CHƯƠNG I: : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA TRUNG TÂM DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VDC ONLINE – CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU VDC1.1.Tính cấp t
Trang 1CHƯƠNG I: : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA TRUNG TÂM DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VDC ONLINE – CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU VDC
1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài“ Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ GTGT Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online _ công ty điện toán và truyền
số liệu VDC trên thị trường miền Bắc”
Internet ra đời trong những năm của thập niên 80, trải qua hơn 20 năm trưởng thành và phát triển, Internet đã và đang từng giờ từng phút tác động làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, mang lại rất nhiều lợi ích cho con người ở nhiều lĩnh vực, trong đó mạnh mẽ và rõ ràng nhất phải kể đến lĩnh vực kinh doanh
Một khía cạnh khác, kinh tế thị trường phát triển thì cạnh tranh trên thị trường càng trở nên gay gắt và quyết liệt Cạnh tranh vừa là công cụ để lựa chọn và là công cụ để dào thải các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường Do vậy các dịch vụ Internet và các sản phẩm dịch vụ GTGT giá trị gia tăng ra đời là một tất yếu, lợi ích mà
nó mang lại là tăng năng suất, giảm chi phí, khuyến khích sự tham gia nhiều hơn của khách hàng và tạo điều kiện phục vụ khách hàng trên diện rộng Ứng dụng sản phẩm dịch
vụ, các doanh nghiệp và cá nhân khách hàng không còn bị hạn chế về thời gian, không gian, biên giới lãnh thổ quốc gia Dịch vụ giá trị gia tăng ngày càng phát triển ở tất cả các nước trên thế giới trong đó có nước Việt Nam
Các sản phẩm dịch vụ GTGT giá trị gia tăng là yếu tố cần thiết với doanh nghiệp trong quá trình ứng dụng thương mại điện tử Có ý ngĩa quan trọng đối với việc quảng bá sản phẩm, cũng như hình ảnh của doanh nghiệp Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng như VNPT CA (Chứng thực sô) Web hosting, thuê tên miền, thuê server làm máy chủ… Theo kết quả điều tra Bộ Công Thương cho thấy tỉ lệ các doanh nghiệp Việt Nam có website chiếm 85%, tăng 7% so với năm 2001…
Vì vậy việc nghiên cứu đề tài phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ GTGT là rất cần thiết, giúp cho doanh nghiệp đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, nâng cao hình
Trang 2ảnh của doanh nghiệp đối với khách hàng, từ đó doanh nghiệp ngày càng phát triển về quy mô và chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Xuất phát từ lý do trên kèm theo những vấn đề chủ quan cũng như các điều kiện khách quan, thông qua việc nghiên cứu tham khảo các tài liệu liên quan và thu thập thực
tế từ quá trình thực tập tại Trung tâm điện toán và truyền số liệu VDC Online _ Công ty điện toán và truyền số liệu VDC, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“ Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ củaTrung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online -Công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc”
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:
Thông qua việc nghiên cứu đề tài “ Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online -Công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc” nhằm giúp trung tâm:
Nhằm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sản phẩm dịch vụ của Trung tâmPhân tích tình thế chính sách sản phẩm dịch vụ của Trung tâm,tìn hiểu khách hàng, thị trường và các đối thủ cạnh tranh của Trung tâm để từ đó có những chính sách phù hợp đối với các sản phẩm dịch vụ của trung tâm
Chính sách phát triển sản phẩm nhằm thực hiện mục tiêu của Trung tâm như mục tiêu về lợi nhuận, thị phần và an toàn trong kinh doanh
Nghiên cứu các nội dung chính sách sản phẩm dịch vụ của VDC Online trên thị trường miền Bắc
1.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Trang 31.3.1 Các luận văn khóa trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu của trường đại học Thương Mại :
Trong nghiên quá trình nghiên cứu em đã tham khảo một số luận văn của sinh viên trường Đại học thương mại như:
• Đề tài “ Phát triển chính sách sản phẩm của công ty TNHH tạo mẫu và in bao bì miền Bắc của Sinh viên K43C Nguyễn Thị Thu Hương năm 2011”
• Đề tài “Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ GTGT phần mềm của công ty cổ phần tin học Bạch Kim trên thị trường miền Bắc” của Lê Ngọc Xuân K42 năm 2010
• Đề tài “Phát triển chính sách sản phẩm của công ty cổ phần thanh toán điện tử Việt” của Sinh viên K43C Đặng Đình Thuyên năm 2011
Đề tài nêu ra cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm, từ đó khái quát thực trạng kinh doanh của công ty Từ những nghiên cứu về chính sách sản phẩm , đề tài đưa ra đề xuất nhằm phát triển hơn nữa chính sách sản phẩm của công ty cùng một số đề xuất cho việc phát triển chính sách sản phẩm của công ty như : đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công tác nghiên cứu thị trường của công ty
Ưu điểm của những công trình năm trước:
- Phần lý thuyết được trình bày rõ ràng các khái niệm và nội dung được nêu ra đều bám sát vào nội dung nghiên cứu của từng đề tài
- Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thực tập được phân tích cụ thể, chi tiết
- Các giải pháp đưa ra đều theo sát mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với thực trạng kinh doanh của các đơn vị thực tập
Hạn chế của những công trình năm trước:
- Chưa nêu rõ được phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu chưa được đề cập rõ ràng
- Chưa dự báo được cụ thể những thực tế có thể xảy ra khi đưa vấn đề nghiên cứu vào thực tiễn của đơn vị thực tập
1.3.2 Các luận văn sinh viên đã từng nghiên cứu về công ty:
Trang 4• “Phát triển dịch vụ hỗ trợ sau bán của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC online” của sinh viên Lê Thị Liên – K43I4
• “ Các giải pháp tạo động lực tại Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC online – công ty điện toán và truyền số liệu VDC”
Đề tài “ Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ GTGT Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online _ công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc”mà em nghiên cứu không có sự trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu
tại Trung tâm
1.4 Các mục tiêu nghiên cứu:
Tập hợp và hệ thống hóa các nội dung cơ sở lý luận của quá trình xây dựng, thực hiện chính sách sản phẩm dịch của Trung tâm
Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quá trình xây dựng, thực hiện chính sách sản phẩm dịch vụở trung tâm VDC Online kết hợp với các kiến thức đã học để đưa ra những giải pháp nhằm phát triển chính sách sản phẩm của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online trên thị trường miền Bắc
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng (VDC Online) - Công
ty Điện toán và Truyền số liệu VDC
Trang 5 Về không gian: Đề tài đi nghiên cứu, làm rõ chính sách sản phẩm dịch vụ của Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng VDC Online - Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc.
Về thời gian:sử dụng các dữ liệu tại Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng trong 3 năm (từ năm 2010 đến năm 2012) để nghiên cứu, so sánh, làm rõ hơn chính sách sản phẩm tại Trung tâm
1.6 Phương pháp nghiên cứu:
1.6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
có hai phương pháp là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu sơ cấp:
Mục đích:
Thu thập những thông tin mới, có tính khách quan và độ chính xác cao về thực trạng hoạt động kinh doanh của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online từ khách hàng, nhà quản trị, công chúng nhằm bổ sung và hoàn thiện hệ thống thông tin cho đề tài nghiên cứu Đồng thời tìm kiếm vấn đề liên quan tới việc phát triển sản phẩm dịch vụ của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online -Công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc
Phương pháp tiến hành thu thập:
Dữ liệu sơ cấpthu thập từ hai nguồn chính là: phiếu điều tra khách hàng và phỏng vấn các nhà quản trị
Mẫu nghiên cứu: Mẫu khách hàng điều tra được lấy theo phương pháp ngẫy nhiên dựa trên danh sách khách hàng hiện có của công ty
Trang 6Tìm kiếm các thông tin chi tiết, chính xác để đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị thực tập trong thời gian gần đây, đồng thời xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online -Công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc
Phương pháp thu thập thông tin
Nguồn thông tin bên trong: thu thập dữ liệu từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online từ năm 2010 đến năm 2012 Các văn bản, số liệu liên quan đến quá trình thành lập, phát triển của công ty, và những tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty
Nguồn thông tin bên ngoài: thu thập dữ liệu thống kê qua cổng thông tin của chính phủ, bộ công thương được công bố Thông tin lấy từ một số trang web uy tín và một số báo chí
Phương pháp thu thập: Các thông tin thứ cấp được thu thập chủ yếu dựa vào tính tin cậy của nguồn tin Các thông tin bên trong đều do chính doanh nghiệp cung cấp, thông tin bên ngoài đều lấy từ nguồn tin đáng tin cậy của các cơ quan có thẩm quyền và
uy tín
Phương pháp phân tích
Tập hợp theo bảng biểu, sơ đồ và so sánh giữa các năm
1.7 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp:
Kết cấu khóa luận được chia làm 4 chương như sau:
Trang 7 Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài“Phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ của Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online -Công ty điện toán và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc”
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát triển sản phẩm của công ty kinh doanh.
Chương 3: Phân tích các kết quản nghiên cứu về thực trạng chính sách phát triển sản phảm dịch vụ của trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online - công ty điện toán và truyền số liệu VDC treent hị trường miền Bắc.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất về giải pháp phát triển chính sách sản phẩm của trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online - công ty điện toán
và truyền số liệu VDC trên thị trường miền Bắc.
