mình và cạnhtranh được với nước ngoài, còn đối với nhà NK thì có thể thanh toán từng phần,thanh toán lợi nhuận từ dự án NK, nên giữ được vốn và ngoại tệ của nước mình

và được lãi suất thấp ở nước XK

Nghiệp vụ chính của Eximbank Trung Quốc là thực hiện chính sách côngnghiệp, ngoại thương, tài chính của Nhà nước, thúc đẩy các sản phẩm như: cơkhí, điện tử, thiết bị đồng bộ, các sản phẩm có công nghệ cao, công nghệ mới…đồng thời tăng cường hợp tác công nghệ, kinh tế và thực hiện chính sách hỗ trợ

Trang 35

tài chính với nước ngoài

Các nghiệp vụ chính của Eximbank Trung Quốc nhằm tài trợ cho hoạtđộng XNK bao gồm: Tín dụng XK cho nhà NK, tín dụng cho nhà XK, bảo hiểmtín dụng, mua bán các chứng từ có giá…

Eximbank Thái Lan được thành lập nhằm tăng cường lợi thế cạnh tranhcủa các doanh nhân Thái Lan trong việc kinh doanh trên thị trường quốc tế.Eximbank không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính có tác dụng hỗ trợ trực tiếpđến việc kinh doanh XK mà còn gián tiếp tăng cường khả năng XK của Thái Lanbằng việc hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Thái Lan

Eximbank thực hiện các chính sách hỗ trợ XNK thông qua cung cấp một

số dịch vụ tài chính như: nghiệp vụ cho vay trước khi giao hàng bằng đồng Bahthoặc bằng USD hay JPY, nghiệp vụ tín dụng trọn gói trực tiếp, cho vay thời hạn

để mở rộng hoạt động kinh doanh, tín dụng tài trợ cho XK tư liệu sản xuất,nghiệp vụ tín dụng hợp đồng nước ngoài, nghiệp vụ tín dụng thanh toán các hốiphiếu XK, nghiệp vụ bảo hiểm tín dụng XK…

Như vậy, qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước có thể rút ra một số kinh

nghiệm mà các NHTM Việt Nam có thể nghiên cứu và vận dụng nhằm hỗ trợhoạt động XNK của quốc gia:

- Các NHTM phải đa dạng hoá các công cụ tài trợ XNK Việc đa dạng hoá

sẽ giúp đáp ứng tốt các nhu cầu ngày càng phong phú của các doanh nghiệpXNK và đó cũng là biện pháp rất hữu hiệu để phòng chống rủi ro

- Các NHTM phải căn cứ vào bối cảnh kinh tế – xã hội từng thời kỳ đểđưa các công cụ tài trợ cho phù hợp Thực tế cho thấy, các công cụ tài trợ XNKrất đa dạng song nhu cầu của khách hàng đối với các công cụ này lại tuỳ thuộcvào từng thời kỳ phát triển, do vậy các NHTM cần căn cứ vào nhu cầu của khách

Trang 36

hàng để đưa ra các công cụ tài trợ phù hợp

- Sử dụng các công cụ tài trợ phải bảo đảm lợi ích giữa ngân hàng vớikhách hàng là nhà XNK, giảm thiểu rủi ro Thương mại quốc tế luôn tiềm ẩn rủi

ro, chính vì thế mà các NHTM phải lựa chọn các công cụ phù hợp nhằm một mặtphục vụ nhu cầu của khách hàng, mặt khác phải bảo đảm lợi ích của ngân hàng,giảm thiểu rủi ro có thể phát sinh khi áp dụng nghiệp vụ tài trợ cho các doanhnghiệp

- Sử dụng các công cụ tài trợ phải kết hợp giữa tài trợ của NHTM và củaChính phủ để nâng cao hiệu quả quá trình tài trợ, tránh tình trạng chồng chéo, từ

đó, tạo điều kiện để các doanh nghiệp XNK có thể phát triển và mở rộng hoạtđộng kinh doanh, góp phần thúc đẩy hoạt động XNK, tăng thu nhập quốc dân vàtạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, khoá luận đã đề cập tới những vấn đề lý luận cơ bản sau:

Trang 37

Một là, đưa ra khái niệm và phân tích vai trò của hoạt động tài trợ XNK

đối với nền kinh tế, đối với các NHTM cũng như đối với các bản thân các doanhnghiệp XNK để từ thấy được những ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như việc cầnthiết phải có hoạt động tài trợ ngoại thương trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay

Hai là, khoá luận đưa ra những hình thức tài trợ XNK chủ yếu của các

NHTM đang được sử dụng hiện nay

Ba là, hoạt động tài trợ XNK đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển

kinh tế, tuy nhiên, đây là một hoạt động rất phức tạp do chịu ảnh hưởng của rấtnhiều các nhân tố khác nhau Chính vì vậy, khoá luận đưa ra một vài nhân tố chủquan và khách quan có tác động đến hoạt động tài trợ XNK của NHTM và kinhnghiệm cũng như bài học của NHTM các nước nhằm nâng cao hoạt động tài trợXNK của nước ta

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI SỞ

GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Trang 38

2.1 Tổng quan về Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Ngày 1/4/1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT VN) đượcthành lập theo quyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách ra từ Cụcquản lý Ngoại hối Ngân hàng TW (nay là NHNN) hoạt động dưới sự lãnh đạotrực tiếp của NHNN với chức năng là ngân hàng duy nhất phục vụ kinh tế đốingoại và cho vay XNK của cả nước