Chương 2: NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA CÁC CÔNG TY KINH DOANH DỊCH VỤ.
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về sản phẩm dịch vụ:
2.1.1 Khái niệm sản phẩm, dịch vụ, phân loại sản phẩm và dịch vụ:
2.1.1.1 Khái niệm sản phẩm, dịch vụ:
a Khái niệm sản phẩm :
Trang 8sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn
được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều những quan niệm về dịch vụ:
Theo Philip Kotler: “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện
hữu , giải quyết các mối quan hệ giữa hàng hóa và tài sản mà khách hàng sở hữu với
Sản phẩm bổ xungLắpđặtt
Sản phẩm hiện thựcNhãn hiệu
tín dụnghành
Sản phẩm theo ý tưởng
Bao góiChất
ích căn bảnBảo hànhhành
Đặc tính
Bố cục bên ngoàiSửa chữa
Trang 9người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu Sản phẩm của các dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất”
Giáo trình Marketing thương mại của trường Đại Học Thương Mại đưa ra một khái niệm: “Dịch vụ là sản phẩm của việc sản xuất và cung ứng những hiệu năng ích dụng của một hoạt động lao động xác định có thể tồn tại độc lập hoặc gắn liền với việc thương mại một sản phẩm vật chất nào đó để thỏa mãn nhu cầu của một tổ chức hoặc một
cá nhân xác định”
Khái niệm sản phẩm dịch vụ: Sản phẩm dịch vụ là một tập hợp bao gồm các giá trị làm thỏa mãn khách hàng Mọi người mua những dịch vụ để giải quyết các vấn đề của họ kèm theo các giá trị tương ứng với khả năng thực hiện có thể nhận được của dịch vụ
2.1.1.2 Phân loại sản phẩm, dịch vụ:
a Phân loại sản phẩm:
Sản phẩm được phân loại thành 3 nhóm căn cứ theo độ bền hay tính hữu hạn của chúng:
1 Hàng lâu bền: là những thứ hàng hữu hình thường được sử dụng nhiều lần
2 Hàng không lâu bền: là những hàng hóa hữu hình thường bị tiêu hao sau một lần
hay vài lần sử dụng;
3 Dịch vụ: là những hoạt động, lợi ích hay sự thỏa mãn được đưa ra để bán.
b Phân loại dịch vụ:
có thể phân loại dịch vụ theo những đặc điểm khác nhau như sau”
Phân loại theo nguồn gốc của dịch vụ: Dịch vụ có nguồn gôc là con người và dịch
vụ có nguồn gốc từ máy móc
Khách hàng có nhất thiết phải có mặt khi cung ứng dịch vụ cho họ hay không?
Động cơ mua dịch vụ của khách hàng là gì ? Dịch vụ có tác dụng thỏa mãn nhu
cầu cá nhân hay không, hay thỏa mãn nhu cầu nghề nghiệp? thông thường chi phí cho dịch vụ tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng nghề nghiệp rất khác nhau
Trang 10 Các mục tiêu của người cung ứng dịch vụ ( hoạt động thương mại hay phi thương
mại) và hình thức cung ứng dịch vụ ( phục vụ từng người hay dịch vụ công cộng )
2.1.2 Khái niệm, đặc trưng và bản chất sản phẩm dịch vụ:
2.1.2.1 Khái niệm:
sản phẩm dịch vụ là một tập hợp bao gồm các giá trị làm thỏa mãn khách hàng Mọi người mua những dịch vụ để giải quyết các vấn đề của họ kèm theo các giá trị tương ứng với khả năng thực hiện có thể nhận được của dịch vụ
Trang 11sao cho tương thích với nhu cầu thị trường mục tiêu giúp công ty theo đuổi mục tiêu trong điều kiện kinh doanh nhất định
Theo khái niệm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa – giáo trình marketing thương mại : Chính sách sản phẩm là tổng hợp các quyết định, hành động liên quan đến sản xuất và kinh doanh sản phẩm, hướng tới những mục tiêu nhất dịnh để các năng lực và nguồn lực của doanh nghiệp đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài Để có thể tồn tại
và phát triển, điều kiện không thể thiếu đo chính là công ty phải có một chính sách sản phẩm cụ thể rõ rang và hiệu quả Chính sách đó phải phù hơp với khả năng và tiềm lực của công ty thì chính sách sản phẩm đó mới phát huy tối đa hiệu quả
Dựa theo hai khái niệm này em quyết định phân tích phát triển chính sách sản phẩm dịch
vụ của trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng VDC Online theo khái niệm của Philip Kotler
2.2.2 Vai trò của chính sách sản phẩm:
Một chính sách sản phẩm đúng đắn chắc chắn sẽ mang lại thành công cho công ty
và ngượi lại
Chính sách sản phẩm là yếu tố cơ sở để triển khai các yếu tố của Marketing
Chính sách sản phẩm là cơ sở xác lập nên giá bán sản phẩm
Quan hệ giữa sản phẩm với phương pháp thực hiện ở chỗ: việc thiết lập kênh phân phối phải căn cứ vào sản phẩm
Với biến số xúc tiến thương mại thì chính sách sản phẩm là căn cứ để xác lập chính sách chào hàng cho phù hợp
Vai trò của chính sách sản phẩm còn thể hiện ở chỗ nó đảm bảo thực hiện các mục tiêu của công ty
2.2.3 Tầm quan trọng của chính sách sản phẩm:
Chính sách sản phẩm có một vị trí vô cùng quan trọng và là yếu tố quyết định đến chiến lược kinh doanh của công ty, nó định hướng cho chiến lượng kinh doanh và là nền tảng để thực hiện chiến lược kinh doanh
Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì tầm quan trọng của chính sách sản phẩm càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu chính sách sản phẩm không tốt thì chiến lược kinh doanh của công ty sẽ không hiệu quả
Trang 122.3 Phân định nội dung nghiên cứu chính sách sản phẩm của công ty sản xuất sản phẩm dịch vụ:
2.3.1 Mục tiêu của chính sách sản phẩm:
Bất kỳ một chính sách sản phẩm nào cũng đều được bắt đầu bằng mục tiêu và ứng với mỗi mục tiêu thì có những chính sách phù hợp
Để phát triển chính sách sản phẩm dịch vụ thì công việc đầu tiên của nhà quản trị
là phải xác định được mục tiêu của chính sách Đây là bước quan trọng vì nó chính là cơ
sở, là phương hướng cho các bước tiếp theo, đồng thời nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình vận hành và hiệu quả của chính sách
Các mục tiêu công ty cần xác định bao gồm:
- Mục tiêu lợi nhuận: Số lượng, chất lượng, cơ cấu sản phẩm, sự điều chỉnh mở rộng hay thu hẹp chủng loại của nó cùng với chi phí và giá thành có mối quan hệ mật thiết với mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được
- Mục tiêu thị phần: Thị phần của doanh nghiệp phản ánh sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Thị phần có liên quan đến chính sách sản phẩm
- Mục tiêu an toàn: Chính sách sản phẩm hợp lý, phù hợp với nhu cầu thị trường thì sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể có được vị thế vững chắc trên thị trường Phòng ngừa và tránh được các rủi ro và tổn thất do môi trường đem lại
- Nâng cao khả năng bán: khi chính sách sản phẩm tốt được áp dụng khi đó người
tiêu dùng sẽ có cảm nhận tốt về sản phẩm Dẫn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao
- Tạo lập được khả năng sinh lời: Khi doanh số bán ngày càng tăng thì doanh số tăng, lợi nhuận công ty thu về được ngày càng cao
2.3.2 Chính sách chủng loại sản phẩm:
Trang 13Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau do giống nhau về chức năng hay được bán cho cùng một nhóm khách hàng hoặc bán tại cùng một thị trường và có cùng một hệ thống giá.
Chủng loại mặt hàng hay nói cách khác là phổ mặt hàng của công ty được mô tả bằng chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và độ đặc của nó
- Chiều rộng phổ mặt hàng: Biểu thị số lượng các nhóm mặt hàng khác nhau mà công ty kinh doanh để thỏa mãn những loại nhu cầu khác nhau
- Chiều dài phổ mặt hàng được xác định bằng tổng số các tên hàng trong tổng danh mục mặt hàng kinh doanh của công ty
- Chiều sâu phổ mặt hàng: Được phân định bằng tổng số các loại và các phương
án mặt hàng cùng thỏa mãn như nhau nhưng khác nhau về sự pha trộn phối thức sản phẩm và mức giá
- Độ đặc phổ mặt hàng: Nó biểu thị độ liên quan chặt chẽ và mức liên quan tỷ lệ liên kết giữa các nhóm mặt hàng khác nhau hoặc trong sản xuất hoặc trong tiêu dùng
Các quyết định phát triển chủng loại sản phẩm:
Chủng loại sản phẩm sẽ được phát triển khi công ty vượt ra ngoài phạm vi sản xuất hiện tại Việc phát triển có thể theo hướng xuống dưới hay theo hướng lên trên hoặc theo
cả hai hướng
- Phát triển theo hướng xuống dưới: Nhiều công ty lúc đầu chiến lĩnh phần phía trên thị trường, sau đó dần dần mở rộng chủng loại của mình để chiếm lĩnh cả phần dưới Việc phát triển xuống phía dưới có thể nhằm mục đích kìm hãm các đối thủ cạnh tranh, tiến công họ hay xâm nhập vào những phần thị trường đang phát triển nhanh nhất
- Phát triển theo hướng lên trên: Những công ty ở đầu dưới của thị trường có thể suy tính đến việc xâm nhập đầu trên của thị trường Họ có thể bị hấp dẫn bởi tỷ lệ tăng trưởng cao hơn, tiền lãi cao hơn hay chỉ là cơ may để tự xác lập vị trí của mình như một người sản xuất chủng loại đầy đủ Quyết định phát triển theo hướng lên trên có thể chứa đựng nhiều rủi ro Những đối thủ cạnh tranh ở phía trên không những đã chiếm lĩnh vững chắc vị trí của mình mà còn có thể phản công bằng cách xâm nhập thị trường phía dưới
Trang 14- Phát triển theo hai hướng: Một công ty đang hoạt động ở phần giữa của thị trường có thể quyết định phát triển chủng loại hàng hóa của mình đồng thời hướng lên trên hay hướng xuống dưới.