Theo nghị định 53/HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày26/3/1988 về cải tổ bộ máy NHNN Việt Nam thành hệ thống ngân hàng hai cấp

và đặc biệt là từ năm 1990 thực hiện cải tổ ngân hàng theo Pháp lệnh ngân hàng,NHNT đã được tổ chức lại cho phù hợp với tính chất và chức năng của mộtNHTM quốc doanh Từ vai trò độc quyền về kinh doanh ngoại hối chuyển vàomôi trường tự do cạnh tranh với các NHTM khác, NHNT tiến hành hoạt độngnhư một ngân hàng đa năng cạnh tranh với các NHTM khác bao gồm cả chinhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh Nhằm đẩy mạnh hoạtđộng của mình, NHNT đã phát triển mạng lưới chi nhánh trong nước và nướcngoài, mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng trên thế giới

Sở giao dịch của NHNT được thành lập từ ngày 25/03/1991 theo quyếtđịnh 34/TCCB của tổng giám đốc NHNT VN và chính thức đi vào hoạt động từngày 01/04/1991 Theo quyết định thành lập, SGD sẽ hoạt động với chức năng làmột bộ phận trực tiếp kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ đầu mối với các chinhánh trong toàn hệ thống NHNT VN Sự ra đời của SGD đã đánh dấu một bướcphát triển mạnh mẽ của NHNT theo cơ chế thị trường Hoạt động của SGD lànơi thể hiện rõ nhất hiệu quả thực thi các chính sách của ban lãnh đạo NHNT

Trang 39

Đồng thời SGD, với vai trò của mình cũng góp phần quan trọng trong việc tăngcường khả năng cạnh tranh của hệ thống NHNT Việt Nam, nhờ đó thúc đẩy sựphát triển của ngân hàng

Từ khi thành lập đến nay, SGD đã không ngừng phát triển, nâng cao cả vềmặt quy mô lẫn chất lượng các dịch vụ ngân hàng Sau một thời gian hoạt động,không ngừng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nhằm phục vụ tốt nhất các nhucầu của khách hàng, hiện nay SGD có 18 phòng nghiệp vụ thực hiện tất cả cácnghiệp vụ của một NHTM kinh doanh đa năng Bên cạnh đó, SGD cũng đã pháttriển được 17 phòng giao dịch trên phạm vi cả nước với nhiệm vụ huy động vốn,phát hành thẻ và cho vay tín dụng… với cả khách hàng trong và ngoài nước

Với việc cung cấp đầy đủ các nghiệp vụ của một NHTM, mỗi nghiệp vụđều được phát triển khá hoàn thiện, SGD của NHNT đang từng bước khẳng địnhvai trò của mình, sẵn sàng tham gia vào công cuộc cải tổ ngân hàng, nhằm đưaNHNT trở thành một trong những ngân hàng có uy tín cuả khu vực Đông NamÁ

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Tính đến cuối tháng 12/2006, tổng nguồn vốn NHNT đạt 171.862 tỷ quyđồng, tăng 23,3% so với cuối năm 2005 – vượt chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng

Trang 40

tổng nguồn vốn và tăng gần 76,6% so với năm 2003 Đây là tín hiệu đáng mừngcho NHNT để có thể mở rộng và nâng cao hơn nữa các hoạt động kinh doanhcủa mình.

Bảng 2.1: Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của NHNT VN trong

so với năm 2003 Cơ cấu vốn VND/ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động trênthị trường tiếp tục thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ trọng của đồng nội tệ vàgiảm đồng ngoại tệ (54/46), đáng chú ý là vốn huy động từ thị trường liên ngânhàng tăng gấp 2 lần so với năm 2005, đạt hơn 32.000 tỷ đồng

Năm 2006 cũng là năm đầu tiên SGD tách ra hoạt động độc lập, bên cạnhnhững thuận lợi về thương hiệu và ưu thế của SGD trước đây, SGD cũng gặpnhiều khó khăn do xáo trộn về mặt tổ chức, nhiều nghiệp vụ mới được đưa vàothực hiện, khách hàng lớn chuyển lên TW quản lý khiến cho xuất phát điểm của

Ngày đăng: 19/09/2012, 17:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của NHNT VN trong - Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc
Bảng 2.1 Doanh số tổng nguồn vốn và vốn huy động của NHNT VN trong (Trang 40)
Bảng 2.2. Cơ cấu huy động vốn theo nguồn của SGD năm 2006 - Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc
Bảng 2.2. Cơ cấu huy động vốn theo nguồn của SGD năm 2006 (Trang 41)
Bảng 2.4. Doanh số TT XNK của SGD năm 2005-2006 - Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc
Bảng 2.4. Doanh số TT XNK của SGD năm 2005-2006 (Trang 47)
Bảng 2.6. Hoạt động chiết khấu chứng từ XK tại SGD năm 2003-2006 - Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc
Bảng 2.6. Hoạt động chiết khấu chứng từ XK tại SGD năm 2003-2006 (Trang 51)
Bảng 2.10. Tình hình bảo lãnh tại SGD – NHNT VN năm 2005-2006 - Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.doc
Bảng 2.10. Tình hình bảo lãnh tại SGD – NHNT VN năm 2005-2006 (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w