Quyết định bổ xung chủng loại sản phẩm:
Một sản phẩm hiện tại cũng có thể kéo dài bằng cách bổ xung thêm những sản phẩm mới trong phạm vi hiện tại của loại đó Có một số nguyên nhân dẫn đến cần bổ xung chủng loại hàng hóa:
Mong muốn có thêm lợi nhuận
Muốn tận dụng năng lực sản xuất dư thừa
Mưu toan trở thành công ty chủ chốt với chủng loại sản phẩm đầy đủ
Muốn xóa bỏ những chỗ trống không có đối thủ cạnh tranh
Việc bổ xung chủng loại sản phẩm quá mức sẽ dẫn đến làm giảm tổng lợi nhuận, bởi vì các mặt hàng bắt đầu cản trở việc tiêu thụ của nhau, còn người tiêu dùng thì bị lúng túng, khi sản xuất các sản phẩm mới công ty phải nắm chắc là sản phẩm mới sẽ khác hẳn những sản phẩm đã sản xuất
Quyết định hạn chế chủng loại sản phẩm:
Những mặt hàng có thể bị loại bớt như:
Khi loại sản phẩm đó có mặt hàng đã chết, nghĩa là chúng không mang lại lợi nhuận Những sản phẩm yếu kém có thể xác định được thông qua việc phân tích doanh số bán và chi phí
Hạn chế chủng loại sản phẩm khi công ty thiếu năng lực sản xuất, công ty cần phải tập trung và sản xuất sản phẩm có thể đem lại lợi nhuận cao
2.3.3 Chính sách chất lượng sản phẩm dịch vụ:
Chất lượng chính là một thuật ngữ tóm lược cho tính bền, tính đáng tin cậy, dễ sử dụng, dễ sửa chữa, tính chính xác và thuộc tính giá trị khác của một phối thức sản phẩm Trên quan điểm Marketing, chất lượng phải đo lường theo những cảm nhận của người mua
Các doanh nghiệp dịch vụ có thể chiến thắng bằng việc cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh và đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng.Những
Trang 15kỳ vọng này được rút ra từ quá khứ của họ, từ truyền miệng hoặc từ quảng cáo.Sau khi nhận dịch vụ, khách hàng so sánh dịch vụ nhận được với dịch vụ kỳ vọng.Nếu dịch vụ nhận được thấp hơn dịch vụ kỳ vọng khách hàng sẽ mất hứng thú với người cung cấp Nếu dịch vụ nhận được làm vừa lòng khách hàng hay vượt trội sự mong đợi, họ sẽ có xu hướng sử dụng nhà cung cấp này.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp dịch vụ được quản lý tốt thường chia sẻ theo một thực tiễn chung sau:
Quan điểm quản trị chiến lược
Lịch sử cam kết về nhà quản trị chiến lược
Các tiêu chuẩn chất lượng cao
Các hệ thống theo dõi thực hiện nhiệm vụ dịch vụ
Những khiếu nại của khách hàng
Làm hài lòng cả nhân viên cũng như khách hàng
Các quyết định chất lượng sản phẩm:
Quyết định duy trì chất lượng sản phẩm: Khi chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp đã đượ người tiêu dùng chấp nhận thì doanh nghiệp sẽ duy trì chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng trên thị trường
Quyết định cải tiến chất lượng sản phẩm: Cạnh tranh trên thị trường là không thể tránh khỏi, khi có càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc trước mắt là cần cải tiến chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm có tốt thì mới có thể cạnh tranh được
Quyết định giảm dần chất lượng sản phẩm: Khi thị trường bão hòa và sản phẩm đang đến chu kỳ suy thoái thì doanh nghiệp có thể giảm dần chất lượng sản phẩm xuống
2.3.4 Chính sách nhãn hiệu sản phẩm:
Nhãn hiệu là một tên gọi, một thuật ngữ, một biểu tượng, một dấu hiệu, một mẫu
vẽ hay tổng hợp của tất cả những thứ đó nhằm xác định hàng hóa hay dịch vụ của đối thủ cạnh tranh
Nhãn hiệu gồm hai bộ phận cấu thành là tên nhãn và dấu hiệu
Ý nghĩa của nhãn hiệu: Nếu khi tham gia thị trường nhãn hiệu đó không nổi tiếng thì không sao nhưng khi nó nổi tiếng thì nó là một giá trị vô hình rất lớn của công ty, cho nên công ty phải bảo vệ nó
Quyết định nhãn hiệu gồm hai quyết định:
Quyết định người đứng tên nhãn hiệu:
Trang 16 Do nhà sản xuất lập ra gọi là nhãn hiệu quốc gia.
Do nhà thương mại lập ra gọi là nhãn hiệu riêng
Do nhà sản xuất lập ra một phần của nhãn hiệu, phần còn lại là do nhà thương mại
lập ra
Quyết định về chính sách nhãn hiệu:
Chiến lược mở rộng chủng loại là người ta sử dụng tên nhãn hiệu nhưng mở rộng
nó theo nhiều kích cỡ, nhiều bao bì
Chiến lượng mở rộng nhãn hiệu là người ta sử dụng một tên nhãn hiệu như nhau
sử dụng cho nhiều mặt hàng khác nhau
Đa nhãn hiệu cùng một mặt hàng người ta sử dụng cho nhiều nhãn hiệu khác nhau
Chiến lược nhãn hiệu mới là dùng nhiều nhãn hiệu mới cho một mặt hàng mới
2.3.5 Quyết định về bao gói sản phẩm:
Bao bì là một trong những công cụ đắc lực của Marketing, bao bì thiết kế tốt có thể trở thành một tiện nghi thêm đối với người tiêu dùng, với người sản xuất đó là một phương tiện để kích thích tiêu thụ hàng hóa thêm
Bao bì là những phương án bao gói khác nhau gồm 3 lớp Lớp trong là lớp trực tiếp chứa đựng hàng hóa.Bao gói ngoài là vật liệu dùng để bảo vệ lớp bao bì trong và sẽ
bỏ đi khi chuẩn bị sử dụng hàng hóa Và cuối cùng là một bộ phận không thể tách rời được của bao bì là ghi nhãn hiệu cà thông tin mô tả hàng hóa ngay trên bao gói hay đặt vào bên trong
Có rất nhiều yếu tố góp phần mở rộng việc sử dụng bao bì làm công cụ Marketing:
Tự phục vụ
Mức sung túc của người tiêu dùng
Hình ảnh của công ty và của nhãn hiệu
Cơ hội đổi mới
Việc thiết kế bao bì có hiệu quả cho sản phẩm cần thông qua rất nhiều quyết định Trước hết cần phải xây dựng quan niệm về bao bì có nghĩa là bao bì phải tuân theo nguyên tắc nào và đóng vai trò thế nào với sản phẩm cụ thể Sau đó phải quyết định về các kết cấu, thành phần bao bì: kích thước, hình dáng, vật liệu, màu sắc, nội dung trình bày và có gắn nhãn hiệu không Sau khi thiết kế bao bì cần tiến hành một số các thử
Trang 17nghiệm về các thông số kỹ thuật, thử bằng phương pháp trực quan và tham khảo ý kiến của các đại lý và người tiêu dùng.
2.3.6 Chính sách phát triển sản phẩm mới:
Theo quan điểm Marketing: Sản phẩm mới có thể là những sản phẩm mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ những sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu của công ty
Tiến trình hoạch định và phát triển sản phẩm mới bao gồm các bước:
Hình thành ý niệm và định hướng tìm tòi
Thu thập thông tin chào hàng sản phẩm mới
Phân tích thời cơ và hoạch định sản phẩm mới
Thử nghiệm và xúc tiến bán sản phẩm mới
Phân tích sự chấp nhận của khách hàng và thông tin ngược
Hoạch định Marketing mục tiêu và quyết định chọn sản phẩm mơi
Triển khai thương mại hóa sản phẩm mới
Quản trị Marketing chu kỳ sống của sản phẩm
Những dấu hiệu quan trọng để đánh giá sản phẩm mới chính là sự thừa nhận của khách hàng
2.3.7 Chính sách về chu kỳ sống của sản phẩm:
Chu kỳ sống của sản phẩm là một thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ khi hàng hóa được tung ra thị trường cho đên skhi nó phải rút khỏi thị trường Chu kỳ sống của sản phẩm có thể xem cho từng mặt hàng cụ thể, từng nhóm chủng loại.thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm
Đối với từng sản phẩm, nhóm chủng loại hoặc nhãn hiệu sản phẩm có thể có số lượng và độ dài từng giai đoạn khác nhau Nhưng dạng khái quát về mặt lý thuyết thì chu
kỳ sống của sản phẩm có bốn giai đoạn
Giai đoạn suy thoái
Giai đoạn chín muồi
Giai đoạn phát triển
Giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường Mức tiêu
thụ và lợi
Trang 18 Giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường:
Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa sản phẩm ra bán chính thức trên thị trường.Bởi vậy nó đòi hỏi phải có thời gian và sự chuẩn bị kỹ lưỡng vể mọi mặt.Trong giai đoạn này doanh nghiệp thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít, mặc dù giá bán thường quy định cao Chính sách sản phẩm cho giai đoạn này: Tập trung nỗ lực bán vào nhóm khách hàng có điều kiện sẵn sàng mua, động viên khuyến khích các trung gian Marketing, tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán
Giai đoạn phát triển:
Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng mạnh, trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận trong giai đoạn này tăng Để khai thác và kéo dài tối đa cơ hội này, doanh nghiệp có thể thực hiện các chính sách
Thành lập và phát triển các kênh phân phối sản phẩm
Sử dụng kênh phân phối mới
Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về dịch vụ cho công chúng
Nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo cho nó tính chất mới
Xâm nhập vào những thị trường mới
Giai đoạn chín muồi: (giai đoạn bão hòa)
Giai đoạn này thường dài hơn các giai đoạn trước và đặt ra những nhiệm vụ phức tạp trong lĩnh vực quản trị Marketing Để tiếp tục tồn tại trên thị trường các nhà quản trị
có thể có các phương án lựa chọn sau:
Đưa ra các chính sách giá phù hợp
Tiếp tục mở rộng thêm thị trường
Cải biến dịch vụ, thay đổi một số yếu tố đặc tính của sản phẩm
Giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ các loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản phẩm giảm sút Khi mức tiêu thụ giảm sút dẫn đến lợi nhuận giảm sút, một số doanh
Lợi nhuận
0
Thời gian
Trang 19nghiệp có thể rút khỏi thị trường, số còn lại có thể thu hẹp chủng loại hàng hóa chào bán,
từ bỏ thị trường nhỏ… Vì vậy để hạn chế bớt ảnh hưởng xấu của hiện tượng này, doanh nghiệp cần đưa ra các chính sách:
Luôn theo dõi để phát hiện những sản phẩm bước vào giai đoạn sau
Đối với từng sản phẩm phải nhanh chóng thông qua quyết định tiếp tục lưu giữ hay thải loại chúng ra khỏi danh mục sản phẩm của doanh nghiệp
CHƯƠNG 3:PHÂN TÍCH CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA TRUNG TÂM DỊCH
VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VDC ONLINE – CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN
SỐ LIỆU VDC
3.1: Giới thiệu chung về Trung tâm:
3.1.1: Qúa trình hình thành và phát triển của Trung tâm:
Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng (VDC online) thuộc Công ty Điện toán và truyền số liệu VDC Trung tâm được thành lập theo Quyết định số 543/QĐ-TCCB ngày 03/3/2009 của Công ty Điện Toán và Truyền Số Liệu
• Trụ sở chính của Trung tâm: Tầng 1, toà nhà Internet, lô 2A, làng Quốc tế Thăng Long, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
• Giám đốc: Đinh Đức Thụ
• Mã số thuế: 0101228917
• Điện thoại: (84-4) 37932132 - Fax: (84-4) 37932133
• Website: www.vdconline.vn
VDC Online ra đời và mang trong mình một sứ mệnh hết sức to lớn trở thành đơn
vị hàng đầu trong việc phát triển các dịch vụ giá trị gia tặng tại Việt Nam Trải qua 3 năm hoạt động, Trung tâm VDC Online trực thuộc Công ty Điện toán và truyền số liệu VDC,đã từng bước giành được sự lựa chọn và yêu mến của khách hàng với nhiều dịch
vụ như Dịch vụ thanh toán trực tuyến&TMĐT, dịch vụ IDC, dịch vụ hosting, các dịch vụ trên di động và nhiều dịch vụ gia tăng khác trên nền băng rộng như: MegaShare, MegaVstar, MegaSecurity, MegaWeb… Đặc biệt, dịch vụ hosting của VDC Online đang
Trang 20được đánh giá là có những ưu thế vượt trội có chất lượng tương đương với những dịch vụ internet và Hosting uy tín của của nhiều quốc gia lớn, mạnh về công nghệ thông tin, dịch
vụ Thanh toán Trực tuyến Icoin được bình chọn danh hiệu Sao Khuê năm 2011
Năm 2012, với định hướng tiếp tục phát triển các dịch vụ được coi là thế mạnh của VDC Online như: Hosting, dịch vụ Thanh toán trực tuyến; phát triển mới thêm các giải pháp và sản phẩm dịch vụ mới như Thương mại điện tử, WebTV, dịch vụ quảng cáo tạo thêm nhiều dịch vụ, sân chơi bổ ích, hấp dẫn cho khách hàng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại VDC Online có một hệ thống hạ tầng mạng lớn nhất Việt Nam với tổng dung lượng đi quốc tế năm 2010 đạt 70Gbps, hệ thống mạng lưới phủ khắp 63 tỉnh, thành và hợp tác với hơn 10 tập đoàn đa quốc gia để cung cấp cácdịch vụ Internet và viễn thông
3.1.2: Cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty:
3.1.2.1: Tổ chức của Trung tâm:
1 Giám đốc Trung tâm lãnh đạo và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty về các hoạt động của Trung tâm
2 Các Phó Giám đốc Trung tâm giúp việc cho Giám đốc Trung tâm, quản lý và điều hành một số nội dung công việc được phân công
3 Các phòng ban trung tâm chịu sự điều hành và quản lý của Giám đốc và Phó giám đốc Là đơn trực tiếp sản xuất sản phẩm dịch vụ cho trung tâm
4 Các Đơn vị Kinh doanh là đơn vị bán hàng, trực tiếp cung cấp các dịch vụ của trung tâm
Trang 21Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức trung tâm
* Nhận xét: Bộ máy của Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng được tổ chức theo kiểu
kết hợp trực tuyến và chức năng Một mặt giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành thông qua sự chỉ đạo và giám sát của hai phó giám đốc cùng các phòng chức năng có chức năng tham mưu cho giám đốc để quản trị các lĩnh vực chuyên sâu trong Trung tâm
+ Ưu điểm của mô hình:
• Tạo ra sự thống nhất tập trung cao độ
• Tổ chức gọn nhẹ, giải quyết các vấn đề nhanh
• Đơn giản, rõ ràng do thống nhất chỉ huy
Trang 22• Có khả năng tách biệt rõ ràng trách nhiệm
• Có hiệu quả khi giải quyết mâu thuẫn
• Tạo ra sự phối hợp dễ dàng giữa các phòng ban tổ chức
+ Nhược điểm:
• Đòi hỏi nhà quản trị phải có kiến thức về chuyên ngành và có sự hiểu biết toàn diện để phối hợp với các phòng ban khác tạo ra sự thống nhất trong bộ máy quản lý của Trung tâm
• Có sự ngăn cách khác nhau giữa các bộ phận trong Trung tâm và thiếu sự phối hợp giữa chúng
• Khó khăn trong truyền thông
3.1.2.2: Cơ cấu tổ chức Phòng Kinh doanh thị trường:
Tổng số người: 15
Trình độ : Đại học 15 người, nhân viên trong phòng kinh doanh thị trường đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành quản trị kinh doanh tại các trường kinh tế như đại học Thương Mại, Ngoại Thương, Kinh tế quốc dân, tất cả đều làm việc đúng với chuyên ngành đã được đào tạo
3.1.2.3: Chức trách và nhiệm vụ của nhân viên phòng Kinh doanh thị trường
• Xây dựng chiến lược, kế hoạch SXKD của Trung tâm
• Quản lý công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm dịch vụ của Trung tâm
• Quản lý công tác kinh doanh bán hàng, phát triển kênh phân phối
3.1.3: Nghành nghề và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Trung tâm:
3.1.3.1: Ngành nghề sản xuất kinh doanh của Trung tâm :
1 Xây dựng hệ thống mạng, Internet băng thông rộng
2 Xây dựng, phát triển và kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng internet, mạng điện thoại cố định, mạng điện thoại di động, mạng Wimax, truyền hình;
3 Cung cấp và khai thác các dịch vụ gia tăng giá trị, dịch vụ vui chơi giải trí trên mạng viễn thông, internet, truyền hình
4 Kinh doanh các dịch vụ phần mềm quản trị, bảo mật hệ thống;